SCIC phối hợp với Ngân hàng Nhà nước để mua một vài loại cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nhằm cứu thị trường chứng khoán Việt Nam khỏi bị sụp đổ năm 2007, 2008 đã để lại hậu quả

Việc SCIC phối hợp với Ngân hàng Nhà nước để mua một vài loại cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nhằm cứu thị trường chứng khoán Việt Nam khỏi bị sụp đổ năm 2007, 2008 đã để lại hậu quả nhiều hơn so với hiệu quả. Hãy bình luận quan điểm trên.

docx3 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 03/04/2013 | Lượt xem: 1520 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu SCIC phối hợp với Ngân hàng Nhà nước để mua một vài loại cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nhằm cứu thị trường chứng khoán Việt Nam khỏi bị sụp đổ năm 2007, 2008 đã để lại hậu quả, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đề bài: Việc SCIC phối hợp với Ngân hàng Nhà nước để mua một vài loại cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nhằm cứu thị trường chứng khoán Việt Nam khỏi bị sụp đổ năm 2007, 2008 đã để lại hậu quả nhiều hơn so với hiệu quả. Hãy bình luận quan điểm trên. Bài làm: Việc SCIC kết hợp với Ngân hàng Nhà nước mua cổ phiếu nhằm cứu thị trường chứng khoán (TTCK) khỏi bị sụp đổ năm 2007, 2008 đã khiến báo chí tốn không ít giấy mực để bình luận về nó. Người khen cũng có mà kẻ chê cũng vô số. Vì SCIC được chính phủ tài trợ vốn mua cổ phiếu để giảm bớt căng thẳng thanh khoản cho TTCK, nhưng lại được giữ bí mật về tiền vốn, số lượng, danh mục, thời gian mua, giá mua vào và tỷ trọng phân bổ. Nên đã có nhiều quan điểm trái chiều được nêu ra, và tất cả cũng chỉ là suy luận vì không có cơ sở số liệu nào từ Chính phủ để khẳng định lý luận của mình. Chỉ biết rằng, nếu SCIC đã tung nhiều tiền mua cổ phiếu, thì chắc chắn chỉ gây nên hậu quả nghiêm trọng chứ không phải hiệu quả. Tuy nhiên, theo ý kiến chủ quan của người viết, thì đó chỉ là liệu pháp tâm lý tạm thời của Nhà nước để xoa dịu căng thẳng. Sau đây là những lí luận chứng minh điều đó. 1) Nếu SCIC đã thực sự tung vốn mua cổ phiếu ngày 7/3/2008 thì chắc hẳn để lại hậu quả nặng nề hơn là hiệu quả : Bằng chứng là VNIndex chỉ tăng điểm trong vài phiên cơ bản sau khi thị trường nghe tin này, và sau đó đã lại tiếp tục tục dốc không phanh đến mức thấp nhất 496.6  ngày 25/3/2008 và sau đó chỉ dao dộng trên mức 500, không thể cao hơn. Điều đó cho thấy SCIC can thiệp vào thị trường Chứng khoán, chi ra số tiền lớn để mua cổ phiếu chỉ giống như “hạt muối bỏ bể”, không hiệu quả, tác dụng chỉ trong ngắn hạn mà không giúp TTCK đi lên bền vững lâu dài được. Việc Chính phủ tài trợ vốn cho SCIC mua cổ phiếu sẽ càng đẩy thâm hụt ngân sách (đang ở mức 6%, vượt chỉ tiêu bội chi 5% GDP) lên cao và tăng áp lực lạm phát đang ở hai con số 16% vì làm tăng thêm cung tiền vào thị trường, và có thể tạo bất ổn cho TTCK thay vì làm cho nó ổn định. Vả lại, việc mua cổ phiếu là dùng tiền đóng thuế của toàn dân chỉ để cứu trợ cho một nhóm nhỏ nhà đầu tư giàu có, chủ yếu là các quỹ đầu tư nước ngoài và các “đại gia” trong nước. Điều này chỉ gây thêm mối bất bình về tính chất bình đẳng trong chính sách kinh tế của Chính phủ. SCIC có quyền tự quyết việc mua cổ phiếu không thông qua Quốc hội và được phép giữ bí mật thông tin chi tiết có thể gây ra tham nhũng, thiên vị của SCIC với một số công ty nhất định có quen biết với SCIC. Và các công ty đó sẽ càng tự do trong các khoản đầu tư của mình vì đã có SCIC gánh đỡ. Điều này quả thật hết sức nguy hiểm trong tình hình biến động và khủng hoảng của TTCK bấy giờ. Hơn nữa, việc SCIC đổ tiền vào TTCK hòng mong vực dậy TTCK là sai lầm. Vì TTCK chỉ đi lên bởi giá trị thực của nó, nhưng TTCK Việt Nam đang có giá trị ảo lớn. Việc NN can thiệp vào chỉ bóp méo tín hiệu của thị trường vốn mà thôi, nó không hề thay đổi nguồn vốn và khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp vì chỉ tác động đến thị trường thứ cấp và vì thế cũng không giải quyết được tính thanh khoản của nhà đầu tư. Ta đều biết TTCK là nơi thông tin đầy đủ nhất, người mua bán hiểu biết và linh hoạt nhất. Việc VNIndex sụt dưới mức 600 điểm là tự nhiên và đúng quy luật, trong tình trạng lạm phát và lãi suất đều tăng. Nên để TTCK tự điều chỉnh về đúng giá trị thực của nó. Việc can thiệp của NN chỉ tạo ra tâm lý đầu tư bất kể rủi ro ở nhà đầu tư vì nghĩ rằng đã có NN hỗ trợ. TTCK ở VN hiện tại đang quá nóng, bong bóng đầu cơ ngày càng được thổi phồng, giá trị vốn của các công ty đang vượt xa giá trị lợi nhuận thật của nó. Rồi các công ty huy động vốn xong lại đổ vào thị trường chứng khoán chứ không đầu tư mở rộng sản xuất tạo sản phẩm. Điều này tạo nên sự tăng trưởng ảo ở nước ta. Và hiển nhiên là TTCK sẽ phải đến hồi suy giảm bởi sự tăng trưởng không dựa vào thực lực của nó. NN tham gia TTCK chỉ càng làm các nước nhìn nhận VN chưa phải là một nền kinh tế thị trường. Và nó chỉ gây bất lợi cho VN trong các vụ kiện bán phá giá, vốn đang là rào cản lớn cho việc thâm nhập vào các thị trường phát triển. Nhà nước chỉ nên can thiệp để tạo điều kiện cho các quy luật thị trường vận hành hài hóa, bảo vệ cạnh tranh chứ không nên di chuyển tài sản toàn dân từ chỗ này qua chỗ khác nhằm cứu vớt một thành phần nào đó mà không tạo lợi ích gia tăng sản xuất để phát triển kinh tế. Và cũng có ý kiến cho rằng, TTCK sụt giảm là do các động cơ của quỹ đầu cơ tài chính nước ngoài cố tình tạo ra để kiếm chát lợi nhuận. Những tháng cuối năm 2006 đầu năm 2007, chúng đã bơm 160 ngàn tỷ đồng vào TTCK, làm giá cổ phiếu tăng vọt quá xa giá trị thực của nó, tạo ma lực lôi kéo người dân đổ tiền vào cổ phiếu. Khi mọi người đều mong mau chóng làm giàu từ cổ phiếu, dốc hết các nguồn lực từ vốn tự có, vay mượn, thế chấp vào cổ phiếu, thì các quỹ này bán cổ phiếu đầu cơ ra ồ ạt để thu lợi, làm chỉ số CK sụt giảm. Sau đó nhận được tin hỗ trợ từ chính phủ, từ nước ngoài, người dân lại tiếp tục hi vọng, và tiếp tục đầu tư, rồi lại sa bẫy của các quỹ đầu cơ. TTCK suy yếu, CP hỗ trợ, các quỹ này sẽ bán ra các cổ phiếu “sắp chết” để mua vào cổ phiếu có tiềm năng thực với giá rẻ mạt, rồi lại thu thêm nhiều lợi nhuận hơn nữa. Tiền từ dân và từ NN đã lần lượt dịch chuyển vào tay các quỹ đầu cơ như thế này. Như vậy SCIC vô tình trở thành công cụ để các quỹ đầu cơ này kiếm được thêm nhiều tiền và càng làm TTCK thêm khủng hoảng hơn. Một điều quan trọng nữa là nếu SCIC có thể giúp hạn chế việc bán tháo cổ phiếu của các nhà đầu tư, thì nó sẽ càng làm quá trình cổ phần hóa chậm lại, vì phải hạn chế tăng cung cổ phiếu vào TTCK đang thiếu tính thanh khoản cao. Quá trình IPO chậm lại sẽ đi ngược với các cam kết với WTO, và càng đặt VN vào tình thế khó khăn hơn. 2) Qua phân tích trên, theo ý kiến người viết, SCIC chỉ tung tin làm giải pháp tâm lý ngắn hạn giúp TTCK đỡ suy sụt. Với tất cả các hậu quả nghiêm trọng trên, có thể SCIC đã không mua cổ phiếu thật sự như đã thông báo, mà chỉ tác động đến tâm lý nhà đầu tư, để họ găm hàng, không báo tống báo tháo làm TTCK kiệt quệ. Cũng giống như việc NN công khai công bố dự trữ ngoại tệ để giải quyết tình trạng tỉ lệ đô la hóa đang tăng, người dân găm giữ USD và lạm phát tăng cao không ai biết được các số liệu đó có đúng không. Hay như khi thị trường vàng đang căng thẳng nhu cầu mua vào, NN liền công bố cho phép nhập khẩu vàng, nhưng lại không cho biết các đầu mối nào được phép nhập khẩu, và nhập khẩu số lượng bao nhiều. Những điều đó càng giúp khẳng định SCIC có thể đã không mua vào cổ phiếu. Hơn nữa, muốn giúp VNIndex tăng, thì cách lâu dài và căn bản nhất là phải ngăn chặn lạm phát, xì hơi bong bóng nhà đất và hạ nhiệt nền kinh tế từ từ. VN đang đối mặt với lạm phát cao nghiêm trọng. Thủ tướng Chính phủ đã từ tuyên bố ưu tiên chống lạm phát là quan trọng nhất. Bà Vũ Thị Kim Liên, Phó chủ tịch Ủy ban Chứng khoán đã từng phát biểu : “Thị trường chứng khoán cơ bản là giữa doanh nghiệp và nhà đầu tư… Việc mua vào của SCIC cũng chỉ là đánh tín hiệu ổn định thị trường, còn nhà đầu tư mới là người quyết định. Nếu nhà đầu tư không tự chủ mà cứ bán ra ào ào thì không ngân sách nào có thể cứu được”. Việc người dân nghi ngờ các cổ phiếu blue-chip đã tăng giá sau khi có thông tin SCIC tham gia TTCK vẫn có thể lí giải là do các quỹ đầu cơ gây nên, tạo tâm lý cho người dân tin kì vọng nhiều hơn, mua vào nhiều hơn để chúng bán ra kiếm lời, chứ không hẳn là do SCIC đã thật sự tung tiền mua vào. Ta cũng có thể thấy “Tâm lý đám đông” là yếu tố quan trọng và thể hiện của bản chất đầu tư ở TTCK VN. Nhiều nhà đầu tư nhỏ hầu như chẳng có khái niệm gì về thị trường, về cổ phiếu của công ty mà họ nhắm vào. Nhưng điều mà họ hầu như được thị trường đảm bảo là nếu nắm trong tay một vài cổ phiếu thời thượng thì chắc chắn giá trị cổ phiếu sẽ ngày càng tăng, và mình sẽ nhanh giàu có nhờ vào các cổ phiếu đó, mà không biết rằng thực tế các giá trị ảo đó đã vượt quá xa giá trị lợi nhuận thật và đang bị bọn đầu cơ làm giá để kiếm lời. Và cứ thế nhà nhà kinh doanh cổ phiếu, ào ạt mua với giấc mơ đổi đời. Nếu có biến động bất lợi, thì họ là bán tống báo tháo cổ phiếu để giành lại vốn mà không cần biết cổ phiếu đó có giá trị hay không. Qua đó, có thể thấy yếu tố tâm lý là nguyên do căn bản làm cho TTCK khi lên cao thì lên cao quá đà, và khi tụt dốc cũng nhanh như tên lửa. Vì thế mà càng có cơ sở để người viết nghĩ rằng SCIC đã đánh vào giải pháp tâm lý, chứ không hẳn đã bỏ tiền mua cổ phiếu cứu TTCK trong khi mà lạm phát đang ở mức ngất ngưởng như vậy, bởi vì nếu thật sự SCIC đã mua cổ phiếu thì đó chỉ là việc làm gây thêm nhiều hậu quả nặng nề mà thôi.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxSCIC phối hợp với Ngân hàng Nhà nước để mua một vài loại cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nhằm cứu thị trường chứng khoán Việt Nam khỏi bị sụp đổ .docx
Luận văn liên quan