Sự kế thừa và phát triển các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân trong lịch sử lập hiến Việt Nam

MỞ ĐẦU Tính đến nay lịch sử lập hiến Việt Nam đã trải qua hơn nửa thế kỷ. Tuy đây là một khoảng thời gian không dài so với lịch sử lập hiến hơn hai trăm năm của các nước Pháp, Mỹ và nhiều nước khác trên thế giới nhưng nước ta đã có bốn bản Hiến pháp đánh dấu các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam, từ Nhà nước dân chủ nhân dân đến Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Cùng với sự phát triển của các chế định khác như Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, chế định về Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp cũng ngày càng phát triển và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu chính đáng của người dân và phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước. Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên 1946, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định ngay tại chương II, sau chương quy định về Chính thể. Với bản Hiến pháp đầu tiên này, người dân Việt Nam từ cảnh lầm than, nô lệ đã thực sự trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình bằng việc Hiến pháp công nhận công dân Việt Nam có quyền bầu cử, ứng cử, có quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại Từ đây địa vị pháp lý của người dân nước ta chính thức được xác lập và ghi nhận trong đạo luật cơ bản của Nhà nước. Trải qua quá trình đấu tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân tiếp tục được ghi nhận, mở rộng, bổ sung thêm nhiều quyền mới tại các Hiến pháp 1959, 1980 và 1992. Đặc biệt Hiến pháp 1992 đã ghi nhận một cách tương đối đầy đủ và hoàn thiện về chế định này. Trong số các quyền cơ bản của công dân được các bản Hiến pháp của nước ta ghi nhận thì các quyền về tự do dân chủ và tự do cá nhân luôn chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ các quyền này thể hiện mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước, thể hiện bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước ta, mức độ giải phóng cá nhân con người, đảm bảo cho con người được sống trong độc lập, tự do. Vì vậy, việc đảm bảo thực hiện trên thực tế các quy định của Hiến pháp về quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân luôn được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm. Công dân đã nhận thức được tầm quan trọng của các quyền đó đối với mình cũng như gắn liền quyền lợi của mình đối với các quy định đó. Tuy nhiên, từ việc quy định trong Hiến pháp và pháp luật đến việc bảo đảm thực hiện trên thực tế, công tác tổ chức thực hiện những quy định của Hiến pháp về quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân vẫn còn nhiều vấn đề bất cập. Đó là thủ tục hành chính còn rườm rà, gây nhiều rắc rối cho nhân dân, một số quyền đã được quy định trong Hiến pháp nhưng vẫn chưa có luật cụ thể hóa và chưa được đảm bảo thực hiện trên thực tế Trước thực tế đó, vấn đề tìm hiểu, nghiên cứu nhóm quyền này của công dân qua các bản Hiến pháp Việt Nam từ đó tìm ra những giải pháp góp phần hoàn thiện nó trong sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay có một ý nghĩa vô cùng quan trọng về lý luận và thực tiễn. Xuất phát từ lý do đó em đã chọn đề tài: “Sự kế thừa và phát triển các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân trong lịch sử lập hiến Việt Nam” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình. MỤC LỤC MỞ ĐẦU .1 CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN VỀ TỰ DO DÂN CHỦ VÀ TỰ DO CÁ NHÂN .3 1.1. Khái niệm Công dân . 3 1.2. Quyền cơ bản của công dân 6 1.2.1. Khái niệm quyền cơ bản của công dân 6 1.2.2. Đặc điểm các quyền cơ bản của công dân . 8 1.2.3. Phân loại các quyền cơ bản của công dân. 10 1.3 . Quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân . .11 1.3.1. Khái niệm quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân . 11 1.3.2. Các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân trong Hiến pháp Việt Nam 13 CHƯƠNG II: SỰ KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN VỀ TỰ DO DÂN CHỦ VÀ TỰ DO CÁ NHÂN QUA CÁC BẢN HIẾN PHÁP NƯỚC TA .15 2.1. Quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân trong Hiến Pháp 1946 15 2.2. Quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân trong Hiến Pháp 1959 .20 2.3. Quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân trong Hiến Pháp 1980 .26 2.4. Quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân trong Hiến pháp 1992 32 CHƯƠNG III: VIỆC BẢO ĐẢM THỰC HIỆN CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN VỀ TỰ DO DÂN CHỦ VÀ TỰ DO CÁ NHÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY . 43 3.1. Thực tiễn thực hiện các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân . 43 3.1.1. Việc thể chế hóa các quy định của Hiến pháp 1992 trong các văn bản quy phạm pháp luật khác .43 3.1.2. Việc thực hiện trên thực tế các quyền về tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân .45 3.2. Một số giải pháp nhằm bảo đảm các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân trong giai đoạn hiện nay . .47 3.2.1. Việc hoàn thiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quyền về tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân . .48 3.2.2. Hoàn thiện cơ chế tổ chức thực hiện các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân .51 KẾT LUẬN .55 TÀI LIỆU THAM KHẢO

doc62 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 09/03/2013 | Lượt xem: 2569 | Lượt tải: 14download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Sự kế thừa và phát triển các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân trong lịch sử lập hiến Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
“Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền tự do cư trú và đi lại”, Hiến pháp 1980 cũng chỉ quy định “Quyền tự do đi lại và cư trú được tôn trọng, theo quy định của pháp luật” với nghĩa là tự do đi lại và cư trú ở trong nước chứ không ghi nhận quyền ra nước ngoài của công dân. Hiến pháp 1992 đã ghi nhận quyền tự do đi lại và cư trú một cách cụ thể, rõ ràng và mở rộng hơn trong đó quyền ra nước ngoài của công dân là quyền mới so với Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980: công dân có quyền “tự do đi ra nước ngoài theo quy định của pháp luật”. Quy định này đã đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của nhân dân, nhằm tạo điều kiện để công dân mở rộng quan hệ giao lưu tình cảm, hợp tác kinh tế, văn hóa, mở mang dân trí và phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế, phù hợp với đường lối đối ngoại rộng mở của Nhà nước ta muốn làm bạn với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị, xã hội khác nhau. Đây cũng là sự ghi nhận lại điều thứ 10 của Hiến pháp 1946 nhưng quy định chặt chẽ hơn: “theo quy định của pháp luật” như phải tuân theo những quy định về xuất cảnh. Quyền từ nước ngoài trở về nước theo quy định của pháp luật là quyền mới lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp 1992. Việc Hiến pháp 1992 ghi nhận quyền mới này xuất phát từ thực tế khách quan và có liên quan đến số lượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Quy định này là cơ sở pháp lí tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài trở về nước với nhiều mục đích khác nhau như thăm viếng, gặp gỡ những người thân và quê hương, đặc biệt là thu hút vốn đầu tư của kiều bào về Việt Nam. Đương nhiên khi thực hiện các quyền này phải tuân theo quy định của pháp luật về nhập cảnh. Điều đó không chỉ nhằm đảm bảo sự quản lí của Nhà nước mà chính là vì lợi ích của công dân. Có thể nói Hiến pháp 1992 đã quy định một cách đầy đủ về quyền tự do đi lại và cư trú của công dân so với các bản Hiến pháp trước đây, trong đó việc ghi nhận quyền tự do đi ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật đã đáp ứng yêu cầu chính đáng của người dân và phù hợp với tình hình mới của đất nước. ● Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền hội họp, lập hội và biểu tình theo quy định của pháp luật là những quyền vốn có trong một xã hội dân chủ và là những quyền không thể thiếu được của công dân. Các quyền này là chuẩn mực xác nhận một xã hội trong đó công dân có tự do, có quyền lực thực sự hay không. Chúng có ý nghĩa và vị trí quan trọng trong cơ cấu các quyền con người và quyền công dân. Những quyền này vừa là quyền mà mỗi công dân có quyền được hưởng, lại vừa là điều kiện bảo đảm thực hiện các quyền khác, đặc biệt là các quyền về kinh tế. Kế thừa Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 tiếp tục ghi nhận quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội và tự do biểu tình của công dân trong đạo luật cơ bản của Nhà nước. Điều 69 Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Nhà nước cho phép công dân được tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình nhưng việc công dân thực hiện các quyền này phải theo quy định của pháp luật, tức là tự do nhưng phải trong khuôn khổ của pháp luật. Khi ghi nhận các quyền này, Điều 67 Hiến pháp 1980 yêu cầu công dân khi thực hiện các quyền này phải “phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân”, Hiến pháp 1992 đã diễn đạt đoạn này dưới một hình thức nhẹ nhàng, uyển chuyển, cụ thể, chính xác và chặt chẽ hơn, đó là “theo quy định của pháp luật”. Mặt khác, Hiến pháp 1992 cũng đã bỏ quy định “Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền đó” như trong Hiến pháp 1980. Cách diễn đạt này làm cho câu văn ngắn gọn, súc tích, phù hợp với văn phong của đạo luật cơ bản mà vẫn giữ được trọn vẹn ý đồ của nhà làm luật và đảm bảo tính chặt chẽ của pháp luật. Điều đó thể hiện sự tiến bộ trong kĩ thuật lập hiến của Hiến pháp 1992. Điều 69 Hiến pháp 1992 ghi nhận 6 quyền gồm: tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật trong đó quyền được thông tin là quyền mới lần đầu tiên được Hiến pháp 1992 ghi nhận. ● Quyền được thông tin Trong thời đại ngày nay, thông tin có vị trí đặc biệt quan trọng mà nếu thiếu nó, hoạt động của công dân trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như đời sống cá nhân sẽ kém hiệu quả. Thông tin đã trở thành một nhu cầu tất yếu của công dân trong đời sống hiện đại. Chính vì vậy, Hiến pháp 1992 đã ghi nhận nhu cầu quan trọng này thành một quyền cơ bản của công dân. So với các bản Hiến pháp trước, quyền được thông tin là quyền mới của công dân được Hiến pháp 1992 ghi nhận: công dân “có quyền được thông tin” (Điều 69). Quyền này được hiểu là quyền được nhận tin và truyền tin theo quy định của pháp luật. Ngày nay khi mà thông tin đã trở thành một yếu tố vô cùng quan trọng trong các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thì quyền được thông tin đã trở thành một quyền quan trọng và không thể thiếu được trong các quyền cơ bản của công dân. Để làm chủ đất nước, thực sự tham gia vào quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, đồng thời làm chủ bản thân mình, công dân cần có quyền được thông tin về tất cả các lĩnh vực. Chính vì vậy Nhà nước phải có trách nhiệm cung cấp thông tin một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời và nhiều chiều những vấn đề không thuộc bí mật Nhà nước. Việc Hiến pháp 1992 ghi nhận quyền được thông tin thể hiện sự quan tâm của Nhà nước ta đối với đời sống của nhân dân, kịp thời ghi nhận quyền này là phù hợp với xu thế khách quan và đáp ứng yêu cầu của thời đại mới. Tuy nhiên, có thể thấy nếu đặt tên là “quyền được thông tin” như quy định tại Điều 69 Hiến pháp 1992 hiện nay sẽ dẫn tới cách hiểu là chỉ khi nào thông tin được các cơ quan Nhà nước công bố chính thức trên các phương tiện thông tin đại chúng thì người dân mới “được” tiếp cận với thông tin. Như vậy, việc tiếp cận thông tin của công dân sẽ bị thu hẹp, công dân được tiếp cận thông tin một cách thụ động, không đúng với tinh thần và nội dung của Hiến pháp và yêu cầu của xã hội dân chủ. Do đó, nên chăng cần sửa đổi “quyền được thông tin” của công dân thành “công dân có quyền thông tin” hoặc “công dân có quyền tiếp cận thông tin”. Nếu giữ nguyên “quyền được thông tin” như hiện nay thì phải có những quy định phù hợp để đảm bảo công dân có quyền được tiếp cận thông tin một cách chủ động, nhiều chiều, có quyền trao đổi thông tin. Không những Nhà nước phải có trách nhiệm cung cấp thông tin cho công dân mà công dân còn được quyền tiếp cận, khai thác tất cả các thông tin theo quy định của pháp luật, miễn là những thông tin đó không thuộc phạm vi bí mật Nhà nước. ● Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo: Kế thừa các bản Hiến pháp trước đây, Hiến pháp 1992 tiếp tục ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Quyền này cho phép mỗi công dân được tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Điều 70 Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. So với các Hiến pháp trước đây, Hiến pháp 1992 có bổ sung 3 quy định mới là: “Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật”, “Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ” và “Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Những quy định mới này thể hiện chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo, coi tín ngưỡng, tôn giáo là “việc riêng”, là quyền tự do của mỗi cá nhân. Nhà nước ta không những ghi nhận và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo như là một quyền tự nhiên khách quan của con người mà còn tạo lập môi trường pháp lí bình đẳng, thuận lợi cho các tôn giáo cùng tồn tại. Đó là pháp luật thừa nhận các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, không coi trọng tôn giáo nào hơn tôn giáo nào, không có tôn giáo nào là quốc giáo. Đồng thời, Nhà nước còn bảo vệ cơ sở vật chất cho việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Hiến pháp một mặt quy định không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mặt khác quy định không ai được lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước. Những hành vi xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân hoặc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân để phục vụ mục đích chính trị, làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước đều bị nghiêm trị. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà Hiến pháp 1992 ghi nhận tại Điều 70 đã thể hiện rằng Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, tạo mọi điều kiện để công dân có thể thực hiện được quyền này nhưng cũng nghiêm cấm việc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước. ● Quyền bất khả xâm phạm về thân thể Trong số những quyền của con người thì quyền bất khả xâm phạm thân thể của con người là một quyền quan trọng bậc nhất. Đây không những là quyền cơ bản của công dân mà còn là quyền cơ bản nhất của con người. Mọi chế độ chính trị dân chủ hiện nay đều phấn đấu để bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người. Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân luôn được các bản Hiến pháp của nước ta ghi nhận. Hiến pháp 1992 tiếp tục ghi nhận quyền này nhưng đã có sự phát triển hơn. Theo quy định tại Điều 71 Hiến pháp 1992: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể…Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”. So với Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 đã bổ sung quy định mới về trường hợp phạm tội quả tang thì công dân có thể bị bắt ngay mà không cần đợi quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân. Quy định này của Hiến pháp 1992 là hợp lí, vì nếu trong trường hợp phạm tội quả tang mà phải đợi quyết định bắt người của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì sẽ không thể bảo đảm hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Đồng thời Hiến pháp 1992 cũng nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân nhằm ngăn ngừa sự vi phạm từ phía cơ quan Nhà nước và những người có thẩm quyền trong việc bắt và giam giữ công dân. Việc nghiêm cấm mọi hình thức xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân là sự bổ sung mới của Hiến pháp 1992 so với Hiến pháp 1980, xuất phát từ việc nhận thức đúng đắn về danh dự, nhân phẩm của công dân. Quy định này nhằm ngăn ngừa sự vi phạm từ các cơ quan, nhân viên Nhà nước, những người có thẩm quyền xâm phạm tính mạng, danh dự và nhân phẩm của công dân. Để đảm bảo chặt chẽ hơn quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, Hiến pháp 1992 đã quy định thêm một điều luật mới (Điều 72) so với các bản Hiến pháp trước đây về nguyên tắc suy đoán vô tội. Xuất phát từ tình hình thực tế hiện nay là việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử trái pháp luật gây thiệt hại cho người dân vẫn còn xảy ra ở một số nơi, để bảo vệ toàn vẹn quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, để nâng cao tính bảo đảm pháp lí cho quyền này các nhà lập pháp thấy cần phải đưa vào trong đạo luật cơ bản nguyên tắc suy đoán vô tội, mặc dù nguyên tắc này đã được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 72 Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh”. Trong Điều 72 có ba quy định mới được bổ sung đó là: + “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Quy định này có nghĩa là công dân chỉ bị coi là có tội và phải chịu hình phạt sau khi đã thông qua xét xử và bị tuyên án là có tội bởi một Tòa án có thẩm quyền và bản án đã có hiệu lực pháp luật. Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án là nguyên tắc quan trọng của pháp luật hiện đại được nhiều nước trên thế giới công nhận và áp dụng. Ở Việt Nam, quy định này có ý nghĩa thực tiễn cấp bách. Việc bổ sung quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ tính mạng, danh dự và nhân phẩm của con người trong quá trình thực hiện pháp luật. Quy định này đã được cụ thể hóa trong Bộ luật Hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền trong lĩnh vực tư pháp. + “Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự”. Đây là quy định mới của Hiến pháp 1992 nhằm thể hiện trách nhiệm từ phía Nhà nước trong việc bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự cho công dân khi Nhà nước làm sai pháp luật. Quy định mới này của Hiến pháp 1992 đã thể hiện bản chất của quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với công dân là cả hai bên đều bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ và đều phải chịu trách nhiệm pháp lí khi gây thiệt hại về quyền, lợi ích hợp pháp của nhau, đồng thời nó cũng phù hợp với tinh thần cải cách các hoạt động tố tụng theo hướng dân chủ hóa. Không chỉ được bồi thường về vật chất mà những người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, bị xét xử trái pháp luật còn được phục hồi danh dự. Quy định này của Hiến pháp 1992 thực sự đầy đủ và chặt chẽ vì danh dự cũng không kém phần quan trọng so với vật chất và nhiều khi sự tổn hại về danh dự còn hơn cả sự thiệt hại về vật chất. Do đó, khi công dân bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, bị xét xử trái pháp luật thì họ có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phải được phục hồi danh dự. Quy định này cũng nhằm nhắc nhở các cơ quan tố tụng phải luôn tôn trọng pháp luật trong việc thực hiện hoạt động của mình. + “Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh”. Đây là quy định mới của Hiến pháp 1992, thể hiện thái độ kiên quyết của Nhà nước ta đối với những hành vi trái pháp luật của những chủ thể có thẩm quyền trong việc bắt, giam giữ, truy tố và xét xử đã gây thiệt hại cho công dân và những người khác. Đồng thời quy định này cũng nhằm ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực Nhà nước cũng như sự tắc trách của các chủ thể này, đề cao hơn nữa trách nhiệm của họ khi thực hiện công việc mà Nhà nước giao. Như vậy, Hiến pháp 1992 bổ sung quy định tại Điều 72 nhằm ngăn ngừa tình trạng tùy tiện giam giữ, phân biệt đối xử đối với những người chưa bị coi là có tội; ngăn ngừa tình trạng vi phạm quyền con người, quyền công dân, đảm bảo tốt hơn quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân và nâng cao hơn nữa tính chặt chẽ của pháp luật. Đồng thời thể hiện trách nhiệm từ phía Nhà nước trong việc bồi thường thiệt hại cho công dân khi Nhà nước làm sai pháp luật, thể hiện sự bình đẳng trong mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và công dân trong thời đại mới. ● Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm Hiến pháp 1992 ghi nhận công dân có quyền “được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm” (Điều 71). Sự ghi nhận này là sự kế thừa của Hiến pháp 1980, tuy nhiên, có một sự thay đổi so với Hiến pháp 1980, đó là quyền được pháp luật bảo hộ về tài sản trong Hiến pháp 1980 không được ghi nhận nữa mà đã được thay bằng quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe. Về hình thức, Hiến pháp 1992 đã gộp quy định của Điều 69 và Điều 70 Hiến pháp 1980 thành Điều 71 của Hiến pháp 1992: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm…”, quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm được quy định cùng với quyền bất khả xâm phạm về thân thể nhằm đảm bảo sự chặt chẽ trong quy định của pháp luật. ● Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, quyền thư tín, điện thoại, điện tín được bảo đảm an toàn và bí mật của công dân Kế thừa Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 tiếp tục ghi nhận quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, quyền được bảo đảm an toàn và bí mật về thư tín, điện thoại và điện tín của công dân. Tuy nhiên, Hiến pháp 1992 đã dành hẳn một điều luật riêng (Điều 73) để quy định về các quyền này chứ không quy định chung cùng các quyền khác như trước đây để thể hiện sự quan tâm hơn nữa của Nhà nước ta đối với các quyền này của công dân. Điều 73 Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép. Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật. Việc khám xét chỗ ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật”. So với Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 đã có sự đảo trật tự ý của điều luật. Quy định “Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật” được thể hiện trước phần “Việc khám xét chỗ ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật” là hợp lí hơn. Vì việc khám xét chỗ ở, bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành có thể được quy định chung với nhau mà vẫn thể hiện đầy đủ được nội dung của vấn đề. Tóm lại, các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân được Hiến pháp 1992 ghi nhận đã thể hiện sự kế thừa và phát triển của nhóm quyền này so với Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980. Bên cạnh việc ghi nhận lại những quyền mà Hiến pháp 1980 đã ghi nhận thì Hiến pháp 1992 đã ghi nhận thêm một số quyền mới như quyền được thông tin, quyền đi ra nước ngoài, quyền từ nước ngoài trở về nước, nguyên tắc suy đoán vô tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật. Hiến pháp 1992 đã dành 6 điều luật (Điều 68, Điều 69, Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 73) để quy định về các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân. Hiến pháp 1992 không chỉ tăng lên về số lượng quyền mà về hình thức cũng như nội dung của các quyền này cũng đã được bổ sung cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới của đất nước. Nhìn chung so với Hiến pháp 1980, cách thức ghi nhận các quyền này trong Hiến pháp 1992 không có sự thay đổi đáng kể trong việc ghi nhận thứ tự trước sau của các quyền, đồng thời về câu chữ, cách diễn đạt ngữ nghĩa trong các điều luật ngày càng chuẩn xác và hợp logic hơn, đảm bảo được sự chặt chẽ của kĩ thuật lập hiến. Các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân luôn được giữ vị trí quan trọng trong việc tạo nên địa vị pháp lí của công dân. Qua mỗi thời kì phát triển của đất nước, các quyền này đều có sự sửa đổi, bổ sung tương ứng với điều kiện của đất nước. Sự thay đổi của nhóm quyền này của công dân là theo hướng tích cực. Các quyền này ngày càng được mở rộng, ghi nhận đầy đủ, cụ thể, rõ ràng và chính xác hơn. CHƯƠNG III: VIỆC BẢO ĐẢM THỰC HIỆN CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN VỀ TỰ DO DÂN CHỦ VÀ TỰ DO CÁ NHÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 3.1. Thực tiễn thực hiện các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân Các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân được Hiến pháp 1992 ghi nhận là những quyền hết sức quan trọng và không thể thiếu đối với mỗi công dân. Quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân cũng như các quyền tự nhiên khác của con người, không phải do Nhà nước tạo ra hay ban tặng, mà ngược lại, bất cứ nền dân chủ nào cũng phải tôn trọng và bảo vệ các quyền đó. Tất nhiên, các quyền này tồn tại và thực thi trong một xã hội cụ thể nên không thể vượt lên trên sự phát triển của xã hội. Nhà nước bảo vệ các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân cho công dân có nghĩa là Nhà nước đang duy trì và bảo vệ những giá trị nền tảng để duy trì, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trong thời gian qua, việc thực hiện các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân được quy định trong Hiến pháp 1992 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Điều đó thể hiện trên các mặt sau: 3.1.1. Việc thể chế hóa các quy định của Hiến pháp 1992 trong các văn bản quy phạm pháp luật khác Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp 1992, Quốc hội và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa các quyền về tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân, bảo đảm các quyền này được thực hiện trên thực tế như Luật Báo chí năm 1999, Luật cư trú 2006, Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009), Bộ luật tố tụng hình sự 2003, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo 2004, Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/07/2003 của Chính Phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội; Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra…Các văn bản hướng dẫn thi hành như: Chỉ thị 07/2007/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật Cư trú, Nghị định 107/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú, Nghị định số 136/2007/NĐ-CP về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, …Các văn bản này tạo cơ sở pháp lí để đảm bảo cho các quyền của công dân được thực hiện tốt hơn. Tuy nhiên, nếu đánh giá về sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật quy định về các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân thì thấy rằng chúng vẫn chưa đáp ứng được tiêu chuẩn đồng bộ, đầy đủ. Hiến pháp 1992 đã ban hành được gần 20 năm nay nhưng có những quyền về tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân vẫn chưa được cụ thể hóa, chi tiết hóa để bảo đảm thực hiện có hiệu quả. Chẳng hạn, Điều 69 Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Nhưng trên thực tế, chúng ta mới chỉ ban hành được Luật Báo chí để bảo đảm quyền tự do báo chí của công dân; còn các quyền tự do ngôn luận, quyền được thông tin, quyền hội họp, lập hội và biểu tình của công dân thì cho đến nay chúng ta vẫn chưa có Luật để hướng dẫn và bảo đảm thực hiện chúng trên thực tế. Điều này đã gây ra không ít khó khăn không chỉ cho người dân mà chính các cơ quan Nhà nước cũng lúng túng không biết xử lí ra sao. Một ví dụ điển hình là gần đây, khi Trung Quốc có những hành vi xâm phạm đến chủ quyền và lãnh thổ của Việt Nam thuộc hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trên biển Đông, tháng 12 năm 2007 tại Hà Nội rất đông học sinh, sinh viên cũng như người dân đã tiến hành biểu tình trước Đại sứ quán Trung Quốc. Lực lượng công an cũng như các cơ quan chức năng đã tiến hành giải tán cuộc biểu tình vì đây là cuộc biểu tình “không hợp pháp”, “biểu tình chưa xin phép”. Vậy đâu là cơ sở để đánh giá thế nào là biểu tình hợp pháp hay không hợp pháp khi mà nước ta vẫn chưa có Luật biểu tình? Hiến pháp 1992 đã quy định rõ công dân có quyền biểu tình theo quy định của pháp luật nhưng cho đến nay, Nhà nước vẫn chưa ban hành một văn bản nào hướng dẫn việc thực hiện quyền biểu tình của công dân. Vậy công dân có quyền biểu tình theo quy định của pháp luật là theo quy định nào? Thiết nghĩ cơ quan lập pháp cần nhanh chóng ban hành Luật biểu tình để đáp ứng nhu cầu chính đáng của người dân cũng như để quy định của Hiến pháp không mang tính hình thức mà thực sự đi vào cuộc sống. Qua đó có thể thấy nếu chỉ ghi nhận các quyền cơ bản của công dân thôi thì chưa đủ mà vấn đề là phải được cụ thể hóa, được chi tiết hóa trong các văn bản luật để chúng thực sự đi vào cuộc sống, thực sự được tôn trọng. 3.1.2. Việc thực hiện trên thực tế các quyền về tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân Ngay từ khi Hiến pháp 1946 được ban hành, Nhà nước ta đã rất quan tâm đến việc bảo đảm thực hiện trên thực tế các quyền về tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân được quy định trong Hiến pháp. Đặc biệt với Hiến pháp 1992 - bản Hiến pháp của thời kì đổi mới đất nước, công tác đảm bảo thực hiện các quyền này trên thực tế càng được quan tâm hơn nữa và đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, thể hiện trên một số mặt sau: + Các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền hội họp, lập hội của công dân đã được bảo đảm tương đối tốt. Công dân được tự do bày tỏ ý kiến của mình về các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội,…của đất nước trên các diễn đàn, các mạng xã hội, các trang web cá nhân; được tiếp cận thông tin một cách đa dạng từ nhiều nguồn khác nhau, được bày tỏ quan điểm của mình trên báo chí; các tổ chức xã hội, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo… ra đời với số lượng ngày càng nhiều, hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như Đoàn Luật sư, Hội kiến trúc, Hội sinh vật cảnh, Hội nông dân, Hội luật gia, Hội người mù, Hội người cao tuổi, Hội cựu chiến binh,… + Quyền tự do đi lại và cư trú, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước của công dân đã được tôn trọng, số lượng người Việt Nam đi ra nước ngoài du học, đi xuất khẩu lao động, du lịch, định cư,...ở nước ngoài ngày càng tăng. Cùng với đó là số lượng Việt kiều trở về quê hương cũng rất lớn. Điều đó cho thấy Nhà nước ta đã bảo đảm các quyền này của công dân được thực hiện trên thực tế. + Đối với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân cũng được Nhà nước ta hết sức quan tâm. Theo một thống kê gần đây, tính đến tháng 10/2007, số lượng tín đồ tôn giáo Việt Nam là 23 triệu người, chiếm gần 30% tổng số dân toàn quốc. Ở Việt Nam có mặt hầu hết các tôn giáo lớn với đông đảo tín đồ, chức sắc, nhà tu hành như Phật giáo, Hồi giáo, Công giáo, Cao đài, Tin lành, Hòa hảo,…Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Số cơ sở thờ tự như: nhà thờ, đền, chùa, thánh thất, miếu mạo... không ngừng gia tăng về số lượng và quy mô. Hàng trăm cơ sở thờ tự được xây mới mỗi năm và hàng nghìn cơ sở được tôn tạo, tu sửa mới. Bên cạnh đó, các cơ sở đào tạo và hoạt động đào tạo của các tôn giáo cũng không ngừng phát triển về số lượng và quy mô. Các tôn giáo lớn ở Việt Nam đều có các tờ báo và tạp chí riêng phát hành trên toàn quốc. Trong số 13.000 văn bản pháp luật các loại tính từ năm 1986 đến nay, riêng về lĩnh vực tôn giáo, Nhà nước đã ban hành 85 văn bản có nội dung điều chỉnh về hoạt động tôn giáo, thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của nhân dân (nguồn: Báo Lao động). Những số liệu trên cho thấy rằng việc bảo đảm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được Nhà nước ta quan tâm, công dân được tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, các tôn giáo được bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước không chỉ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân mà còn tạo điều kiện để công dân thực hiện tốt quyền của mình + Một điểm mới đặc biệt đối với những người đang bị bắt, giam giữ, truy tố, xét xử mà chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là khi xét xử tại Tòa án họ không phải mặc quần áo của tù nhân. Đây được ghi nhận là một sự tiến bộ rất lớn của Nhà nước ta thể hiện sự tôn trọng của Nhà nước ta đối với con người, khẳng định thêm nguyên tắc “không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” – một nguyên tắc rất quan trọng được pháp luật quốc tế thừa nhận và cũng đã được ghi nhận trong Hiến pháp cũng như các văn bản pháp luật liên quan. Trên đây là một số ví dụ cho thấy rằng Nhà nước ta rất coi trọng việc bảo đảm thực hiện trên thực tế các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân. Việc bảo đảm thực hiện các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế như quyền biểu tình của công dân vẫn chưa được bảo đảm thực hiện; không có một cuộc biểu tình nào diễn ra được coi là hợp pháp vì chúng ta thiếu cơ sở pháp lí, muốn biểu tình sẽ phải xin phép nhưng khi xin phép thì cũng không được phép vì không biết căn cứ vào đâu, và cũng không địa phương nào muốn các cuộc biểu tình diễn ra ở địa phương mình vì sợ bị đánh giá không tốt…Nhà nước còn can thiệp nhiều vào quyền tự do báo chí của công dân; công dân muốn lập hội thì vẫn phải xin phép,...Thêm vào đó tình trạng các thế lực thù địch thường lợi dụng các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân đặc biệt là quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân để phục vụ mục đích chính trị của mình, nhằm phá hoại an ninh chính trị ở nước ta ngày càng diễn biến phức tạp (ví dụ: vụ đòi đất của Giáo xứ Thái Hà trong năm 2008 tại Hà Nội). Nhà nước ta không những rất quan tâm đến việc ghi nhận các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân mà còn đảm bảo cho các quyền này của người dân được thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, việc bảo đảm thực hiện trên thực tế các quyền này của người dân còn rất nhiều vấn đề đáng phải quan tâm. Bảo đảm các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân nhưng cũng ngăn ngừa việc lợi dụng các quyền này để xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của nhân dân là một yêu cầu cấp bách đặt ra hiện nay. 3.2. Một số giải pháp nhằm bảo đảm các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân trong giai đoạn hiện nay Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường với chính sách mở cửa nền kinh tế, nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng và nền kinh tế đã có những bước phát triển vượt bậc, đặc biệt là trong những năm gần đây. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì nước ta cũng đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức đặc biệt là nguy cơ diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của những thế lực thù địch, chúng thường xuyên dùng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng can thiệp vào nội bộ nước ta. Hiện nay các trang web mà nội dung chủ yếu là nói xấu chế độ và Nhà nước ta, đòi “tự do, dân chủ cho người dân Việt Nam”, thổi phồng các sự việc cụ thể để bịa đặt, xuyên tạc, vu khống Nhà nước ta vi phạm nhân quyền không phải là ít. Trước tình hình đó, một trong những việc nên làm để loại bỏ nguy cơ trên là việc thực hiện thật tốt các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân. Từ những phân tích ở trên để bảo đảm các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân được thực hiện tốt hơn nữa cần thực hiện tốt một số vấn đề sau: 3.2.1. Việc hoàn thiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quyền về tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân - Tiếp tục hoàn thiện nội dung và hình thức các quy phạm pháp luật về quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân, tiếp tục nội luật hóa trong Hiến pháp các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam phê chuẩn, kí kết hoặc gia nhập. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với hệ thống pháp luật trong nước, do đó nó phải được tiến hành một cách thận trọng, đòi hỏi phải điều chỉnh bằng những quan hệ xã hội cơ bản, đồng thời có tính đến khả năng thực hiện của xã hội đối với các quy phạm pháp luật sau khi được ban hành. - Trong Hiến pháp 1992 một số quyền về tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân được quy định một cách gián tiếp thông qua các bảo đảm của Nhà nước như quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm (Điều 71), quyền được bảo đảm an toàn và bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín của công dân (Điều 73). Nên thay đổi cách quy định gián tiếp này bằng cách quy định “thẳng”, quy định trực tiếp theo hướng công dân có quyền gì hoặc được hưởng gì như “công dân có quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm”, “công dân có quyền bất khả xâm phạm về thư tín, điện thoại, điện tín”. Đồng thời nên ghi nhận thêm nghĩa vụ của Nhà nước đối với các quyền này để bảo đảm cho chúng được thực hiện trên thực tế. Để hệ thống văn bản pháp luật cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân được chặt chẽ, đồng bộ thì trước hết phải rà soát nội dung các văn bản pháp luật xem đã phù hợp với quy định của Hiến pháp hay chưa, cần xem xét các văn bản đó có được bảo đảm từ phía Nhà nước hay không; cần nghiên cứu đầy đủ, sâu sắc, toàn diện và thực hiện chúng trong sự phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển của xã hội; có thể tiến hành khảo sát xã hội học ở nhiều nơi với nhiều đối tượng và nhiều thành phần xã hội khác nhau để có được những ý kiến khách quan hơn về những bất cập trong quy định của các văn bản này,… - Liên quan đến quyền tự do báo chí, nên sửa đổi tên gọi “Luật Báo chí” thành “Luật về tự do báo chí” [26] và nội dung của đạo luật nên sửa đổi theo hướng như tên gọi của nó. Hiến pháp 1992 đã quy định rõ rằng “công dân có quyền tự do báo chí” (Điều 69) nên cách đặt tên như vậy là đúng đắn nhất, chính xác nhất. Mặt khác, cần sớm nhận thức và tiến tới thay đổi cơ chế quản lí báo chí hiện nay: Nhà nước nên giảm dần và từng bước không trực tiếp quản lí báo chí, vì hiện nay Nhà nước còn can thiệp khá nhiều vào hoạt động báo chí (nhất là khi báo chí đề cập đến các vấn đề chính trị hoặc các vấn đề nhạy cảm khác), báo chí dường như được coi là “tiếng nói của Đảng và Nhà nước” chứ chưa thực sự được coi là “của” xã hội, của nhân dân; là phương tiện để nhân dân phản biện và kiểm soát Nhà nước. - Liên quan đến quyền tự do lập hội của công dân cần khởi động lại (trước đây chúng ta đã ban hành Luật số 102-SL/L-004 ngày 20-5-1957 quy định về quyền lập hội) và nhanh chóng ban hành “Luật về quyền tự do lập hội”. Cùng với quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền hội họp, quyền biểu tình, thì quyền lập hội là những quyền cơ bản của con người, không những được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế mà trong các bản Hiến pháp nước ta cũng đều được quy định. Những quyền này suy cho cùng để bảo đảm vai trò của mỗi cá nhân trong xã hội. Mỗi cá nhân đều có quyền thể hiện những điều mình nghĩ, có quyền lập hội để liên kết các cá nhân với nhau. Mỗi cá nhân, nếu chỉ là những cá nhân riêng lẻ thì sự “phản biện” của họ đối với Nhà nước khó có thể có hiệu quả và họ cũng không thể làm chủ xã hội, nếu chỉ bằng sự nỗ lực “đơn lẻ” của từng cá nhân. Thông qua quyền lập hội, các tổ chức xã hội được thành lập và đó là tiếng nói của những người dân được tập hợp lại với nhau tạo thành một sức mạnh để phản biện, kiểm soát Nhà nước, cùng Nhà nước thực hiện những mục tiêu của hệ thống chính trị. - Nhà nước cũng cần ban hành “Luật về quyền tự do ngôn luận”, “Luật về quyền hội họp”. Đó rõ ràng là các quyền hết sức cơ bản, hết sức chính đáng của người dân. Do vậy, cần có những bảo đảm pháp lí là cơ sở để chúng được thực hiện cũng như ngăn ngừa việc lợi dụng các quyền này để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước. Qua một số vụ biểu tình diễn ra trong thời gian gần đây (như cuộc biểu tình trước Đại sứ quán Trung Quốc năm 2007) Nhà nước cần nhanh chóng ban hành “Luật biểu tình” để đáp ứng nhu cầu chính đáng của người dân. Bởi vì chính nhu cầu thực tế đòi hỏi phải có cơ sở pháp lí để công dân thực hiện được quyền biểu tình theo đúng quy định trong Hiến pháp “công dân có quyền biểu tình theo quy định của pháp luật”. Theo pháp luật của nhiều nước trên thế giới quyền biểu tình là một thành tố trong quyền tự do phát biểu ý kiến của mỗi công dân, luật pháp không có qui định gì nhằm hạn chế hay cơ chế hoá quyền biều tình. Trên thực tế, các thành phố lớn của các quốc gia như Hoa Kì, Canada, Pháp,.. đôi khi những người biều tình chỉ cần thông báo cho thành phố sở tại hay cơ quan có thẩm quyền, cảnh sát biết trước lộ trình, ngày giờ để họ giữ trật tự và dành những lộ trình và khoảng trống cần thiết cho đoàn biểu tình qui tụ số đông và phát biểu ý muốn, nguyện vọng của mình. Đây cũng có thể là mô hình rất hay mà chúng ta nên tìm hiểu khi ban hành Luật biểu tình trong thời gian tới. Ở nước ta, lâu nay đã tồn tại một suy nghĩ rằng “biểu tình là không tốt”, “xã hội bất ổn thì mới có biểu tình”. Nhưng chúng ta cần nhìn nhận khách quan hơn về vấn đề này. Quyền biểu tình là một quyền rất chính đáng của con người đã được ghi nhận trong các văn bản pháp lí quốc tế, pháp luật của nhiều quốc gia cũng đã ghi nhận và đảm bảo quyền này của người dân, vậy tại sao cho đến nay chúng ta vẫn chưa đảm bảo được quyền biểu tình của công dân Việt Nam. Có thể vấn đề là ở chỗ chúng ta sợ các cuộc biểu tình sẽ bị các thế lực thù địch lợi dụng nhằm gây mất ổn định chính trị, ảnh hưởng đến vấn đề an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội của đất nước. Bảo đảm quyền tự do biểu tình của công dân nhưng cũng cần có biện pháp hiệu quả để ngăn chặn việc lợi dụng quyền tự do biểu tình của công dân để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước là trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. - Liên quan đến quyền được thông tin của công dân, theo quy định của Hiến pháp 1992 được hiểu là quyền được nhận tin và truyền tin theo quy định của pháp luật trong đó một vấn đề rất quan trọng là công dân có quyền được thông tin về các cơ quan Nhà nước. Để công dân thực sự làm chủ Nhà nước, làm chủ xã hội; để các tổ chức xã hội phản biện về chủ trương, chính sách, đề án của Nhà nước; để cho chức năng “giám sát xã hội” đối với Đảng, Nhà nước có hiệu quả, bảo đảm việc chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền có hiệu quả, Nhà nước phải thực hiện tốt việc thông tin cho xã hội, cho công dân. Đó phải là trách nhiệm của Nhà nước, của các cơ quan Nhà nước. Trách nhiệm công bố, cung cấp thông tin liên quan đến Nhà nước thuộc về Nhà nước và thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Quyền tiếp cận thông tin của công dân chỉ là sáo rỗng, nếu các cơ quan có thẩm quyền không công bố, không cung cấp hoặc không tạo điều kiện cho công dân tiếp cận và khai thác thông tin. Đương nhiên khi mở cửa truyền thông không phải lúc nào cũng đem lại những điều tích cực. Vì vậy, Nhà nước cần phải có biện pháp xử lý trong trường hợp các phương tiện thông tin hoặc một số tổ chức khác lạm dụng quyền này để tạo ra các thông tin không đúng sự thật, thậm chí là xuyên tạc, vu khống. Việc thực hiện các quyền tự do đó phải tuân thủ và trong khuôn khổ của luật. Do vậy, hướng giải quyết là cần tìm các biện pháp để quản lí, hạn chế những mặt trái đó, cần tự do thông tin hơn, chứ không nên xử lí vấn đề theo hướng “không quản lí được thì cấm” – một cách thức xử lí dường như mang tính phổ biến ở nước ta hiện nay. 3.2.2. Hoàn thiện cơ chế tổ chức thực hiện các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân Đồng thời với việc hoàn thiện các quy định của pháp luật cần hoàn thiện các quy định về cơ chế tổ chức thực hiện để đảm bảo tính khả thi của các quy định về quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân. Các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành cần phải được bảo đảm từ phía Nhà nước, được thực hiện trên thực tế, chứ không chỉ quy định trên giấy, quy định xong rồi để đấy không thực hiện. Ghi nhận các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân mới chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ là phải hiện thực hóa các quyền đó, tạo ra các điều kiện thực tế để các quyền đó trở thành hiện thực. Các quyền về tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân chỉ có thể được thực hiện có hiệu quả trên thực tế khi cơ chế tổ chức thực hiện chúng được quy định phù hợp, chặt chẽ. Chẳng hạn, quyền tự do đi ra nước ngoài của công dân chỉ được thực hiện khi chúng ta cấp hộ chiếu cho công dân, có các cơ quan chuyên trách thực hiện và quản lí lĩnh vực này hoặc để đảm bảo quyền được bồi thường thiệt hại cho những người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, bị xét xử trái pháp luật thì cần có nguồn kinh phí... Do đó, về phía Nhà nước cần hoàn thiện hơn bộ máy theo hướng tinh giản, gọn nhẹ, xây dựng và hoàn thiện các cơ quan Nhà nước. Đồng thời nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức Nhà nước hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhà nước phải thực sự là công cụ để công dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Để bảo đảm các quyền cơ bản của công dân được thực hiện có hiệu quả cần có sự tham gia của cả Nhà nước và công dân. Về phía Nhà nước, trước tiên cần đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước. Cụ thể: Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động của mình. Hoạt động lập pháp của Quốc hội cần được đẩy mạnh, cần ban hành các luật cần thiết để bảo đảm các quyền của công dân được thực hiện tốt hơn nữa. Các luật được ban hành phải đáp ứng nhu cầu chính xác, cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện. Bên cạnh đó cần coi trọng công tác giám sát thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội và tổng kết, đánh giá hiệu quả của các luật này trong thực tế để điều chỉnh hoặc sửa đổi kịp thời. Các cơ quan tư pháp bao gồm các cơ quan trực tiếp tiến hành các hoạt động tạm giữ, tạm giam, truy tố, xét xử, thi hành án. Đây là những hoạt động liên quan trực tiếp đến các quyền tự do của công dân. Vì vậy phải hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan này nhằm đảm bảo cho chúng hoạt động đúng chức năng, thẩm quyền, đấu tranh có hiệu quả đối với mọi hành vi vi phạm pháp luật và ngăn ngừa sự vi phạm quyền công dân từ phía các cán bộ, công chức thuộc các cơ quan này khi thi hành nhiệm vụ. Các cơ quan này có trách nhiệm bắt, giam giữ, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm nhưng cũng không được làm oan cho người vô tội. Tất nhiên, trong hoạt động tố tụng không thể tránh khỏi oan, sai nhưng hạn chế đến mức thấp nhất các oan, sai trong hoạt động tố tụng đòi hỏi trách nhiệm rất lớn của các cơ quan này. Không ngừng nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn cho các cán bộ, công chức hoạt động trong ngành tư pháp cũng cần được thực hiện tốt hơn nữa. Về phía công dân: để bảo đảm các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân được thực hiện một cách có hiệu quả thì chính những người có quyền – công dân cũng cần nhận thức được các quyền của mình. Do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục các quy định của Hiến pháp về quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân và đảm bảo của Nhà nước để mọi người có nhận thức đúng đắn, đầy đủ, sâu sắc và thống nhất về giá trị của các quyền đó đối với bản thân mình trong cuộc sống. Đây là các quyền tự do của công dân nhưng không có nghĩa là tự do vô kỉ luật mà tự do nhưng phải trong khuôn khổ của pháp luật. Điều đó có nghĩa là công dân thực hiện các quyền của mình nhưng không được lợi dụng các quyền đó để đi ngược lại với lợi ích của xã hội, của nhân dân (như lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để gây mất ổn định chính trị, hoạt động mê tín, dị đoan,…). Tóm lại, các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân là những quyền hết sức quan trọng, phức tạp và nhạy cảm. Các quyền này tạo cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện các quyền khác về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Nhà nước và nhân dân ta không cho phép và kiên quyết đấu tranh với những thế lực lợi dụng các chiêu bài tự do dân chủ, nhân quyền để gây mất ổn định chính trị, làm phương hại đến quyền và lợi ích của công dân. Vì vậy, trách nhiệm của Nhà nước là phải ghi nhận và bảo đảm cho công dân có điều kiện thực hiện các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân trong thực tế. Công dân cũng có nghĩa vụ tôn trọng, thực hiện nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật. Việc bảo đảm các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân là một vấn đề có tính cấp thiết xuất phát từ thực tiễn khách quan. Trên đây chỉ là một số ý kiến nhằm góp phần hoàn thiện hơn các quyền này của công dân đồng thời bảo đảm cho chúng được thực hiện trong thực tế, qua đó góp phần nâng cao vai trò của các quyền này trong đời sống của công dân. KẾT LUẬN Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong đó con người là giá trị cao quý nhất, sự phát triển của cá nhân con người về mọi mặt là mục tiêu cao cả nhất. Vì thế các giá trị của con người phải được pháp luật thừa nhận và tôn trọng. Vấn đề bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được coi là yêu cầu trung tâm của nội dung về Nhà nước pháp quyền ở nước ta. Vì vậy, trong quá trình đổi mới đất nước, mối quan hệ pháp lí giữa Nhà nước và công dân phải được tăng cường, Nhà nước phải có biện pháp phù hợp trong việc bảo đảm đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữ vững an ninh để nhân dân thực sự trở thành “người chủ” còn Nhà nước chỉ là “phương tiện” để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Nghiên cứu các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân qua các bản Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 có một điều dễ nhận thấy là Hiến pháp sau bao giờ cũng hoàn thiện hơn so với các bản Hiến pháp trước khi quy định về nhóm quyền này. Điều đó không chỉ thể hiện ở sự gia tăng về số lượng quyền mà trong từng nội dung của quyền ngày càng có sự hoàn thiện hơn, phù hợp với điều kiện của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử. Khi đời sống kinh tế - chính trị - xã hội có sự biến đổi thì pháp luật cũng phải thay đổi theo. Vì vậy, Nhà nước cần có sự nhạy cảm với sự phát triển của xã hội để kịp thời luật pháp hóa các nhu cầu mang tính khách quan đó của công dân thành các quyền pháp lí của họ (ví dụ: quyền được thông tin, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài trở về nước quy định trong Hiến pháp 1992). Các quyền của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân được quy định trong Hiến pháp mang tính nguyên tắc, làm cơ sở cho các luật khác cụ thể hóa, chi tiết hóa trong các lĩnh vực nhất định. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, các quyền của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân đã được cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật khác dưới Hiến pháp như Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết,… Tuy nhiên, để bảo đảm các quyền này được thực hiện tốt hơn trong thực tế cần hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như các biện pháp bảo đảm thực hiện chúng trong thực tế. TÀI LIỆU THAM KHẢO PGS.PTS Trần Trọng Hựu, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 1/1994. GS.PTS Hoàng Văn Hảo, “Hiến pháp Việt Nam và vấn đề quyền con người, quyền công dân”, Tạp chí Luật học số 4/1997. Nguyễn Văn Động, “Suy nghĩ về tính dân chủ trong mối quan hệ giữa Nhà nước xã hội chủ nghĩa với công dân”, Tạp chí Dân chủ pháp luật số 10/1996. Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam – Khoa Luật Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2006. Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Tư pháp 2009. Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 – Nhà xuất bản Khoa học xã hội – Hà Nội 1995. PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, Tìm hiểu các bản Hiến pháp Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2007. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc 1966. PGS.TS Đinh Văn Mậu, Quyền lực Nhà nước và quyền công dân, NXB Chính trị quốc gia, năm 2003. Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946, Công báo nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946, số 46 ngày 16/11/1946. Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959, Công báo nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, số 01 ngày 1/1/1960. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, số 21 ngày 31/12/1980. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, số 8 ngày 30/4/1992. Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980, 1992) và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. PGS.TS Nguyễn Văn Động, Các quyền hiến định về chính trị của công dân Việt Nam (sách chuyên khảo), NXB Tư pháp, Hà Nội, 2006. PGS.TS Nguyễn Văn Động, Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, 2005. Nguyễn Bá Diến, Về quyền con người, tạp chí Luật học số 2/1995 Trần Văn Bách, “Sự phát triển chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua lịch sử lập hiến Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, Hà Nội năm 2002. Đoàn Thị Bạch Liên, “Sự phát triển của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong lịch sử lập hiến Việt Nam”, Luận án Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1998. Khuất Văn Trung, “Sự kế thừa và phát triển của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992”, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2008 Nguyễn Văn Động, “Nội dung quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân trong Hiến pháp 1992”, Tạp chí Luật học, số 6/1995 Nguyễn Thị Thủy, “Các quyền hiến định của công dân Việt Nam – một số vấn đề lí luận và thực tiễn”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2008. TS.Vũ Hồng Anh, “Vai trò của Hiến pháp đối với việc phát huy dân chủ, đảm bảo quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân”, Tạp chí Luật học số 3/2003. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007. Vũ Hồng Anh, “Khoa học Luật Hiến pháp Việt Nam và sự phát triển của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, Đề tài khoa học cấp trường, chuyên ngành Luật Hiến pháp, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2002. Hội thảo khoa học “Các quyền cơ bản của công dân: Lý luận và thực tiễn”, Khoa Hành chính – Nhà nước, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2009. Trần Văn Bách, “Chế định quyền công dân với các đặc điểm của lịch sử lập hiến Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 5/2001. Văn phòng Quốc hội, Hiến pháp năm 1946 và sự kế thừa, phát triển trong các Hiến pháp Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998. www.laodong.com, www.vietnamnet.vn, www.chinhphu.vn …

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docSự kế thừa và phát triển các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân trong lịch sử lập hiến Việt Nam.doc
Luận văn liên quan