Tác động của các biện pháp đảm bảo chất lượng giáo dục tới phương pháp giảng dạy của giảng viên(nghiên cứu tại trường Đại học Sài Gòn)

Ngoài ra, phương pháp học tập của người học còn phụ thuộc vào mục tiêu giảng dạy của giảng viên. Nếu giảng viên giảng dạy chỉdựa vào 3 loại mục tiêu dạy - học là: cung cấp nhận thức, tác động thái độ và hình thành kỹnăng thì sinh viên sẽcó thái độhọc tập hướng tới những mục tiêu ghi chép, nhớvà vận dụng tạo thành kỹnăng. Tuy nhiên theo quan niệm của Bloom tư duy con người có 6 bậc là biết, hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá. Nếu trong quá trình giảng dạy quan điểm của giảng viên thực hiện theo hướng phát huy hết các m ức độtư duy của sinh viên thì hiệu quả quá trình giảng dạy sẽcao.

pdf100 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 24/12/2013 | Lượt xem: 1610 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tác động của các biện pháp đảm bảo chất lượng giáo dục tới phương pháp giảng dạy của giảng viên(nghiên cứu tại trường Đại học Sài Gòn), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ơng 3, chỉ số PPGD sẽ có giá trị từ 10 đến 30 điểm càng gần 30 điểm thì PPGD càng thay đổi chiều hướng tích cực hơn. Qua số liệu bảng 3.1 cho thấy rằng chỉ số giá trị trung bình của PPGD năm học: 2009 – 2010 so với năm học 2008 – 2009 tăng lên 1.6038 điểm. Điều này chứng tỏ rằng, khi thực hiện công bố chương trình đào tạo ngay từ đầu khóa học thì PPGD đã thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn.  Theo ý kiến của sinh viên: trước năm học 2008 – 2009 với số lượng 306 sinh viên, chỉ số trung bình của PPGD là 21.4869. Khi thực hiện các biện pháp ĐBCLGD số lượng sinh viên biết đến vào thời điểm năm học: 2008 – 2009 là 167. Năm học: 2009 - 2010 thì chỉ số trung bình của PPGD của giảng viên đã thay đổi là 21.8503, độ lệch chuẩn là 3.51182, với mức ý nghĩa là p = 0.145, sự thay đổi này có ý nghĩa về mặt thống kê. Chỉ số trung bình của PPGD của giảng viên theo ý kiến của sinh viên có sự thay đổi tăng 0.3634 điểm, chỉ số điểm tăng ít. Thông qua điều này, chúng tôi có thể suy luận rằng phải chăng một số khoa đã không công bố chương trình đào tạo đến sinh viên ngay từ đầu khóa học hay một số sinh viên không quan tâm tới chương trình đào tạo? Trong thực tế, khi nắm rõ chương trình đào tạo của ngành, giảng viên sẽ chủ động hơn trong việc lựa chọn PPGD để phù hợp với mục tiêu đã đề ra. Ngoài ra, sinh viên khi biết được nội dung chương trình đào tạo có thể tự nghiên cứu, vì vậy để PPGD có hiệu quả bản thân giảng viên phải thay đổi PPGD cho phù hợp. Chỉ số trung bình tăng lên cho thấy PPGD của giảng viên đã bắt đầu thay đổi, mặc dù chỉ số này chưa cao nhưng việc thay đổi PPGD cần phải có một thời gian dài. Tóm lại: Việc công bố chương trình đào tạo môn học không chỉ 65 định hướng cho sinh viên học tập, ngoài ra còn có tác dụng làm thay đổi phương thức giảng dạy của giảng viên, qua phân tích chúng tôi thấy rằng có sự thay đổi PPGD trong 2 năm học 2008 - 2009 và 2009 - 2010 theo chiều hướng tích cực hơn. 3.2. Tác động của biện pháp mỗi môn học phải có đề cương chi tiết Đề cương chi tiết của môn học bao gồm tất cả nội dung của môn học, cách đánh giá cho điểm, tài liệu tham khảo…Việc mỗi môn học đều có đề cương chi tiết sẽ giúp cho sinh viên biết được nội dung môn học, cách đánh giá và cho điểm từ đó sinh viên sẽ định hướng học tập cho bản thân. Bảng 3.2: So sánh chỉ số đánh giá của giảng viên và sinh viên về việc sử dụng PPGD trước và sau thời điểm Trường áp dụng biện pháp “Mỗi môn học đều có đề cương chi tiết” Đối tượng Thời điểm Số lượng Chỉ số đánh giá trung bình Độ lệch chuẩn t df p Trước NH 2008-2009 255 23.3255 3.83621 Giảng viên NH 2009-2010 (hiện nay) 182 24.9176 3.02820 49.735 15 0.000 Trước NH 2008-2009 306 21.4869 3.32327 Sinh viên NH 2009-2010 (hiện nay) 142 22.3310 3.42648 21.340 16 0.166 Tương tự như phân tích ở trên, qua bảng thống kê 3.2, chúng tôi nhận thấy rằng:  Theo ý kiến của giảng viên: trước năm học 2008 – 2009 chỉ số trung bình của PPGD là 23.3255 điểm. Khi thực hiện các biện pháp ĐBCLGD số lượng giảng viên biết đến vào thời điểm năm học: 2008 – 2009 là 182. Vào năm học: 2009-2010 thì chỉ số trung bình của PPGD của giảng viên đã thay đổi 24.9176 điểm, độ lệch chuẩn là 3.02820, với mức ý nghĩa p 66 = 0.000 tức độ tin cậy là 100%, sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê. Chỉ số thay đổi PPGD trong 2 năm học 2008 – 2009 và năm học 2009 – 2010 từ 23.3255 điểm đến 24.9176 điểm, tăng lên 1.5921 điểm. Điều này chứng tỏ rằng, khi thực hiện biện pháp ĐBCLGD mỗi môn học đều có đề cương chi tiết đã làm thay đổi PPGD của giảng viên theo hướng tích cực hơn.  Theo ý kiến của sinh viên: trước năm học: 2008 – 2009 chỉ số trung bình của việc thay đổi PPGD là 21.4869 điểm. Khi thực hiện các biện pháp ĐBCLGD “Mỗi môn học đều có đề cương chi tiết” số lượng sinh viên biết đến vào thời điểm năm học: 2008 – 2009 là 142, năm học: 2009 -2010 chỉ số trung bình PPGD của giảng viên đã thay đổi là 22.3310, độ lệch chuẩn là 3.42648, với mức ý nghĩa là 0.166. Chỉ số trung bình của PPGD của giảng viên theo ý kiến của sinh viên có sự thay đổi tăng 0.8441 điểm. Số điểm tăng điều này chứng tỏ bản thân sinh viên đã nhận ra khi có đề cương chi tiết môn học thì giảng viên có sự thay đổi cách giảng dạy. Tóm lại: Khi biết được đề cương chi tiết của môn học sinh viên tự tìm tòi kiến thức, giảng viên xây dựng câu hỏi hoặc chủ đề có liên quan đến môn học, giảng viên định hướng học tập cho sinh viên dựa trên đề cương chi tiết phát huy tính tích cực của người học. Vì vậy đề cương chi tiết của môn học đã làm thay đổi PPGD của giảng viên. 3.3. Tác động của biện pháp tự đánh giá hằng năm Công tác tự đánh giá thực chất là đánh giá các mặt hoạt động trong nhà trường nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo nói chung và hoạt động giảng dạy nói riêng. Tự đánh giá là công tác được thực hiện hằng năm, trong công tác này có đề cập đến việc đánh giá hợp lí các hoạt động giảng dạy của giảng viên; chú trọng việc triển khai đổi mới phương pháp dạy và học, phương pháp đánh giá kết quả học tập của người học theo hướng phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu và làm việc theo nhóm của người học. 67 Biện pháp ĐBCLGD tự đánh giá hằng năm đã được trường Đại học Sài Gòn áp dụng từ năm học: 2008-2009. Bảng 3.3: So sánh chỉ số đánh giá của giảng viên và sinh viên về việc sử dụng PPGD trước và sau thời điểm Trường áp dụng biện pháp “Thực hiện công tác tự đánh giá công tác giảng dạy hằng năm” Đối tượng Thời điểm Số lượng Chỉ số đánh giá trung bình Độ lệch chuẩn t df p Trước NH 2008-2009 255 23.3255 3.83621 Giảng viên NH 2009-2010 (hiện nay) 172 24.9012 2.92930 63.967 15 0.000 Trước NH 2008-2009 306 21.4869 3.32327 Sinh viên NH 2009-2010 (hiện nay) 144 22.2222 3.40168 19.155 16 0.261 Dựa vào bảng thống kê 3.3, theo ý kiến của giảng viên: trước năm học 2008 – 2009 chỉ số trung bình của PPGD là 23.3255 điểm. Khi thực hiện các biện pháp ĐBCLGD số lượng giảng viên biết đến vào thời điểm năm học: 2008 – 2009 là 172. Vào năm học 2009-2010 thì chỉ số trung bình của PPGD của giảng viên đã thay đổi là 24.9012 điểm, độ lệch chuẩn là 2.92930, với mức ý nghĩa p = 0.000 tức là độ tin cậy của thống kê là 100%. Chỉ số giá trị trung bình của PPGD năm học 2009 – 2010 so với năm học 2008 – 2009 tăng lên 1.5757 điểm. PPGD đã có sự thay đổi thông qua công tác tự đánh giá, công tác này có liên quan đến các hoạt động giảng dạy của giảng viên. Ngoài ra, khảo sát biện pháp ĐBCLGD này đối với sự thay đổi PPGD ở sinh viên chỉ có 144/306 = 47% sinh viên biết đến hoạt động này vào năm học: 2008 - 2009, điều này phù hợp với tình hình của Nhà trường vì công tác tự đánh giá hiện nay còn mới mẻ với trường, công tác này hiện tại 68 giao cho bảy nhóm chuyên trách thực hiện bao gồm một số cán bộ của các Phòng, Ban và các Khoa có liên quan, công tác này được phổ biến rộng rãi đến tập thể cán bộ giảng viên toàn trường nhưng chưa được phổ biến tới sinh viên. Tuy nhiên, công tác tự đánh giá là công tác rất được quan tâm trong Nhà trường, bên cạnh công tác tự đánh giá bộ phận chuyên trách đảm bảo chất lượng còn tiến hành khảo sát chất lượng đào tạo lấy ý kiến của sinh viên trong đó có việc giảng dạy của giảng viên, vì vậy, một số sinh viên biết đến công tác này thông phiếu khảo sát ở một số khoa. Tóm lại: Thông qua phân tích ở trên cho thấy giảng viên của trường đã dần dần nhận thấy công tác tự đánh giá góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong đó việc thay đổi PPGD là điều không thể thiếu. PPGD dưới tác động của công tác tự đánh giá đã có sự thay đổi ngày càng tích cực hơn. Ngoài ra, Công tác tự đánh giá hằng năm sẽ là kênh thông tin để xem sự thay đổi PPGD của giảng viên. 3.4. Tác động của biện pháp lấy ý kiến phản hồi của người học Bảng 3.4: So sánh chỉ số đánh giá của giảng viên và sinh viên về việc sử dụng PPGD trước và sau thời điểm Trường áp dụng biện pháp “Lấy ý kiến phản hồi của người học về hoạt động giảng dạy môn học” Đối tượng Thời điểm Số lượng Chỉ số đánh giá trung bình Độ lệch chuẩn t df p Trước NH 2008-2009 255 23.3255 3.83621 Giảng viên NH 2009-2010 (hiện nay) 148 24.4392 3.04887 63.476 15 0.000 Trước NH 2008-2009 306 21.4869 3.32327 Sinh viên NH 2009-2010 (hiện nay) 146 22.0137 3.04220 17.169 16 0.375 69 Việc thay đổi PPGD theo hướng tích cực hóa sinh viên là một việc làm đúng đắn. Tuy nhiên, nếu bản thân giảng viên quá chủ quan không lấy ý kiến phản hồi của sinh viên về hoạt động giảng dạy thì PPGD này có thể sẽ đem lại kết quả không như mong đợi, ví dụ như PPGD theo nhóm thực hiện làm phát huy tinh thần tập thể của sinh viên tuy nhiên có những sinh viên ỷ lại không làm việc dẫn đến tình trạng kết quả thu được không như mong muốn. Vì vậy công tác lấy ý kiến phản hồi người học đóng vai trò rất quan trọng sẽ hổ trợ tích cực cho việc đổi mới PPGD. Tương tự như các phân tích ở trên, qua bảng thống kê 3.4, theo ý kiến của giảng viên: trước năm học 2008 – 2009 chỉ số trung bình của PPGD là 23.3255 điểm. Khi thực hiện các biện pháp ĐBCLGD số lượng giảng viên biết đến vào thời điểm năm học: 2008 – 2009 là 148. Năm học: 2009-2010 chỉ số trung bình của PPGD của giảng viên đã thay đổi là 24.4392 điểm, độ lệch chuẩn là 3.04887, với mức ý nghĩa p = 0.000 tức là độ tin cậy 100%, sự chênh lệch có ý nghĩa về mặt thống kê. Chỉ số thay đổi PPGD trong 2 năm học: 2008 – 2009 và năm học: 2009 – 2010 từ 23.3255 điểm đến 24.4392 điểm tăng lên 1.1137. Điều này cho thấy rằng việc lấy ý kiến phản hồi của người học về hoạt động giảng dạy môn học đã làm thay đổi PPGD của giảng viên. Mặt khác, tỉ lệ sinh viên biết đến biện pháp ĐBCLGD này 146/306 = 47%. Điều này phù hợp với tình hình thực tế, năm học: 2008 – 2009 trường Đại học Sài Gòn thí điểm lấy ý kiến phản hồi của người học tại một số ngành do khoa đăng kí và chỉ thực hiện ở một số bộ môn. Tuy nhiên với số lượng 47% sinh viên biết đến hoạt động này thì chúng ta có chỉ số trung bình của PPGD trong 2 năm học: 2008 – 2009 và năm học: 2009 – 2010 tăng lên 0.5268 điểm. So sánh kết quả chỉ số trung bình PPGD của giảng viên theo ý kiến của giảng viên thì độ chênh lệch không đáng kể. Vì vậy, chúng ta có thể đi đến kết luận rằng việc lấy ý kiến phản hồi của người học đã tác động đến 70 việc thay đổi PPGD của giảng viên. Tuy nhiên chỉ số này thấp một phần là do năm học: 2008 – 2009 trường chưa đẩy mạnh việc lấy ý kiến phản hồi của người học về hoạt động giảng dạy môn học chỉ thí điểm tại 1 số khoa đăng kí nên hiệu quả tác động chưa cao. Lấy ý kiến phản hồi của sinh viên nhằm cung cấp những “thông tin ngược” để giảng viên kiểm tra lại PPGD của mình. Thông qua ý kiến phản hồi của sinh viên, giảng viên có thể nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu trong PPGD của mình, qua đó phát huy những ưu điểm, thế mạnh, đặc biệt khắc phục được các mặt còn hạn chế rút kinh nghiệm để PPGD của bản thân có hiệu quả hơn. Lấy ý kiến phản hồi của sinh viên thực chất là sinh viên tham gia đánh giá PPGD của giảng viên, là điều kiện để họ thể hiện yêu cầu cao về nội dung và phương pháp mới của người dạy. Vì vậy, biện pháp ĐBCLGD lấy ý kiến phản hồi của người học về giảng dạy môn học sẽ giúp giảng viên trong tiếp nhận những thông tin, từ đó thay đổi PPGD sao cho phù hợp hơn. Hộp 3.1: Phỏng vấn sâu về việc thay đổi PPGD của giảng viên Tóm lại: Việc lấy ý kiến phản hồi của người học về hoạt động giảng dạy môn học có tác động đến thay đổi PPGD của giảng viên tuy nhiên việc thay đổi này ít do công tác này chưa được thực hiện rộng rãi trong năm học: 2008 – 2009. (Phỏng vấn GV của Khoa học môi trường, công tác tại trường được 4 năm “…Theo T, việc thay đổi PPGD của giảng viên cần có thời gian dài. Tuy nhiên trong 3 năm gần đây đã có những thay đổi, công tác đảm bảo chất lượng của trường thông qua việc lấy ý kiến phản hồi của sinh viên của Khoa đã đánh thức PPGD của giảng viên theo hướng tích cực hơn, giảm đi hiện tượng 71 3.5. Tác động của biện pháp chuyển đổi phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ Chuyển đổi phương thức đào tạo từ đào tạo theo niên chế sang hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ nhằm mục tiêu phát huy tính chủ động tích cực của người học, đào tạo theo học chế tín chỉ sinh viên đóng vai trò trung tâm trong quá trình giảng dạy vì vậy PPGD truyền thống phải thay đổi vì không còn phù hợp nữa. Khác với đào tạo theo niên chế, đào tạo theo học chế tín chỉ là một hình thức đào tạo được hầu hết các nước tiên tiến trên thế giới áp dụng. Đào tạo theo học chế tín chỉ là một quy trình đào tạo mềm dẻo, người học có quyền lựa chọn và tôn trọng người học, xem người học là trung tâm của quá trình đào tạo. Chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ mềm dẻo dễ dàng đáp ứng các nhu cầu luôn biến động của thị trường nhân lực. Chương trình đào tạo tín chỉ sẽ tạo cho người học tính chủ động cao trong việc lựa chọn kiến thức để trang bị cho bản thân và lựa chọn tiến trình học phù hợp với năng lực của mình. Bảng 3.5: So sánh chỉ số đánh giá của giảng viên và sinh viên về việc sử dụng PPGD trước và sau thời điểm Trường áp dụng biện pháp “Chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ” Đối tượng Thời điểm Số lượng Chỉ số đánh giá trung bình Độ lệch chuẩn t df p Trước NH 2008-2009 255 23.3255 3.83621 Giảng viên NH 2009-2010 (hiện nay) 176 24.6080 3.07055 31.424 15 0.008 Trước NH 2008-2009 306 21.4869 3.32327 Sinh viên NH 2009-2010 (hiện nay) 180 21.9778 3.32580 14.339 16 0.574 Dựa vào bảng thống kê 3.5, chúng tôi nhận thấy rằng: 72 Theo ý kiến của giảng viên: trước năm học 2008 – 2009 chỉ số trung bình của PPGD là 23.3255 điểm. Khi thực hiện các biện pháp ĐBCLGD số lượng giảng viên biết đến vào thời điểm năm học: 2008 – 2009 là 176. Chỉ số trung bình của PPGD của giảng viên trong năm học 2009 – 2010 đã là 24.6080 điểm, độ lệch chuẩn là 3.07055, với mức ý nghĩa p = 0.008, sự thay đổi này có ý nghĩa về mặt thống kê. Trong 2 năm học: 2008 – 2009 và 2009 – 2010 chỉ số thay đổi PPGD tăng lên 1.2825 điểm. Điều này cho thấy rằng chuyển đổi phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ đã làm thay đổi PPGD của giảng viên. Hiện nay, trường ĐHSG đào tạo theo học chế tín chỉ, phương thức đào tạo này rất thoáng và linh động, sinh viên có thể lựa chọn môn học cũng như đăng kí lớp học và giảng viên giảng dạy. Theo ý kiến sinh viên năm học 2008 – 2009 chỉ số trung bình của PPGD là 21.4869 điểm, năm học 2009 – 2010 chỉ số trung bình PPGD là 21.9778 điểm. Trong 2 năm học: 2008 – 2009 và 2009 – 2010 chỉ số này tăng 0.4909 điểm. Tuy nhiên số điểm này tăng không cao vì quá trình thay đổi PPGD là một quá trình lâu dài cần phải thay đổi ý thức từ phía giảng viên. Qua số điểm tăng của giá trị trung bình PPGD chúng ta có thể nhận thấy rằng chuyển đổi phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ đã tác động đến việc thay đổi PPGD của giảng viên. Tóm lại: Chuyển đổi phương thức đào tạo theo tín chỉ, PPGD truyền thống không còn phù hợp nữa vì vậy giảng viên phải thay đổi PPGD. Qua số liệu phân tích cho thấy việc chuyển đổi phương thức đào tạo đã làm thay đổi PPGD theo hướng tích cực chỉ số trung bình của PPGD tăng. 3.6. Tác động của biện pháp thành lập phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục Trong xu hướng hội nhập quốc tế, Bộ GD&ĐT đã chủ trương củng cố, kiện toàn bộ máy và hoàn thiện chất lượng giáo dục và đào tạo, việc đảm 73 bảo chất lượng giáo dục và đào tạo cụ thể là nâng cao chất lượng của việc dạy và việc học là một nhu cầu rất cần thiết. Thành lập Phòng KTKĐCLGD với chức năng tham mưu cho Nhà trường các công việc đảm bảo chất lượng cũng là nhân tố góp phần làm thay đổi PPGD của giảng viên. Bảng 3.6: So sánh chỉ số đánh giá của giảng viên và sinh viên về việc sử dụng PPGD trước và sau thời điểm Trường áp dụng biện pháp “Thành lập Phòng KT đảm bảo chất lượng giáo dục” Đối tượng Thời điểm Số lượng Chỉ số đánh giá trung Độ lệch chuẩn t df p Trước NH 2008-2009 255 23.3255 3.83621 Giảng viên NH 2009-2010 (hiện nay) 164 25.0793 3.08963 35.894 15 0.002 Trước NH 2008-2009 306 21.4869 3.32327 Sinh viên NH 2009-2010 (hiện nay) 148 22.0203 3.15683 8.994 16 0.914 Qua số liệu thống kê của bảng 3.6, theo ý kiến của giảng viên trước năm học: 2008 – 2009 chỉ số trung bình của PPGD là 23.3255 điểm. Khi thực hiện biện pháp ĐBCLGD “Thành lập Phòng KTKĐCLGD” số lượng giảng viên biết đến vào thời điểm năm học: 2008 – 2009 là 164. Một số giảng viên không biết tới việc thành lập Phòng chức năng này trong năm học: 2008 – 2009, điều này hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế vì hiện nay Phòng KTKĐCLGD công tác Khảo thí chưa được đẩy mạnh vì do nhân sự Phòng còn ít. Chỉ số trung bình của PPGD của giảng viên trong năm học: 2009 – 2010 là 25.0793 điểm, độ lệch chuẩn là 3.8963, với mức ý nghĩa là 0.002, có ý nghĩa về mặt thống kê. Trong 2 năm học: 2008 – 2009 và 2009 – 2010 chỉ số trung bình PPGD tăng lên 1.7538 điểm. Chỉ số PPGD tăng lên cho thấy Phòng KTKĐCLGD có tác động đến việc thay đổi PPGD của giảng viên. 74 Ngoài ra, khi nghiên cứu số liệu này theo ý kiến của sinh viên thì chỉ số PPGD của giảng viên có tăng nhưng mức ý nghĩa cao tức độ tin cậy thấp, tìm hiểu thực tế chúng tôi nhận được phản hồi từ phía sinh viên. Mặc dù các em có biết đến việc thành lập Phòng KTKĐCLGD nhưng do các em chưa tiếp xúc nhiều nên chưa hình dung ra tính chất công việc của Phòng chức năng này. Mặt khác, hiện nay việc kiểm tra và đánh giá phụ thuộc vào giảng viên quá nhiều, giảng viên dạy thế nào cho thi như thế đó sẽ dẫn đến tình trạng không đánh giá được việc giảng dạy của giảng viên. Theo chủ trương của Nhà trường, từ năm học: 2010 – 2011, Phòng KTKĐCLGD sẽ tiến hành xây dựng ngân hàng đề thi, tránh tình trạng học gì thi nấy. Khi đó, chúng tôi hy vọng rằng tác động của việc thành lập Phòng KTKĐCLGD với việc thay đổi PPGD của giảng viên sẽ cao hơn. Hộp 3.2: Phỏng vấn sâu về việc tác động của các biện pháp ĐBCLGD đến PPGD của giảng viên Tóm lại: Nhiệm vụ và chức năng của Phòng KTKĐCLGD là tham mưu về công tác đảm bảo chất lượng cho Nhà trường và thực hiện công việc tổ chức thi. Tuy nhiên, do chức năng khảo thí chưa được đẩy mạnh nên sinh viên chưa được biết nhiều về Phòng chức năng này ở năm học: 2008 – 2009. (Phỏng vấn GV Khoa Công nghệ thông tin, đã công tác GD trên 10 năm) “…Theo T, trong những năm gần đây PPGD của giảng viên có thay đổi. Gần đây trường chuyển sang đào tạo học chế tín chỉ thì PPGD của giảng viên cũng bắt đầu thay đổi, bản thân tôi dạy môn cấu trúc dữ liệu thời lượng số tiết giảm đi nhưng lượng kiến thức nhiều nên tôi đã chuyển đổi PPDH theo nhóm kết hợp với việc đánh giá kết thúc bằng đồ án môn học. Vừa qua trường có gia tăng thêm công tác ĐBCLGD bằng cách lấy ý kiến phản hồi người học về giảng dạy của giảng viên. Tôi nhận thấy đây là 1 biện pháp tốt để giảng viên thay đổi cách giảng dạy của mình, tuy nhiên không nên đánh giá giảng viên bằng ý kiến phản hồi của sinh viên một cách vội vã, phải thực hiện nhiều lần thì kết quả mới được chính xác..” 75 Về công tác đảm bảo chất lượng giáo dục thì Phòng KTKĐCLGD có tác động đến việc thay đổi PPGD của giảng viên thông qua một số các hoạt động lấy ý kiến phản hồi của người học, công tác tự đánh giá… Bên cạnh đó để các biện pháp ĐBCLGD tác động mạnh mẽ đến việc thay đổi PPGD thì các biện pháp ĐBCLGD này phải đi sâu vào các yếu tố có ảnh hưởng đến việc thay đổi PPGD của giảng viên. Hộp 3.3: Một số ý kiến của giảng viên về các biện pháp đảm bảo chất lượng đến việc thay đổi PPGD của giảng viên Tóm lại:Các biện pháp ĐBCLGD có tác động đến việc thay đổi PPGD của giảng viên theo chiều hướng tích cực hơn, có thể nói rằng điều này đồng nghĩa với việc là PPGD truyền thống ngày càng giảm và PPGD tích cực thay thế dần dần cho PPGD truyền thống. Giảng viên thay đổi PPGD của bản thân để phù hợp với sự phát triển của nhà trường. Tuy nhiên, sự thay đổi cũng cần có thời gian dài để bản thân giảng viên có thể tìm cho mình PPGD tối ưu phù hợp với nhu cầu xã hội hiện nay. Một số ý kiến - PPGD nên thay đổi từ từ, rút kinh nghiệm từ thực tế. - Để giảng viên có những sáng kiến giảng dạy riêng phù hợp với bản thân và môn học. - Các giảng viên nên theo PPGD lấy người học làm trung tâm phù hợp với phương thức đào tạo. - Mỗi giảng viên phải tự tìm ra PPGD tốt nhất vì chúng ta giảng dạy theo học chế tín chỉ. - Cần bố trí phòng học, cơ sở vật chất, lịch giảng dạy của giảng viên và lịch học của sinh viên hợp lý hơn để đảm bảo chất lượng công tác giảng dạy và học tập. 76 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. KẾT LUẬN Chất lượng là tiêu chuẩn đầu tiên để lựa chọn một sản phẩm. Trong lĩnh vực công nghiệp chất lượng được xây dựng bởi các tiêu chí rõ ràng. Căn cứ vào các tiêu chí đó các nhà sản xuất, quản lý … có thể thực hiện nguyên tắc đảm bảo chất lượng một cách dễ dàng. Tuy nhiên các lĩnh vực trong giáo dục rất đa dạng, sản phẩm của giáo dục không đồng nhất và trừu tượng khó có thể đánh giá chất lượng ngày một ngày hai, do đó các nguyên tắc về đảm bảo chất lượng trong lĩnh vực giáo dục phát triển chậm hơn. Ngày nay, với sự phát triển của thế giới nói chung và xã hội nói riêng vấn đề chất lượng được đặt ra ngày càng bức thiết. Hiện nay, tất cả các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp đều áp dụng các biện pháp ĐBCLGD để nâng cao hiệu quả đào tạo. Câu hỏi đặt ra là các biện pháp ĐBCLGD có hiệu quả không? Qua những điều nghiên cứu trình bày ở trên luận văn đã thu được một số kết quả như sau: + Các biện pháp ĐBCLGD: Công bố chương trình đào tạo, mỗi môn học có đề cương chi tiết, thực hiện công tác Tự đánh giá, lấy ý kiến phản hồi của người học, chuyển đổi phương thức đào tạo và thành lập Phòng KTKĐCLGD có tác động đến việc thay đổi PPGD của giảng viên. Cụ thể: dưới tác động của các biện pháp ĐBCLGD thì PPGD của giảng viên dần dần thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn tức là phương pháp truyền thống giảm dần và được thay thế bằng phương pháp dạy học tích cực. + Tuy nhiên sự thay đổi này còn yếu (dựa trên chỉ số trung bình thay đồi), muốn thay đổi PPGD của giảng viên cần phải có thời gian dài. + Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mặc dù trường Đại học Sài Gòn thực hiện nhiều biện pháp ĐBCLGD nhằm mục đích thay đổi PPGD của 77 giảng viên tuy nhiên có những biện pháp tác động chưa cao vì vậy cần tăng cường và mở rộng các biện pháp ĐBCLGD nhiều hơn nữa. * Ý nghĩa của việc nghiên cứu Trường ĐH Sài Gòn thực hiện nhiều biện pháp ĐBCLGD trong đó có việc chuyển sang việc đào tạo theo học chế tín chỉ, đây là hình thức đào tạo còn mới mẻ, việc đổi mới PPGD theo yêu cầu của học chế tín chỉ “ Lấy người học làm trung tâm” là điều không thể thiếu. Qua việc nghiên cứu của đề tài sẽ thấy được hiệu quả của các biện pháp ĐBCLGD tác động như thế nào đối với PPGD của giảng viên tại trường Đại học Sài Gòn. Trên cơ sở đó người giảng viên sẽ lựa chọn phương pháp phù hợp trong quá trình giảng dạy. * Mặt hạn chế của đề tài: do thời gian có hạn nên đề tài chỉ nghiên cứu tác động của biện pháp ĐBCLGD tới thay đổi PPGD của giảng viên, tuy nhiên PPGD của giảng viên thay đổi có thể do những yếu tố chủ quan khác như trình độ giảng viên thay đổi, ý thức nhận thức thay đổi, nhu cầu xã hội hoặc có thể do tuổi tác của đội ngũ giảng viên được trẻ hóa… * Những yếu tố chưa được nghiên cứu hết trong đề tài này sẽ là hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo của đề tài, đồng thời đề tài này có thể mở rộng nghiên cứu tiếp các tác động của biện pháp ĐBCLGD đến công tác đào tạo, công tác quản lý của Nhà trường … 2. KHUYẾN NGHỊ Ở nhiều nước trên thế giới, PPGD dựa trên quan điểm phát huy tính tích cực của sinh viên, đề cao vai trò tự học của sinh viên, kết hợp với sự hướng dẫn của giảng viên đang được áp dụng rộng rãi. PPGD này đã làm thay đổi không chỉ cách giảng dạy mà còn thay đổi cả việc tổ chức quá trình giáo dục. Ở nước ta, tuy có cải cách giáo dục cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội tuy nhiên sự thay đổi về PPGD còn quá chậm so với các nước tiên tiến. Vì vậy tôi xin đề xuất một số khuyến nghị sau: 78 Đối với các người quản lý - Để các biện pháp ĐBCLGD thật sự có hiệu quả, đóng vai trò là người quản lý nên đề ra các biện pháp ĐBCLGD thiết thực phù hợp với tình hình thực tế. - Các biện pháp ĐBCLGD khi đề ra phải thường xuyên theo dõi và kiểm tra kết quả thực hiện tránh bỏ qua sẽ làm mất đi tác dụng của nó. - Giảng dạy và học tập là khâu trọng yếu và là khâu quyết định chất lượng đào tạo của trường. Vì vậy công tác ĐBCLGD phải đề ra các tiêu chí đánh giá trong các lĩnh vực như thực hiện đổi mới chương trình, nội dung, PPGD hòa nhập nền kinh tế tri thức. - Ngoài ra, để thúc đẩy sự cải tiến PPGD của giảng viên, đóng vai trò là người quản lý nên đề ra các tiêu chí về PPGD và học tập phù hợp để nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên. Đối với giảng viên  Thay đổi quan điểm về quá trình giảng dạy Thay đổi quan điểm về quá trình giảng dạy là nhiệm vụ hàng đầu của giảng viên. Trong thực tế khi đổi sang đào tạo học chế tín chỉ, giảng viên luôn muốn cải tiến PPGD, tuy nhiên việc cần thay đổi đầu tiên là nên thay đổi quan điểm về quá trình giảng dạy. Phương pháp học tập của sinh viên phụ thuộc vào quan điểm của giảng viên cụ thể: - Nếu giảng viên chỉ coi sinh viên như khách thể của hoạt động giảng dạy và là đối tượng để cung cấp kiến thức thì sinh viên tham gia vào quá trình một cách thụ động. - Nếu giảng viên chỉ coi sinh viên như chủ thể của hoạt động học tập và phải tự học thì việc học tập của sinh viên sẽ mang tính tự phát, thiếu sự hướng dẫn. Những sinh viên có hứng thú và có mục đích xác định thì bản 79 thân họ sẽ tìm ra cách học, nhưng việc học tập này có thể bị lệch hướng, thiếu tính hệ thống trong việc thu thập kiến thức. - Nếu giảng viên coi sinh viên vừa là chủ thể của hoạt động học tập, vừa là khách thể của hoạt động giảng dạy thì phương pháp học tập của người học sẽ rất đa dạng. Hoạt động học tập sinh viên sẽ chủ động thực hiện với sự hướng dẫn của giảng viên, sinh viên vừa tiếp thu kiến thức, vừa tự tìm kiếm kiến thức dưới sự hướng dẫn của giảng viên. Ngoài ra, phương pháp học tập của người học còn phụ thuộc vào mục tiêu giảng dạy của giảng viên. Nếu giảng viên giảng dạy chỉ dựa vào 3 loại mục tiêu dạy - học là: cung cấp nhận thức, tác động thái độ và hình thành kỹ năng thì sinh viên sẽ có thái độ học tập hướng tới những mục tiêu ghi chép, nhớ và vận dụng tạo thành kỹ năng. Tuy nhiên theo quan niệm của Bloom tư duy con người có 6 bậc là biết, hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá. Nếu trong quá trình giảng dạy quan điểm của giảng viên thực hiện theo hướng phát huy hết các mức độ tư duy của sinh viên thì hiệu quả quá trình giảng dạy sẽ cao.  Cải tiến việc giảng dạy trên lớp PPGD của giảng viên là một trong những yếu tố tác động trực tiếp đến thái độ học tập của sinh viên. Đa số sinh viên thường chọn cách học, cách tư duy, cách tiếp cận vấn đề sao cho phù hợp với cách giảng dạy của giảng viên. Vì vậy để khắc phục tính thụ động của sinh viên mỗi giảng viên cần phải: Xây dựng những câu hỏi liên quan đến bài giảng. Thực hiện giao công việc và đòi hỏi sinh viên phải tìm hiểu bài trước khi đến lớp và phải tích cực động não. Mở rộng và phân tích nhiều vấn đề liên quan không có trong giáo trình, gần gũi cuộc sống thực tế. 80 Phân chia các nhóm và giao việc cho từng nhóm chịu trách nhiệm, đây là phương pháp đáp ứng rất tốt mục tiêu cải cách và phát huy cao độ tính tích cực học tập của sinh viên. Nếu chia nhóm có trình độ tương đối đồng đều và đặt ra các vấn đề thích hợp, các thành viên của nhóm sẽ tích cực cùng nhau tham gia giải quyết. Giảng viên cần giúp người học tham gia tích cực vào quá trình học, cải thiện sự thụ động bằng cách:  Hướng dẫn sinh viên có tư duy phản biện, suy nghĩ phê phán và phản biện các vấn đề. Khuyến khích sinh viên đặt câu hỏi, nêu ý kiến, nghĩ ra các phương pháp giải quyết vấn đề.  Hướng dẫn sinh viên có ý thức về việc học tập của bản thân, xem bài và tự đặt ra các câu hỏi trước khi đến lớp và liên hệ những gì đang học với những gì đã học, tìm cách áp dụng kiến thức vào thực tế, liên hệ giữa lý thuyết và thực tiễn.  Tạo cho sinh viên cộng tác và làm việc theo nhóm, giúp họ làm quen với việc hợp tác để đạt tới mục đích chung và tôn trọng quan điểm của nhau. Vai trò của giảng viên phải quan sát và theo dõi hoạt động, công việc của từng nhóm để tìm ra cách giải quyết hợp lý nhất. Trong quá trình quan sát các nhóm làm việc, giảng viên phải giúp đỡ nếu các nhóm có gặp khó khăn trong quá trình thảo luận và phát hiện các sai lầm mà các nhóm mắc phải khi tham gia thảo luận nhóm. Cuối cùng, giảng viên phải tổng hợp các ý kiến của từng nhóm đúc kết thành nội dung bài học.  Đánh giá sinh viên tham gia vào các hoạt động học tập trên lớp Bên cạnh việc đổi mới PPGD, giảng viên phải thay đổi việc đánh giá sinh viên. Đào tạo theo niên chế sinh viên được đánh giá thông qua bài kiểm tra cuối k ì, tuy nhiên việc đánh giá này vô tình đã phủ nhận sự tiến bộ của sinh viên trong suốt quá trình tham gia học tập. Sinh viên được đánh giá khi tham 81 gia hoạt động học tập trên lớp để họ có điều kiện để thể hiện mình. Đánh giá đúng sẽ là động lực tốt duy trì không khí học tập và tạo hứng thú cho sinh viên tiếp nhận tri thức khoa học một cách tự giác, góp phần nâng cao chất lượng giờ lên lớp. Khâu đánh giá kết quả học tập của sinh viên trên cơ sở kết hợp đánh giá hoạt động học tập trên lớp với kết quả bài kiểm tra, bài thi là một đánh giá chính xác hoạt động dạy học. Hình thức đánh giá hoạt động học tập của sinh viên như thế nào để thể hiện sự công bằng và chuẩn xác là một vấn đề giảng viên cần phải suy nghĩ. 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO A. Tiếng Anh 1. Fabrice Henard, Solenie Leprince – Ringuet (2008), “The path to quality teaching in higher education”, FH, SLR. 2. Jacqueline Douglas and Alex Douglas, Evaluating Teaching Quality, Quality in Higher Education, Vol12, No.1, April 2006. 3. Kluwer Academic Publisher, John Biggs (2001), The reflective institution: Assuring and enhancing the quality of teaching and learning, Higher Education, Kluwer Academic Publishers. Printed in the Netherlands. 4. Mark Freman, Sydney University and Carol Johnston, Melbourne University, “Improving teaching and learning through discipline- specific support models”, June, 2008. 5. NGA Center for Best Practices, Improving Teacher Evaluation to Improve Teaching Quality, Education Policy Studies Division, December 9, 2002. 6. Sylvia Chong, Quality teaching and learning: a quality assurance framework for initial teacher preparation programmes, Int. J. Management in Education, Vol.3, Nos. 3/4, 2009. 7. Australian Universities Quality Agency. AUQA Glossary. Retrieved October 17, 2000 from the World Wide Web: 8. Quality Assurance. Information Service Discussion Paper 4:. London: CNAA. Web: 9. Southeast Asian Ministers of Education Organization. Framework for Regional Quality Assurance Cooperation in Higher Education. 83 Tadjudin, M. K. (2001). Establishing a Quality Assurance System in Indonesia.In International Higher Education, Number 25, Fall 2001. B. Tiếng Việt 10. Báo cáo tóm tắt tổng hợp kết quả hoạt động phân tích thực trạng văn hóa chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục, tháng 12/2009, Bộ Giáo dục và đào tạo, dự án giáo dục Đại học 2. 11. Báo cáo sơ kết của Bộ GD&ĐT (11/2010), Công tác kiểm định chất lượng giáo dục đối với các trường đại học và phương hướng nhiệm vụ những năm tiếp theo. 12. Nguyễn Đức Chính (2002), Kiểm Định chất lượng trong GD Đại học, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội. 13. Nguyễn Đức Chính (2004), Đánh giá giảng viên đại học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 14. Lê Vinh Danh (2006), Một số lý luận về đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học, tr 59 – 70, Kỷ Yếu Hội Thảo, Đảm bảo chất lượng trong đổi mới giáo dục Đại học, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM. 15. Daniel H.Robinson (2009), Chọn giáo trình: Cẩn thận với những giáo trình thiếu chu đáo (công việc của giảng viên đại học), Tài liệu tham khảo cho Hội thảo “Đào tạo liên thông theo hệ thống tín chỉ” – Đà Nẵng. 16. Ngô Doãn Đãi (2008). Kiểm định chương trình đào tạo ở Việt Nam, Đảm bảo chất lượng GD Đại học tại Việt Nam với yêu cầu hội nhập. 17. Jim Peterson, Đánh giá phương thức giảng dạy/học tập, Hội thảo quốc tế “Đánh giá hiệu quả phương thức dạy đại học: Quan điểm của Việt Nam và Australia”, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008. 18. Lê Văn Hảo (2008), Trường ĐH Nha Trang, Nâng cao chất lượng đào tạo thông qua PPGD dựa trên vấn đề. 84 19. Trần Thị Bích Liễu (2007), Đánh giá chất lượng giảng dạy- Nội dung- Phương pháp- Kỹ thuật, NXB Đại học Sư phạm. 20. Michelle Zjhra (2009), Chuyển sang học chế tín chỉ: Cần thay đổi chương trình đào tạo và vai trò của giáo viên, Tài liệu tham khảo cho Hội thảo: “Đào tạo liên thông theo hệ thống tín chỉ” – Đà Nẵng. 21. Mathew Pisciouneri (2008), Đánh giá về mô hình dạy học, Hội thảo quốc tế “Đánh giá hiệu quả phương thức dạy đại học: Quan điểm của Việt Nam và Australia”, Đại học Quốc gia Hà Nội. 22. Nguyễn Phương Nga , Nguyễn Quý Thanh (2007), Giáo dục đại học: một số thành tố của chất lượng, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 23. Nguyễn Phương Nga, Nguyễn Qúy Thanh (2010), GDĐH, đảm bảo, đánh giá và kiểm định chất lượng, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 24. Nguyễn Thị Phương Nga, Tạ Thị Thu Hiền (2006), Sự phát triển của kiểm định Châu Á Thái Bình Dương, tr19–27, Kỷ yếu hội thảo đảm bảo chất lượng trong đổi mới giáo dục đại học, NXB Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh. 25. Nguyễn Chí Hòa (2010), thức tiễn đánh giá bài giảng của giảng viên tại trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, tr 119 – 131, GDĐH, đảm bảo, đánh giá và kiểm định chất lượng, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 26. Lê Chi Lan, Đỗ Đình Thái, 02/2011, Đổi mới phương pháp dạy học và giáo dục trong thời kì hội nhập quốc tế, Hội thảo về đổi mới phương pháp và giáo dục trong thời kì Hội nhập quốc tế, Hải Phòng. 27. Phạm Thành Nghị (2000), Quản lý chất lượng GDĐH, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội . 28. Lê Đức Ngọc (2005), Giáo dục đại học phương pháp dạy và học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 85 29. Pai Obanya, Juma Shabani, Peter Okebukola với sự giúp đỡ của Văn phòng UNESCO vùng của Châu Phi. Nhóm các tác giả dịch thuật sưu tầm và biên dịch tài liệu có nhan đề “Hướng dẫn Dạy và Học trong giáo dục đại học” từ nguyên bản tiếng Anh có tiêu đề “Guide to Teaching and Learning in Higher Education” 30. Phạm Văn Quyết (2009), Thiết kế công cụ đo lường và khảo sát cho nghiên cứu định lượng, Đại học KH Xã hội và Nhân văn, Hà Nội. 31. Phạm Văn Quyết, PGS.TS Nguyễn Quý Thanh (2001). Phương pháp nghiên cứu xã hội học, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội. 32. Trần Bích Liễu (2007), “Đánh giá chất lượng giáo dục, nội dung, phương pháp, kỹ thuật”. 33. Nguyễn Thị Kim Thư (2006), “ Một số quan điểm và mô hình về GD hiệu quả ở bậc ĐH”, Kỷ yếu hội thảo đảm bảo chất lượng trong đổi mới giáo dục đại học, NXB Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh. 34. Đỗ Đình Thái, Lê Chi Lan, Trần Lê Khương, Lai Đình Khải (2009), Phân tích sự phát triển của trường Đại học Sài Gòn thông qua công tác tự đánh giá năm học 2008 – 2009, Tạp chí Đại học Sài Gòn – số 1/9/2009. 35. Dương Thiệu Tống (2003), Thống kê ứng dụng trong nghiên cứu khoa học giáo dục, NXB Khoa học xã hội. 36. Trường ĐH Sài Gòn, Báo cáo Tự đánh giá năm học 2008 – 2009, 2008. 37. Trường Đại học Sài Gòn (2008), Kết quả lấy ý kiến giảng viên, sinh viên về các mặt hoạt động của Nhà trường. 38. Trường ĐH Sài Gòn, Phương hướng nhiệm vụ năm học 2009 – 2010. 39. Ruby D.Higgins (2009), Tổ chức và quản lý lớp học (công việc của giảng viên đại học), Tài liệu tham khảo cho Hội thảo: “Đào tạo liên thông theo hệ thống tín chỉ” – Đà Nẵng. 86 PHỤ LỤC PHIẾU TRAO ĐỔI Ý KIẾN (Dành cho sinh viên) y Các bạn sinh viên thân mến, Trường Đại học Sài Gòn đang thực hiện nghiên cứu tìm hiểu một tác động của các biện pháp đảm bảo chất lượng giáo dục tới phương pháp giảng dạy của giảng viên. Nhóm nghiên cứu chúng tôi mong nhận được ý kiến góp ý của bạn thông qua việc trả lời những câu hỏi dưới đây. Các thông tin bạn cung cấp chỉ dùng cho mục đích nghiên cứu nhằm tăng hiệu quả và nâng cao chất lượng giảng dạy của nhà trường, không ảnh hưởng tiêu cực đến bạn. Ghi chú: Bạn không cần ghi tên vào Phiếu trao đổi ý kiến này, Bạn tô đen vào các ô lựa chọn trong tất cả các câu hỏi dưới đây Phần 1: CÁC CÂU HỎI LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG CỦA NHÀ TRƯỜNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN 1. Trường Đại học Sài Gòn được thành lập trên cơ sở nâng cấp trường Cao đẳng Sư phạm TP.HCM. các bạn vui lòng cho biết các biện pháp đảm bảo chất lượng giáo dục được áp dụng tại Trường Đại học Sài Gòn khi nào? STT Nội dung Năm học 2008- 2009 Năm học 2009- 2010 1 Công bố đến người học chương trình đào tạo ngay đầu khóa học    2 Mỗi môn học có đề cương chi tiết    3 Thực hiện công tác tự đánh giá công tác giảng dạy hằng năm    4 Lấy ý kiến phản hồi của người học về họat động giảng dạy môn học    5 Chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ    6 Thành lập Phòng KT đảm bảo chất lượng giáo dục   2. Xin bạn vui lòng cho biết Nhà trường gia tăng các biện pháp ĐBCLGD trong những năm gần đây có làm thay đổi PPGD của giảng viên hay không? Có  Không   3. Các phương pháp giảng dạy của thày cô đã áp dụng giảng dạy trước năm học 2008- 2009 mức độ nào sau đây? Mức độ: . Không sử dụng, . Ít sử dụng, . Thường xuyên sử dụng STT Phương pháp giảng dạy Mức độ Nhóm PP1: Phương pháp dạy học truyền thống 1 giảng viên dùng lời nói để diễn giảng, thông báo, thuyết trình, …bài giảng, thầy đọc trò ghi     2 giảng viên dùng lời để diễn giải thông báo, thuyết trình, …trò tự ghi     3 giảng viên nêu vấn đề và đề xuất các giả thuyết và đề ra hướng giải quyết. sinh viên theo dõi và lắng nghe.     4 giảng viên sử dụng hệ thống câu hỏi để truyền thụ kiến thức mới dựa trên các kiến thức đã có.     5 giảng viên sử dụng các phương tiện trực quan: hình ảnh, mô hình, thí nghiệm…     Nhóm PP2: Phương pháp dạy học tích cực 87 STT Phương pháp giảng dạy Mức độ 6 giảng viên giới thiệu vấn đề và phân công công việc cho nhóm, sinh viên tự tìm hiểu, tìm hướng giải quyết vấn đề trong nhóm và viết báo cáo     7 giảng viên phân công nhóm, tổ chức lấy kiến, hướng dẫn tổ luận, cung cấp những thông tin cần thiết, theo dõi lắng nghe các ý kiến và duy trì hướng đi cho các nhóm theo đúng nhiệm vụ được giao     8 giảng viên giảng dạy thông qua việc làm đồ án môn học, giảng viên hướng dẫn giới thiệu nội dung đồ án, người học huy động các kiến thức để thực hiện     9 giảng viên nêu ra hệ thống câu hỏi và hướng dẫn lớp thảo luận để tìm ra vấn đề, giảng viên tổng kết ý kiến thảo luận và giải đáp câu hỏi     10 giảng viên đưa ra 2 quan điểm hoặc giải pháp trái ngược nhau cho cùng một vấn đề. Chia lớp thành 2 nhóm để tranh luận mỗi nhóm chuẩn bị ý kiến về 1 quan điểm hoặc giải pháp.     4. Xin vui lòng cho biết mức độ áp dụng các PPGD của giảng viên hiện nay(năm hoc 2009- 2010) như thế nào? Mức độ: . Không sử dụng, . Ít sử dụng, . Thường xuyên sử dụng STT Phương pháp giảng dạy Mức độ Nhóm PP1: Phương pháp dạy học truyền thống 1 giảng viên dùng lời nói để diễn giảng, thông báo, thuyết trình, …bài giảng, thầy đọc trò ghi     2 giảng viên dùng lời để diễn giải thông báo, thuyết trình, …trò tự ghi     3 giảng viên nêu vấn đề và đề xuất các giả thuyết và đề ra hướng giải quyết. sinh viên theo dõi và lắng nghe.     4 giảng viên sử dụng hệ thống câu hỏi để truyền thụ kiến thức mới dựa trên các kiến thức đã có.     5 giảng viên sử dụng các phương tiện trực quan: hình ảnh, mô hình, thí nghiệm…     Nhóm PP2: Phương pháp dạy học tích cực 6 giảng viên giới thiệu vấn đề và phân công công việc cho nhóm, sinh viên tự tìm hiểu, tìm hướng giải quyết vấn đề trong nhóm và viết báo cáo     7 giảng viên phân công nhóm, tổ chức lấy kiến, hướng dẫn tổ luận, cung cấp những thông tin cần thiết, theo dõi lắng nghe các ý kiến và duy trì hướng đi cho các nhóm theo đúng nhiệm vụ được giao     8 giảng viên giảng dạy thông qua việc làm đồ án môn học, giảng viên hướng dẫn giới thiệu nội dung đồ án, người học huy động các kiến thức để thực hiện     9 giảng viên nêu ra hệ thống câu hỏi và hướng dẫn lớp thảo luận để tìm ra vấn đề, giảng viên tổng kết ý kiến thảo luận và giải đáp câu hỏi     10 giảng viên đưa ra 2 quan điểm hoặc giải pháp trái ngược nhau cho cùng một vấn đề. Chia lớp thành 2 nhóm để tranh luận mỗi nhóm chuẩn bị ý kiến về 1 quan điểm hoặc giải pháp.     5. Hiện nay các giảng viên đã và đang sử dụng các công cụ nào hỗ trợ cho việc giảng dạy Mức độ: . Không sử dụng, . Ít sử dụng, . Thường xuyên sử dụng STT Phương pháp giảng dạy Mức độ 11 Sử dụng Projector, đèn chiếu     12 Sử dụng bản vẽ, mô hình     13 Thực hiện thí nghiệm     14 Sử dụng học liệu điện tử     15 Sử dụng tài liệu nước ngoài     6. Bạn có ý kiến gì trong công tác ĐBCLGD của Nhà trường với việc đổi mới PPGD của giảng viên không? Có  Không   88 Ý kiến (nếu có)................................................................................................................................ ................................................................................................................................................................ Phần 2: THÔNG TIN CHUNG 7. Sinh viên năm thứ.................. Ngành học: ............................................................................................... 8. Giới tính................................................................................................................................Nam  Nữ   9. Điểm trung bình chung của học kì gần đây nhất: ................................................................ 10. Cảm nhận chung của bạn về chất lượng giảng dạy của trường (Mức độ: . Rất hài lòng, . Hài lòng, . Khó nói, . Tạm hài lòng, . Không hài lòng)       Chân thành cảm ơn sự cộng tác của bạn. Chúc bạn học tập tốt 89 PHIẾU TRAO ĐỔI Ý KIẾN (Dành cho giảng viên) y Kính thưa Quý Thầy (Cô) , Trường Đại học Sài Gòn đang thực hiện nghiên cứu tìm hiểu một tác động của các biện pháp đảm bảo chất lượng giáo dục tới phương pháp giảng dạy của giảng viên. Nhóm nghiên cứu chúng tôi mong nhận được ý kiến góp ý của Quý Thầy (Cô) thông qua việc trả lời những câu hỏi dưới đây. Các thông tin Quý Thầy (Cô) cung cấp chỉ dùng cho mục đích nghiên cứu nhằm tăng hiệu quả và nâng cao chất lượng giảng dạy của nhà trường, không ảnh hưởng tiêu cực đến Quý Thầy (Cô). Ghi chú: Quý Thầy (Cô) không cần ghi tên vào Phiếu trao đổi ý kiến này, Quý Thầy (Cô) tô đen vào các ô lựa chọn trong tất cả các câu hỏi dưới đây Phần 1: CÁC CÂU HỎI LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG CỦA NHÀ TRƯỜNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CỦA GIẢNG VIÊN 1. Trường Đại học Sài Gòn được thành lập trên cơ sở nâng cấp trường Cao đẳng Sư phạm TP.HCM. Thầy (Cô) vui lòng cho biết các biện pháp đảm bảo chất lượng giáo dục được áp dụng tại Trường Đại học Sài Gòn khi nào? STT Nội dung Năm học 2008- 2009 Năm học 2009- 2010 1 Công bố đến người học chương trình đào tạo ngay đầu khóa học    2 Mỗi môn học có đề cương chi tiết    3 Thực hiện công tác tự đánh giá công tác giảng dạy hằng năm    4 Lấy ý kiến phản hồi của người học về họat động giảng dạy    5 Chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang tín chỉ    6 Thành lập Phòng KTđảm bảo chất lượng giáo dục   2. Theo ý kiến của bản thân, Thầy (Cô) vui lòng cho biết các biện pháp đảm bảo chất lượng của Nhà trường có làm thay đổi PPGD của bản thân Thầy (Cô) không? Có  Không   3. Xin Thầy (Cô) vui lòng cho biết mức độ thực hiện các phương pháp giảng dạy sau đây khi Nhà trường chưa áp dụng biện pháp đảm bảo chất lượng (trước năm học 2008-2009)? Mức độ: . Không sử dụng, . Ít sử dụng, . Thường xuyên sử dụng STT Phương pháp giảng dạy Mức độ Nhóm PP1: Phương pháp dạy học truyền thống 1 Giảng viên dùng lời nói để diễn giảng, thông báo, thuyết trình, …bài giảng, thầy đọc trò ghi     2 Giảng viên dùng lời để diễn giải thông báo, thuyết trình, …trò tự ghi     3 Giảng viên nêu vấn đề và đề xuất các giả thuyết và đề ra hướng giải quyết, sinh viên theo dõi và lắng nghe.     4 Giảng viên sử dụng hệ thống câu hỏi để truyền thụ kiến thức mới dựa trên các kiến thức đã có.     90 STT Phương pháp giảng dạy Mức độ 5 giảng viên sử dụng các phương tiện trực quan: hình ảnh, mô hình, thí nghiệm…     Nhóm PP2: Phương pháp dạy học tích cực 6 Giảng viên giới thiệu vấn đề và phân công công việc cho nhóm, sinh viên tự tìm hiểu, tìm hướng giải quyết vấn đề trong nhóm và viết báo cáo     7 Giảng viên phân công nhóm, tổ chức lấy kiến, hướng dẫn tổ luận, cung cấp những thông tin cần thiết, theo dõi lắng nghe các ý kiến và duy trì hướng đi cho các nhóm theo đúng nhiệm vụ được giao     8 Giảng viên giảng dạy thông qua việc làm đồ án môn học, giảng viên hướng dẫn giới thiệu nội dung đồ án, người học huy động các kiến thức để thực hiện     9 Giảng viên nêu ra hệ thống câu hỏi và hướng dẫn lớp thảo luận để tìm ra vấn đề, giảng viên tổng kết ý kiến thảo luận và giải đáp câu hỏi     10 Giảng viên đưa ra 2 quan điểm hoặc giải pháp trái ngược nhau cho cùng một vấn đề. Chia lớp thành 2 nhóm để tranh luận mỗi nhóm chuẩn bị ý kiến về 1 quan điểm hoặc giải pháp.     4. Xin Thầy (Cô) vui lòng cho biết mức độ áp dụng các PPGD hiện nay (năm học 2009-2010) như thế nào? Mức độ: . Không sử dụng, . Ít sử dụng, . Thường xuyên sử dụng STT Phương pháp giảng dạy Mức độ Nhóm PP1: Phương pháp dạy học truyền thống 1 Giảng viên dùng lời nói để diễn giảng, thông báo, thuyết trình, …bài giảng, thầy đọc trò ghi     2 Giảng viên dùng lời để diễn giải thông báo, thuyết trình, …trò tự ghi     3 Giảng viên nêu vấn đề và đề xuất các giả thuyết và đề ra hướng giải quyết. sinh viên theo dõi và lắng nghe.     4 Giảng viên sử dụng hệ thống câu hỏi để truyền thụ kiến thức mới dựa trên các kiến thức đã có.     5 Giảng viên sử dụng các phương tiện trực quan: hình ảnh, mô hình, thí nghiệm…     Nhóm PP2: Phương pháp dạy học tích cực 6 Giảng viên giới thiệu vấn đề và phân công công việc cho nhóm, sinh viên tự tìm hiểu, tìm hướng giải quyết vấn đề trong nhóm và viết báo cáo     7 Giảng viên phân công nhóm, tổ chức lấy ý kiến, hướng dẫn tổ thảo luận, cung cấp những thông tin cần thiết, theo dõi lắng nghe các ý kiến và duy trì hướng đi cho các nhóm theo đúng nhiệm vụ được giao     8 Giảng viên giảng dạy thông qua việc làm đồ án môn học, giảng viên hướng dẫn giới thiệu nội dung đồ án, người học huy động các kiến thức để thực hiện     9 Giảng viên nêu ra hệ thống câu hỏi và hướng dẫn lớp thảo luận để tìm ra vấn đề, giảng viên tổng kết ý kiến thảo luận và giải đáp câu hỏi     91 10 Giảng viên đưa ra 2 quan điểm hoặc giải pháp trái ngược nhau cho cùng một vấn đề. Chia lớp thành 2 nhóm để tranh luận mỗi nhóm chuẩn bị ý kiến về 1 quan điểm hoặc giải pháp.     5. Hiện nay, để tham gia vào việc đảm bảo chất lượng giáo dục trong Nhà trường, bản thân Thầy (Cô) đã thực hiện các công việc sau đây như thế nào để thay đổi PPGD. Mức độ: . Không sử dụng, . Ít sử dụng, . Thường xuyên sử dụng STT Thực hiện giảng dạy Mức độ 1 Áp dụng công nghệ DH mới vào bài giảng (mô hình, powerpoint)     2 Lên kế hoạch giảng dạy và tự đào tạo hàng năm     3 Sử dụng nguồn tài liệu nước ngoài     4 Xây dựng học liệu điện tử     5 Lắng nghe ý kiến phản hồi sinh viên về hoạt động giảng dạy     6. Nếu Nhà trường tăng cường thêm các biện pháp đảm bảo chất lượng giáo dục, theo ý kiến Thầy (Cô) thì PPGD của giảng viên sẽ  Không thay đổi ...........................................................................................................................   Thay đổi ít so với trước đây ................................................................................................   PPGD sẽ tốt hơn để phù hợp với biện pháp ĐBCLGD của Nhà trường ................................  Ý kiến khác ................................................................................................................................ Phần 2: THÔNG TIN CHUNG 7. Đơn vị công tác ............................................................................................................................ 8. Giới tính ................................................................................................................................Nam  Nữ   9. Cảm nhận chung của bạn về chất lượng giảng dạy của trường (Mức độ:. Không hài lòng, . Tạm hài lòng , . Khó nói, . Hài lòng, . Rất hài lòng)       10. Số tiết chuẩn bị cho 1 tiết bài giảng trước khi lên lớp > 6  5 – 6  3 – 4  1 – 2  < 1   11. Số giờ đọc và nghiên cứu tài liệu tham khảo bình quân trong 1 tuần > 25  > 20  > 15  > 10  ≤ 10   Chân thành cảm ơn sự cộng tác của Quý Thầy (Cô)

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdflv_le_chi_lan_9333.pdf
Luận văn liên quan