Thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại

Thẩm định DA ĐT tại NH TM Tên đề tài: Nội dung thẩm định dự án đầu tư trong các ngân hang Thương mại ở Việt Nam Từ nhiều năm nay hoạt động đầu tư theo dự án đã đóng vai trò quan trọng trong việc tái tạo duy trì năng lực sản xuất,phát triển cơ sở hạ tầng của xã hội nói chung và của doanh nghiệp nói riêng.Thực tế cho thấy có nhiều phương pháp để huy động vốn cho đầu tư phát triển cũng như cho hoạt động sản xuất kinh doanh như:vốn cấp phát từ ngân sách,vốn cổ phần bán công trái,và một số công cụ nợ khác.Tuy nhiên với ưu thế là nguồn vốn lớn,thời gian giải ngân chăc chắn,có sự quản lý,giám sát chặt chẽ thì vốn đầu tư từ các ngân hang Thương Mại đã đóng góp tới hơn 15% trong tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội(giai đoạn từ năm 2000 – 2004) Hiện nay các ngân hàng Thương mại rất quan tâm tới vấn đề thẩm định đối với các dự án đầu tư biểu hiện cụ thể bởi 2 lí do:Một là thẩm định dự án đầu tư góp phần quan trọng trong thực hiện các mục tiêu chiến lược kinh tế của quốc gia,thực hiện các chương trình kinh tế trọng điểm.Hai là thẩm định nhưng chưa được áp dụng đúng mức ở tất cả các cấp ngành,các bộ phận,các cơ quan quản lý một cách hợp lý và chặt chẽ trong tổng thể nền kinh tế Việt Nam. Cũng như nhiều nước đang phát triển khác ,những số tiền lớn của xã hội chi cho việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và đầu tư trực tiếp sản xuất nhưng bị lãng phí do chưa điều tra kĩ lưỡng về tính khr thi của các phương án,nhu cầu thị trường và hiệu quả kinh tế.Mặc dù sự lầm lẫn trong một số quyết định đầu tư là không thể tránh khỏi nhưng cần một số kĩ thuật tốt để thẩm định các dự án một cách hệ thống.Những kĩ thuật này có thể làm tăng vọt tỷ lệ các dự án thành công và các quan chức cũng như các nhà quản lý kinh tế nên học tập và áp dụng chúng. Hơn thế,qua thực tế ta cũng thấy rằng trong số rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của đầu tư nói chung và vấn đề thẩm định đối với dự án đầu tư trong các ngân hàng Thương Mại nói riêng thì thẩm định dự án có vai trò quan trọng nhất. Để góp phần một lần nữa làm sáng tỏ điều này em lự chọn đề tài:”Nội dung thẩm định dự án đầu tư trong các Ngân hàng Thương Mại ở Viêt Nam có nghiên cứu thực trạng thẩm định đối với các dự án đầu tư đặc biệt là trong các dự án đầu tư đặc biệt là các Ngân hàng Thương Mại ở Việt Nam có nghiên cứu thực trạng thẩm định dự án trong hệ thống ngân hàng hiện nay. Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của cô giáo TS Trần Mai Hương trong quá trình em thực hiện dự án.Em rất mong có sự đóng góp ý kiến của các thầy cô. Chương I: Lý luận chung I.Ngân hàng thương mại(NHTM)_vai trò của NHTM trong đầu tư phát triển kinh tế xã hội: 1.Khái niệm NHTM:

doc47 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 30/01/2013 | Lượt xem: 4955 | Lượt tải: 21download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
công trình; bản vẽ hệ thống kỹ thuật và hệ thống hạ tầng kỹ thuật công trình 3. Văn bản cho phép đầu tư hoặc quyết định giao vốn chuẩn bị đầu tư hoặc quyết định giao vốn thực hiện đầu tư. 4. Quyết định phê duyệt kế hoạch đấu thầu và quyết định phê duyệt kết quả chỉ định thầu tư vấn. 5. Các văn bản thẩm định của cơ quan có thẩm quyền (nếu có). 6. Văn bản chấp thuận về quy hoạch hoặc quy hoạch được duyệt của cơ quan có thẩm quyền (nếu có). 7. Thoả thuận của cơ quan phòng cháy, chữa cháy đối với công trình nằm trong danh mục cần PCCC". 8. Thoả thuận về hành lang bảo vệ di tích lịch sử (nếu cần). 9. Tài liệu kết quả khảo sát địa chất địa hình. 10. Đăng ký kinh doanh của đơn vị khảo sát thiết kế.  11. Chứng chỉ hành nghề của chủ nhiệm khảo sát thiết kế. 12. Biên bản nghiệm thu khảo sát thiết kế của chủ đầu tư. 13. Các văn bản cần thiết khác. II- Yêu cầu về hồ sơ thẩm định BCKTKT: 1. Tờ trình phê duyệt BCKTKT theo mẫu tại phục lục số 5 kèm theo Thông tư số 02/2007/TT-BXD ngày 14/2/2007. 2. Báo cáo kinh kế kỹ thuật. Nội dung của Báo cáo kinh tế- kỹ thuật xây dựng công trình thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 35 của Luật Xây dựng bao gồm sự cần thiết đầu tư, mục tiêu xây dựng công trình; địa điểm xây dựng; quy mô, công suất; cấp công trình; nguồn kinh phí xây dựng công trình; thời hạn xây dựng; hiệu quả công trình; phòng, chống cháy, nổ; bản vẽ thiết kế thi công và dự toán công trình. 3. Kết quả thẩm định thiết kế bản vẽ thi công và dự toán theo phụ lục số 4 kèm theo Thông tư 02/2007/TT-BXD. 4. Văn bản cho phép đầu tư hoặc quyết định giao vốn chuẩn bị đầu tư. 5. Quyết định phê duyệt kết quả chỉ định thầu tư vấn. 6. Văn bản chấp thuận về quy hoạch hoặc quy hoạch được duyệt của cơ quan có thẩm quyền (nếu có). 7. Thoả thuận của cơ quan phòng cháy, chữa cháy đối với công trình nằm trong danh mục cần PCCC". 8. Thoả thuận về hành lang bảo vệ di tích lịch sử (nếu cần). 9. Tài liệu kết quả khảo sát địa chất địa hình. 10. Đăng ký kinh doanh của đơn vị khảo sát thiết kế. 11. Chứng chỉ hành nghề của chủ nhiệm khảo sát thiết kế. 12. Biên bản nghiệm thu khảo sát thiết kế của chủ đầu tư. 13. Các văn bản cần thiết khác.  14. Văn bản thẩm định của các ngành liên quan (nếu có). III- Số bộ hồ sơ cần nộp: ít nhất 5 bộ, tuỳ theo từng dự án cụ thể mà người trực tiếp thẩm định yêu cầu số bộ hồ sơ cần nộp gồm: Sở Kế hoạch và Đầu tư, UBND tỉnh, Sở Tài chính, Sở Xây dựng hoặc UBND huyện có liên quan... IV- Thời gian thẩm định dự án sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ: 40 làm việc ngày đối với dự án nhóm A, 30 ngày làm việc với dự án nhóm B, 20 làm việc ngày với dự án nhóm C. V- Lệ phí thẩm định dự án: Trong lúc chưa có hướng dẫn cụ thể của Bộ Tài chính - trước mắt thu lệ phí thẩm định dự án như sau: Từ 0,025 % đến 0,0025 % tổng mức đầu tư của dự án (theo Thông tư 109/2000/TT-BTC của Bộ Tài chính). VI- Trình tự thẩm định dự án: - Tiếp nhận và ghi phiếu nhận hồ sơ cho chủ đầu tư. - Gửi hồ sơ dự án tới cơ quan có thẩm quyền thẩm định thiết kế cơ sở để thẩm định thiết kế cơ sở theo quy định đồng thời gửi hồ sơ đến các cơ quan, đơn vị có liên quan để lấy ý kiến về những nội dung liên quan đến dự án, báo cáo kinh tế kỹ thuật. Trường hợp cần thiết, để đảm bảo thuận tiện, đơn vị đầu mối thẩm định dự án có thể uỷ quyền cho chủ đầu tư trực tiếp gửi hồ sơ dự án và giải trình với cơ quan có thẩm quyền thẩm định thiết kế cơ sở. - Cơ quan thẩm định yêu cầu chủ đầu tư bổ sung theo ý kiến tham gia của đơn vị liên quan. Khi nào chỉnh sửa song thuyết minh dự án và thiết kế cơ sở đúng và đủ theo yêu cầu của các các cơ quan liên quan và cơ quan thẩm định thiết kế cơ sở sẽ tính là ngày tiếp nhận hồ sơ hợp lệ. - Cán bộ thẩm định sẽ tổng hợp ý kiến tham gia dự án và kết qủa thẩm định thiết kế cơ sở để đánh giá đề xuất ý kiến để đánh giá và đề xuất ý kiến để người quyết định đầu tư xem xét quyết định. - Chủ đầu tư phải nộp đầy đủ lệ phí thẩm định trước khi Sở Kế hoạch và Đầu tư gửi báo cáo thẩm định trình UBND tỉnh đồng gửi cho cho các ngành liên quan và chủ đầu tư. 5.2 Thẩm định khách hàng - t ài sản đảm bảo A.THẨM ĐỊNH KHÁCH HÀNG  I. Mục đích thẩm định khách hàng: Việc thẩm định khách hàng xin cấp tín dụng của cán bộ thẩm định nhằm để xem xét khách hàng có đủ điều kiện để cấp tín dụng, đầu tư hay không, có đáng tin cậy để cấp tín dụng, đầu tư không, có khả năng để thực hiện các trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện các khoản tín dụng và đầu tư không II. Phương pháp thẩm định Ngoài việc kiểm tra, xem xét, thẩm định qua hồ sơ xin cấp tín dụng do khách hàng cung cấp, cán bộ thẩm định phải điều tra, thu thập, tổng hợp và phân tích các nguồn thông tin về khách hàng để việc đánh giá, phân tích được toàn diện. Các nguồn thông tin chính bao gồm: thông tin do khách hàng cung cấp, thông tin do cán bộ thẩm định tự điều tra từ các nguồn thông tin khác (mạng thông tin tín dụng, phương tiện truyền thông, từ các Bộ, Ngành, Hiệp hội ngành nghề, các đơn vị có quan hệ với khách hàng ...) III. Nội dung thẩm định khách hàng: 1. Đánh giá về năng lực pháp lý của khách hàng Khách hàng xin cấp tín dụng phải có đủ năng lực pháp lý theo quy định của pháp luật, phải có đủ hồ sơ chứng minh năng lực pháp lý theo quy định của pháp luật hiện hành. Đối với các khách hàng xin cấp tín dụng là pháp nhân phải kiểm tra tính pháp lý của "người đại diện pháp nhân" theo quy định của pháp luật. Trong một số trường hợp, theo yêu cầu của loại hình cấp tín dụng, phải xem khách hàng có thoả mãn các điều kiện thuộc đối tượng cấp tín dụng hay không. 2. Đánh giá năng lực tài chính của khách hàng Đánh giá năng lực tài chính của khách hàng, chủ đầu tư nhằm xác định sức mạnh về tài chính, khả năng độc lập, tự chủ tài chính trong kinh doanh, khả năng thanh toán và hoàn trả nợ của khách hàng, chủ đầu tư. Ngoài ra còn phải xác định số vốn chủ sở hữu thực tế tham gia vào dự án đầu tư xin vay vốn theo quy định cho vay của TCB. Khi phân tích năng lực tài chính của khách hàng có rất nhiều chỉ tiêu để đánh giá, không thể đưa ra tất cả các chỉ tiêu, mà chỉ giới thiệu một số chỉ tiêu then chốt mang tính hướng dẫn khi đánh giá, phân tích. Khi xem xét, đánh giá đối với từng khách hàng, chủ đầu tư cụ thể, cán bộ thẩm định lựa chọn những chỉ tiêu phù hợp với điều kiện thực tế của từng khách hàng, chủ đầu tư để phân tích. Việc đánh giá năng lực tài chính của khách hàng dựa trên mọi nguồn thông tin liên quan đến tài chính của khách hàng. Cơ sở chính để phân tích, đánh giá là các báo cáo tài chính của khách hàng, chủ đầu tư được lập theo quy định (trong 02 năm gần nhất và/hoặc những quý gần nhất). Việc đánh giá năng lực tài chính của khách hàng, chủ đầu tư được thông qua các nội dung chính sau: 2.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính của khách hàng: Thông qua xem xét: tổng nguồn vốn, cơ cấu nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn. 2.2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của khách hàng: Các chỉ tiêu đánh giá gồm: a/ Tỷ suất doanh lợi ròng: Lợi nhuận ròng / Doanh thu thuần. Tỷ số này phản ánh số lợi nhuận thu được từ một đồng doanh thu bán hàng, cho biết năng lực kinh doanh, cạnh tranh của doanh nghiệp trong việc tạo ra lợi nhuận, tỷ suất này càng cao càng tốt. Sử dụng tỷ số này để so sánh với tỷ suất trung bình của ngành. b/ Tỷ suất về khả năng sinh lời của tài sản (ROA): Lợi nhuận trước thuế / Tổng tài sản. Cho biết khả năng sinh lời của tổng tài sản. Tỷ lệ này càng cao càng tốt và ngược lại. c/ Tỷ suất về khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE): Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu. Cho biết mức lợi nhuận đạt được trên 1 đồng vốn chủ sở hữu trong kỳ (một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận). Tỷ suất này càng cao càng tốt và ít nhất phải cao hơn lãi suất vay trong kỳ (tuy nhiên cần lưu ý trong trường hợp khách hàng có vốn chủ sở hữu quá nhỏ thì tỷ số này có thể cao nhưng lại tiềm ẩn rủi ro lớn). d/ Tỷ suất sử dụng tài sản cố định: Doanh thu thuần / Tài sản cố định Tỷ suất này thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản cố định. Tỷ số này càng cao càng tốt. Khi đánh giá, cán bộ thẩm định cần phải so sánh với từng ngành nghề. Nếu thấp hơn so với mức trung bình trong từng ngành nghề cần phải tìm hiểu nguyên nhân và cẩn trọng trong việc cho khách hàng vay vốn đầu tư mở rộng, nâng công suất vì đang sử dụng tài sản cố định không hiệu quả. e/ Tốc độ, cơ cấu tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận năm sau so với năm trước. 2.3 Khả năng tự chủ tài chính: Các chỉ tiêu đánh giá gồm: a/ Tỷ số nợ: Tổng số nợ phải trả / Tổng nguồn vốn Cho biết sự góp vốn của chủ sở hữu so với số nợ vay. Tỷ lệ này càng nhỏ càng an toàn. b/ Tỷ lệ đòn cân nợ: Tổng nợ phải trả / Vốn chủ sở hữu Phản ánh quan hệ giữa tài sản được tài trợ bằng nguồn nợ bên ngoài và được tài trợ bằng vốn tự có. Tỷ lệ này càng thấp càng an toàn cho bên cho vay. c/ Hệ số tự tài trợ: Vốn chủ sở hữu / Tổng nguồn vốn Thể hiện khả năng tự chủ tài chính và tính ổn định dài hạn của doanh nghiệp trong kinh doanh. Đối với các Ngân hàng, tỷ suất này của khách hàng càng cao càng tốt, nhưng tối thiểu phải 30% mới gọi là có khả năng tự chủ về tài chính d/ Hệ số về khả năng trả lãi của khách hàng: (Lợi nhuận trước thuế + Lãi vay trong kỳ) / Lãi vay trong kỳ. Phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận để trả lãi của khách hàng. Tỷ lệ này càng cao thì khả năng trả lãi vay của khách hàng càng an toàn. - Các chỉ tiêu cho biết cơ cấu vốn của doanh nghiệp: + Tài sản cố định / Tổng tài sản + Tài sản cố định / Vốn chủ sở hữu + Tài sản lưu động / Tổng tài sản Cho biết cơ cấu vốn có hợp lý hay không. 2.4 Khả năng thanh khoản: Các chỉ tiêu đánh giá gồm: a/ Thước đo tiền mặt: Tồn quỹ bình quân + những tài sản lưu động, đầu tư tài chính ngắn hạn có thể bán chuyền thành tiền dễ dàng. Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán các khoản nợ thường xuyên, nếu bằng hoặc lớn hơn tổng số nợ phải thanh toán thường xuyên hàng tháng là tốt. b/ Hệ số về khả năng thanh toán ngắn hạn: Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn / Tổng nợ ngắn hạn. Cho biết khách hàng có đủ tài sản lưu động để đảm bảo trả các khoản nợ ngắn hạn (một đồng tài sản nợ ngắn hạn được đảm bảo hoàn trả bằng bao nhiêu đồng tài sản lưu động). Tỷ lệ này > 1 là tốt. c/ Hệ số về khả năng thanh toán nhanh: (Đầu tư tài chính ngắn hạn + Tiền) / Nợ ngắn hạn Hệ số này cho biết khả năng huy động các nguồn tiền có thể huy động nhanh và các chứng khoán có thể dễ dàng chuyển được thành tiền để trả nợ. Tỷ lệ này > 0,5 là tốt. d/ Vốn lưu động thuần: Tài sản lưu động - Nợ ngắn hạn Thể hiện số vốn lưu động được tài trợ từ nguồn vốn dài hạn hoặc vốn chủ sở hữu. Chỉ tiêu này càng lớn càng an toàn, khách hàng càng chủ động trong các chính sách bán hàng, nhất là bán hàng trả chậm. e/ Vòng quay hàng tồn kho: Giá vốn hàng bán / hàng tồn kho bình quân Thể hiện khả năng quay vòng nguyên vật liệu, hàng hoá, thành phẩm của khách hàng. Vòng quay hàng tồn kho càng cao thể hiện khách hàng có nguồn cung cấp nguyên vật liệu ổn định, không phải dự trữ nhiều, hàng hoá làm ra được tiêu thụ nhanh ... Để phân tích, đánh giá chi tiết rõ hơn, cán bộ thẩm định có thể sử dụng thêm các chỉ số sau: - Vòng quay nguyên vật liệu tồn kho: Tổng chi phí nguyên vật liệu sản xuất / Nguyên vật liệu tồn kho bình quân. - Vòng quay thành phẩm tồn kho: Giá vốn hàng bán / thành phẩm tồn kho bình quân. Khi phân tích, đánh giá cần so sánh với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cùng ngành nghề để so sánh. Nếu vòng quay hàng tồn kho của khách hàng thấp, cán bộ thẩm định cần tìm hiểu kỹ xem có hàng tồn kho mất phẩm chất, kém chất lượng hay không để loại trừ khi tính toán. Khi đó, xem các khoản loại trừ này như khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho và đưa vào chi phí trong kỳ và tính toán lại các tỷ số về hiệu quả hoạt động của khách hàng. - Vòng quay các khoản phải thu: Doanh thu / các khoản phải thu bình quân: Tỷ số này càng cao càng tốt, thể hiện việc thu tiền bán hàng nhanh. Tuy nhiên khi đánh giá cần lưu ý trong trường hợp khách hàng thực hiện chính sách bán hàng trả chậm. 2.5 Phân tích các khoản công nợ: a/ Các khoản phải thu: nếu các khoản phải thu lớn so với quy mô hoạt động kinh doanh, cần phải xem xét kỹ bảng kê chi tiết các khoản phải thu qua các năm xem có khoản nào thuộc dạng nợ dây dưa khó đòi hay không, các khoản không có khả năng thu hồi. Cần phải làm rõ đối với từng khoản phải thu có giá trị lớn. Đối với những khoản phải thu không có khả năng thu hồi cần loại trừ và xem các khoản này như khoản dự phòng để đưa vào chi phí và xem xét lại kết quả hoạt động kinh doanh thực tế của khách hàng. b/ Các khoản phải trả: xem xét đánh giá các khoản phải trả xem có lớn hơn so với quy mô hoạt động của khách hàng không, các khoản phải trả là do chưa đến hạn hay chưa có nguồn trả. Bản chất của từng khoản phải trả, việc hạch toán các khoản này có đúng không. 2.6 Đánh giá về tài sản cố định của khách hàng: tình hình, tăng giảm (do đầu tư mới, điều chuyển, thanh lý), cơ cấu tài sản theo giá trị: - Nguyên giá - Giá trị còn lại - Khấu hao cơ bản trích các năm 2.7 Các tỉ lệ nghiệp vụ khác (nếu cần thiết): là các tỉ lệ cho phép đánh giá khả năng sử dụng hiệu quả tài sản có của doanh nghiệp gồm: a/ Tỉ lệ chờ thu / doanh thu: xem xét việc sử dụng vốn của doanh nghiệp kết hợp xem xét thời gian phải thu hợp lí. b/ Tỉ lệ tồn kho / doanh thu: so sánh với tỉ lệ chuẩn mực tuỳ theo ngành nghề. c/ Tỉ lệ chờ chi / doanh thu: xem xét thời gian mà khách hàng có khả năng trả nợ. Ba tỷ lệ trên hình thành để xem xét khả năng thu, khả năng bán hàng hoá tồn kho, khả năng trả nợ theo nghĩa vụ của công ty. d/ Hệ số vòng quay vốn: Doanh thu thuần / Tổng số vốn bình quân. Chỉ số này cao, vốn đầu tư sử dụng có hiệu quả. e/ Hệ số vòng quay vốn lưu động: Doanh thu thuần / Tài sản lưu động bình quân. Hệ số này phụ thuộc theo từng ngành nghề, vì vậy khi đánh giá phải so sánh với chỉ số chung của từng ngành. Việc tính toán các chỉ số để đánh giá tình hình tài chính của khách hàng cần phải được thực hiện qua nhiều năm (thông thường là 3 năm) mới có thể đánh giá được xu hướng phát triển của khách hàng. Ngoài ra, khi đánh giá, nhận xét về tình hình tài chính, cán bộ thẩm định không nên sa đà vào nhận xét từ kết quả một chỉ số cụ thể mà cần có cái nhìn tổng thể các chỉ số và hiểu về mối liên hệ giữa các chỉ số để việc đánh giá được chính xác và toàn diện. 3.1 Đánh giá quan hệ của khách hàng với các Tổ chức tín dụng Đánh giá quan hệ tín dụng của doanh nghiệp với các Tổ chức tín dụng, phân tích các khoản vay, nợ của khách hàng, chủ đầu tư với các Tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, các khoản vay tín dụng ngắn hạn, trung hạn, bảo lãnh (kể cả bảo lãnh trả chậm và bảo lãnh khác). Việc đánh giá cần dựa trên bề dầy thời gian, truyền thống. Các thông tin cần phải thu thập là: doanh số cho vay, thu nợ, dư nợ; đánh giá mức độ tín nhiệm trong quan hệ tín dụng của khách hàng. 3.2 Đánh giá chung về khách hàng xin cấp tín dụng a/ Đánh giá về trình độ tổ chức và quản lý: - Mô hình tổ chức quản lý của khách hàng có phù hợp với lĩnh vực kinh doanh, quy mô của hoạt động không, có những ưu điểm, thuận lợi, khó khăn gì trong việc quản lý. - Mô hình quản lý có mang tính chuyên môn hoá cao, tiếp cận các phương thức quản lý hiện đại hay không. b/ Đánh giá về kinh nghiệm, năng lực quản lý, tư cách của lãnh đạo doanh nghiệp (Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán trưởng): - Tuổi tác, trình độ học vấn, kinh nghiệm lãnh đạo. - Thời gian công tác, đảm nhiệm chức vụ, kết quả hoạt động của doanh nghiệp từ sau khi Ban lãnh đạo đảm nhiệm chức vụ so với trước đây. - Nhận xét về tư cách đạo đức thông qua tiếp xúc, tìm hiểu các mối quan hệ của Lãnh đạo doanh nghiệp. - Tác phong, phương pháp điều hành, tính chuyên nghiệp trong quản lý. - Sự đoàn kết trong nội bộ Ban lãnh đạo. - Sự am hiểu về tình hình sản xuất kinh doanh, dự án, thị trường của Ban lãnh đạo. - Tầm nhìn và định hướng phát triển doanh nghiệp. - Khả năng xử lý đối với các biến động bất lợi mà doanh nghiệp, dự án có khả năng gặp phải. Việc đánh giá về trình độ tổ chức quản lý và uy tín của khách hàng nhằm để hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro do chủ quan khách hàng gây nên như: rủi ro về đạo đức, rủi ro về thiếu năng lực, trình độ, kinh nghiệm, khả năng thích ứng với thị trường; đề phòng, phát hiện những âm mưu lừa đảo ngay từ ban đầu của một số khách hàng. c/ Uy tín của khách hàng: - Mối quan hệ với các ngân hàng: xem xét, đánh giá về mức độ tín nhiệm trong quan hệ với các ngân hàng, các tổ chức tín dụng, nhất là với TCB trong việc trả nợ tiền vay, doanh số tiền gửi, thực hiện các cam kết. - Mối quan hệ về công nợ, thanh toán của khách hàng với các bạn hàng. - Vị trí của khách hàng trên thương trường: chất lượng, giá cả hàng hoá, dịch vụ, sản phẩm của khách hàng ở mức độ nào trên thị trường, mức độ chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm. d/ Đánh giá về quá trình phát triển & tình hình hoạt động của khách hàng: - Quá trình thành lập và phát triển, tăng trưởng của khách hàng, mục tiêu hoạt động của khách hàng: thời gian hình thành, có thời kỳ nào suy thoái không, có gặp phải biến cố, sự kiện xấu nào không, việc khắc phục như thế nào. - Những thành tích đã đạt được trong quá trình hoạt động. - Quy mô kinh doanh, công nghệ thiết bị, địa điểm hoạt động, loại hình sở hữu, những sản phẩm chính, những tiện ích, những mối quan hệ về tiêu thụ sản phẩm, quan hệ về tài chính. - Hoạt động kinh doanh hiện tại: các sản phẩm chính những năm gần đây. - Xem xét chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, mục tiêu, dự định, mục đích của doanh nghiệp; chiến lược phải mang tính thực tiễn trong phạm vi nguồn lực mà doanh nghiệp có, đồng thời phải có tính linh hoạt đủ để đáp ứng với các điều kiện thay đổi của thị trường. - Phân tích khả năng cạnh tranh và phương pháp tiếp thị của khách hàng: khách hàng phải tự khẳng định vị trí của mình trên thị trường bằng nguồn lực của mình (kinh nghiệm, quy mô, tính linh hoạt và khả năng quản lý, trình độ công nghệ ...). Doanh nghiệp phải xác định được vị thế của mình đối với khách hàng, xem xét chiến lược cạnh tranh qua việc phân tích điểm mạnh, yếu của doanh nghiệp qua hoạt động sản xuất kinh doanh và lưu thông hàng hoá. - Phân tích đặc điểm của khách hàng để thấy được lợi thế cạnh tranh qua: nhận dạng sản phẩm, giá bán, chất lượng sản phẩm, mẫu mã và phương án phân phối tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp đang tiến hành, thị trường tiêu thụ (trong nước hay xuất khẩu) ... B.Thẩm định tài sản đảm bảo: *Các bước thực hiện được thực hiện: Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; Căn cứ Pháp lệnh Giá ngày 26 tháng 04 năm 2002; Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính, *Muc đích thẩm định TS đảm bảo: .- Thứ nhất, vì định giá cho mục đích đảm bảo cho một khoản vay, nên thẩm định giá trị tài sản phải gắn liền với việc đánh giá xu hướng của thị trường. Đây là công việc rất khó khăn vì hiện tại ở VN chưa có một công cụ nào có thể dự báo thị trường một cách khả thi đặc biệt là đối với thị trường mang tính chất đặc thù như thị trường BĐS. Cộng thêm vào đó, hệ thống thông tin trên thị trường tài sản ở VN chưa mang tính tập trung và không minh bạch. Ví dụ: Trong thời gian qua, có nhiều ngân hàng ở Tp.HCM đã đẩy mạnh cho vay đầu cơ BĐS, tài sản thế chấp là chính BĐS mua. Giá BĐS càng tăng cao, ngân hàng càng cho vay nhiều, giá thẩm định càng phải sát với thị trường. Hậu quả là, hiện nay các ngân hàng đã trót cho vay BĐS đang phải lo ngay ngáy đối với việc xử lý các khoản nợ xấu BĐS. Khi hậu quả xảy ra rồi thì người ta mới tiếc nuối "Phải chi lúc đó mình biết thị trường tụt dốc thê thảm vậy thì giờ đâu đến nỗi...". - Thứ hai, việc định giá tài đảm bảo phải xem xét đến tính thanh khoản của BĐS. Vì khi khách hàng không trả được nợ, tài sản sẽ đem ra thanh lý trả nợ. Trên thực tế, có những BĐS được rao bán với giá rất cao nhưng rất kén người mua, không phải ai cũng đủ tiền để mua, hoặc nhu cầu đối với tài sản đó rất thấp.  - Thứ ba, định giá tài sản đảm bảo phải đặc biệt coi trọng tính pháp lý của BĐS. Sẽ rất phức tạp và rất dễ xảy ra tranh chấp khi xử lý tài sản nếu không đánh giá đúng tính pháp lý. Hệ thống pháp luật VN vừa thiếu lại vừa yếu, các văn bản hay chồng chéo lên nhau. Đối với các tài sản bình thường thì không có vấn đề gì. Nhưng đối với đất và QSD đất thì vô cùng phức tạp. Các trường hợp đất sử dụng chung, sử dụng riêng, các trường hợp tính giá đền bù do đất nằm trong quy hoạch, thế chấp tài sản hình thành trong tương lai... là những trường hợp phải cẩn thận khi tiến hành thẩm định giá trị tài sản. CHƯƠNG II: THỰC TRANG THẨM ĐỊNH Ở CÁC NHTM VIỆT NAM 1.Hoạt động thẩm định công tác tín dụng của các NHTM VN Ngân hàng Nhà nước VN nói chung và các NHTM nói riêng đều có các văn bản pháp lý quy địn rõ chức năng,nhiệm vụ thẩm quyền của cán bộ đối với việc xem xét quyết định đầu tư cho một dự án hay một doanh nghiệp.Cụ thể như sau: - Cán bộ tín dụng trực tiếp cho vay là người có vai trò quan trọng trong đánh giá một dự án hay một phương an sản xuất kinh doanh bởi họ là người trực tiếp phân tích đánh giá hồ sơ vay của khách hang.Chất lượng một món vay bị giảm sút có thể do nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết cán bộ tín dụng vẫn phải chịu týach nhiệm về khoản nợ tồi mà anh ta đã tiếp nhận hồ sơ phân tích,trình xin chấp thuận và tiếp tục giám sát trong suốt quá trình dự án hoạt động.Hiện nay theo quy định của hầu hết các NHTM thì hoạt động của cán bộ tín dụng là tiếp nhân hố sơ vay vốn của khách hang,tiến hành thẩm định hồ sơ đó. Để có thể làm tốt công tác của ình,cán bộ thẩ định rất cần những kiến thức về ngành nghề,lĩnh vực mà dự án xin đàu tư,về các quy định của nhà nước đối với đầu tư và các phương pháp tính toán các chỉ tiêu hiệu quả…Tuy nhiên thực tế năng lực của cán bộ làm công tác thẩm định của các NHTM còn hạn chế và nhiều khi vẫn có thói quen thẩm định cũ,còn dựa dẫm quá nhiều vào sự phê duyệt, đánh giá của các cơ quan nhà nước đối với các dự án dẫn đến chủ quan không xem xét đánh giá lại một cách cẩn thận nên rủi ro mất át tín dụng là điều không thể tránh khỏi trong hệ thống các NHTM VN hiện nay - Trong những năm gần đay,cán bộ NH đã bát đầu tiếp cận với thẩm định như là một “khoa học” đồng thời là một “nghệ thuật”.”Khoa học “ vì thẩm định sẽn phân tích các dũ kiện hũu hình,những mặt định lượng như:các chỉ tiêu hiệu quả tài chính,kinh tế xã hội,các yếu tố công nghệ kĩ thuật môi trường.”Nghệ thuật” vì thẩm định cũng gắn liền với việc phân tích các dữ kiện vô hình,những mặt định tính như:tư cách,năng lực của chủ đầu tư,khả năng quản lý của các bên tham gia dự án…nhưng do thói quen và kinh nghiệm mà hiện nay”Nghệ thuật” cho vay,”Nghệ thuật” thẩm định đang bị coi nhẹ và ít thực hiện nhất. -Trưởng phòng tín dụng:là người có nhiệm vụ đưa ra sự phân công quản lý việc thẩm định đầu tư cho các cán bộ tín dụng, đồng thời là người tiến hành thẩm định lại dự án trước khi trình giám đốc quyết định.Thực tế trưởng phòng tín dụng đã phân cấp thẩm định cho cán bộ dưới quyền nên công việc của họ có vẻ đơn giản hơn nhưng trách nhiệm thì vẫn lớn và cũng gắn liền với mức dộ chính xác của các đánh giá nên họ cũng phải thẩm định mọi mặt,mọi con só,mọi thông tin.rất nhiều khi trưởng phòng tín dụng có đánh giá khác đối với cán bộ tín dụng về dự án bởi kinh nghiệm,khả năng,tính khách quan của họ khác nhau. -Người trực tiếp quyết định có tài trợ vốn hay không là giám đốc NH nơi dự án xin cấp vốn.Dựa vào báo cáo của phòng tín dụng,qua xem xét hồ sơ vay giám đốc sẽ đưa ra quyết định cho vay hay không và giao cho phòng tín dụng thưc hiện cho vay,giám sát quá trình sử dụng,thu hồi vốn.Trong nhiều trường hợp giám đốc không chỉ xem xét qua dự án à còn tiến hành tái thẩm định.các quyết định của giám đốc nhiều khi không trùng với phòng tín dụng nhưng dù saođó cũng là ngưòi có thẩm quyền cao nhất bắt buộc mọi người phải tuân theo. -Thực tế ở Vn hiên nay,Nh vẫn chịu những sự can thiệp từ bên ngoài vào các hạot động đầu tư tín dụng của mình. Điển hình là tình trạng các cá nhân hoặc cơ quan chính quyền các cấp đề nghị thậm chí yêu cầu NH phải đáp ứng nhu cầu vốn của một doanh nghiệp hay một dự án náo đó vì quyền lợi của thiểu số người hơn là của xã hội và của NH.nhưng đến khi không thu hồi được vvốn thì sự can thiệp đó lại không bị đưa ra xem xét và cùng chịu trách nhiệm – khi đó các quy định của Nh về thẩm định gần như mất hết tác dung. - 2.quy trình thẩm định đối với hoạt đọng tín dụng của NHTM: - Theo quy chế cho vay đối với khách hang của NHTM thì hồ sơ xin cấp tín dụng trung dài hạn hay nói cách khác là các dự án sẽ được xe xét đánh giá về các mặt sau. - 2.1. Tư cách pháp lý - NHTM sẽ tiến hành xem xét năng lực và năng lực hành vi của khách hang - chủ dự án,người thực hiện dự án,hay chủ doanh nghiệp.Mục đích và nội dung thẩ định nhằm khẳng đinh họ có đủ điều kiện vay vốn .Ngân hang tiến hành diều tra tính đúng đắn của các laọi giấy tờ như:giấy phép kinh doanh,giấy phép đầu tư,giấy phép xây dựng,giấy phép sử dụng lao động… - Để đánh giá được năng lực hành vi của khách hàng NHTM phải sử dụng nhiều cách khác nhaubởi các thông tin trên giấy tờ nhiều khi không phản ánh hết được những điều cần thiết .Hiện nay NHT thẩm định năng lực và tư cách của người vay qua các bước sau; Thẩm định năng lực Gặp gỡ phỏng vấn Tất cả các thông tin cho người vay cung cấp đều phải được kiểm tra cà có ký tên để lưu nếu cần thiết Nếu chủ dự án là doanh nghiệp mới phải thảm tra kỹ hơn, các thông tin khai báo phải được kiểm tra chéo Kiểm tra thực địa Tại văn phòng nơi sản xuất - nhằm xem xét điều kiện của doanh nghiệp, máy móc thiết bị và công nghệ được sử dụng Hoạt động trước đó Sử dụng càng nhiều càng tốt các chỉ số do lường để dánh giá hoạt đônmgj trước dó của chủ đầu tư, doanh nghiệp: lựoi nhuận mức tăng trưởng ... Năng lực chuyên môn va điều hành Hiểu biết về chuyên môn và năng lực điều hành phải coi là điều kiện tiên quyết nhất trước khi bắt đầu quá trình thẩm định 2.2 Thẩm định khả năng tài chính: Mục đích thẩm định khả năng tài chính là NHTM muốn biết rõ khả năng thu hồi nợ của mình thông qua các chỉ tiêu như;hệ số tài trợ,năng lực đi vay,khả năng thanh toán. Đánh giá năng lực tài chính thì có hai chỉ tiêu chính là Nguồn vốn hiện có của doing nghiệp +Hệ số tài trợ = Tổng nguồn vốn chủ đầu tư sử dụng Nguồn vốn hiện có của doanh nghiệp +Năng lực đi vay = Vốn thường xuyên *Đánh giá khả năng thanh toán có các chỉ tiêu sau: Số tiền dùng trong thanh toán +Khả năng thanh toán chung = Số tiền doanh nghiệp phải thanh toán +Khả năng thanh toán nhanh = Nợ ngắn hạn NH+ phải trả khác Vốn bằng tiền +Khả năng thanh toán tức thời = Nợ ngắn hạn TS lưu + TS thiếu + chênh lêch về động chờ xử lý giá chưa xử lý +Khẳnnng thanh toán cuối cung = Nợ ngán hạn + các khoản phải trả Ngân hang sẽ so sánh các chỉ tiêu khả năng thanh toán chung avf thanh toán nhanh với 1:Nếu lớn hơn 1 là bình thường,nếu càng lớn thì khả năng thanh toán càng cao,nếu nhỏ hơn 1 thì khả năng thanh toán yếu và càng nhỏ càng yếu,riêng hệ số thanh toán nhanh lớn hơn 0.5 là tốt nhất;so sánh chỉ tiêukhả năng thanh toán cuối cùng vói 1 nếu nhỏ hơn thì không thể đầu tư vì tình hình tài chính của doanh nghiệp là rất xấu . Trong thực tế vấn đề xác định chính xác nhu cầu tài trợ vốn của một dự án không phải lúc nào cũng dễ dàng và chính xác.Thông thường NHTM tiến hành phân tích một số yếu tố như:Khuynh hướng và tính thời vụ trong nhu cầu vốn của dự án,trong tình trạng tài chính và khả năng sinh lời của dự án;các rủi ro tiềm tàng trong hoạt động.Mối quan hệ của chúng được biểu thị qua sơ đồ sau: Phân tích nhu cầu về vốn của dự án Phân tích và khả năng sinh lời của dự án Phân tích rủi ro trong hoạt động của dự án Xác định nhu cầu tài trợ của dự án Sau khi đánh giá điều kiện pháp lý,năng lục tài chính và nhu cầu tài trợ NHTM tiến hành thẩm định dự án. 2.3Thẩm định dự án Để thẩm định dự án NHTM cần tạap hợp đủ các hồ sơ theo quy định cua NĐ52/1999/NĐ-Cp;NĐ12/2000/NĐ-cP sửa đổi bổ sung cho NĐ52,thông tư số 06/1999/TT-BKH (ký ngày 24/11/1999),thông tư số 07/2000/TT-BKH(ký ngày 03/07/2000), thong tư 11/2000/TT-BKH (ký ngày 11/09/2000) của Bộ Kế Hoạc và đầu tư hướng dẫn nội dung hoặc sửa đổi,bổ sung một số nội dung về tong mức đầu tu,hồ sơ thẩm định và báo cáo đầu tư và các văn bản khác có liên quan.Thông thường gồm một số văn bản sau: -Quyết định đàu tư,cho phép đàu tư hoặc giấy phép đầu tu được cấp bởi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. -Luận chứng kinh tế kỹ thuật và phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. -Thiết kế kĩ thuật và tổng dự toán đã được duyệt. -Quan điểm, ý kiến của các cơ quan quản lý ngành,cơ quan chuyên môn,chính quyền sở tại và cả Chính phủ(nếu có) về dự án. -Các hồ sơ lien quan khác: +Quyết định giao đất,hợp đồng thuê đất để thực hiện dự án +Giấy phép xây dựng +văn bản chấp thuận của Bộ,Sở KHCN & MT về phương án xử lý chất thải và tác động môi trường của dự án. +Báo cáo nghiên cứu về khối lượng,chất lượng các nguồn nguyên liệu cho dự án sẽ khia thác trong tự nhiên và giấy phép khai thác do cư quan Nhà Nước có thăm quyền cấp. +Hợp đồng nhập khẩu thiết bị và giấy phép của Bộ TM (Đối với trường hợp phải nhập khẩu máy móc thiết bị hoặc nguyên liệu) +Kết quả đấu thầu hoặc chỉ định thầu về toàn bộ khối lượng xây lắp theo Luật Đấu thầu của Chính phủ kèm theo các hợp đồng đã kí. với các bên trúng thầu như hợp đồng xây dựng,hợp đồng cung cấp thiết bị,hợp đồng lắp đặt thiết bị,… Sauk hi tập hợp đầy đủ hồ sơ,xem sét tính phù hợp về nặt pháp lý thì NHTM sẽ tiến hành thẩm định NHTM sẽ tiến hành thẩm định theo các bước sau: a.Ngiên cứu tính khả thi của dự án Ngân hàng sẽ quan tâm nhất đến khả năng trả nợ của dự án,do đó sẽ xem xét kế hoạch trả nợ vốn vay và năng tích luỹ của dự án,đồng thời xem xét sự phù hợp của nguồn vốn đầu tư về cơ cấu,số tiền,thời hạn,lãi suất,phân kì trả nợ… -Xem xét và phân tích thị trường tiêu thụ - Đây là nội dung quan trọng quyết định đến tính khả thi của dự án.Các bước phân tích gồm một số nội dung cơ bản sau -Đánh giá chung về thị trường của sản phẩm,dịch vụ đó : thị trường tiêu thụ dự kiến,cơ cấu khách hàng tiêu thụ,xác định nhu cầu sản phẩm,dịch vụ đó trong tương lai,đánh giá về các đối thủ cạnh tranh,cuối cùng đưa ra chênh lệch cung cầu về sản phẩm,dịch vụ dự án,xác định lượng sản phẩm tiêu thụ.Tất nhiên cũng cần xem xét các biện pháp khuyến thị sẽ được áp dụng và mức giá sẽ bán. Tuy nhiên cũng cần chú ý đến các chính sách của Nhà nước,của Bộ ngành có liên quan đến sản phẩm dịch vụ của dự án và biệ pháp xử lý trong trường hợp những thay đổi của chúng tác động xấu đến dự án. -Đánh giá khả năng cung cấp đầu vào cho dự án hoạt động.Ngân hàng cần có hiểu biết về laọi nguyên vật liệu mà dự án cần và phân tích các mặt sau:nguồn và khả năng đáp ứng nhu cầu của dự án về năng lượng,thiết bị phụ trợ,lao động kĩ thuật và lao động phổ thông,nguyên liệu tại chỗ có hay không nếu có vận chuyển từ nơi khác đến thì chi phí và chất lượng có đảm bảo không.Thực tế đây là vấn đề khó xác định cần thu nhập nhiều thông tin kết hợp với đánh giá của các cơ quan hữu quan và tham khảo dự án tương tự đã hoạt động. -Công nghệ và tài sản cố định:Ngân hàng chủ yếu dựa vào các đánh giá của Bộ,sở KHCN&MT,các cơ quan quản lý ngành,kết luận của hội đồng thẩm định cấp Nhà nước để xem xét dự án dự án về các mặt:Mức độ hiện đại của công nghệ;sự phù hợp của công nghệ với thực tế và đòi hỏi của dự án;Mức độ hiện đại của máy móc thiết bị và các điều kiện bảo trì,bảo dưỡng sau khi lắp đặt. Đây là nội dung khó thẩm định,do đó đối với các dự án lớn NHTM thuê chuyên gia và thường coi trọng các kết luận trước đo của cơ quan cấp phép đầu tư. -Tổ chức quản lý sản xuất:NHTM thường tiến hành xem xét sự phù hợp và tính khả thi của dự án về mặt này theo các nội dung sau:Cơ cấu mạng lưới tổ chức quản lý dự án;Đánh giá về năng lực,trình độ và khả năng quản lý của đội ngũ cán bộ điều hành dự án;Đáng giá về năng lực,trình độ và khả năng quản lý của đội ngũ cán bộ điều hành dự án;Đánh giá nhu cầu và khả năng bố trí nhân lực cho dự án. b.Phân tích về mặt tài chính của dự án nhằm mục đích : xác định tính khả thi của dự án về mặt tài chính, đánh giá tính đầy đủ của kế hoạch tài chính cho một dự án đầu tư mới hoặc duy trì doing nghiệp đang hoạt động,giám sát hoạt động của một công ty hoặc của một nhóm người thực hiện dự án, đề xuất phương pháp nâng cao tính khả thi của dự án và các điều kiện cần thiết cho dự án để xin tài trợ vốn từ đó quyết định kế hoạch cho vay đối với dự án. Về nguyên tắc phân tích tài chính yêu cầu phải xác định được tất cả các khoản thu và chi của dự án khi đầu tư,NHTM xem xét các chỉ tiêu: -Xác định tổng mức vốn đâu tư trong đó chú ý tỷ lệ vốn cố định và vốn lưu động. -Nguồn vốn đầu tư,trong đó xác định rõ vốn của chủ đầu tư tahm gia dự án,vốn ngân sách cấp, vốn vay va vốn khác. Từ đó đưa ra chênh lệch, thừa thiếu giữa nguồn vốn và tổng mức đầu tư. -Tính mức cho vay và thời hạn trả nợ,theo quy định của NH nhà nước VN thì +Mức cho vay của dự án = Tổng nhu cầu – Vốn tự có – Vốn khác Vốn của dự án chủ đầu tư (nếu có) +Thời hạn cho vay = Thời gian xây dựng cơ bản + Thơi gian trả nợ Mức cho vay +Thời han trả nợ = Khấu hao cơ bản + Lợi nhuận +nguồn khác (dùng để trả nợ) (nếu có) Ngân hàng sẽ yêu cầu chủ đầu tư phải có kế hoạch trả nợ phù hợp theo từng đơn vị thời gian,theo từng loại nguồn cụ thể,tất nhiên la phải đủ cả gốc lẫn lãi. c.Phân tích hiệu quả kinh tế dự án Việc so sánh, tính toán các chỉ tiêu,các yếu tố đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án trên:Các định mức kinh tế kĩ thuật của từng ngành cụ thể:Các quy định của nhà nước về vấn đề liên quan(Thuế,khấu hao cơ bản,phương pháp hạch toán);Các giả định phù hợp với điều kiện thực tế của dự án(giả định về giá thành sản phẩm,nhu cầu thị trường,giá bán sản phẩm…);Kết hợp tham khảo các dự án tương tự đã đươc thực hiện. Đoi khi NH phải tính độ nhạy của dự án đối với một số yếu tố, rồi tính toán khả năng tích luỹ của dự án qua các năm,cân đối kế haoch trả nợ của dự án từ đó thấy rõ khả năng trả nợ các nguồn vay của dự án.Thông thường các chỉ tiêu mà ngân hàng quan tâm là -Giá trị hiện tại thuần của dự án(NPV):là hiệu số giữa giá trị hiên tại của dòng lợi ích và dòng chi phí đã đươc chiết khấu với một mức lãi suất phù hợp NPV = Ivo + - + Trong đó: +Bi:khảon thu của năm i +Ci:khoản chi phí năm i +n:Số năm hoạt động của dự án +r:Tỷ suất chiết khấu được chọn +SV:giá trị còn lại cuối đời dự án Nếu NPV lớn hơn 0 thì nên đầu tư,NPV=0 thì cần xem xét mục tiêu dự án và một số chỉ tiêu khác của dự án,NPV nhỏ hơn 0 thì không nên đầu tư -Tỷ suất hoàn vốn nội bộ(IR):là lãi suất mà tại đó tổng thu bằng tổng chi tức NPV băng 0 IRR = r1 + (r1 - r2) IRR càng lớn càng tốt,nhưng tối thiểu phải lớn hơn laix suất bình quân gia quyền của các nguồn vốn đầu tư(hoặc vốn vay ngân hàng) -Điểm hoà vốn:la điểm mà tại đó doanh thu bằng chi phí sãn xuất.Tính toán điẻm hoà vốn để xác định mức độ sản xuất mà tại đó khách hàng không có lãi nhưng không bị lỗ. Điểm hoà vốn tính bằng đơn vị hiện vật X = Trong đó: x là sản lượng tại điểm hoà vốn F latổng định phí tính cho cả đời dự án hoăc một năm P là giá bán sản phẩm V là biến phí tính cho một sản phẩm Điểm hoà vốn tính bằng đơn vị giá trị Oh = px = p Về điểm hoà vốn còn có các phương pháp tính khác như bằng đồ thị,theo giá trị tiền tệ,hoặc tính chỉ tiêu mức hoạt động hoà vốn tuy nhiên thường thì ngân hàng chỉ xét các chỉ tiêu trên là các chỉ tiêu mà người lập dự án đã tính toán sẵn ngân hàng chỉ kiểm tra tính chính xác thôi. e.Phân tích hiệu quả kinh tế xã hội của dự án Ngân hàng tiến hành xem xét kĩ khía cạnh này trong trường hợp dự án có sự can thiệp của nhà nước,va mục tiêu của dự án là vì phúc lợi xã hội nhiều hơn là vì lợi nhuận.Các nội dung nghiên cứu gồm -Dự án có nằm trong chiến lược,mục tiêu phát triển của nhà nước của ngành hay địa phương không -Các chỉ tiêu phản ánh những đóng góp của dự án vào lam tăng khối lượng sản phẩm hco xã hội,tăng thu nhập cho người lao động,tăng thu cho ngân sách nhà nước,tăng tích luỹ cho xã hội -Tận dụng các điều kiện sẵn có như điều kiênj tự nhiên của vìng,điều kiên xã hội,sử dụng nguồn nguyên vật kiệu sẵn có,sử dung lao động tai địa phương… -Dự án có tạo điều kiện nâng cao trình độ công nghệ kĩ thuật,nâng cao năng lực làm viêc của cán bộ côngnhân viên và nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm hay không -Dự án đóng góp như thế nào vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành cùng 3.Thẩm định tài sản đảm bảo cho vay: Đây là nội dung thẩm định có tính chất đặc trưng của NHTM .thông thường các cán bộ thẩm định phải tìm hiểu lai lịch xuất xứ của tài sản thế chấp và quan sát thực tế để đánh giá giá trị sử dụng còn lại của tài sản đó và yêu cầu có văn bản xác nhận của sở hữu và của chính quyền nơi có tài sản. Thực tế theo quy định của NHTM thì doanh nghiệp hay khách hàng không thể vay lượng vốn lớn hơn giá trị của tài sản thế chấp trong khi nhu cầu vốn để hoạt động lại lớn dẫn đến sự biến tướng của gia tăng tín dụng là dung chính tài sản tạo ra từ khoản vay làm tài sản thế chấp cho món vay khác,hoặc dung tài sản đi mượn….Tất cả các hành vi này đều trái pháp luật và đem lại rủi roc ho NHTM, đặc biệt rủi ro này rất lớn vì vốn tập trung quá nhiều vào một khách hàng. Vai trò của thẩm định tài sản thế chấp cực kỳ quan trọng,nó đòi hỏi sự hiểu biết,kinh nghiệm và cả tư cách đạo đức của cán bộ thẩm định . II.Những vướng mắc khó khăn trong quá trình thẩm định của NHTM; Hiện nay việc thẩm định dự án trong hoạt động tín dụng cón nhiều hạn chế,một ssó dự án không được thẩm định kỹ càng chin xác dẫn đến tình trạng ngân hàng cho vay không thu hồi được vốn,nợ quá hạn ngày càng nhièu. 1.Năng lực thẩm định: Năng lực thẩm định là yếu tố quan trọng quyết định đến khả năng của Ngân hàng trong tham gia tư vấn đầu tư,chấp nhận nhuẽng dự án tốt và từ chối ngay những dự án đầu tư không khả thi,tiết kiệm chi phí cho bản thân,cho chủ đầu tư và cho cả bản thân các NHTM.tuy nhiên một bộ phận không nhỏ cán bộ làm công tác thẩm định còn chưa được trang bị những kiến thức cơ bản về dự án và kỹ năng thẩm định dự án,những hiểu biết về quy định của Nhà nước có lien quan đeens lĩnh vực đầu tư ,hiểu biết về ngành nghề,lĩnh vực mà dự án đầu tư vào còn rất hạn chế.Các NHTM còn chưa thật sự chú ý trang bị các công nghệ kĩ thuật hiện đại cho công tác thẩm định,các tính toán còn đơn giản và nhiều khi còn mang tính thủ công.Việc thẩm định nhiều khi cón mang tính thủ công.việc thẩm định thường được tiến hành ở mức độ cá nhân hoặc nhóm nhỏ dẫn đến hạn chế tính khách quan trong đánh giá quyết định. Về đạo đức của cán bộ NH cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến năng lực thẩm định của NHTM>trong rất nhiều trường hợp cán bộ NH trực tiếp tham gia vào các vụ lừa đảo,có nhiều khi cán bộ bị lừa mà không biết.Có thể lấy 1 ví dụ điển hình về tác hại của việc thẩm địng tồi trong đầu tư tín dụng của NH là vụ Minh Phụng –EPCO đã xử vào năm 1999, đây thực sự là một bài học lớn:Do năng lực thẩm định hạn chế,tư cách đạo đức không tốt mà cán bộ NH đã chủ động hoặc bị gài bẫy thông đồng với Tăng Minh Phụng và Liên Khui Thìn lập ra hàng loạt các công ty con để vay vốn NH(để đối phó với hạn mức tín dụng nhỏ hơn 10% vốn tự có và quỹ dự trữ);mượn pháp nhân của các công ty khác để lập hồ sơ vay vốn.NH thông qua các phương án kinh doanh có hiệu quả cao,lãi lớn – mà thực tế nó chỉ có lãi trên giấy thôi.Công ty xuất nhập khẩu ngũ cốc và một số công ty khác trong vụ này tự ý bán tài sản đã thế chấp cho NH để lấy tiền mà NH không biết- là chứng minh rõ ràng cho sự quản lý lỏng lẻo,không kiểm tra giám sát được tài sản thế chấp của NH.Năng lực thẩm định,quản lý vốn vay tỏ rõ sự yếu kém khi để cho công ty EPCO che giấu hoạt độngthua lỗ hàng mấy năm để vay vốn.Như vậy khó khăn lớn nhất đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay chính là năng lực thẩm định. 2.Hệ thống tin tài chính và phi tài chính : Một trong những trở ngại lớn của NH trong việc chủ động tài trợ cho các dự án cần ưu tiên phát triển,khắc phục tình trạng đầu tư tràn lan không đúng định hướng là thiếu hẳn những thông tin cần thiết về thị trường,về định hướng phát triển của các ngành nghề,những dự báo về mức cầu hiện tại và trong tương lai.Hiện nay vẫn chưa có một cơ quan nào có thể đua ra một hệ thống.các tiêu chuẩn cho phép đối với từng ngành nghề để làm cơ sở so sánh các chỉ tiêu hiệu quả và an toàn tài chính của dự an để có thể đưa ra một hệ thống các tiêu chuẩn cho phép đối với từng ngành nghề để làm cơ sở so sánh các chỉ tiêu hiệu quả và an toàn tài chính của dự án để có thể đưa ra quyết định đầu tư chính xác hơn. Có thể thấy rõ thông tin tài chính và phi tài chính của khách hàng thực sự rất cần đối với ngân hàng khi thực hiện thẩm định dự án.Tuy nhiên,thực tế một số doanh nghiệp quyết toán,duyệt quyết toán chậm,số liệu quyết toán chưa được kiểm toán tức là mức đọ chính xác của các báo cáo tài chínhlà tương đối dẫn đến đánh giá của NH về năng lực của chủ đầu tư là kho khăn và có độ tin cậy thấp>một số doanh nghiệp thường có hai bản cân đối lỗ lãi riêng:một là để đối phó với các cơ quan thuế thì trình cân đối lỗ để chịu thuế thấp, hai là trong trường hợp để có cơ sở vay vốn NH thì sử dụng cân đối lãi.Ngân hàng rất khó xac minh, đối chiếu tình hình công nợ của khách hàng. Việc thu thập thông tin phi tài chính của khách hàng chưa được quan tâm dung mức.NH mới dựa chủ yếu vào các thông tin trên giấy tờ chứ chưa chịu khó tự thu thập thông tin bên ngoài qua các cuộc thăm nơi doanh nghiệp hoạt động ,nơi diễn ra dự án.Nhiều khi thông tin đã có nhưng chọn lọc và xử lý không tốt nên rủi ro trong đầu tư tín dụng là không tránh khỏi. 3.Một số yếu tố khác: Hệ thống các văn bản pháp quy có lien quan đến đầu tư đang trong quá trình hoàn thiện nên thường xuyên thay đổi,sửa chữa bổ sung và dẫn đến cán bộ tín dụng dẫn đến khó nắm bắt và áp dụng.Những biến động giá cả,vật tư hàng hoá trên thị trường tương đối mạnh trong khi NH nắm bắt thi trường chưa nhạy dẫn đến tình trạng thẩm định dự án không theo kịp với tình hình thực tế.Một số trường hợp tài sản thế chấp vượt quá năng lực thẩm định của NH>Một số vấn đề đáng quan tâm hiện nay là tình trạng tài sản thế chấp không thể xử lý được sau jkhi NH thu về: nhà đất hoặc tài sản cố định thì khó bán nếu bán được thì giá rất thấp ;giá tri thực tế của tài sản thế chấp nhỏ hơn nhiều so với giá đánh giá trong hồ sơ vay.Một số thiếu sót và sai phạm trong hồ sơ nhà đất mà NH thường gặp như:40% hồ sơ thế chấp tài sản chưa có giấy chứng quyền sở hữu,chỉ có văn bản viết tay chuyển nhượng cho nhau có UBND xã xác nhận;Hồ sơ thế chấp không chính chủ , đồng sở hữu,không có giấy uỷ quyền của chính chủ hoặc hồ sơ không có nguồn gốc dẫn đến khó xác định thuế khi phát mại,các bản vẽ mô tả tài sản không hoặc nếu có thì bị sửa chữa. CHƯƠNG III: Các giải pháp để nâng cao chất lượng thẩm định dự án trong các NHTM Để đạt được hiệu quả cao trong công tác thẩm đinh các dự án đầu tư là khá khó khăn vùa phải hạn chế vưà tránh được trủi ro nhiều nhất có thể.Qua những phaan tích trên cho thấy dược vai trò hết sức quan trọng của thẩm định dự án.Tuy nhiên không phải thẩm định lúc nào cũng đạt được hiệu quả cao,sau đây là một số gải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định dự án trong các NHTM: I Về phía nhà nước: Trước hết nhà nước vcần nhanh chóng hoàn thiện các văn bản pháp luật lien quan đến hoạt động đầu tư để tạo tâm lý cho các nhà đầu tư nói chung,các NHTM nói riêng>ĐI kèm hành lang pháp lý về vấn đề thẩm định cũng cần phù hợp thông thoáng nhưng hiệu quả khoa học,tránh đeer tình trạng chồng chéo văn bản,chồng chéo về thẩm quyền duyệt và cấp phép đầu tư. Nhà nước cũng phải qui định rõ các biện pháp,chế tài xủ lý nghiêm túc các trường hợp doanh nghiệp cung cấp thông tin giả,sử dụng đồng thời hai loại cân đối; đưa ra các quy định về thời gian quyết toán,kiểm toán đối với các doanh nghiệp.Cần có cơ quan chỉ đạo giám sát các thành phần kinh tế nghiêm túc thực hiện chế độ kiểm toán,thống kê thông tin và báo cáo theo quy định của Nhà nước.Trong thời gian tới ban hành quy chế bắt buộc kiểm toán và công khia quyết toán của doanh nghiệp tạo điều kiện giúp NH trong phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thẩm định dự án. Nhà nước nên chỉ đạo,phân công cơ quan nghiên cứu thống kê đưa ra các tiêu chuẩn định mức về cho phép đối với ngành nghề,lĩnh vực để NHTM có cơ sở chắc chắn lựa chọn dự án.Nhà nước tạo điều kiện cho các NHTM phối hợp với các cơ quan chuyên môn trong quá trình thẩm định. II Về phía NHTM: NHcần hệ thống hoá những kiến thức cơ bản về thẩm định dự án ,tăng cường việc đào tạo bồi dưỡng,cung cấp tài liệu ,thông tin phục vụ cho công tác thẩm định.NHTM phải dưa ra các quy định tuyển dụng như về trình độ,bằng cấ,kinh nghiệm và trình độ chuyên môn đối với các cán bộ làm công tác thẩm định.Việc đề ra quy trình tín dụng phải dựa trên nguyên tắc tách quy trình tín dụng phải dựa trên nguyên tắc tách quy trình tín dụng ra các khâu:tiếp nhận,thẩm định tài chính,thu thập thông tin thị trường,kiểm tra năng lực diều hành,kiểm tra tài sản thế chấp…giao cho một cán bộ độc lập phụ trách,tốt nhất là NHTM tách hai khâu thẩm định và quyết định đâu tư cho hai bộ phận độc lập theo dõi.NHTM phải thưỡng xuyên cập nhập những thông tin tín dụng và các quy định mới về đầu tư từ các thông tư,nghị định của Nhà Nuớc. Các NHTM luôn phải nắm vững được phương hướng,nhiệm vụ,mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của vùng,lãnh thổ,những ngành kinh tế mũi nhọn để lụa chọn bỏ vốn cho các dự án có tính khả thi, phát huy hiệiu quả sử dụng vốn tín dụng và đảm bảo thu hồi vốn.NHTM phải thường xuyên tiến hành kiểm tra một cách khách quan về tình hình đầu tư và các tài sản thế chấp của các chủ đầu tư để kịp thời phát hiện các dự án không hiệu quả,các tình trạng gian lận trong tái sản dung để thế chấp…Tăng cường trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, ứng dụng công nghệ hiện đại trong thẩm định dự án như đưa ra các chỉ tiêu kinh tế cần thiết trong thẩm định vào các chương trình phần mềm máy tính để có thể có kết quả thẩm định nhanh chóng và chính xác hơn. Các NHTM nên thành lập các bộ phận chuyên trách trong công tác thu thập thông tin để phục vụ cho công tác thẩm định dự án của NHT. Đề nghị NHNN mở rộng phạm vi cung cấp thông tin của trung tâm thông tin tín dụng (CIC) không những cung cấp thông tin tín dụng mà còn cung cấp các thông tin kinh tế,khoa học kĩ thuật lien quanđến công tác thẩm định.Bởi CIC thuận loẹi hơn các NH trong việc hợp đồng,hợp tác với các cơ quan quản lý nhà nước và các cơ quan chuyên cung cấp thông tin trong khi các cán bộ và các NH khó tiếp cận được thông tin này. III. Đối với cán bộ NHTM: Các cán bộ NHTM làm công tác thẩm định thường xuyên cập nhật những quy định của Nhà nước lien quan đến hoạt đọng đầu tư. Đây là những quy định có tính nghiêm ngặt và chặt chẽ đảm bảo lợi ích của ngân hàng,của chủ đầu tư và của cả cộng đồng.Tuân thủ đày đủ những quy tắc này còn giúp các NHTM có thể bảo vệ lợi ích của mình trong một số lĩnh vực mà NHTM không đủ chuyên môn để thẩm định chẳng hạn như kỹ thuật,xây dựng,môi trường…Đứng ở góc độ NH các cán bộ làm công tác thẩm định cần nắm được những quy định sau: -Quy định về dự toán vốn đầu tư xây dựng -Quy định về bảo vệ môi trường -Quy định về kế hoạch,kiến trúc và xây dựng -Quy định về chế độ tài chính đối với từng laọi hình doanh nghiệp -Quy định về chế độ khấu hao tài sản cố định,tiền lương,tiền thuê đất… Các cán bộ này còn cần phải thu thập các thông tin cần thiết khác phục vụ cho công tác thẩm định đặc biệt là các thông tin về sản phẩm thị trường,các kế hoạch phát triển kinh tế của vùng ngành,quy hoạch xây dựng… Nhiều khi các thông tin về khách hàng bằng văn bản không đủ để đáng giá thì cần tự đi thu thập bằng cách tiếp xuc trực tiếp với khách hàng hoặc tiếp xúc trực tiếp với đối tác của khách hàng. Thu thập đu thông tin nhưng không phải ai cũng có thể xử lý tốt.Muốn đánh giá đúng các dự án cán bộ NH cần ưu tiên quan tâm đến tính khả thi của dự án,tư cách đạo đức của chủ đầu tư và khả năng trả nợ của dự án.Cán bộ NH nên phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý nhà nước nơi doanh nghiệp hoặc dự án hoạt động để tiện xem xét, đánh giá các yếu tố kinh tế xã hội,môi trường,các thông tin tài chính và phi tài chính. KẾT LUẬN Công tác thẩ định trong hoạt động đàu tư đối với câc NHTM đã, đang và sẽ tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng đối với sự tồn tại của ngân hàng thương mại nói riêng và sự phát triển của kinh tế xã hội nói chung.Nghiên cứu phân tích nhân tố ảnh hưởng đén hiệu quả hoạt động thẩm dịnh trong đầu tư theo dự án nhằm muc đích lựa chọn được những dự án tốt nhất và quyết định dầu tư để tối đa hoá lợi nhuận,tối thiểu hoá rủi ro. Thực tiễn cho thấy hoạt động thẩm định là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư theo dự án của các NH nói chung và các NHTM nói riêng.Do đó cần có phương pháp thẩm định logic,khoa học,hợp lý,các phép tính toán chính xác,khách quan.Tuy nhiên muốn thẩm định hiệu quả thì cần có can bộ thẩm định có trình độ ,năng lực và tư cách đạo đức thực hiện công việc này.Các cơ quan quản lý hoạt động đầu tư nói chung,ngân hàng thương mại nói riêng sẽ phải tăng cường đầu tư cơ sở vật chất,nâng cao năng lực thẩm định của cán bộ phụ trách trực tiếp và gián tiếp để chủ động hơn trong lựa chọn dự án để đầu tư,quản lý tốt hơn quá trình đầu tư để đạt hiệu quả cao nhất. Những phân tích và đánh giá của em trong đề án về công tác thẩm định Và vai trò của nó trong đầu tư theo dự án,mặc dù đã tham khảo nhiều tài liệu và đ ược sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo TS Trần Mai Hương,nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót.Em rất mong sự đóng góp của các th ầy cô,b ạn bè . . Tài liệu tham khảo 1 . Giáo trình kinh tế đầu tư 2. Giáo trình lập và quản lý dự án 3. Quy chế cho vay đối với khách hàng của NHNN Việt Nam,NHTM,Ngan hàng ngoại th ương,Ngân hàng Nông nghiệp và phát tri n n ng thôn,Ng ân hàng đầu tư và phát triển. 4. Báo cáo thường niên của một số NHTM các năm 2003,2004,2005,2006 5. Tạp chí Ngân hàng 2001-2006 6. Tạp chí thị trường tài chính tiền tệ 7. NĐ 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 8. Thông tư 02/2007/TT-BXD ký ngày 14/02/2007 9. NĐ 112/2006/N Đ-CP ngày 29/09/2006 10. Thông tư 63/2007/TT-BTC 11. trang web: vietbao.vn ; dauthau.mpi.gov.vn ;

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docThẩm định DA ĐT tại NH TM.doc
Luận văn liên quan