Sự biến động thành phần loài và số lượng thực vật nổi trong hệ thống nuôi cá tra thâm canh

Tổng số giống loài thu được trong hệ thống nuôi là 156 loài trong đó tảo lục chiếm nhiều nhất 72 loài (46,2%) kế là tảo khuê 50 loài (32,1%), tảo mắt 22 loài (14,1%), tảo lam 8 loài (5,1%), tảo giáp 4 loài (2,6%), mức độ phong phú giảm dần từ kênh cấp đến ao nuôi và thấp nhất là ao thải. Nhóm tảo lục luôn chiếm ưu thế ở hầu hết các thủy vực khảo sát.

pdf33 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 05/11/2013 | Lượt xem: 2411 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Sự biến động thành phần loài và số lượng thực vật nổi trong hệ thống nuôi cá tra thâm canh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đồng Tháp (32,84%/năm), Vĩnh Long (52,95%/năm), Hậu Giang (58,43%/năm), Cần Thơ (29,86%/năm). (Sở Thủy sản, Sở NN & PTNT và Cục Nuôi trồng Thủy sản, giai đoạn 1997-7/2008). Theo bộ NN & PTNT dự kiến đến năm 2010: Diện tích nuôi cá Tra: 8.600 ha; Sản lượng cá Tra nuôi: 1.250.000 tấn; Sản lượng sản phẩm chế biến cá Tra: 500.000 tấn; Kim ngạch xuất khẩu: 1.300-1.500 triệu USD. 7 Theo số liệu tổng hợp của Trương Trí Vinh (2008), xuất khẩu cá Tra của Việt Nam tăng mạnh từ năm 2003 đến năm 2007, chiếm lĩnh các thị trường cá nước ngọt tại các nước như Tây Ban Nha, Ba Lan, Hà Lan và Đức Trong mô hình nuôi cá Tra ao thâm canh với mật độ cao, thức ăn tự chế được sử dụng nhiều, thay nước thường xuyên và chất thải ra lớn chưa qua xử lý làm cho môi trường nước bị nhiễm bẩn rất nhanh (Lê Thanh Hùng, 2006 và Lê Bảo Ngọc, 2004). Việc thay nước mới hàng ngày từ 25-30% lượng nước trong ao nhằm cải thiện môi trường và phòng bệnh cho cá nhưng không được xử lý làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh (World Wild Life, 2008). Nguồn chất thải này gây ra sự biến đổi chất lượng nước trên sông rạch, đặc biệt là những vùng nuôi cá Tra ở các con sông, rạch nhỏ. Việc nuôi cá da trơn thâm canh trong bè hoặc ao sử dụng hoàn toàn thức ăn chế biến và sản phẩm thải đi trực tiếp vào nước sông, kênh rạch... Kết quả là các chất dinh dưỡng, vật chất hữu cơ đã làm giảm chất lượng môi trường nước phía hạ lưu của bè nuôi cũng như xung quanh vùng ao nuôi. Hiện nay, nuôi cá da trơn với mức độ thâm canh ngày càng cao vấn đề đặt ra là sản lượng quá nhiều trong khi thị trường trong nước không thể tiêu thụ hết, thị trường xuất khẩu cũng chỉ có giới hạn. Thứ hai là nếu phát triển nghề nuôi cá Tra ồ ạt mà không có qui hoạch, định hướng cụ thể thì sẽ tác động rất lớn đến môi trường, làm giảm tính bền vững. Mặt khác, chất lượng cá giống sẽ không đảm bảo hoặc không đáp ứng kịp khi nhu cầu nuôi quá cao. Do đó, ngay từ bây giờ cần tập trung nghiên cứu về tác động môi trường của nghề nuôi cá Tra, tạo con giống chất lượng cao. Quan trọng là phải tạo được diện tích nuôi hợp lý để sản lượng cá sản xuất ra có thể tiêu thụ được hết (Nguyễn Thanh Phương, 2008). Hiện nay nhiều tổ chức như VASEP, WWF, VMARD khuyến khích nông dân nuôi theo ngưỡng an toàn, áp dụng rộng rãi tiêu chuẩn SQF 1000, SQF 2000, GAP trong nuôi trồng thủy sản nhằm xây dựng những vùng nguyên liệu chất lượng cao hướng tới nuôi xuất khẩu bền vững 2.2 Vai trò của thực vật nổi trong ao nuôi cá tra: Trong các ao nuôi cá Tra sử dụng thức ăn công nghiệp là chủ yếu và đây cũng là nguồn dinh dưỡng nuôi tảo. Tuy tảo không là nguồn cung cấp thức ăn cho cá chủ yếu như các loài cá ăn thực vật nhưng nó cũng đóng một vai trò nhất định trong việc cung cấp dinh dưỡng và duy trì điều kiện môi trường thuận lợi cho nuôi thủy sản phát triển như cung cấp vitamin, một số nguyên tố vi lượng, cung cấp oxy, xử lí hợp chất nitơ (Lê văn Cát & ctv,2004) 8 Tảo còn có vai trò là sinh vật chỉ thị môi trường nước và có thể với sự có mặt của chúng giúp người nuôi nhận biết được những mặt hạn chế hay biểu hiện tốt cho mô hình nuôi, từ đó có biện pháp khắc phục hay phát huy để nâng cao hiệu quả cho nghề nuôi. Tuy nhiên, khi tảo nở hoa là khi chúng phát triển quá mức do bón phân quá liều và cho ăn quá thừa sẽ gây nhiều bất lợi cho ao nuôi cá. Chúng làm nồng độ oxy hòa tan giảm thấp vào ban đêm (Trương Quốc Phú, 2006). Mặt khác khi chúng chết đi hàng loạt, gây ra hiện tượng tảo tàn, làm cho các yếu tố môi trường biến động lớn, quá trình phân hủy của xác tảo làm tiêu hao nhiều oxy hòa tan, phóng thích CO2 và tạo ra nhiều khí độc như: H2S, NH3… Ngoài ra, ở một số loài tảo chứa chất độc trong cơ thể của chúng như các giống tảo thuộc ngành tảo Lam…Khi phát triển mạnh hoặc khi chết chúng tăng việc tiết ra độc tố vào môi trường gây chết cá. Chính vì những giá trị hữu ích cũng như tác hại của tảo nên việc theo dõi thường xuyên màu nước là hết sức quan trọng. Kiểm soát được mật độ của tảo là góp phần làm ổn định các yếu tố chất lượng nước và có ý nghĩa quyết định đến thành công trong nuôi. 2.3 Sự phân bố và biến động thực vật nổi trong ao nuôi cá tra: Theo Dương Đức Tiến, 1996, Việt nam có tới 1.402 loài tảo, trong đó tảo Lục có 530 loài, tảo Silic có 388 loài, tảo Lam 344 loài, tảo Mắt 78 loài, tảo Giáp 30 loài, tảo Vàng 14 loài, tảo Vòng 9 loài, tảo Roi Lệch 5 loài, tảo Đỏ 4 loài. Khu hệ tảo nước ngọt Việt nam có nhiều loài và dưới loài tảo thuộc khu nhiệt đới chiếm tỉ lệ trên 30%. Theo Shirota (1966) một số giống loài tảo như Chlorella, Scenedesmus thường xuất hiện trong các ao nuôi cá tại Miền Nam Việt Nam, có tác dụng làm thức ăn cho động vật thủy sinh và có vai trò to lớn trong việc xử lý ô nhiễm nhờ vào quá trình hấp thu các muối dinh dưỡng. Theo nguyễn Hữu Lộc (2009) phân tích thì kết quả định tính thực vật nổi trong hệ thống cá Tra thâm canh tại các điểm thu mẫu thu được 160 loài tảo, trong đó nhóm tảo Chlorophyta chiếm tỷ lệ cao nhất 38,1% (61 loài), Ochrophyta 28,8% (46 loài), Euglenophyta 16,3% (26 loài), Cyanophyta 13,1% (21 loài) và Pyrrophyta 3,8 % (6 loài). Thành phần loài thực vật nổi ở sông phong phú hơn ao nuôi và ao thải qua 3 đợt khảo sát và thành phần giống loài này có xu hướng giảm dần từ đợt 1 đến đợt 3. 9 Ngược lại thì số lượng thực vật nổi tăng dần từ đợt 1 đến đợt 3 trong ao nuôi (2 triệu – 9 triệu cá thể/l) và số lượng này cao hơn nhiều lần so với ở sông < 1 triệu cá thể/l Theo kết quả phân tích của Huỳnh Văn Đại và ctv. (2002) thực vật nổi trong ao cá tra có 79 loài thuộc 4 ngành tảo, trong đó tảo lục chiếm tỷ lệ cao nhất 40,5%, kế đến là tảo khuê, tảo mắt, tảo lam. Cũng theo tác giả, mật độ thực vật nổi bình quân dao động từ 179.767 – 401.611 cá thể/lít Theo Nguyễn Thị Dung (2001) mật độ cá thể phiêu sinh thực vật trong các ao thâm canh cá Tra dao động từ: 325.726 - 2.020.581 ct/l.. Và theo Phan Hồng Cương (2002) phát hiện phiêu sinh thực vật có 148 loài tảo trong mô hình tôm càng xanh - lúa, trong đó tảo Lục và tảo Silic chiếm đa số, đây là các loài tảo làm thức ăn tốt cho tôm cá. Một số loài tảo chỉ thị xấu cho môi trường như tảo Mắt, tảo Lam, tảo Giáp. Tảo Lục và tảo Silic xuất hiện khi có thay nước mới. Tảo Lam, tảo Mắt gia tăng mật độ khi cuối vụ nuôi do có sự tích tụ chất hữu cơ. Ngoài ra sự phân bố của quần thể thực vật nổi còn phụ thuộc vào độ mặn của môi trường nước như báo cáo của Nguyễn Thị Thanh Thảo (2005), “Khảo sát sự biến động thành phần và số lượng thưc vật nổi trong các mô hình nuôi tôm sú thâm canh” Đã phát hiện 97 loài tảo, trong đó có 41 loài thuộc ngành tảo Khuê, 12 loài thuộc ngành tảo Lục, 15 loài thuộc ngành tảo Lam, 9 loài thuộc ngành tảo Giáp và 20 loài thuộc ngành tảo. 1 0 PHẦN 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Vật liệu nghiên cứu: - Lưới phiêu sinh thực vật kích thước mắt lưới 30µm. - Chai nhựa 110 ml. - Chai nhựa 1lít. - Buồng đếm phiêu sinh Sedgwick Rafter cell. - Kính hiển vi điện, lame, lamella. - Formol 38%. - Xô nhựa (20 lít). - Ống hút. - Ống đong 100 ml - Bọc nylon đựng mẫu, dây thun. - Viết lông dầu. Và một số vật dụng hỗ trợ cần thiết. 3.2 Phương pháp nghiên cứu: a. Địa điểm thu mẫu: Nghiên cứu được tiến hành tại 4 địa điểm, ở SaĐéc tỉnh Đồng Tháp, Bình Tân tỉnh Vĩnh Long, huyện Thốt Nốt thành phố Cần Thơ và huyện Phụng Hiệp tỉnh Hậu Giang. Tổng cộng 10 ao (với 23 điểm thu mẫu) được phân bố như sau : - Huyện Phụng Hiệp (Tỉnh Hậu Giang): 2 ao với 5 điểm thu mẫu. - Huyện Thốt Nốt (Thành phố Cần Thơ): 3 ao với 7 điểm thu mẫu. - Huyện Bình Tân (Tỉnh Vĩnh Long): 3 ao với 7điểm thu mẫu. - Thị xã SeĐec (Tỉnh Đồng Tháp): 2 ao với 4 điểm thu mẫu. Và thu 2 tháng /lần ở các điểm trên Các ao thu mẫu có một số đặc điểm như sau: - Huyện Phụng Hiệp (Tỉnh Hậu Giang): Gần sông lớn, có kênh cấp. Tuy nhiên, kênh cấp không được thông trực tiếp với ao nuôi mà qua hệ thống bơm. Diện 10 tích ao nuôi trong hệ thống dao động từ 3.200-5.000 m2, độ sâu 3,5- 4m. Hệ thống có sử dụng máy bơm để bơm nước trực tiếp từ sông vào ao nuôi. Mật độ thả cá dao động từ 36- 65 con/m2, trung bình là 50 con/m2, thức ăn sử dụng hoàn toàn là thức ăn viên công nghiệp. Hai tháng đầu thay nước 1 tuần/lần từ 15- 20% khối lượng nước trong ao, giữa vụ nuôi đến cuối vụ nước được thay hàng ngày theo thuỷ triều mỗi lần khoảng 20% lượng nước trong ao. - Huyện Thốt Nốt (Thành phố Cần Thơ): Gần sông lớn. Diện tích ao từ 10.000 – 15.000 m2, độ sâu ao từ 4- 5 m, nước được lấy trực triếp từ sông lớn vào ao nuôi qua cống cấp và thoát trở lại sông qua cống thoát. Mật độ thả cá dao động từ 31- 106 con/m2, trung bình là 63 con/m2, thức ăn sử dụng hoàn toàn là thức ăn viên. Ao được thay nước 1 ngày/lần khoảng 10% khối lượng nước trong ao trong 2 tháng đầu, tăng dần lên 20- 40% vào giữa vụ nuôi và 30- 40% đến cuối vụ nuôi. - Huyện Bình Tân (Tỉnh Vĩnh Long): Diện tích trung bình khoảng 14.000m2, độ sâu ao từ 4 – 5 m, nước được lấy trực tiếp từ sông vào ao qua cống cấp và thoát trở lại sông qua cống thoát. Mật độ cá dao động 40 – 60 con/m2 thức ăn sử dụng hoàn toàn là thức ăn viên công nghiệp. Thay nước trong 2 tháng đầu là 1 tuần/lần khoảng 15 - 20% khối lượng nước trong ao, giữa vụ nuôi đến cuối vụ thay nước hàng ngày 30 - 40% lượng nước trong ao. -Thị xã SeĐec (Tỉnh Đồng Tháp): Diện tích ao từ 1.000- 5.000m2, độ sâu ao từ 3- 4,5 m, nước được lấy trực tiếp từ sông nhánh vào ao qua cống cấp và thoát trở lại sông qua cống thoát, không có ao chứa nước thải. Mật độ thả cá dao động từ 40- 58 con/m2, trung bình là 43 con/m2, thức ăn sử dụng hoàn toàn là thức ăn viên công nghiệp. Hai tháng đầu thì thay nước 1 tuần/lần khoảng 20% khối lượng nước trong ao, giữa vụ nuôi đến cuối vụ thay nước hàng ngày 30 - 40% lượng nước trong ao. Riêng có những ao có ao thải riêng thì ta thu mẫu thêm ao thải. Nước từ ao nuôi được thải ra ao chứa nước thải trước khi trở lại sông. Trong ao chứa nước thải có trồng lục bình, rau muống để hấp thu chất dinh dưỡng trong nước thải trước khi đưa ra sông. 11 Hình 2: Sơ đồ hệ thống thu mẫu b. Phương pháp thu và xử lý mẫu thực vật nổi: Thu định tính: Mẫu định tính được thu bằng lưới phiêu sinh thực vật có kích thước mắt lưới là 30 µm thu dọc theo bờ ao ( kênh) của thủy vực phía trên tầng mặt và theo hình số 8 với thể tích nước qua lưới càng nhiều càng tốt. Mẫu thu được cho vào chai nhựa 110ml và cố định ngay bằng Formol 2 - 4%. Thu định lượng: Thu bằng xô nhựa 20 lít thu đều ở các điểm trong ao. Sau đó khuấy đều và cho vào bình 1 lít cố định bằng formol với nồng độ tương tự như mẫu định tính 2 – 4 %. 3.3 Phương pháp phân tích- xử lý mẫu, tính toán và xử lí số liệu: a. Phương pháp phân tích – xử lí mẫu: Định tính: Mẫu sau khi thu được quan sát dưới kính hiển vi điện. Sau đó dựa vào các đặc điểm hình thái, cấu tạo để xác định tên giống hoặc tên loài của thực vật nổi. Tài liệu tham khảo để phân loại.  The Plankton of South Vietnam của shitora (1966).  The freshwater algae (G.w.Prescott, 1970)  Việt nam fresh algae taxonomy of order (1997)  Phân loại vi khuẩn lam Việt Nam ( Dương Đức Tiến,1996). Khi phân tích thành phần giống loài, cần biểu hiện độ phong phú của chúng ( thang phân loại của Scheffer và Robinon). 12 Gặp 60 – 100% rất nhiều(+++) Gặp 30 – 60% nhiều (++) Gặp < 30% ít (+) Định lượng: Sử dụng buồng đếm Sedgwick Rafter để đếm số lượng cá thể thực vật nổi theo từng nhóm ngành. Số lượng cá thể đếm được, được tính bằng công thức sau Y = T*(1000/A*N)*(VCĐ/VMT)*1.000 Với: A : là diện tích ô đếm (1mm2) N: là số ô đếm. T: là số cá thể đếm được. Y: là số cá thể tảo / lít. VCĐ: là thể tích mẫu cô đặc(ml). VMT: là thể tích mẫu thu(ml). b. Phương pháp tính toán và sử lí số liệu: - Việc phân tích và xử lý số liệu được tiến hành tại Phòng thí nghiệm Thủy sinh – Bộ môn Thủy Sinh Học Ứng Dụng - Khoa Thủy Sản - Trường Đại Học Cần Thơ. - Các số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel. 13 PHẦN 4 KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm thành phần loài thực vật nổi ở hệ thống nuôi cá tra thâm canh: Kết quả phân tích phát hiện được 156 loài thực vật nổi, thuộc 5 ngành tảo: Ngành tảo Lục, Ngành phụ tảo Khuê, ngành tảo Mắt, ngành tảo Lam , ngành tảo Giáp, cơ cấu tỉ lệ thành phần loài được trình bày ở (hình 4.1). Tảo Lục chiếm tỉ lệ cao nhất 46,15% (72 loài), kế là tảo Khuê chiếm 32,05% (50 loài), tảo Mắt chiếm 14,1% (22 loài), tảo Lam chiếm 5,13% (8 loài) và thấp nhất là tảo Giáp 2,56% (4 loài). Theo k ết quả nghiên cứu của Nguyễn Hữu Lộc (2009) thì kết quả định tính thực vật nổi trong hệ thống cá Tra thâm canh tại các điểm thu mẫu thu được 160 loài tảo, trong đó nhóm tảo Lục chiếm tỷ lệ cao nhất 38,1% (61 loài), tảo Khuê 28,8% (46 loài), tảo Mắt 16,3% (26 loài), tảo Lam 13,1% (21 loài) và tảo Giáp 3,8 % (6 loài). Theo kết quả phân tích của Huỳnh Văn Đại và ctv. (2002) thực vật nổi trong ao cá tra có 79 loài thuộc 4 ngành tảo, trong đó tảo Lục chiếm tỷ lệ cao nhất 40,5%, kế đến là tảo Khuê, tảo Mắt, tảo Lam. Như vậy, các thành phần loài tảo thu được trong hệ thống nuôi cá tra đặc trưng cho các thuỷ vực nước ngọt ở Việt Nam (Shirota, 1966). 5.13% tảo Lam 2.56% tảo Giáp 14.10% tảo Mắt 46.15% tảo Lục 32.05% tảo Khuê Hình 4.1 Thành phần loài thực vật nổi ở hệ thống nuôi cá tra thâm canh Tính đa dạng của thành phần tảo trong hệ thống nuôi cá Tra thâm canh giảm dần từ kênh cấp (105 loài) đến ao nuôi (94 loài) và thấp nhất là ao thải (56 loài). Thể hiện qua bảng 1. 14 Bảng 4.1: Thành phần giống loài tảo ở các thủy vực kênh cấp, ao nuôi, ao thải: Ngành tảo Tảo Lục Tảo Khuê Tảo Mắt Tảo Lam Tảo Giáp Tổng Kênh cấp 40 39 14 8 4 105 Ao nuôi 39 24 21 8 2 94 Ao thải 16 22 12 6 0 56 Thành phần loài trên sông phong phú hơn ở ao nuôi do kênh cấp lấy nước trực tiếp từ sông mà sông là thủy vực nước chảy nên thành phần loài cao. Mặc khác, tính đa dạng của một thủy vực bị chi phối bởi qui luật ưu thế, trong các thủy vực kênh cấp hàm lượng muối dinh dưỡng thường nghèo như COD từ 2 – 5, NO3- từ 0,1 – 0,5, PO43- nhỏ hơn 0.05 ( Trương Quốc Phú, 2006) nên không có loài ưu thế. Ngược lại, các ao nuôi cá Tra thâm canh thường giàu dinh dưỡng nên một số loài phát triển ưu thế về số lượng lấn át các loài khác nên thành phần loài trong thủy vực ao kém phong phú hơn ở sông. Thành phần loài tảo ở sông, ao nuôi và ao thải dao động từ 19 - 40 loài tảo (phụ lục 2), trung bình từ 24 - 32 loài cho một thủy vực và tảo Lục là thành phần chủ yếu trong các ao nuôi cá Tra thâm canh. Kết quả phân tích này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Huyền (2008) trong mô hình xử lí nước ao nuôi cá Tra thâm canh thì Ngành tảo Lục là ngành chiếm ưu thế trên 90% tổng số các ngành tảo khác. 4.2 Cấu trúc thành phần và biến động số lượng thực vật nổi (phytoplankton) ở kênh cấp: 4.2.1 Thành phần loài thực vật nổi ở kênh cấp: Kênh cấp trong hệ thống nuôi cá Tra thâm canh là thủy vực ít chịu tác động từ quá trình quản lý của con người do đây là thủy vực sông chịu tác động chính từ sự lên xuống của thuỷ triều. Kết quả phân tích định tính thành phần loài ở kênh cấp dao động 30 - 32 loài. Các ngành thực vật nổi ở kênh cấp hiện diện qua 3 đợt khảo sát là: Ngành tảo Khuê, ngành tảo Lục, ngành tảo Mắt, ngành tảo Lam , ngành tảo Giáp. Kết quả khảo sát được trình bày ở Hình 4.2. 15 Kênh cấp 35 30 25 20 15 10 5 0 Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Khuê Lục Mắt Lam Giáp Tổng Hình 4.2: Thành phần loài thực vật nổi (phytoplankton) ở kênh cấp Qua kết quả ở Hình 4.2 cho thấy thành phần giống loài thực vật nổi ở kênh cấp ít biến động, có khuynh hướng giảm dần từ đầu vụ 32 loài đến giữa vụ 30 loài và tăng lên lại ở cuối vụ 31 loài. Sự biến động thành phần loài giữa các ngành qua 3 đợt khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê (p>0,05). Trong 5 ngành tảo khảo sát được ở kênh cấp (hình 4.2) thì ngành tảo Lục có số loài chiếm ưu thế qua 3 đợt thu mẫu, theo Dương Đức Tiến (1997), thì tảo Lục là một ngành rộng lớn nhất gồm khoảng 13.000 đến 20.000 loài, chiếm khoảng 90% thành phần loài ở các thủy vực nước ngọt. Ngành tảo Khuê đứng thứ 2 sau tảo Lục, thành phần tảo Khuê ít hơn tảo Lục do tảo Khuê chủ yếu phân bố ở nước lợ, mặn . Theo nghiên cứu Dương Thị Hoàng Oanh và Trương Quốc Phú (2008) khi dùng hóa chất để làm giảm dinh dưỡng (photpho) trong ao thì thành phần tảo Khuê chiếm ưu thế về thành phần loài điều đó cho thấy tảo Khuê chiếm thích hợp trong môi trường dinh dưỡng thấp. Ngành tảo Mắt và tảo Lam thì thành phần loài tảo thấp do chúng sống chủ yếu ở môi trường giàu dinh dưỡng (Dương Đức Tiến, Võ Hành, 1997; Lê Văn Cát & ctv,2006). Theo Trương Quốc Phú (2006) thì thủy vực sông thường nghèo dinh dưỡng và vật chất hữu cơ . Vì thế thành phần loài của 2 ngành tảo Mắt và tảo Lam ở thủy vực kênh cấp thường thấp. Tảo Giáp thành phần loài thấp nhất do tảo phân bố rất ít ở thủy vực nước ngọt Đầu vụ, số loài thực vật nổi ở kênh cấp biến động từ 24 – 38 loài (phụ lục 2) , trong đó số loài phổ biến là 24 – 32 loài chiếm 60% trong các thủy vực, có khuynh hướng 16 0 giảm ở giữa vụ biến động từ 19 – 40 loài. Đến cuối vụ, thành phần loài thực vật nổi không giảm tiếp biến động 20 – 38 loài số lòai phổ biến là 20 – 29 loài chiếm 50% trong tổng số các thủy vực thu. Kết quả phân tích định tính ở kênh cấp qua 3 đợt khảo sát cho thấy thành phần loài thực vật nổi khá phong phú nhưng ít biến động qua 3 đợt thu mẫu do là thủy vực kênh cấp. Những giống loài xuất hiện nhiều và thường xuyên qua các đợt khảo sát là: Melosira granulate, Nitzchia acicularis, Synedra ulna..( tảo Khuê); Chlorella sp, Crucigenia fenestrate, Crucigenia quadrata, Pediastrum dulpex, Pediastrum tetras, Scenedesmus acuminatus , Scenedesmus bijugatus var. bijugatus, Scenedesmus quadricauda...(tảo Lục);Euglena acutissima, Phacus acuminate, Phacus alata, Strombomonas urceolata...(tảo Mắt);Anabeana circinalis, Oscillatoria Formosa, Spirulina platensis...(tảo Lam). 4.2.2 Biến động số lượng thực vật nổi: Số lượng thực vật nổi qua các đợt khảo sát biến động từ 48.356 – 2.062.556 cá thể/l cho thấy số lượng tảo phát triển khá thấp và 2 ngành luôn chiếm số lượng lớn là tảo Lục và tảo Khuê. Nhìn chung thì số lượng thực vật nổi tăng từ đầu vụ đến cuối vụ nuôi. Sự biến động này được trình bày qua Hình 4.3. 2,000,00 cá thể/lít 1,500,000 Đầu vụ 1,000,000 500,000 - 1.1.1 1.2.1 1.3.1 2.1.1 2.2.1 2.3.1 3.1.1 3.2.1 3.3.1 3.4.1 Lục Khuê Mắt Lam Giáp Tổng 2,000,000cá thể/lít 1,500,000 Giữa vụ 1,000,000 500,000 - 1.1.1 1.2.1 1.3.1 2.1.1 2.2.1 2.3.1 3.1.1 3.2.1 3.3.1 3.4.1 Lục Khuê Mắt Lam Giáp Tổng 17 cá thể/lít 2,000,000 Cuối vụ 1,500,000 1,000,000 500,000 - 1.1.1 1.2.1 1.3.1 2.1.1 2.2.1 2.3.1 3.1.1 3.2.1 3.3.1 3.4.1 Lục Khuê Mắt Lam Giáp Tổng Hình 4.3 Biến động số lượng thực vật nổi ở kênh cấp (cá thể/l) Mật độ thực vật nổi ở kênh cấp không có sự biến động lớn giữa 3 đợt thu mẫu. Mật độ thực vật nổi trung bình ở đầu vụ 612.374±604.778 cá thể/l sau đó giảm ít ở giữa vụ 452,192±316,971cá thể/l. Giữa vụ, thủy vực kênh cấp có ảnh hưởng bởi quá trình thay nước ( 20 – 30% lượng nước/ngày) từ ao nuôi nhưng ảnh hưởng không nhiều đến biến động mật độ tảo so với đầu vụ do đây là thủy vực nước chảy. Tảo Lục cũng là ngành có mật độ cao nhất ở các thủy vực kênh cấp và chúng quyết định mật độ tổng cộng trong các kênh cấp. Biến động mật độ tảo ở giữa vụ khác biệt không có ý nghĩa so với đầu vụ (p>0,05). Cuối vụ, mật độ thực vật nổi tăng gấp 2 lần là 887.251± 478.292cá thể/l so với ở giữa vụ 452,192±316,971 cá thể/l do quá trình thay nước từ ao nuôi ở cuối vụ cao (30 – 40 % lượng nước/ngày) hơn đầu vụ và giữa vụ. Trong đó, mật độ tảo Lục chiếm cao nhất và tảo Khuê đứng thứ 2 sau tảo Lục so với các ngành tảo khác thì có mật độ thấp. Sự biến động mật độ tảo của các ngành tảo Lục, tảo Mắt và tảo Giáp khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê (p>0,05) so với đầu vụ và giữa vụ. Biến động mật độ ngành tảo Khuê và tảo Lam tăng ở cuối vụ khác biệt có ý nghĩa (p<0,05) so với đầu vụ và giữa vụ. Như vậy, sự phát triển mạnh thành phần loài tảo Khuê và mật độ ở kênh cấp cho thấy nguồn nước cấp vào các ao nuôi cá tra chưa bị ô nhiễm. Đầu vụ, có sự biến động về mật độ thực vật nổi giữa các kênh cấp, dao động 48.356 – 2.062.556 cá thể/l. Các kênh cấp 3.2.1 và 3.3.1 có mật độ thực vật nổi lớn hơn 1 triệu tế bào/l chiếm 20% dao động 1,107,556 - 2,062,556 cá thể/l . Các thủy vực còn lại có mật độ thực vật nổi dưới 1 triệu tế bào /l chiếm 80% . Giữa vụ, biến động mật độ thực vật nổi có khuynh hướng giảm so với đầu vụ, dao động 245,000 - 1,232,500 cá thể/l. Thủy vực kênh cấp 1.3.1 có mật độ thực vật nổi 18 lớn hơn 1 triệu tế bào/l chiếm 10% (1,232,500 cá thể/l). Các mật độ thực vật nổi còn lại ở các kênh cấp nhỏ hơn 1 triệu tế bào/l chiếm 90% dao động 245.000 – 659.000 cá thể/l . Giữa vụ nuôi các thủy vực kênh cấp này bị ảnh hưởng bởi quá trình thay nước từ ao nuôi (20 – 30% lượng nước/ngày) nhưng mật độ tảo khác biệt không nhiều so với đầu vụ do quá trình tự làm sạch nước thải từ ao nuôi của thủy vực kênh cấp cao. Cuối vụ, biến động mật độ thực vật nổi có khuynh hướng cao hơn đầu vụ và giữa vụ, dao động 390,556 - 1,686,722 cá thể /l vì thời gian này sự biến động thực vật nổi chịu ảnh hưởng lớn từ quá trình chăm sóc quản lí của con người như độ thay nước nhiều hơn ở đầu vụ và giữa vụ (30 – 40% lượng nước /ngày). Mật độ thực vật nổi ở kênh cấp 2.1.1, 2.2.1 và 3.1.1 lớn hơn 1 triệu tế bào/l chiếm 30% dao động 1,371,528 -1,686,722 cá thể/l do ảnh hưởng bởi quá trình thay nước từ ao nuôi có qui mô lớn (với diện tích nuôi dao động 8500 – 13000 m2 ) làm cho mật độ tảo ở thủy vực kênh cấp này cao hơn các kênh cấp còn lại. Mật độ thực vật nổi các kênh cấp 1.1.1, 1.2.1 và 1.3.1 nhỏ hơn 1 triệu tế bào/l do có ao thải được xử lí (làm giảm hàm lượng dinh dưỡng ) trước khi đưa ra kênh cấp. Đối với các kênh cấp 2.3.1;3.2.1; 3.3.1 và 3.4.1 cũng nhỏ hơn 1 triệu tế bào/l do ảnh hưởng bởi quá trình thay nước ít hơn (qui mô nuôi nhỏ). Cuối vụ mật độ tảo Lục chiếm ưu thế ở các thủy vực thu mẫu dao đông 160.000 – 1.000.000 cá thể/l, kế là tảo Khuê dao động 22.000 – 400.000 cá thể/l, các nghành tảo Lam, tảo Mắt tảo Giáp có mật độ tảo dao động thấp hơn. Theo Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản 1, 2004 thì mật độ thực vật nổi ở các thủy vực nước chảy thường nhỏ hơn 1 triệu cá thể/l. Như vậy kết quả phân tích thì đa số các kênh cấp nhỏ hơn 1 triệu cá thể/l phù hợp viện nghiên cứu NTTS1. Một số, mật độ lớn hơn 1 triệu cá thể/ l do nuôi cá Tra bị ảnh hưởng bởi 1 lượng lớn chất thải từ ao nuôi làm cho kênh cấp có sự tăng dần hàm lượng dinh dưỡng. Tóm lại, thành phần loài thực vật nổi khá đa dạng và mật độ thực vật nổi chỉ ở mức thấp, không có sự biến động lớn giữa 3 đợt thu mẫu. 4.3.Cấu trúc thành phần và biến động số lượng thực vật nổi (phytoplankton) ở ao nuôi cá tra thâm canh: 4.3.1 Thành phần loài thực vật nổi trong ao nuôi: Trong ao nuôi tùy theo điều kiện môi trường và sự tác động trong quá trình quản lý chăm sóc cá nuôi mà cơ cấu thành phần loài thực vật nổi có sự biến đổi khác nhau giữa các đợt khảo sát. Cấu trúc thành phần thực vật nổi ở ao nuôi qua 3 đợt khảo sát 19 là: Ngành tảo Khuê, ngành tảo Lục, ngành tảo Mắt, ngành tảo Lam, ngành tảo Giáp không khác biệt so với ở kênh cấp. Kết quả phân tích định tính cho thấy thành phần loài ở ao nuôi dao động 29- 31 loài. Kết quả phân tích thành phần loài ở ao nuôi được trình bày ở Hình 4.4 Ao nuôi 35 30 25 20 15 10 5 0 H Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Khuê Lục M ắt Lam Giáp Tổng ì Hình 4.4: Thành phần thực vật nổi (phytoplankton) trong ao nuôi Thành phần loài ở ao nuôi qua 3 đợt khảo sát có sự biến động không lớn, dao động từ 29- 31 loài do ao nuôi thường xuyên trao đổi nước từ kênh cấp. Thành phần loài thực vật nổi có khuynh hướng giảm từ đầu vụ 31 loài, giữa vụ 30 loài và đến cuối vụ 29 loài. Cũng như kênh cấp trong ao nuôi có 5 ngành tảo thì tảo Lục chiếm ưu thế, đứng thứ 2 là thành phần loài tảo Mắt do hàm lượng dinh dưỡng ở ao nuôi cao thích hợp cho tảo Mắt ( Euglena, phascus..) phát triển (Dương Đức Tiến, Võ Hành, 1997). Ngành tảo Khuê có khuynh hướng giảm ở cuối vụ do môi trường cá Tra dinh dưỡng cao (tảo Khuê thích hợp trong môi trường dinh dưỡng trung bình). Như vậy, ở kênh cấp thành phần loài tảo Lục và tảo Khuê chiếm ưu thế thì ở ao nuôi ngoài tảo Lục chiếm ưu thế thì thành phần loài tảo Mắt lại là thành phần tảo phát triển mạnh cho thấy mức độ nhiễm bẩn ở ao nuôi so với kênh cấp. Theo Boyd (1990) nghiên cứu về thành phần tảo trong các ao nuôi cá cho thấy tảo Lục, tảo Lam là nhóm chiếm ưu thế, chúng có thể đạt 90% số lượng loài. Kết quả phân tích thì tảo Lục cũng là ngành chiếm ưu thế phù hợp với kết quả nghiên cứu của Boyd,1990. So sánh thành phần các loài tảo qua 3 đợt khảo sát trong ao nuôi (hình 4.4) cho thấy tảo Lục chiếm thành phần loài nhiều nhất và có khuynh hướng tăng từ đầu vụ 45% 20 (14 loài) đến giữa vụ 50% (15 loài) và cuối vụ 52% (15 loài). Ngành tảo Mắt cũng có khuynh hướng tăng dần từ đầu vụ 23% (7 loài) đến giữa vụ 23,3% (7 loài) và giảm ở cuối vụ 20,7% (6 loài) do ao nuôi dinh dưỡng cao hơn kênh cấp phù hợp cho tảo phát triển. Các ngành tảo còn lại có khuynh hướng giảm dần từ đầu vụ đến cuối vụ. Sự biến động về thành phần loài các ngành tảo khác biệt không có ý thống kê giữa các đợt thu mẫu (p>0,05). Tảo Khuê giảm dần từ đầu vụ đến cuối vụ, ngược lại thì tảo Lục và tảo Mắt chiếm ưu thế qua các đợt thu mẫu cho thấy quá trình tích lũy dinh dưỡng của ao nuôi tăng dần theo từng đợt thu mẫu. Các giống loài Euglena, Oscillatoria, Scenedesmus, Chlorella, xuất hiện thường xuyên chỉ thị sự ô nhiễm nước ao nuôi (Dương Đức Tiến, Võ Hành, 1997). Đầu vụ nuôi, thành phần loài tảo biến động trong ao nuôi từ 19 – 40 loài (phụ luc 2) và số loài phổ biến là 19 – 30 loài chiếm 60% ở các ao nuôi. Giữa vụ nuôi, thành phần tảo giảm so với đầu vụ biến động từ 17 – 38 loài và số loài phổ biến là 17 – 28 loài chiếm 50%. Cuối vụ nuôi, thành phần tảo không khác biệt nhiều so với giữa vụ biến động từ 19 – 37 loài và số loài tảo phổ biến từ 19 – 30 loài chiếm 60% ở các ao nuôi. Thành phần tảo Lục chiếm ưu thế qua 3 đợt thu mẫu, tảo Mắt có khuynh hướng gia tăng từ đầu vụ đến cuối vụ cho thấy ao nuôi có sự tăng dần mức độ ô nhiễm của ao nuôi. Theo kết quả nghiên cứu của Huỳnh văn Đại & ctv,2002 trong ao nuôi cá tra thịt trắng, tảo Lục cũng là ngành chiếm ưu thế 40,5%, kế là tảo Khuê 26,58% , tảo Mắt, tảo Lam có thành phần loài thấp. Kết quả phân tích qua 3 đợt thu có tảo Lục chiếm cao nhất, tảo Mắt đứng thứ 2 so với nghiên cứu Huỳnh văn Đại & ctv, 2002 thì ta thấy có sự gia tăng mức độ nhiễm bẫn ở ao nuôi. Sự phong phú về thành phần loài tảo Lục ở ao nuôi có ý nghĩa rất quan trọng trong nuôi trồng thủy sản. Vì tảo Lục đặc trưng cho môi trường dinh dưỡng trung bình và giàu dinh dưỡng nhưng chưa bị ô nhiễm ( Dương đức Tiến, 1997). Ngoài ra một số loài thuộc tảo Khuê, tảo Mắt, tảo Lam, tảo Giáp cũng xuất hiện nhưng số loài ít hơn tảo Lục do thành phần loài tảo Lục đa dạng hơn nhưng tỉ lệ cấu trúc thành phần loài thay đổi theo điều kiện dinh dưỡng. Ví dụ như: tảo Lục chiếm thành phần và số lượng cao trong các thủy vực nước ngot, điều kiện môi trường giàu dinh dưỡng; tảo Mắt trong môi trường nước ngọt, giàu chất hữu cơ. Thành phần loài tảo Mắt phát hiện trong ao nhiều hơn ngoài sông do trong ao có thành phần dinh dưỡng phù hợp cho tảo Mắt phát triển. 21 Nhìn chung, trong ao nuôi cá Tra thâm canh mức độ ô nhiễm tăng dần đầu vụ đến cuối vụ nuôi đây là nguyên nhân làm thành phần loài giảm, vào cuối vụ có loài ưu thế phát triển. Trong ao nuôi cá Tra thâm canh có sự biến động theo hướng tăng hàm lượng dinh dưỡng biến động từ trung bình đến giàu nhưng thành phần thực vật nổi trong ao nuôi cũng phong phú do quá trình lấy nước vào không qua xử lí mang theo thành phần tảo từ kênh cấp vào. Như vậy, ở kênh cấp thành phần loài tảo Lục và tảo Khuê chiếm ưu thế, nhưng ao nuôi thì tảo Lục và tảo Mắt chiếm ưu thế cho thấy thành phần giống loài tảo có sự thay đổi theo hàm lượng dinh dưỡng, trong ao nuôi dinh dưỡng cao hơn ở kênh cấp. So sánh cấu trúc thành phần thực vật nổi trong ao nuôi với kênh cấp không có sự khác biệt về thành phần các nhóm ngành, chỉ khác nhau ở số lượng loài, ở ao nuôi dao động 29 – 31 loài ít hơn so với kênh cấp dao động 30 – 32 loài nhưng sự khác nhau này không có ý nghĩa. Trong ao nuôi thành phần loài thấp hơn kênh cấp do trong ao nuôi có sự tích lũy chất hữu cơ và chất thải từ cá nuôi làm môi trường giàu dinh dưỡng không còn thích hợp cho sự phát triển của một số giống loài thực vật nổi (tảo Khuê thành phần giống loài giảm khi hàm lượng dinh dưỡng tăng dần). Các loài tảo xuất hiện trong ao đều tìm thấy ở kênh cấp. Trong số 5 ngành tảo trên thì tảo lam có khả năng cố đinh đạm nitơ từ khí quyển (tìm thấy men nitrogenaza trong tế bào dị hình). Và các giống loài tảo Lam này thường sinh ra chất gây mùi khó chịu cho thịt vật nuôi và dễ phát triển mạnh trong điều kiện giàu dinh dưỡng nên người nuôi rất ngại việc tảo Lam phát triển trong ao. Ngoài ra tảo Lam có tính ổn định hơn các loài tảo khác. Thành phần loài thường gặp qua các đợt thu mẫu: Pediastrum dulpex var. duplex, Scenedesmus acuminatus var. acuminatus, Scenedesmus quadricauda var.quadricauda, Actinastrum hantzchii var. hantzchii..(Tảo lục).; Melosira granulate, Melosira granulata var. valida, Suriella tenera..(Tảo khuê); Euglena acutissima, Phacus alata, Strombomonas urceolata...( Tảo mắt); Anabeana circinalis, Microcystis aeruginosa, Oscillatoria Formosa... (Tảo lam). Tuy nhiên, số lượng của các loài tảo này trong ao thấp, trừ giống Scenedesmus thường có mật độ cao trong các ao nuôi. 4.3.2 Biến động số lượng thực vật nổi: Số lượng thực vật nổi tăng theo chu kì thu mẫu qua các đợt khảo sát biến động từ 284.278 - 12.380.500 cá thể/l cho thấy số lượng tảo phát triển cao nhiều lần so với 22 kênh cấp. Trong đó, có 2 ngành luôn chiếm số lượng lớn là tảo Lục và tảo Khuê qua 3 đợt khảo sát. Biến động được trình bày qua (hình 4.5). 12,000,000 10,000,000 Đầu vụ 8,000,000 6,000,000 4,000,000 2,000,000 - 1.1.2 1.2.2 1.3.2 2.1.2 2.2.2 2.3.2 3.1.2 3.2.2 3.3.2 3.4.2 12,000,000 10,000,000 Lục Khuê Mắt Lam Giáp Tổng Giữa vụ 8,000,000 6,000,000 4,000,000 2,000,000 - 1.1.2 1.2.2 1.3.2 2.1.2 2.2.2 2.3.2 3.1.2 3.2.2 3.3.2 3.4.2 12,000,000 10,000,000 Lục Khuê Mắt Lam Giáp Tổng Cuối vụ 8,000,000 6,000,000 4,000,000 2,000,000 - 1.1.2 1.2.2 1.3.2 2.1.2 2.2.2 2.3.2 3.1.2 3.2.2 3.3.2 3.4.2 Lục Khuê Mắt Lam Giáp Tổng Hình 4.5: Biến động số lượng thực vật nổi trong ao nuôi 23 Mật độ thực vật nổi biến động lớn qua 3 đợt thu mẫu. Đầu vụ nuôi, mật độ trung bình 2,503,796 ± 2,172,502 cá thể/l và giảm ở giữa vụ 2,117,977 ± 923,311 cá thể/l không khác biệt lớn ở đầu vụ. Giữa vụ nuôi, lúc này đã có sự tích lũy dinh dưỡng nhưng mật độ tảo không tăng do thu mẫu vào những tháng mùa mưa thời tiết biến động nhiều làm ảnh hưởng đến biến động tảo trong ao. Các ngành tảo biến động ở giữa vụ khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê (p>0,05) so với đầu vụ. Mật độ thực vật nổi ở cuối vụ 3,704,903± 3,519,268 cá thể/l tăng nhiều so với giữa vụ 2,117,977 ± 923,311 cá thể/l do cuối vụ hàm lượng dinh dưỡng tăng nhanh làm cho mật độ tảo tăng cao nhưng thời gian này ao nuôi cũng bị ảnh hưởng từ quá trình chăm sóc và quản lí của con người. Mật độ tảo lục tăng lên ở cuối vụ và chiếm ưu thế trong các thủy vực thu mẫu nhưng khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê (p>0,05) ở đầu vụ và cuối vụ. Ngành tảo Khuê ở cuối vụ tăng cao và khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê (p<0,05) so với đầu và giữa vụ. Ngành tảo Lam ở cuối vụ khác biệt có ý nghĩa (p0,05) so với đầu vụ. Các ngành tảo mắt và tảo giáp khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê (p>0,05) so với đầu vụ và giữa vụ. Đầu vụ nuôi, có sự biến động lớn mật độ thực vật nổi giữa các ao thu mẫu, dao động 284,278 – 6,463,778 cá thể/l; các ao 1.1.2, 1.2.2 và 1.3.2 mật độ tảo dao động 622,417 - 6,463,778 cá thể/l trong đó ao 1.3.2 có mật độ tảo cao nhất do ao này thu mẫu sau khi thả cá 2 tuần vì thế trong khoảng thời gian này thực vật nổi đã gia tăng mật độ , các ao 2.1.2, 2.2.2 và 2.3.2 có mật độ tảo dao động 284,278 – 1,612,083 cá thể/l, các ao còn lại (3.1.2, 3.2.2, 3.3.2 và 3.4.2) mật độ tảo dao động 1,522,500 - 4,595,667 cá thể/l do các ao này thu mẫu sau khi thả cá 2 – 3 tuần nên mật độ tảo ở các ao này biến động tương đối cao. Tuy nhiên tảo Lục vẫn chiếm ưu thế về số lượng ở tất cả các thủy vực thu mẫu. Giữa vụ nuôi mật độ thực vật nổi có khuynh hướng giảm ít ở một số ao so với đầu vụ. Các ao 1.1.2, 1.2.2 và 1.3.2 có mật độ tảo dao động 616,889 – 2,835,833 cá thể/l giảm so với đầu vụ do quá trình chăm sóc và quản lí của con người. Ví dụ như thay nước bao nhiêu trong ao thì sẽ có bấy nhiêu hàm lượng dinh dưỡng và số lương tảo ra khỏi ao, hoặc khi bón vôi thì sẽ cạnh tranh CO2 với tảo. Riêng các ao 2.1.2, 2.2.2 và 2.3.2 có mật độ tảo dao động 1,772,556 – 3,100,000 cá thể/l tăng so với đầu vụ do dinh dưỡng ao nuôi tăng dần. Các ao 3.1.2, 3.2.2, 3.3.2 và 3.4.2 có mật độ tảo dao động 1,719,667 – 3,429,467 cá thể/l không khác biệt nhiều so với đầu vụ do qui mô nuôi ở các ao này nhỏ, có ảnh hưởng của quá trình thay nước nên mật độ ở các ao này không tăng. Trong 5 ngành tảo thì mật độ tảo Lục thường chiếm ưu thế về 24 số lượng và gần như quyết định đến sự biến động chung mật độ của các ngành tảo khác trong tất cả các ao. Cuối vụ nuôi, mật độ tảo có khuynh hướng cao hơn đầu vụ và giữa vụ ở các ao do cuối vụ nuôi hàm lượng dinh dưỡng tăng rất cao, mặt dù ao có trao đổi nước với kênh cấp . Riêng các ao 3.1.2, 3.2.2, 3.3.2 và 3.4.2 có khuynh hướng giảm vào cuối vụ với mật độ tảo 2 triệu cá thể/l chiếm 40% do diện tích các ao nuôi này nhỏ ( 1500 – 4000m2), lượng nước thay nhiều ( 20 – 30% lượng nước/ ngày), mặt khác có thể do lấy nước trực tiếp vào ao, khoảng 7 – 10 ngày mới xử lí nước trong ao 1 lần… nên mật độ tảo trong các ao này giãm. Nhìn chung, sự biến động lớn số lượng tảo giữa các ao ở cuối vụ nuôi do qui mô nuôi, công tác quản lí khác nhau giữa các ao (thay nước hay xử lý hóa chất (vôi CaCO3)), sự phát triển của động vật nổi trong ao… nên ảnh hưởng đến mật độ tảo trong ao. Qua 3 đợt thu mẫu, tảo Lục luôn chiếm ưu thế do nó có khả năng sinh sản nhanh và thích ứng trong ao giàu dinh dưỡng. Ngoài ra, tảo Lục chiếm thành phần loài lớn nhất trong các ngành tảo và thường xuất hiện sớm trong ao do quá trình lấy nước vào là chủ yếu, do tỉ lệ giữa diện tích và thể tích cơ thể cao nên khả năng hấp thu thức ăn và ánh sáng cao hơn loại tảo có kích thước lớn hơn, vì vậy mà tốc độ phát triển của tảo bé ( tảo lục) nhanh (Lê Văn Cát & ctv,2006). Mật độ tảo Lục tăng cao so với các ngành tảo khác qua 3 đợt thu mẫu và nó quyết định mật độ tảo tổng cộng ở ao nuôi với mật độ trung bình biến động từ 1,8 – 2,5 triệu cá thể/l. Nhóm ngành tảo đứng thứ 2 là tảo Khuê với mật độ trung bình từ 66.000 – 1.300.000 cá thể/l. Tảo lam tăng chậm hơn so với các ngành khác qua các đợt khảo sát (100.000 – 162.000 cá thể/l) do tốc độ phát triển chậm, kích thước của chúng khá lớn và khả năng đồng hóa không cao trong cơ thể ( Lê văn Cát,2006). Tảo Mắt có thành phần loài và số lượng cao hơn ở kênh cấp và tăng dần từ đầu vụ đến cuối vụ. Nhóm tảo Giáp mặt dù có xuất hiện trong các ao nuôi nhưng mật độ của chúng rất thấp so với các ngành tảo khác. Hơn nữa, các nhóm tảo có sự thích ứng với điều kiện dinh dưỡng khác nhau, tảo Khuê phát triển trong điều kiện dinh dưỡng thấp (Dương Thị Hoàng Oanh và Trương Quốc Phú (2008), tảo Lục phát triển trong môi trường có hàm lượng dinh dưỡng trung bình đến giàu (Dương Đức Tiến, 1997), còn tảo Lam và tảo Giáp phát triển trong môi trường dinh dưỡng cao. Như vậy, sự chiếm ưu thế về số lượng tảo Lục, tảo Khuê và sự tăng dần mật độ của tảo Lam, tảo Mắt cho thấy môi trường ao nuôi có sự tăng dần mức độ ô nhiễm. Như vậy, Hai ngành tảo Mắt và tảo Lam có số lượng thấp và tăng ít vào cuối vụ nuôi. Ngoài ra, sự khác biệt về thành phần loài ưu thế và mật độ tảo giữa ao nuôi và 25 kênh cấp cho thấy môi trường ao nuôi giàu dinh dưỡng hơn so với kênh cấp. Mật độ tảo Lục tăng cao, ngược lại tảo Mắt và tảo Lam không cao cho thấy môi trường ao nuôi giàu dinh dưỡng nhưng không bị nhiễm bẫn. Qua kết quả khảo sát cho thấy số lượng tảo tăng dần từ đầu vụ đến cuối vụ, số lượng các ngành tảo biến động phụ thuộc vào sự phát triển của các giống loài ưu thế. Một số giống loài có mật độ cao: Pediastrum, Coelastrum, Chlorella, Scenedesmus, Melosira, Osillatoria… đặc biệt là nhóm scenedesmus (Chlorophyta). Theo Viện Nghiên Cứu NTTS1,2004 thì mật độ tảo nên duy trì trong các ao nuôi cá nước ngọt dao động từ 2 triêu – 5 triệu là thích hợp. Kết quả phân tích mật độ tảo trung bình biến động 2,117,977 ± 923,311 - 3,704,903± 3,519,268 cá thể/l với kết quả này thì thích hợp trong ao nuôi. Một số ao thu số lượng tảo > 5 triệu cá thể/l có ao lên 12 triệu cá thể/l do trong ao nuôi cá Tra thâm canh quá trình tích lũy hàm lượng dinh dưỡng cao hơn so với các ao nuôi cá nước ngọt khác. Theo kết quả phân tích của Huỳnh Văn Đại và ctv. (2002) mật độ cá thể thực vật nổi trong ao cá Tra dao động từ 179.767 – 401.611 tế bào/lít thấp hơn nhiều lần so với kết quả tích phân tích được. Như vậy, sự phát triển về thành phần loài tảo ưu thế và mật độ tảo trong ao cao hơn thủy vực tự nhiên khoảng 10 lần do đây là thủy vực kín (ao nuôi) chịu tác động chủ yếu từ việc chăm sóc quản lí của con người như: cho ăn, thay nước, bón vôi,…nên ao nuôi thường giàu dinh dưỡng hơn so với kênh cấp. Có nhiều biện pháp để kiểm soát tảo và chất thải trong ao nuôi nhưng biện pháp đơn giản, có hiệu quả nhất là quản lí thức ăn và thay nước, thường thì đầu vụ nuôi thay khoảng 20 – 25% lượng nước/ tuần đến giữa và cuối vụ nuôi 20 – 40% nước/ ngày. 4.4.Cấu trúc thành phần và biến động số lượng thực vật nổi (phytoplankton) ở ao thải cá tra thâm canh: 4.4.1 Thành phần loài thực vật nổi: Cấu trúc thành phần loài thực vật nổi trong ao thải khá phong phú dao động 24 – 27 loài qua 3 đợt khảo sát, không có xu hướng giảm qua các đợt thu. Kết quả định tính được trình bày qua (hình 4.6). 26 Ao thải 30 25 20 15 10 5 0 Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Khuê Lục Mắt Lam Giáp Tổng Hình 4.6: Thành phần loài thực vật nổi trong ao thải Qua Hình 4.6 cho thấy thành phần giống loài thực vật nổi dao động 26 – 27 loài ít hơn ao nuôi (29 – 31 loài). Nước trong ao nuôi được thay định kỳ và lượng nước thải ra được trữ trong ao thải trước khi thải ra môi trường ngoài cho nên thành phần loài thực vật nổi trong ao thải chịu ảnh hưởng chính từ ao nuôi, vì vậy phần lớn thành phần loài trong ao thải được tìm thấy trong ao nuôi. Biến động thành phần giống loài ở ao thải đầu vụ 26 loài giảm ở giữa vụ 24 loài tăng trở lại ở cuối vụ (27 loài). Tảo Lục khuynh hướng tăng dần từ đầu vụ 12 loài đến cuối vụ 15 loài. Ngược lại, tảo Khuê giảm dần từ đầu vụ 7 loài đến cuối vụ 4 loài. Tảo Mắt cũng có khuynh hướng giảm ở cuối vụ nhưng tảo Lam không có khuynh hướng giảm. Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê (p>0,05). Ở ao nuôi, tảo Lục và tảo Mắt phát triển mạnh nhưng ở ao thải ngoài tảo Lục và tảo Mắt thì tảo Lam cũng là ngành phát triển mạnh qua 3 đợt thu mẫu cho thấy ao thải cũng giàu dinh dưỡng. Thành phần giống loài ở ao thải tương đối phong phú do ao thải chịu ảnh hưởng trực tiếp từ ao nuôi (ao nuôi có thành phần loài phong phú). 4.4.2 Biến động số lượng thực vật nổi: Số lượng thực vật nổi biến động lớn qua các đợt khảo sát từ 560.000 - 12.300.000 cá thể/l. Số lượng thực vật nổi có sự khác biệt lớn giữa các ao thải thu trong cùng đợt và giữa các đợt. Biến động được trình bày qua (Hình 4.7) 27 12,000,000 10,000,000 Đầu vụ 8,000,000 6,000,000 4,000,000 2,000,000 - 1.1.3 1.2.3 1.3.3 Lục Khuê Mắt Lam Giáp Tổng 12,000,000 10,000,000 Giữa vụ 8,000,000 6,000,000 4,000,000 2,000,000 - 1.1.3 1.2.3 1.3.3 Lục Khuê Mắt Lam Giáp Tổng 12,000,000 10,000,000 Cuối vụ 8,000,000 6,000,000 4,000,000 2,000,000 - 1.1.3 1.2.3 1.3.3 Lục Khuê Mắt Lam Giáp Tổng Hình 4.7: Biến động số lượng thực vật nổi trong ao thải Mật độ trung bình ở đầu vụ là 5,230,1300 ± 6,475,296 cá thể/l, giảm ở giữa vụ (955,741 ± 407,375 cá thể/l ) và tăng trở lại vào cuối vụ nuôi (3,800,741 ± 1,516,362 cá thể/l). Trong đó, ngành tảo Lục biến động qua các đợt thu mẫu và chiếm số lượng cao nhất trong các ngành qua các đợt thu, các ngành tảo còn lại biến động với số lượng thấp. Tuy nhiên, sự khác biệt về mật độ tảo của các ngành qua 3 đợt không có ý nghĩa về mặt thống kê (p>0,05). 28 Đầu vụ, ao thải có mật độ cao nhất là 12,684,500 cá thể/l do ảnh hưởng trực tiếp từ ao nuôi (thay nước). Số lượng thực vật nổi hai ao thải còn lại thấp dao động từ 999,222 - 2,006,667 cá thể /l do hai ao này chưa bị ảnh hưởng bởi nước thải từ ao nuôi. Giữa vụ, số lượng thực vật nổi dao động từ (560.333 – 1.374.111 cá thể/l) giảm so với đầu vụ (999.222 – 12.648.500 cá thể/l). Mật độ tảo giữa vụ ở ao thải giảm do mật độ tảo trong ao nuôi thấp và bị hạn chế ánh sáng do ao thải có thả lục bình. Cuối vụ, số lượng thực vật nổi tăng dần trở lại dao động từ (2.678.500 – 5.527.778 cá thể/l) do hàm lượng dinh dưỡng và mật độ tảo từ ao nuôi cao, mật độ tảo cao nhất ở cuối vụ là 5,527,778 cá thể/l. Nhìn chung sự biến động số lượng quần thể thực nổi ở ao thải phụ thuộc khá nhiều vào chất lượng nước thải ra từ ao nuôi, chu kì phát triển của tảo… Người dân ở đây xử lí nước thải bằng cách trồng lục bình để hấp thu bớt hàm lượng dinh dưỡng (đạm, lân) trước khi đưa ra môi trường xung quanh hoặc cho nước chảy tràn sang các ruộng trồng trọt ( trồng mè). Tóm lại: Trong nuôi cá tra thâm canh hàm lượng dinh dưỡng thường cao. Theo kết quả phân tích cho thấy thành phần giống loài tảo tương đối phong phú và số lượng biến động nằm trong khoảng thích hợp. Mặc dù thành phần các loài tảo phong phú ở 3 loại hình thủy vực: kênh cấp, ao nuôi, ao thải nhưng vẫn có xu hướng giảm từ đầu vụ đến giữa vụ nhưng vào cuối vụ nuôi đa số thành phần tảo có khuynh hướng tăng trở lại so với giữa vụ. Sự giãm này thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên mật độ tảo tăng dần vào cuối vụ, trong đó ngành tảo Lục là ngành tảo chủ yếu quyết định đến sự biến động tăng, giảm này. Kết quả khảo sát mật độ tảo ở kênh cấp rất thấp (biến đông từ nghèo đến dinh dưỡng trung bình) so với ao nuôi và ao thải (giàu dinh dưỡng). 29 5.1 Kết luận PHẦN 5 KẾT LUẬN - ĐỀ XUẤT Thành phần loài thực vật nổi: Tổng số giống loài thu được trong hệ thống nuôi là 156 loài trong đó tảo lục chiếm nhiều nhất 72 loài (46,2%) kế là tảo khuê 50 loài (32,1%), tảo mắt 22 loài (14,1%), tảo lam 8 loài (5,1%), tảo giáp 4 loài (2,6%), mức độ phong phú giảm dần từ kênh cấp đến ao nuôi và thấp nhất là ao thải. Nhóm tảo lục luôn chiếm ưu thế ở hầu hết các thủy vực khảo sát. Các loài tảo chiếm ưu thế là những loài tảo đặc trưng cho vùng tích lũy vật chất dinh dưỡng như: Melosira (tảo Khuê); Scenedesmus, chlorella (tảo Lục); Oscillatoria, Microcystis (tảo Lam); Euglena (tảo Mắt). Tính đa dạng trong ao nuôi và ao thải thấp hơn ở kênh cấp. Tảo lục là ngành chiếm ưu thế ở 3 dạng hình thủy vực và qua 3 đợt thu mẫu. Số lượng thục vật nổi: Ở kênh cấp: số lượng thực vật nổi kênh cấp thấp dao động 48.000 – 2.000.000 cá thể/l và trung bình tăng dần từ đợt 1 (612,374 cá thể/l) đến đợt 3 (887.251 cá thể/l), Ao nuôi: số lượng thục vật nổi trong ao nuôi cao hơn nhiều lần ở kênh cấp dao động 290.000 - 12,380,500 cá thể/l và tăng dần từ đợt 1 (2.503.796 cá thể/l) đến đợt 3 (3.704.903 cá thể/l) Ao thải: mật độ thực vật nổi cũng cao hơn nhiều lần so với kênh cấp dao động 290.000 – 12.000.000 cá thể/l. Mật độ tảo ở 3 dạng hình thủy vực đều có khuynh hướng tăng cao vào cuối vụ nuôi. 30 5.2 Đề xuất: -Sự biến động thành phần và số lượng trong ao nuôi cá tra thâm canh tương đối phức tạp do bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như môi trường, thời tiết và chu kì phát triển ngắn của tảo ngắn… Như vậy để đánh giá chính xác hơn về sự biến động thành phần và số lượng thực vật nổi trong ao nuôi cá tra nên tăng số lần thu mẫu lên (6 lần/vụ) so với phương pháp nghiên cứu (3 lần/vụ). - Việc nuôi cá Tra thâm canh sử dụng lượng thức ăn lớn dễ gây ô nhiểm nguồn nước và làm thực vật nổi phát triển mạnh không có lợi cho ao nuôi cá Tra. Nên nghiên cứu các biện pháp làm giảm hàm lượng dinh dưỡng để biến động thành phần loài và mật độ tảo trong ao thích hợp . 31 MỤC LỤC Phần 1 .............................................................................................................................. 1 ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................................ 1 1.1 Giới thiệu: ........................................................................................................ 1 1.2 Mục tiêu đề tài:. .................................................................................................... 2 1.3 Nội dung của đề tài: .............................................................................................. 2 1.4 Thời gian thực hiên:.............................................................................................. 2 Phần 2 .............................................................................................................................. 3 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU............................................................................................... 3 2.1 Tình hình nuôi và phát triển nuôi trồng thủy sản: .............................................. 3 a. Tình hình nuôi và xu hướng phát triển nuôi trồng thủy sản thế giới: ..............3 b. Tình hình nuôi và xu hướng phát triển cá tra ở Việt nam (ĐBSCL). ..............4 2.2 Vai trò của thực vật nổi trong ao nuôi cá tra:...................................................... 6 2.3 Sự phân bố và biến động thực vật nổi trong ao nuôi cá tra:............................... 7 PHẦN 3: .......................................................................................................................... 9 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................................................... 9 3.1 Vật liệu nghiên cứu:.............................................................................................. 9 3.2 Phương pháp nghiên cứu:..................................................................................... 9 a. Địa điểm thu mẫu: ...............................................................................................9 b. Phương pháp thu và xử lý mẫu thực vật nổi: ..................................................11 3.3 Phương pháp phân tích- xử lý mẫu, tính toán và xử lí số liệu: ........................ 11 a. Phương pháp phân tích – xử lí mẫu: ................................................................11 b. Phương pháp tính toán và sử lí số liệu: ...........................................................12 PHẦN 4 ......................................................................................................................... 13 KẾT QUẢ - THẢO LUẬN .......................................................................................... 13 4.1 Đặc điểm thành phần loài thực vật nổi ở hệ thống nuôi cá tra thâm canh: 13 32 4.2 Cấu trúc thành phần và biến động số lượng thực vật nổi (phytoplankton) ở kênh cấp:.................................................................................................................... 14 4.2.1 Thành phần loài thực vật nổi ở kênh cấp: ..................................................14 4.2.2 Biến động số lượng thực vật nổi:................................................................14 4.3.Cấu trúc thành phần và biến động số lượng thực vật nổi (phytoplankton) ở ao nuôi cá tra thâm canh: ............................................................................................... 18 4.3.1 Thành phần loài thực vật nổi trong ao nuôi: ..............................................18 4.3.2 Biến động số lượng thực vật nổi:................................................................21 4.4.Cấu trúc thành phần và biến động số lượng thực vật nổi (phytoplankton) ở ao thải cá tra thâm canh: ................................................................................................ 25 4.4.1 Thành phần loài thực vật nổi:......................................................................25 4.4.2 Biến động số lượng thực vật nổi:................................................................26 Tóm lại:...................................................................................................................... 28 PHẦN 5 ......................................................................................................................... 29 KẾT LUẬN - ĐỀ XUẤT ............................................................................................ 29 5.1 Kết luận ............................................................................................................... 29 5.2 Đề xuất: ............................................................................................................... 30

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdflt07069_1487.pdf
Luận văn liên quan