Tác động của việc gia nhập WTO đối với ngành dệt may Việt Nam

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài 1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài 2. Vấn đề trong đề tài 3. Các mục tiêu nghiên cứu 4. Các câu hỏi đặt ra trong nghiên cứu 5. Phạm vi nghiên cứu: ngành dệt may Việt Nam 6. Ý nghĩa của nghiên cứu 7. Kết cấu báo cáo nghiên cứu Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận về tác động của gia nhập WTO đối với hàng dệt may Việt Nam 1. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản 1.1. Định nghĩa hàng dệt may 1.2. Định nghĩa WTO 2. Những vấn đề chung về ngành dệt may và WTO 2.1. Những vấn đề chung về ngành dệt may 2.2. Những vấn đề chung về tổ chức thương mại thế giới WTO 2.2.1. Tính tất yếu của sự ra đời tổ chức thương mại thế giới 2.2.2. Giới thiệu chung về WTO 3. Thực trạng hoạt động của ngành dệt may Việt Nam trước và sau khi Việt Nam gia nhập WTO 3.1. Giới thiệu ngành dệt may Việt Nam 3.2. Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trước khi gia nhập WTO 3.2.1. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam 3.2.2. Cơ cấu hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam 3.2.3. Cơ cấu thị trường xuất khẩu và kênh phân phối 3.2.4. Phương thức xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam 3.3. Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sau khi gia nhập WTO 3.3.1. Quy định của WTO và cam kết phải thực hiện của Việt Nam đối với hàng dệt may 3.3.2. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam 3.3.3. Cơ cấu hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam 3.3.4. Cơ cấu thị trường xuất khẩu và kênh phân phối 4. Vấn đề năng lực cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam 4.1. Đặc điểm chủ yếu về cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu 4.2. Năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu 5. Mô hình nội dung vấn đề nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng tác động của gia nhập WTO đối với hàng dệt may Việt Nam 1. Phương pháp nghiên cứu: Phân tích hệ thống, thống kê, so sánh 2. Đánh giá tác động của việc gia nhập WTO đối với hàng dệt may Việt Nam 2.1. Cơ hội và thách thức với ngành dệt may khi Việt Nam gia nhập WTO 2.2. Những thành tựu đạt được và tồn tại cần khắc phục của ngành dệt may Việt Nam sau khi gia nhập WTO Chương 4: Giải pháp phát triển ngành dệt may Việt Nam trong điều kiện WTO 1. Các quan điểm phát triển ngành dệt may Việt Nam 2. Mục tiêu phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 3. Các định hướng phát triển ngành dệt may Việt Nam 4. Các giải pháp phát triển ngành dệt may Việt Nam 5. Một số kiến nghị đề xuất 6. Những hạn chế nghiên cứu và vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

pdf40 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 06/09/2013 | Lượt xem: 4659 | Lượt tải: 12download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tác động của việc gia nhập WTO đối với ngành dệt may Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ban, 2 nhĩm cơng tác, và 2 ủy ban đặc thù. Dưới Hội đồng Giải quyết Tranh chấp (cấp thứ 2) là Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm. Ngồi ra, do yêu cầu đàm phán của Vịng đàm phán Doha, WTO đã thành lập Ủy ban ðàm phán Thương mại trực thuộc ðại Hội đồng để thức đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho đàm phán. Ủy ban này bao gồm nhiều nhĩm làm việc liên quan đến các lĩnh vực chuyên mơn khác nhau. 1.5. Các nguyên tắc hoạt động của WTO - Khơng phân biệt đối xử - ðãi ngộ quốc gia: Khơng được đối xử với hàng hĩa và dịch vụ nước ngồi cũng như những người kinh doanh các hàng hĩa và dịch vụ đĩ kém hơn mức độ đãi ngộ dành cho các đối tượng tương tự trong nước. - ðãi ngộ tối huệ quốc: Các ưu đãi thương mại của một thành viên dành cho một thành viên khác cũng phải được áp dụng cho tất cả các thành viên trong WTO. - Tự do mậu dịch hơn nữa: dần dần thơng qua đàm phán - Tính Dự đốn thơng qua Liên kết và Minh bạch: Các quy định và quy chế thương mại phải được cơng bố cơng khai và thực hiện một cách ổn Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 11 định. - Ưu đãi hơn cho các nước đang phát triển: Giành những thuận lợi và ưu đãi hơn cho các thành viên là các quốc gia đang pháp triển trong khuơn khổ các chế định của WTO. 2. Những vấn đề chung về ngành dệt may Việt Nam 2.1. Nét chung của ngành dệt may Việt Nam So với nhiều ngành khác, ngành dệt may ở Việt Nam là ngành cơng nghiệp truyền thống cĩ nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Từ khi đổi mới, ngành dệt may khơng ngừng phát triển cả về quy mơ, năng lực sản xuất, trình độ cơng nghệ trang thiết bị, ngày một tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng sản phẩm. Cho đến nay, sản phẩm dệt may Việt Nam đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu trong nước và cĩ khả năng xuất khẩu lớn sang các thị trường khĩ tính như EU, Nhật Bản, Bắc Mỹ… Việc xuất khẩu hàng dệt may đã đem lại một khoản ngoại tệ rất đáng kể để đổi mới và nâng cấp tồn bộ trang thiết bị cơng nghệ của ngành dệt may. Kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may chỉ thấp hơn mức kim ngạch dầu thơ nhưng đứng đầu tất cả các ngành xuất khẩu chế biến trong cả nước. Ngành dệt may khơng chỉ đem lại nguồn tích lũy cho đất nước mà cịn gĩp phần quan trọng giải quyết việc làm, mang lại thu nhập cho người lao động, tạo sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội. Nước ta cĩ dân số đơng, nguồn lao động dồi dào, người Việt Nam lại cĩ truyền thống cần cù và sáng tạo. Mặt khác, giá cả sinh hoạt thấp, chi phí lao động hạ, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành dệt may cĩ ưu thế cạnh tranh. ðặc điểm của ngành dệt may khơng địi hỏi vốn đầu tư lớn, quay vịng vốn nhanh, đội ngũ cơng nhân lành nghề cĩ thể sản xuất được những sản phẩm chất lượng cao nếu được đào tạo tốt. Hơn nữa, Việt Nam cịn cĩ vị trí địa lý và cảng khẩu rất thuận lợi cho việc chuyên chở hàng hĩa bằng đường biển nên giảm được chi phí vận tải. Hệ thống cảng biển Việt Nam nĩi chung đều gần kề đường hàng hải quốc tế nên cĩ thể hành trình theo tất cả các Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 12 tuyến đi Bắc Á, ðơng Á và Nam Á – Thái Bình Dương, đi Trung Cận ðơng, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ. Từ cảng Sài Gịn đến đường hàng hải quốc tế thường chỉ mất ba giờ hành trình với 40 hải lý. Việt Nam cũng nằm trong khu vực các nước xuất khẩu lớn hàng dệt may như Trung Quốc nên ngành cơng nghiệp Việt Nam đang là một thị trường hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngồi. Cĩ thể nĩi, phát triển ngành dệt may Việt Nam là phát huy tối đa những lợi thế hiện nay để phát triển kinh tế, thực hiện thành cơng mục tiêu cơng nghiệp hĩa – hiện đại hĩa đất nước. 2.2. ðánh giá tổng quát khả năng sản xuất trong nước Ngành dệt may Việt Nam cĩ khá nhiều tiềm năng cho xuất khẩu. Tiềm năng này trước hết là do nguồn lao động lớn, đặc biệt là nhờ cấu trúc dân số trẻ, nên chi phí cho lao động khơng tăng nhanh như tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của hàng dệt may. Bên cạnh đĩ, Việt Nam cĩ mơi trường đầu tư ổn định, với tiềm năng tăng trưởng cao, nên cĩ sức hấp dẫn với nhà đầu tư và bạn hàng nước ngồi. Hơn nữa, Việt Nam cũng đang tham gia ngày một sâu rộng vào quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Cùng với việc cải thiện hình ảnh của Việt Nam, quá trình này cịn giúp gia tăng tiếp cận thị trường cho hàng hĩa của Việt Nam nĩi chung và hàng dệt may của Việt Nam nĩi riêng. Một số đánh giá về triển vọng của ngành dệt may Việt Nam được trình bày trong bảng dưới đây. Bảng 1: Số liệu và dự báo tình hình sản xuất và xuất nhập khẩu dệt may của Việt Nam giai đoạn 2006-2013 Sản xuất 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Giá trị gia tăng, triệu đơ la Mỹ 3.205,5 3.899,6 5.136,8 4.789,3 4.764,5 5.721,1 6.847,6 7.759,3 Giá trị gia tăng, % trong GDP 5,3 5,5 5,7 5,2 4,9 5,0 5,0 5,1 Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng, % 13,2 13,5 9,2 -3,0 -0,9 9,8 9,2 9,0 Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 13 Giá trị gia tăng ngành dệt, triệu đơ la Mỹ 325,0 368,9 402,8 390,7 387,2 423,2 460,0 499,2 Thương mại quốc tế Kim ngạch XK hàng dệt, triệu USD 1.058,0 1.352,0 1.690,0 1.318,2 1.453,5 1.598,8 1.742,7 1.912,7 Kim ngạch NK hàng dệt, triệu USD 3.988,0 4.940,0 5.874,8 4.699,8 5.056,9 5.166,8 4.990,7 5.096,5 Cán cân thương mại ngành dệt, triệu USD -2.930,0 -3.588,0 -4.184,8 -3.381,6 -3.603,4 -3.568,0 -3.247,9 -3.183,8 Kim ngạch XK hàng may mặc, triệu USD 5.579,0 7.186,0 9.054,4 7.424,6 8.335,4 8.898,6 8.929,0 9.505,3 Kim ngạch NK hàng may mặc, triệu USD 271,0 426,0 449,8 337,3 379,8 414,0 451,3 497,3 Cán cân thương mại ngành may mặc, triệu USD 5.308,0 6.760,0 8.604,6 7.087,2 7.955,6 8.484,6 8.477,7 9.008,0 Nguồn: BMI (tháng 7/2009) 2.3. Tĩm lược tình hình cơng nghệ của ngành dệt may Việt Nam Những năm gần đây, trang thiết bị ngành dệt may đã tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng, từ máy đạp chân C22 của Liên Xơ (cũ), máy 8322 của ðức đến máy Juki của Nhật và FFAP của CHLB ðức. Sự cố gắng lớn nhất của Tổng Cơng ty Dệt may Việt Nam vừa qua là việc đầu tư cải tạo, nâng cấp và thay thế hàng loạt thiết bị, điển hình là trang bị tự động Auto – leveller máy ghép, máy ống và hệ thống chải bơng để tận dụng gần 500.000 cọc sợi chưa cĩ điều kiện thay thế ở các nhà máy kéo sợi. Vừa qua, Tổng cơng ty cũng thay thế trên 4.000 máy dệt khổ hẹp, thiếu hệ tự động và khơng đảm bảo chất lượng sản phẩm, đồng thời đổi mới tồn bộ thiết bị hồ mắc đánh ống nhằm đáp ứng cho máy dệt hiện đại tốc độ cao, khổ rộng. Thiết bị dệt kim cũng được đổi mới 55% để sản xuất đồng bộ các mặt hàng cao cấp. Số 45% cịn lại cũng được nâng cấp, bổ sung để hồn thiện dây chuyền sản xuất. ðể đáp ứng yêu cầu chất lượng sản phẩm cao, cơng nghệ may cũng nhanh chĩng được nâng cấp, các dây chuyền may được bố trí theo quy Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 14 mơ vừa phải (25 máy), sử dụng 34 – 37 lao động gọn nhẹ và cĩ nhân viên kiểm tra thường xuyên, cĩ khả năng chấn chỉnh sai sĩt ngay và thay đổi mẫu mã sản phẩm. Khâu hồn tất được lắp đặt các thiết bị đĩng túi, súng bắn nhãn, máy dị kim.. Cơng nghệ tin học cũng được ưu tiên đưa vào những khâu sản xuất chính ở một số doanh nghiệp. Cùng với cố gắng trên, mặt hạn chế điển hình nhất của ngành dệt may Việt Nam hiện nay là năng suất lao động cịn thấp, giá thành sản phẩm cao, mẫu mã cải tiến cịn chậm. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do trình độ cơng nghệ chưa cao và chưa đồng bộ, tổ chức sản xuất chưa hợp lý, chưa khai thác tốt cơng suất của dây chuyền cơng nghệ. Bên cạnh đĩ, năng lực thiết kế mẫu “mốt” và kỹ thuật may cơng nghiệp cịn yếu, khâu cắt chưa được hiện đại hĩa, cịn dùng phương pháp thủ cơng. So với cơng nghệ của các nước Trung Quốc, Thái Lan, trình độ cơng nghệ của Việt Nam cịn lạc hậu khoảng 5 – 7 năm, phần mềm điều khiển lạc hậu từ 15 – 20 năm. Thời gian qua ngành may mới chỉ khai thác được khoảng 50 – 60% năng lực sản xuất. Nhìn chung, trong ngành dệt may Việt Nam hiện nay, trang bị đã được nâng cao so với chính chúng ta trước đây, song vẫn cịn thua kém nhiều nước đang phát triển trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia…. 2.4. Cơ cấu sản phẩm của ngành dệt may Việt Nam Trong thời gian qua, căn cứ vào trình độ cơng nghệ và khả năng đáp ứng của các doanh nghiệp xuất khẩu về chất lượng và số lượng, ngành dệt may của Việt Nam thường tập trung vào một số chủng loại hàng xuất khẩu chủ yếu cĩ khả năng thực thi tốt nhất, đĩ là 5 chủng loại sau: 1) Jacket (gồm các loại nam nữ, độ tuổi khác nhau). 2) Sơ mi (gồm các loại dài tay, cộc tay, nam nữ và theo độ tuổi). 3) Quần Âu (gồm các loại quần nam nữ, theo độ tuổi, quần dài, sooc..) Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 15 4) Hàng dệt kim gồm các loại quần áo dệt kim như các loại trên, vải các loại kể cả các loại vải may đồ bảo hộ lao động, tơ tằm, màn các loại, khăn bơng, ga gối) 5) Các loại khác (gồm nhiều loại phong phú như quần áo bảo hộ lao động, quần áo thể thao, đồ lĩt nam nữ, quần áo ngủ, găng tay, mũ vải các loại) Cùng với 5 chủng loại hay nhĩm hàng chủ yếu trên, mỗi doanh nghiệp khác nhau (theo từng khu vực như quốc doanh, tư nhân, doanh nghiệp cĩ vốn đầu tư nước ngồi), lại cĩ cơ cấu hàng xuất khẩu cụ thể khác nhau, tùy thuộc vào trình độ cơng nghệ, quy mơ kinh doanh khả năng chuyên mơn hĩa, nhu cầu từng thị trường cụ thể. Bảng 2:Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam theo mặt hàng năm 2009: Chủng loại 12 tháng 2009 So với 2008 (%) So với 2007 (%) Tháng 12 2009 So với T11/2009 (%) So với T12/08 (%) Áo thun 1,963,214,108 -6.61 27.86190,878,833 22.94 -3.63 Áo sơ mi 530,694,180 6.08 14.08 57,590,869 45.37 7.25 Quần 1,458,650,834 -2.43 8.04130,693,098 22.69 -8.70 Quần short 338,813,312 -15.67 -5.97 39,865,892 77.78 -16.22 Áo Jacket 1,095,334,956 -8.59 -2.26 94,343,170 13.11 -5.83 Áo khốc 559,402,458 17.79 51.91 40,331,664 14.47 11.43 Váy 411,798,155 13.12 28.24 45,082,553 47.80 14.21 ðồ lĩt 313,379,867 24.74 53.61 30,382,310 16.04 20.59 ðồ bơi 68,422,625 8.10 66.02 11,673,186 16.66 -2.77 Quần áo thể thao 101,921,422 -18.78 -1.33 8,311,819 -18.12 -14.83 Quần áo ngủ 109,695,090 5.25 57.91 9,458,734 13.60 18.67 Quần áo trẻ em 339,447,918 9.79 30.59 30,960,774 10.10 24.34 Vải 429,688,033 19.37 44.47 41,896,475 -15.54 47.59 Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 16 3. Quy định của WTO và cam kết phải thực hiện của Việt Nam đối với hàng dệt may 3.1. Quy định của WTO Hàng dệt may khơng chỉ được điều chỉnh theo Hiệp định hàng dệt may (ATC) và hiện nay là theo khuơn khổ chung về thương mại hàng hĩa của WTO mà cịn được điều chỉnh bởi các Hiệp định khác liên quan đến hàng hĩa như Hiệp định SCM và các nguyên tắc cơ bản của WTO. Kể từ 1/1/2005, xĩa bỏ chế độ hạn ngạch đối với hàng dệt may. Năm 1995, với những nỗ lực đấu tranh của các thành viên đang phát triển tại Vịng Urugoay, Hiệp định hàng dệt may (ATC) đã được ra đời thay thế Hiệp định đa sợi năm 1974-1994 (MFA). ATC đưa ra một lịch trình hợp nhất dần dần những mặt hàng thuộc phạm vi điều chỉnh của ATC vào khuơn khổ các quy định của Hiệp định GATT 1994, theo đĩ, kể từ 1/1/2005 - ngày Hiệp định ATC hết hiệu lực, sẽ khơng cĩ bất kỳ thành viên WTO nào được duy trì hạn ngạch đối với hàng dệt may, trừ khi chúng được minh chứng rằng việc tăng nhập khẩu sẽ gây ra, hoặc đe dọa sẽ gây ra tổn hại nghiêm trọng cho ngành dệt may nội địa (như điều XIX của Hiệp định GATT năm 1994 quy định). Nĩi cách khác, kể từ ngày 1/1/2005, đối với các nước tham gia Hiệp định ATC, tồn bộ hạn ngạch đối với hàng dệt may phải được loại bỏ; hàng dệt may sẽ được giao thương như các loại hàng hố thơng thường khác trong khuơn khổ quy định của WTO. Bảng 3: Chương trình nhất thể hĩa hàng dệt may Giai đoạn Giai đoạn Tỷ lệ hợp nhất tối thiểu (tính trên khối lượng nhập khẩu năm 1990) Giai đoạn Từ 1.1.1995 đến 31/12/1997 16% (cịn lại 84%) Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 17 1 Giai đoạn 2 Từ 1.1.1998 đến 31/12/2001 17% (cịn lại 67%) Giai đoạn 3 Từ 1.1.2002 đến 31/12/2004 18% (cịn lại 49%) Giai đoạn 4 Từ 1.1.2005: nhất thể hĩa hồn tồn vào WTO. Hiệp định ATC chấm dứt 100% (Khơng cịn hạn ngạch) Nguồn: WTO – Hiệp định ATC Ngồi ra, Hiệp định ATC cho phép áp dụng các biện pháp tự vệ trong thời kỳ quá độ. Hiệp định ATC cho phép các nước thành viên được cĩ một thời kỳ chuyển tiếp (cịn gọi là thời kỳ quá độ), theo đĩ, các nước được áp dụng các biện pháp tự vệ. Khi hết thời hạn hiệu lực của thời kỳ quá độ, các nước khơng được áp dụng các biện pháp tự vệ đĩ nữa. Tuy nhiên, Hiệp định ATC cũng quy định rất chặt chẽ trong việc áp dụng các biện pháp tự vệ này: Chỉ những thành viên đã tiến hành những chương trình “nhất thể hĩa” mới được áp dụng biện pháp này. Việc áp dụng các biện pháp tự vệ chỉ cĩ thể được tiến hành trên cơ sở đã bảo đảm được hai điều kiện (ðiều 6 ATC): - Thứ nhất, đã chứng minh được cĩ sự tổn hại nghiêm trọng hay đe dọa gây tổn hại nghiêm trọng do nhập khẩu hàng dệt may tăng lên đột ngột. - Thứ hai, cĩ mối liên hệ trực tiếp giữa sự tổn hại nghiêm trọng đĩ đối với ngành cơng nghiệp dệt may của nước nhập khẩu do cĩ sự tăng vọt trong số lượng hàng nhập khẩu từ nước xuất khẩu. Thêm vào đĩ, để tránh việc nước nhập khẩu lạm dụng và biến việc áp dụng biện pháp tự vệ thành một thứ hạn ngạch "chui", các biện pháp Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 18 này cũng chỉ cĩ tính "tạm thời", tức là chỉ cĩ thể áp dụng trong ba năm, khơng được gia hạn. Tất cả những biện pháp này cùng với sự hết hiệu lực của Hiệp định ATC, đã chấm dứt từ ngày 1/1/2005. Các quy định liên quan tới trợ cấp Do hàng dệt may là mặt hàng cơng nghiệp, nên ngồi việc bị điều chỉnh theo Hiệp định ATC và hiện nay là được đưa vào điều chỉnh theo khung khổ pháp lý chung của WTO về thương mại hàng hĩa, hàng dệt may cịn bị điều chỉnh theo Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM). Theo đĩ, WTO yêu cầu các thành viên phải cam kết bỏ các trợ cấp đèn đỏ (trợ cấp bị cấm) và phải thơng báo các trợ cấp đèn vàng (trợ cấp cĩ thể bị khiếu kiện). 3.2. Cam kết Việt Nam phải thực hiện khi gia nhập WTO Dành mức thuế MFN cho hàng dệt may nhập khẩu từ tất cả các thành viên WTO khác và thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu theo đúng cam kết trong WTO Hiện nay, Việt Nam chỉ phải dành mức thuế MFN cho các nước hoặc lãnh thổ mà Việt Nam đã ký Hiệp định song phương hoặc các thỏa thuận tương tự. Tuy nhiên, kể từ thời điểm gia nhập WTO, theo nguyên tắc MFN, Việt Nam sẽ phải dành mức thuế MFN cho tất cả các thành viên WTO khác. ðiều này cĩ nghĩa là Việt Nam cũng phải dành những mức thuế ưu đãi đãi cho một số đối tác theo các thoả thuận đã ký kết như Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) hay thoả thuận dệt may Việt Nam – EU. Ngồi ra, trong đàm phán một số đối tác quan tâm đến xuất khẩu hàng dệt may cũng gây sức ép địi Việt Nam phải giảm thuế đối với hàng dệt may thành phẩm (hiện Việt Nam duy trì cách thức đánh thuế leo thang tức là áp dụng mức thuế càng cao đối với hàng cĩ mức độ chế biến càng lớn). Nhiều khả năng mức thuế đối với hàng dệt may khi gia nhập WTO sẽ phải giảm để đáp ứng yêu cầu của các đối tác này. Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 19 ðối xử với hàng dệt may nhập khẩu từ tất cả các thành viên khác theo nguyên tắc NT, tức là khơng phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu và hàng nội địa về các khoản thuế và khoản thu nội địa, luật, quy tắc hay yêu cầu tác động đối với việc chào bán, vận tải, phân phối hay sử dụng trong nước... Thực ra, nguyên tắc NT là một trong những nguyên tắc cơ bản của GATT nên được áp dụng cho tất cả các loại hàng hố. Khi một nước xin gia nhập WTO thì phải cam kết tuân thủ nguyên tắc này. Trên thực tế, nhiều nước vẫn tìm cách "lách luật" để bảo hộ sản xuất trong nước. Tuy vậy, nguyên tắc này vẫn cần được tính đến trong việc đánh giá tác động của việc gia nhập WTO đối với một ngành sản xuất nĩi riêng và nền kinh tế nĩi chung. Cắt, giảm các hình thức trợ cấp vi phạm quy định của WTO Hiện nay, Việt Nam đang hỗ trợ ngành dệt may thơng qua các chính sách hỗ trợ thực hiện Chiến lược Phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2010. Các chính sách này được thể hiện cụ thể qua: Nghị định số 43/1999/Nð-CP ngày 29/6/1999 của Chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; Nghị định số 106/2004/Nð-CP ngày 01/04/2004 của Chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; Quyết định số 55/2001/Qð-TTg ngày 23/4/2001 phê duyệt chiến lược phát triển và một số cơ chế, chính sách hỗ trợ thực hiện Chiến lược phát triển ngành dệt-may Việt Nam đến năm 2010; Thơng tư số 106/2001/TT- BTC ngày 31/12/2001 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 55/2001/Qð-TTg ngày 23/4/2001 phê duyệt chiến lược phát triển và một số cơ chế, chính sách hỗ trợ thực hiện Chiến lược phát triển ngành dệt-may Việt Nam đến năm 2010 và Quyết định số 17/2002/Qð-TTg ngày 21/1/2002 của Thủ tướng Chính phủ về định hướng và phát triển cây bơng cơng nghiệp thời kỳ 2001-2010; Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 20 Theo đĩ, ngành dệt may được hưởng các hình thức trợ cấp: Ưu đãi về tín dụng; Ưu đãi về đầu tư; Bảo lãnh tín dụng đầu tư; Hỗ trợ kinh phí xúc tiến thương mại và cụ thể, đơn vị nhận trợ cấp, cách thức nhận trợ cấp như sau: - Hỗ trợ từ nguồn vốn ngân sách, vốn ODA đối với các dự án quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu (trồng bơng, trồng dâu, nuơi tằm); đầu tư các cơng trình xử lý nước thải; quy hoạch các cụm cơng nghiệp dệt; xây dựng cơ sở hạ tầng đối với các cụm cơng nghiệp mới; đào tạo và nghiên cứu của các viện, trường và trung tâm nghiên cứu chuyên ngành dệt may; - Các đơn vị đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất: sợi, dệt, in nhuộm hồn tất, nguyên liệu dệt, phụ liệu may và cơ khí dệt may: + ðược coi là lĩnh vực ưu đãi đầu tư và được hưởng các ưu đãi đầu tư theo quy định của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước; + ðược vay vốn tín dụng đầu tư phát triển từ Quỹ Hỗ trợ phát triển, trong đĩ 50% số vốn vay được áp dụng mức lãi suất 3%/năm, thời gian vay 12 năm, cĩ 3 năm ân hạn; 50% cịn lại áp dụng mức lãi suất 5,4%/năm từ Quỹ Hỗ trợ phát triển. Chính sách ưu đãi tín dụng đầu tư phát triển này áp dụng đến hết ngày 27/5/2004; + Từ ngày 27/5/2004: chỉ cịn các dự án đầu tư nhà máy dệt, in nhuộm hồn tất được hưởng hỗ trợ về tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước (Nð106/2004/Nð-CP). - Trong trường hợp cần thiết các doanh nghiệp nhà nước sản xuất sợi, dệt, in, nhuộm hồn tất, nguyên liệu dệt, phụ liệu may và cơ khí dệt may, được Thủ tướng Chính phủ quyết định bảo lãnh khi mua thiết bị trả chậm, vay thương mại của các nhà cung cấp hoặc tổ chức tài chính trong và ngồi nước: Doanh nghiệp thực hiện theo Quy chế bảo lãnh của Chính phủ đối với các khoản vay nước ngồi của doanh nghiệp và tổ chức tín Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 21 dụng ban hành kèm theo Quyết định số 233/1999/Qð-TTg ngày 20/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ (TT 106). - Năm 2001 từ ngày Quyết định 55/2001/Qð-TTg ngày 23/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ cĩ hiệu lực thi hành, các doanh nghiệp nhà nước sản xuất sợi, dệt, in nhuộm hồn tất, nguyên liệu dệt, phụ liệu may và cơ khí dệt may, được cấp lại tiền thu sử dụng vốn để đầu tư mới, đầu tư chiều sâu, đầu tư mở rộng. Hình thức cấp vốn: Ghi thu, ghi chi vốn trực tiếp cho doanh nghiệp cĩ dự án đầu tư và nguồn thu sử dụng vốn. Mức cấp: Tối đa bằng số thu sử dụng vốn phát sinh tại doanh nghiệp mà doanh nghiệp đã đưa vào đầu tư. Ngân sách ưu tiên cân đối trong 4 năm (2001-2004) để cấp bổ sung đủ 30% vốn lưu động cho các doanh nghiệp nhà nước sản xuất sợi, dệt, in nhuộm hồn tất, nguyên liệu dệt, phụ liệu may và cơ khí dệt may theo nhu cầu vốn lưu động của năm 2001 (TT 106). - Dành tồn bộ nguồn thu phí hạn ngạch và đấu thầu hạn ngạch dệt may cho việc xúc tiến thương mại và đào tạo nguồn nhân lực cho ngành dệt - may. - Nội dung chi cho hoạt động xúc tiến thương mại gồm (TT106): + Chi cho các hoạt động tham gia các tổ chức dệt may quốc tế; + Chi cho một phần cơng tác đào tạo nguồn nhân lực của ngành dệt may (ngồi nguồn đào tạo của các viện, trường); + Chi cho cơng tác xúc tiến thương mại. ðối với chi phí cho cơng tác xúc tiến thương mại, phần cịn thiếu, được hỗ trợ từ nguồn ngân sách theo quy định tại Thơng tư số 61/2001/TT-BTC ngày 01/08/2001 của Bộ Tài chính hướng dẫn chi hỗ trợ cho hoạt động phát triển thị trường, đẩy mạnh xúc tiến thương mại. - ðối tượng sử dụng nguồn thu phí hạn ngạch và đấu thầu hạn ngạch dệt may: Tổng Cơng ty Dệt may Việt Nam, Hiệp hội Dệt may Việt Nam, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng dệt may Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 22 thuộc mọi thành phần kinh tế cĩ số thực nộp về phí hạn ngạch và đấu thầu hạn ngạch dệt may. - Mức cấp phát cho từng doanh nghiệp và Tổng cơng ty Dệt may Việt Nam, Hiệp hội Dệt may Việt Nam tối đa khơng vượt quá tổng số thực nộp phí hạn ngạch và đấu thầu hạn ngạch dệt may của các doanh nghiệp. Trong các hình thức trợ cấp nĩi trên, trợ cấp dưới dạng cấp phát tiền trực tiếp cho doanh nghiệp theo doanh số xuất khẩu khi tham gia các chương trình xúc tiến thương mại thuộc loại trợ cấp bị cấm và Việt Nam sẽ phải cam kết bỏ hình thức này ngay từ thời điểm gia nhập. Các hình thức trợ cấp cịn lại thuộc dạng trợ cấp đèn vàng, tức là các hình thức trợ cấp cĩ thể bị khiếu kiện trong WTO. Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 23 4. Mơ hình nội dung vấn đề nghiên cứu Hội nhập và mở cửa Hiệu quả kinh doanh Ảnh hưởng thuận nghịch Ảnh hưởng khách quan Giải pháp Tác động thuận nghịch Các hạn chế khách quan Thực trạng Vấn đề cịn tồn tại cần giải quyết Nguyên nhân Các yếu tố tác động Quy định của WTO với hàng dệt may Hoạt động của ngành dệt may Việt Nam Tác động của gia nhập WTO đối với ngành dệt may Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 24 CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÁC ðỘNG CỦA GIA NHẬP WTO ðỐI VỚI NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM 1. Phương pháp nghiên cứu ðề tài chủ yếu dùng phương pháp phân tích hệ thống, thống kê, so sánh. Do những hạn chế khách quan mang tính ngành nghề nên đề tài sử dụng chủ yếu phương pháp điều tra phân tích.. Tuy nhiên, việc vận dụng phương pháp phân tích khơng cĩ nghĩa mang nặng tính lý thuyết mà cách tiếp cận và giải quyết vấn đề dựa trên tính logic của hiện tượng kinh tế, các quy luật kinh tế và các lý thuyết kinh tế để suy luận. Dựa trên các số liệu thống kê, báo cáo của Bộ Cơng thương. Sau khi dùng phương pháp phân tích sơ bộ, căn cứ trên kết quả phân tích tiến hành điều tra và ra kết luận cũng như đề xuất các vấn đề cần phải thay đổi để kiện tồn hoạt động của ngành dệt may Việt Nam. Chú ý tập trung các chính sách, quy định của nhà nước đối với ngành dệt may và đặt chúng vào mơi trường cạnh tranh quốc tế. 2. ðánh giá tác động của việc gia nhập WTO đối với hàng dệt may Việt Nam. 2.1. Cơ hội và thách thức với ngành dệt may khi Việt Nam gia nhập WTO. 2.1.1. Cơ hội Sau khi gia nhập WTO, ngành dệt may Việt Nam sẽ nhận được những đối xử tương tự như các nước thành viên WTO khác dành cho nhau. Thứ nhất, hàng dệt may của Việt Nam khi xuất khẩu vào một nước thành viên WTO sẽ nhận được đối xử tối huệ quốc mà nước thành viên ấy dành cho các thành viên WTO khác. ðiều này cĩ nghĩa là về số lượng Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 25 xuất khẩu: Hạn ngạch vào các thị trường được dỡ bỏ, doanh nghiệp dệt may cĩ thể tự do xuất khẩu theo nhu cầu thị trường; Thứ hai, khi đã thâm nhập được thị trường một nước thành viên WTO, hàng dệt may của Việt Nam sẽ khơng cịn bị phân biệt với sản phẩm bản xứ nữa mà thay vào đĩ sẽ được đối xử bình đẳng về thuế, phí, lệ phí, các qui định liên quan đến việc bán hàng, cạnh tranh... Thứ ba, khi gặp tranh chấp thương mại, hàng dệt may của Việt Nam cĩ thể nhận được bảo vệ từ cơ chế xử lý tranh chấp trong khung khổ WTO. Thứ tư, trong những trường hợp khĩ khăn, ngành dệt may Việt Nam cĩ thể nhận được bảo hộ tạm thời từ cơ chế tự vệ. Thứ năm, sau khi gia nhập WTO, hàng xuất khẩu dệt may của Việt Nam sẽ khơng cịn chịu hạn ngạch khi xuất khẩu vào các nước thành viên khác nữa. Thứ sáu, ngành dệt may Việt Nam cũng sẽ được hưởng lợi từ đầu tư nước ngồi, đi kèm với trình độ quản lý và kỹ thuật cơng nghệ mới. Cuối cùng, việc trở thành thành viên WTO cho thấy những nỗ lực cải cách và phát triển kinh tế của Việt Nam đã được quốc tế cơng nhận, và đây là cơ sở để Việt Nam tham gia đàm phán và thực thi các cam kết tự do hĩa thương mại ngày một sâu rộng hơn. 2.1.2. Thách thức. Thứ nhất, hàng rào bảo hộ dệt may trong nước khơng cịn. Nếu như hiện nay, thuế nhập khẩu hàng may mặc vào Việt Nam là 50%, thuế nhập khẩu vải là 40%, thuế nhập khẩu sợi là 20% thì khi vào WTO, Việt Nam sẽ phải thực hiện đúng cam kết theo Hiệp định Dệt may (với mức giảm thuế lớn, ví dụ thuế suất đối với vải giảm từ 40% xuống 12%, quần áo may sẵn giảm từ 50% xuống 20% và sợi giảm từ 2% xuống 5%). Do vậy vải Trung Quốc sẽ tràn vào nước ta vì lúc nước sẽ phải cạnh tranh với vải Trung Quốc nhập khẩu. Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 26 Thứ hai, nguy cơ bị kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ ở các thị trường xuất khẩu lớn hơn. Thứ ba, nguồn lao động chắc chắn sẽ bị chia sẻ, giá lao động sẽ tăng lên, cạnh tranh trong việc thu hút lao động cũng sẽ gay gắt hơn. Thứ tư, sẽ cĩ rất nhiều nhà đầu tư nước ngồi đầu tư vào lĩnh vực này, do vậy, sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp Việt Nam sẽ tăng lên. Mặc dù, một số ưu đãi đầu tư nhằm khuyến khích xuất khẩu dù vẫn được duy trì nhưng sẽ phải chấm dứt trước ngày 11/1/2012 (chỉ áp dụng đối với các ưu đãi đầu tư đã dành cho các dự án đã được cấp phép và đi vào hoạt động trước ngày 11/1/2007). Thứ năm, với cam kết xĩa bỏ các hình thức trợ cấp khơng được phép, ngành dệt may khơng cịn được hưởng một số loại hỗ trợ như trước đây như các hình thức hỗ trợ XK và thưởng XK từ Quỹ hỗ trợ XK; các biện pháp miễn giảm thuế hoặc tiền thuê đất gắn với điều kiện XK; các ưu đãi tín dụng đầu tư phát triển... 2.2. Tình hình hoạt động của ngành dệt may sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Ngành dệt may Việt Nam đã cĩ những bước tiến đáng kể trong những năm vừa qua. Xuất khẩu hàng dệt may cũng đạt được những kết quả tăng trưởng khá ấn tượng. Tổng giá trị xuất khẩu hàng dệt may đã tăng liên tục từ mức 1,15 tỷ USD vào năm 1996 lên gần 2 tỷ USD vào năm 2001 và xấp xỉ 7,8 tỷ USD vào năm 2007 và khoảng 9,1 tỷ USD vào năm 2008. Trong 10 tháng đầu năm 2009, dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thối kinh tế tồn cầu, ngành dệt may đạt giá trị xuất khẩu gần 7,5 tỷ USD, chỉ giảm khoảng 1,5% so với cùng kỳ năm 2008. ðáng chú ý, giá trị xuất khẩu đã tăng khá nhanh kể từ năm 2002 đến nay, với mức tăng trung bình trong giai đoạn 2002-2008 khoảng 22%/năm. Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 27 Theo thị trường, Hoa Kỳ cĩ mức tăng trưởng xuất khẩu cao nhất, đặc biệt là kể từ năm 2002 trở lại đây khi Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ cĩ hiệu lực. Chỉ riêng trong năm 2002, giá trị xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Hoa Kỳ đã tăng hơn 21 lần lên hơn 950 triệu USD, so với mức 45 triệu USD của năm 2001. Kể từ năm 2002 đến nay, xuất khẩu của hàng dệt may vào thị trường Hoa Kỳ cũng luơn tăng trưởng nhanh, đạt mức 3,8 tỷ USD vào năm 2007. Tỷ trọng xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong tổng giá trị xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam cũng tăng tương ứng, từ mức xấp xỉ 34,6% vào năm 2002 lên gần 50,7% vào năm 2007. Các thị trường chủ yếu khác của hàng dệt may Việt Nam là EU và Nhật Bản. Thị trường EU cĩ mức tăng khá ổn định, từ mức 225 triệu USD vào năm 1996 lên 1,5 tỷ USD vào năm 2007. Trong khi đĩ, xuất khẩu hàng dệt may vào Nhật Bản cĩ diễn biến phức tạp hơn, mặc dù vẫn thể hiện xu hướng tăng: giá trị xuất khẩu năm 2000 là 620 triệu USD, giảm xuống cịn 514 triệu USD vào năm 2003 và tăng liên tục lên 800 triệu USD vào năm 2007. Chỉ riêng ba thị trường này đã chiếm hơn 81% giá trị xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam, mặc dù đã giảm so với mức đỉnh điểm gần 85,9% vào năm 2004. Việc mở rộng tiếp cận thị trường xuất khẩu cũng gĩp phần tạo điều kiện cho ngành dệt may khơng ngừng lớn mạnh. Trong giai đoạn 2000- 2006, ngành đã tạo thêm việc làm cho khoảng 600.000 lao động. Tính theo giá so sánh (năm 1994), trong giai đoạn 2000-2008, giá trị sản xuất của ngành dệt đã tăng gần 2,7 lần, từ gần 10.040 tỷ đồng lên hơn 26.950 tỷ đồng. Ngành may mặc thậm chí cịn đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh hơn, từ mức 6.040 tỷ đồng lên gần 26.620 tỷ đồng. Tuy nhiên, nguyên phụ liệu phục vụ cho ngành may mặc chủ yếu là từ nguồn nhập khẩu. Trong khi đĩ, ngành dệt hầu như chưa đáp ứng được đủ yêu cầu (cả về số lượng và chất lượng) cho ngành may. Nĩi cách khác, mối liên kết giữa ngành dệt và ngành may mặc cịn chưa thật sự Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 28 chặt chẽ. Ngành dệt cịn mang hơi hướng thay thế nhập khẩu, nhưng lại chưa đạt hiệu quả và quy mơ sản xuất cần thiết. Trong khi đĩ, ngành may mặc cĩ tính định hướng xuất khẩu cao, nhưng lại phải dựa vào nguyên phụ liệu nhập khẩu. Giá trị xuất khẩu hàng dệt may trong giai đoạn 2000-2003 thậm chí cịn thấp hơn giá trị nguyên phụ liệu nhập khẩu, và chỉ đạt giá trị tương đương trong những năm gần đây. ðiều này là do ngành may mặc cịn phải phục vụ cả nhu cầu trong nước và nhu cầu xuất khẩu, nên phải nhập khẩu nhiều nguyên phụ liệu hơn. Mặc dù vậy, điều này lại ảnh hưởng đến việc cân đối ngoại tệ trong ngành dệt may. Bảng 4: Tình hình xuất nhập khẩu hàng dệt may, 2000-2008 ðơn vị tính: Triệu USD 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Nhập khẩu Bơng 105.4 190.2 167.21 219.0 268 468 Sợi 317.5 338.8 339.59 544.6 744 788 Vải các loại 1.805,4 1.926,7 2.398,96 2.984,0 3.980 4.454 Nguyên phụ liệu máy mĩc, phụ tùng 1.825,9 1.724,3 1.774,2 1.952,0 2.152 2.376 Cộng nhập (chưa kể hĩa chất thuốc nhuộm) 4.054,2 4.180,0 4.679,96 5.699,6 7.144 8.086 Kim ngạch xuất khẩu 3.609,1 4.385,6 4.838,4 5.834,0 7.794 9.082 Nguồn: Tài liệu xúc tiến kêu gọi đầu tư phát triển ngành dệt may Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thối kinh tế tồn cầu đã làm giảm đáng kể nhu cầu đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam. Mặc dù đã cĩ nhiều biện pháp điều chỉnh, nhưng việc thực hiện mục tiêu xuất khẩu 9,5 tỷ USD trong năm 2009 của các doanh nghiệp dệt may dường như rất khĩ khăn. Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 29 Tại thị trường Hoa Kỳ - thị trường lớn nhất với tỷ trọng trên 55% trong giá trị xuất khẩu dệt may - các doanh nghiệp đã nỗ lực phối hợp với các nhà nhập khẩu trong việc xác định lại cơ cấu giá cả hợp lý trên cơ sở vẫn giữ vững chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Nhờ đĩ trong năm 2008, hàng dệt may Việt Nam đạt kim ngạch vào Hoa Kỳ trên 5,1 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2007. Trong 9 tháng đầu năm 2009, nhập khẩu hàng dệt may của Hoa Kỳ giảm đến 12,7% và hàng nhập từ hầu hết các nước sản xuất chính đều giảm (từ Hồng Kơng giảm 21%, từ Indonesia giảm 2,9%, từ Thái Lan giảm 25,6% và từ Ấn ðộ giảm 7,7%). Tuy nhiên, hàng dệt may Việt Nam xuất vào thị trường này vẫn tăng 18% về lượng và chỉ giảm 4,5% về giá trị. Tại thị trường Châu Âu - chiếm khoảng 20% giá trị xuất khẩu, các doanh nghiệp đã cải thiện chất lượng và mở rộng dịch vụ hỗ trợ cho nhà nhập khẩu cũng như tuân thủ quy chế mới về an tồn cho người tiêu dùng. Nhờ đĩ, giá trị xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2009 đạt xấp xỉ 1,25 tỷ USD, chỉ giảm 3,5% trong điều kiện nhập khẩu chung vào thị trường này giảm hơn 11% so với cùng kỳ năm trước. Tại thị trường Nhật Bản - thị trường lớn thứ ba của ngành dệt may Việt Nam, các doanh nghiệp đã tăng cường hoạt động xúc tiến hợp tác đầu tư, thương mại với đối tác Nhật Bản. Nhờ đĩ kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này khơng ngừng tăng trưởng (năm 2008 tăng 12% và 9 tháng đầu năm 2009 tăng 15,3 %). ðây là kết quả đáng ghi nhận trong điều kiện nền kinh tế Nhật Bản cũng bị suy giảm nghiêm trọng. Bên cạnh đĩ, doanh nghiệp đã cĩ nhiều nỗ lực để xúc tiến các thị trường mới. Trong 9 tháng đầu năm 2009, hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào Hàn Quốc đã tăng 50%, Ảrập Xêut tăng 23%, Thụy Sĩ tăng 12,7% và các nước ASEAN tăng 7,8%. Tại thị trường nội địa, nhiều doanh nghiệp đã tập trung đổi mới tồn diện chiến lược phục vụ cho người tiêu dùng. Các biện pháp đã và Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 30 đang được thực hiện bao gồm đầu tư mạnh hơn vào nghiên cứu thị trường, thị hiếu, tăng cường cơng tác thiết kế thời trang và sản phẩm mới, tổ chức dây chuyền sản xuất chuyên biệt phù hợp, đẩy mạnh các hoạt động tiếp thị tại các thành phố lớn kết hợp với chương trình đưa hàng về nơng thơn và tăng uy tín thương hiệu. Những biện pháp này cũng thể hiện nỗ lực của doanh nghiệp trong việc thực hiện chiến lược lấy nội địa làm thị trường cơ bản để tồn tại và vượt qua suy thối của nhiều doanh nghiệp. Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 31 CHƯƠNG IV GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM TRONG ðIỀU KIỆN WTO 1. Các quan điểm phát triển ngành dệt may Việt Nam - Phát triển ngành Dệt May theo hướng chuyên mơn hố, hiện đại hĩa, nhằm tạo ra bước nhảy vọt về chất và lượng sản phẩm. Tạo điều kiện cho ngành Dệt May Việt Nam tăng trưởng nhanh, ổn định, bền vững và hiệu quả. Khắc phục những điểm yếu của ngành dệt may là thương hiệu của các doanh nghiệp cịn yếu, mẫu mã thời trang chưa được quan tâm, cơng nghiệp phụ trợ chưa phát triển, cung cấp nguyên phụ liệu vừa thiếu, vừa khơng kịp thời. - Lấy xuất khẩu làm mục tiêu cho phát triển của ngành, mở rộng thị trường xuất khẩu, đồng thời phát triển tối đa thị trường nội địa. Tập trung phát triển mạnh các sản phẩm cơng nghiệp hỗ trợ, sản xuất nguyên phụ liệu, giảm nhập siêu, nâng cao giá trị gia tăng của các sản phẩm trong ngành. - Phát triển ngành Dệt May phải gắn với bảo vệ mơi trường và xu thế dịch chuyển lao động nơng nghiệp nơng thơn. Di chuyển các cơ sở gây ơ nhiễm mơi trường vào các Khu, Cụm Cơng nghiệp tập trung để tạo điều kiện xử lý mơi trường. Chuyển các doanh nghiệp Dệt May sử dụng nhiều lao động về các vùng nơng thơn, đồng thời phát triển thị trường thời trang Dệt May Việt Nam tại các đơ thị và thành phố lớn. - ða dạng hĩa sở hữu và loại hình doanh nghiệp trong ngành Dệt May, huy động mọi nguồn lực trong và ngồi nước để đầu tư phát triển Dệt May Việt Nam. Trong đĩ chú trọng kêu gọi những nhà đầu tư nước ngồi tham gia đầu tư vào những lĩnh vực mà các nhà đầu tư trong nước cịn yếu và thiếu kinh nghiệm Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 32 - Phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng cho sự phát triển bền vững của ngành Dệt May Việt Nam; Trong đĩ, chú trọng đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, cơng nhân lành nghề nhằm tạo ra đội ngũ doanh nhân giỏi, cán bộ, cơng nhân lành nghề, chuyên sâu. 2. Mục tiêu phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020. 2.1. Mục tiêu tổng quát Phát triển ngành Dệt May trở thành một trong những ngành cơng nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế giới. 2.2. Mục tiêu cụ thể Các chỉ tiêu chủ yếu trong Chiến lược phát triển ngành Dệt May Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 như sau: 1. Doanh thutriệu USD 7.80014.80022.50031.000 2. Xuất khẩutriệu USD 5.83412.00018.00025.000 3. Sử dụng lao độngnghìn người2.1502.5002.7503.000 4. Tỷ lệ nội địa hố% 32506070 - Bơng xơ1000 tấn 8204060 - Xơ, Sợi tổng hợp1000 tấn-120210300 - Sợi các loại1000 tấn 265350500650 - Vảitriệu m2 5751.0001.5002.000 - Sản phẩm maytriệu SP 1.2121.8002.8504.000 3. Các định hướng phát triển ngành dệt may 3.1. Sản phẩm - Tập trung phát triển và nâng cao khả năng cạnh tranh cho ngành may xuất khẩu để tận dụng cơ hội thị trường. Nâng cao tỷ lệ nội địa hĩa để nâng cao hiệu quả trong sản xuất và xuất khẩu hàng may mặc. Chú trọng cơng tác thiết kế thời trang, tạo ra các sản phẩm dệt may cĩ đặc tính khác Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 33 biệt cao, từng bước xây dựng thương hiệu sản phẩm cho các doanh nghiệp. ðẩy nhanh việc áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng phù hợp với yêu cầu hội nhập trong ngành Dệt May. Tăng nhanh sản lượng các sản phẩm dệt may, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. - Kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngồi nước đầu tư sản xuất xơ sợi tổng hợp, nguyên phụ liệu, phụ tùng thay thế và các sản phẩm hỗ trợ để cung cấp cho các doanh nghiệp trong ngành. - Xây dựng Chương trình sản xuất vải phục vụ xuất khẩu. Tập đồn Dệt May Việt Nam giữ vai trị nịng cốt thực hiện Chương trình này. - Xây dựng Chương trình phát triển cây bơng, trong đĩ chú trọng xây dựng các vùng trồng bơng cĩ tưới nhằm tăng năng suất và chất lượng bơng xơ của Việt Nam để cung cấp cho ngành dệt. 3.2. ðầu tư và phát triển sản xuất - ðối với các doanh nghiệp may: Từng bước di dời các cơ sở sản xuất về các địa phương cĩ nguồn lao động nơng nghiệp và thuận lợi giao thơng. Xây dựng các trung tâm thời trang, các đơn vị nghiên cứu thiết kế mẫu, các Trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu và thương mại tại Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố lớn. - ðối với các doanh nghiệp sợi, dệt, nhuộm và hồn tất vải: Xây dựng các Khu, Cụm Cơng nghiệp chuyên ngành dệt may cĩ cơ sở hạ tầng đủ điều kiện cung cấp điện, nước, xử lý nước thải đáp ứng các tiêu chuẩn mơi trường theo quy định của Nhà nước. Thực hiện di dời và xây dựng mới các cơ sở dệt nhuộm tại các Khu, Cụm Cơng nghiệp tập trung để cĩ điều kiện xử lý nước thải và giải quyết tốt việc ơ nhiễm mơi trường. - Xây dựng các vùng chuyên canh bơng cĩ tưới tại các địa bàn cĩ đủ điều kiện về đất đai, thổ nhưỡng và khí hậu nhằm nâng cao sản lượng, năng suất và chất lượng bơng xơ. 3.3. Bảo vệ mơi trường. Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 34 - Xây dựng Báo cáo đánh giá tác động mơi trường phù hợp với Chiến lược phát triển ngành Dệt May và các quy định pháp luật về mơi trường. - Tập trung xử lý triệt để các cơ sở ơ nhiễm mơi trường nghiêm trọng. Triển khai xây dựng các Khu, Cụm Cơng nghiệp Dệt May cĩ hệ thống xử lý nước thải tập trung, đạt tiêu chuẩn mơi trường để di dời các cơ sở dệt may cĩ nguy cơ gây ơ nhiễm vào khu cơng nghiêp. - Triển khai Chương trình sản xuất sạch hơn trong ngành Dệt May, khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn quản lý mơi trường theo ISO 14000, tạo mơi trường lao động tốt cho người lao động theo tiêu chuẩn SA 8000. - Xây dựng và thực hiện lộ trình đổi mới cơng nghệ trong ngành Dệt May theo hướng thân thiện với mơi trường. - Tăng cường năng lực nghiên cứu khoa học cơng nghệ về mơi trường. - ðáp ứng các yêu cầu về mơi trường và rào cản kỹ thuật để hội nhập kinh tế quốc tế. 4. Các giải pháp phát triển ngành dệt may Việt Nam 4.1. Giải pháp về đầu tư Khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong và ngồi nước đầu tư phát triển ngành dệt may để phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Xây dựng các dự án đầu tư trong lĩnh vực dệt, nhuộm, sản xuất nguyên liệu bơng xơ và sợi nhân tạo, sản xuất nguyên phụ liệu, để kêu gọi các nhà đầu tư trong nước và nước ngồi. Trong đĩ ưu tiên các dự án sản xuất vải dệt thoi phục vụ cho sản xuất hàng may mặc xuất khẩu. Xây dựng các khu cơng nghiệp chuyên ngành Dệt May cĩ đủ điều kiện hạ tầng cung cấp điện, cấp nước, xử lý nước thải, đảm bảo các yêu cầu về mơi trường và lao động cĩ khả năng đào tạo. Phối hợp với các địa phương đầu tư phát triển cây bơng, trong đĩ chú trọng xây dựng vùng bơng cĩ tưới, từng bước đáp ứng nhu cầu bơng cho ngành dệt, sợi. Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 35 4.2. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực. Triển khai Chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Dệt May Việt Nam theo các nội dung sau: Mở các lớp đào tạo cán bộ quản lý kinh tế - kỹ thuật, cán bộ pháp chế, cán bộ bán hàng chuyên ngành Dệt May, cán bộ kỹ thuật và cơng nhân lành nghề của các dự án dệt, nhuộm trọng điểm. Mở các khố đào tạo về thiết kế và phân tích vải, kỹ năng quản lý sản xuất, kỹ năng bán hàng (gồm các kỹ năng thiết kế, làm mẫu, bán hàng, kiến thức về tiêu chuẩn nguyên liệu, sản phẩm, tiêu chuẩn mơi trường và lao động) Liên kết với các tổ chức quốc tế để cử cán bộ, học sinh tham gia các khố đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ pháp chế, cán bộ kỹ thuật, cán bộ bán hàng, đào tạo cơng nhân kỹ thuật cĩ tay nghề cao tại các cơ sở đào tạo ở nước ngồi. Kết hợp việc đào tạo dài hạn với đào tạo ngắn hạn, kết hợp giữa đào tạo chính quy với đào tạo tại chỗ, kết hợp giữa đào tạo trong nước với việc cử cán bộ ra nước ngồi để đào tạo. Củng cố và mở rộng hệ thống đào tạo chuyên ngành Dệt May, xây dựng Trường ðại học Dệt May và Thời trang để tạo cơ sở vất chất cho việc triển khai các lớp đào tạo. Duy trì thường xuyên các lớp đào tạo hệ cao đẳng, trung cấp, cơng nhân thơng qua hệ thống các trường chuyên nghiệp của ngành dệt may nhằm cung cấp đủ nguồn nhân lực cho ngành. Hiệp hội Dệt May Việt Nam và Tập đồn Dệt May Việt Nam là đầu mối để phối hợp và liên kết với các cơ sở đào tạo trong và ngồi nước triển khai Chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành. 4.3. Giải pháp về khoa học cơng nghệ Tổ chức lại các Viện nghiên cứu chuyên ngành dệt may theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm: Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 36 - Nâng cao năng lực tư vấn, nghiên cứu triển khai, chuyển giao cơng nghệ, khả năng thiết kế và sáng tác mẫu của các Viện nghiên cứu. - Hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong ngành đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu triển khai các tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao cơng nghệ, nâng cao năng lực sản xuất của các doanh nghiệp Dệt May Việt Nam. Nghiên cứu áp dụng các cơng nghệ mới, các nguyên liệu mới để tạo ra các sản phẩm dệt cĩ tính năng khác biệt, triển khai các chương trình sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng, áp dụng các phần mềm trong thiết kế, quản lý sản xuất và chất lượng sản phẩm Dệt May. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật sản phẩm dệt may phù hợp và hài hồ với pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và thơng lệ quốc tế. Hỗ trợ nâng cấp các trung tâm giám định, kiểm tra chất lượng sản phẩm Dệt May, hỗ trợ cho các doanh nghiệp Dệt May trong quản lý chất lượng và khắc phục các rào cản kỹ thuật. Xây dựng phịng thí nghiệm sinh thái Dệt May và Trung tâm phát triển các mặt hàng vải. Xây dựng cơ sở dữ liệu về ngành Dệt May, nâng cao chất lượng của trang thơng tin điện tử. Nghiên cứu xây dựng các chính sách khuyến khích thúc đẩy chuyển giao cơng nghệ trong ngành dệt may. 4.4. Giải pháp thị trường Tập trung mọi khả năng và cơ hội đàm phán mở rộng thị trường Dệ May trên thị trường quốc tế. Cải cách các thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan, xuất nhập khẩu theo hướng thực hiện cơ chế một dấu, một cửa, đơn giản hố các thủ tục. Tăng cường cơng tác kiểm tra, kiểm sốt thị trường, chống buơn lậu, trốn thuế, gian lận thương mại. Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 37 Tăng cường cơng tác tư vấn pháp luật thương mại quốc tế. Chuẩn bị kỹ việc chống các rào cản kỹ thuật mới của các nước nhập khẩu cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Tổ chức mạng lưới bán lẻ trong nước, đổi mới phương thức tiếp thị xuất khẩu, đồng thời quan tâm đến việc xây dựng, quảng bá thương hiệu sản phẩm, xây dựng hình ảnh của ngành Dệt May Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế. Bố trí đủ cán bộ pháp chế cho các doanh nghiệp trong ngành để tham gia soạn thảo, đàm phán và giải quyết các tranh chấp hợp đồng, nhất là hợp đồng thương mại quốc tế. 4.5. Giải pháp về cung ứng nguyên phụ liệu Xây dựng các Trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu tại Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố lớn để cung ứng kịp thời nguyên phụ liệu cho các doanh nghiệp trong ngành. Xây dựng các doanh nghiệp kinh doanh nguyên phụ liệu tập trung nhằm đáp ứng được nhu cầu nguyên phụ liệu cho các doanh nghiệp với chất lượng cao và giá nhập khẩu hợp lý. 4.6. Giải pháp về tài chính Vốn cho đầu tư phát triển: ðể giải quyết vốn cho đầu tư phát triển, ngành Dệt May Việt Nam huy động vốn từ các thành phần kinh tế trong và ngồi nước thơng qua các hình thức hợp tác kinh doanh, cơng ty liên doanh, cơng ty liên kết, cổ phần hố các doanh nghiệp, doanh nghiệp cĩ 100% vốn đầu tư nước ngồi. Khuyến khích các doanh nghiệp huy động vốn thơng qua thị trường chứng khốn (phát hành trái phiếu, cổ phiếu, trái phiếu quốc tế), vay thương mại với điều kiện cĩ hoặc khơng cĩ sự bảo lãnh của Chính phủ. Vốn cho hoạt động nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực và xử lý mơi trường.Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách nhà nước cho các Viện nghiên cứu, các Trường đào tạo trong ngành Dệt May Việt Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 38 Nam để tăng cường cơ sở vật chất và thực hiện các hoạt động nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Dệt May theo nguyên tắc phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Nhà nước cho doanh nghiệp Dệt May được vay vốn tín dụng nhà nước, vốn ODA và vốn của quỹ mơi trường để thực hiện các dự án xử lý mơi trường. 5. Một số kiến nghị đề xuất ðể đảm bảo tính khả thi cao cho định hướng và các giải pháp nêu trên, tơi xin đưa ra mấy kiến nghị lớn như sau: Thứ nhất, Nhà nước cần tập trung thích đáng vào chiến lược cơng nghệ dệt may nhằm tạo đà đủ mạnh cho bước “cất cánh” của ngành cơng nghiệp xuất khẩu nhĩm hàng chế biến mũi nhọn hiện nay của nước nhà. Nếu thiếu đầu tư, đổi mới nhanh chĩng cơng nghệ, việc đẩy mạnh xuất khẩu và việc nâng cao năng lực cạnh tranh thật khĩ đạt được và càng khĩ tăng tốc kim ngạch xuất khẩu. Cĩ thể nĩi rằng, chiến lược cơng nghệ dệt may là bộ phận quan trọng trong chiến lược cơng nghệ tổng thể của nước ta như Bộ Khoa học – Cơng nghệ đã xây dựng. Bởi theo kinh nghiệm thực tế của nhiều nước, ngành cơng nghiệp dệt may đĩng vai trị lớn trong giai đoạn đầu của tiến trình cơng nghiệp hĩa – hiện đại hĩa đất nước. Thứ hai, cần ưu tiên hợp lý vốn đầu tư cho chiến lược cơng nghệ của ngành dệt may. Nội dung ưu tiên hợp lý này cần thể hiện rõ trong thực tế ở hạng mục ưu tiên cấp vốn, số vốn cấp và thời gian cấp vốn. Như vậy, việc huy động vốn cũng được tiến hành từ các nguồn: - Nguồn vốn đầu tư thuộc Ngân sách Nhà nước - Nguồn vốn FDI - Nguồn vốn ODA - Các nguồn vốn khác Việc đầu tư cơng nghệ phải đảm bảo cĩ trọng điểm và hiệu quả theo lộ trình cơng nghệ cụ thể, tránh dàn trải và lãng phí. Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 39 Thứ ba, Nhà nước cần cĩ chính sách hỗ trợ thỏa đáng cho việc phát triển nguồn cung cấp nguyên liệu trong nước của ngành dệt may, đặc biệt là nguyên liệu bơng hiện nay. ðể tăng nhanh tỷ lệ nội địa hĩa của hàng dệt may xuất khẩu, Nhà nước cần cĩ các chính sách ưu tiên đồng bộ và hợp lý cho ngành trồng bơng trong nước như chính sách đất đai, qui hoạch vùng trồng bơng, chính sách đầu tư, chính sách khuyến nơng, chính sách chuyển giao cơng nghệ cho nơng dân. Thứ tư, ngành dệt may cần chú trọng hơn nữa trong việc quy hoạch và phát triển nguồn nhân lực cho tương lai để sớm khắc phục tình trạng vừa thiếu về số lượng lại vừa yếu về chất lượng. Trước hết là cần cĩ quy hoạch tổng thể và phân loại cụ thể nguồn nhân lực để cĩ khách hàng đào tạo thích hợp cho từng loại. Chương trình đào tạo cần cĩ nhiều loại hình đa dạng, kết hợp giữa đào tạo ngắn hạn với dài hạn, giữa trong nước và ngồi nước. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực luơn luơn cĩ ý nghĩa quyết định thành cơng cho mọi chiến lược phát triển kinh tế nĩi chung và trong chiến lược phát triển ngành dệt may xuất khẩu nĩi riêng trong những năm tới. Phạm Thị Cẩm Chi K43F1- đại học Thương Mại 40 KẾT LUẬN Tồn bộ nội dung trình bày trong 4 chương của đề tài cĩ thể chốt lại vào 3 vấn đề cốt lõi sau: Một là, nhu cầu nhập khẩu hàng dệt may của thế giới, trọng tâm cụ thể là các nước phát triển Bắc Mỹ, EU, và Nhật Bản vẫn mở rộng và ổn định theo chiều hướng cĩ lợi cho các nhà sản xuất để cĩ thể yên tâm ổn định đầu ra cho sản phẩm của mình. Hai là, thực tiễn hoạt động xuất khẩu suốt nhiều năm qua đã cĩ cơ sở nhất định để đánh giá được khả năng thực tế của ngành dệt may Việt Nam. Trong giai đoạn gần đây (2000 – 2009), kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam vẫn tăng liên tục qua tất cả các năm. ðĩ là thực tế khơng thể phủ nhận được. Tuy nhiên hiện nay chúng ta cịn khơng ít những hạn chế, kể cả những yếu kém so với các nước xuất khẩu khác như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia. ðiều đáng nĩi nhất là năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu của Việt Nam cịn thấp hơn so với họ do chất lượng thấp và mẫu mã kém phong phú. Ba là, từ hai kết luận trên, đồng thời rà sốt lại định hướng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2015, cĩ cơ sở để nĩi rằng, các yếu tố khách quan và chủ quan đang đảm bảo tính khả thi cao cho mục tiêu xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường dệt may thế giới. ðịnh hướng đẩy mạnh xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam sẽ được chú trọng trong nhiều năm tới với vị trí là hàng xuất khẩu chủ lực thuộc nhĩm hàng chế biến mũi nhọn, gĩp phần xứng đáng hơn nữa vào tiến trình cơng nghiệp hĩa, hiện đại hĩa nước nhà.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfTác động của việc gia nhập WTO đối với ngành dệt may Việt Nam.pdf
Luận văn liên quan