Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

Kể từ khi đổi mới đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng : trong thời kỳ này thực hiện chiến lược 10 năm 1991-2000, nền kinh tế thoát ra khỏi khủng hoảng; trong thời kỳ 5 năm đầu tiên thực hiện chiến lược 10 năm 2001-2010, nền kinh tế dừng như “không chệch hướng” khỏi quỹ đạo và đạt tốc độ tăng trưởng hàng năm tương đối cao. Ngoài ra còn các thành tích khá ấn tượng về ổn định kinh tế vĩ mô, về tốc độ tăng giá trị xuất khẩu hàng năm, về xóa đói giảm nghèo chính những thành tích đạt và vượt kế hoạch ấy đôi khi đã làm dịu đi những băn khoăn về một số chỉ tiêu khác của đổi mới chứa đạt kế hoạch, trong đó có việc đổi mới doanh nghiệp Nhà nước.Đổi mới doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận trong tổng thể công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, điều cần khẳng định trước tiên là mục tiêu của đổi mới doanh nghiệp nhà nước phải phù hợp với mục tiêu chung của toàn bộ chương trình đổi mới nền kinh tế, trong đó điều cốt lõi là nguyên tắc thị trường sẽ thay thế nguyên tắc kế hoạch hóa tập trung. Theo tinh thần này, hai mục tiêu trực tiếp nổi bật của đổi mới doanh nghiệp nhà nước là nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả hơn và đảm bảo cho doanh nghiệp nhà nước góp phần cùng kinh tế nhà nước nói chung làm tốt hơn "vai trò chủ đạo" trong nền kinh tế. Quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước trên thực tế được triển khai trên nhiều bình độ, trong đó nổi lên một xu hướng được coi là chủ lưu: đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước. Trong chương trình “đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước" thì ai cũng biết, cổ phần hóa các doanh nghiệp là một nội dung được coi là chủ yếu. Muốn đổi mới hoạt động doanh nghiệp cần cổ phần hóa. Muốn huy động vốn trong nước và ngoài nước cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần cổ phần hóa. Muốn cải cách hành chính trong kinh tế, cổ phần hóa là một nội dung không thể thiếu. Cổ phần hóa là một xu thế khách quan, nhất là khi ta đã trở thành thành viên WTO, nghĩa là đã hội nhập ở một trình độ cao, đã hình thành một nền kinh tế thị trường, thoát ra khỏi cơ chế quan liêu bao cấp. Đây là đề tài tương đối rông và phức tạp, mặc dù đã cố gắng tìm tòi và sắp xếp tư liệu nhưng chắc chắn trong bài viết của em sẽ không tránh khỏi những sai lầm và thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của cô để em có thể hoàn thiện hơn bài viết của mình Em xin chân thành cảm ơn cô. MỤC LỤC Lời nói đầu .3 Mục lục .4 Chương I:Khái quát chung về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. 5 1)Mục tiêu,yêu cầu cổ phần hóa(CPH) Doanh nghiệp nhà nước(DNNN) 5 2)Sự cần thiết chuyển sang hình thức cổ phần hóa DNNN .5 3)Đối tượng và điều kiện cổ phần hóa .6 4)Hình thức cổ phần hóa 6 5)Chi phí thực hiện cổ phần hóa 6 6)Chính sách đối với doanh nghiệp và người lao động sau CPH .7 a.Doanh nghiệp sau khi CPH được hưởng các ưu đãi 7 b.Người lao động trong doanh nghiệp CPH đựơc hưởng các chính sách ưu đãi sau .8 Chương II: Kết quả sau khi cổ phần hóa Doanh nghiệp .8 1)Luật điều chỉnh 8 2)Những kết quả đạt được và hạn chế cần khắc phục 10 3)Nguyên nhân 11 Chương III: Thực trạng cổ phần hoán DNNN tại Việt Nam .11 1)Thực trạng chung hiện nay 11 2)Một số DNNN điển hình 15 a/DNNN cổ phần hóa không đạt mục tiêu .15 b/Các DNNN cổ phần hóa có hiệu quả .15 c/Các dự án cổ phần hóa khác .16 d/DNNN điển hình 17 4)Mục tiêu hoàn thành CPH hơn 1500 DNNN vào năm 2010 .18 ChươngVI: Vấn đề đặt ra và biện pháp giải quyết của nhà nước 19 1)Vấn đề đặt ra hiện nay . 19 2)Biện pháp khắc phục 22 3)Chủ trương,chính sách của Nhà nước 23 4)Kết luận 25 *Tài liệu tham khào. 27

doc27 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 07/09/2013 | Lượt xem: 3450 | Lượt tải: 16download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nh nghiệp chính là tinh thần xuyên suốt trong chủ trương đổi mới cơ chế, chính sách về cổ phần hóa từ nay trở đi. Dự thảo về chính sách đổi mới thay thế Nghị định số 64/2002/NĐ-CP về cổ phần hóa hiện nay thay đổi theo hướng sau:          _Đặt thêm mục tiêu: Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường, gắn việc phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán, khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp. -          Mở rộng đối tượng cổ phần hóa bao gồm các Tổng công ty Nhà nước kể cả các ngân hàng thương mại Nhà nước và các tổ chức tài chính Nhà nước. -          Chính phủ ban hành Quyết định số 155/2004/QĐ-TTg về tiêu chí, danh mục phân loại công ty Nhà nước, thu hẹp diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn Nhà nước và cổ phần chi phối, mở rộng diện cổ phần hóa cho hầu hết các lĩnh vực sản xuất kinh doanh dịch vụ. -          Doanh nghiệp cổ phần hóa có tổng giá trị tài sản theo sổ sách kế toán từ 20 tỷ đồng trở lên việc xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa thực hiện thông qua các tổ chức có chức năng định giá như các Công ty Kiểm toán, Công ty Chứng khoán, tổ chức thẩm định giá, ngân hàng đầu tư trong và ngoài nước có năng lực định giá. -          Đối tượng mua cổ phần lần đầu bao gồm: Nhà đầu tư chiến lược trong nước, người lao động trong doanh nghiệp các nhà đầu tư khác (bao gồm cả đầu tư nước ngoài). -          Thay thế các quy định hiện hành dành tối thiểu 30% số cổ phần còn lại (nếu có) để bán cho các đối tượng ngoài doanh nghiệp bằng quy định mới: dành 100% số cổ phần còn lại (sau khi trừ cổ phần Nhà nước nắm giữ) bán đấu giá công khai cho các nhà đầu tư… giá bán cổ phần ưu đãi cho người lao động trong doanh nghiệp được giảm 40% so với giá đấu bình quân. -          Phương thức tổ chức bán đấu giá cổ phần lần đầu với khối lượng cổ phần hóa trên 1 tỷ đồng được đấu giá tại các tổ chức tài chính trung gian và trên 10 tỷ đồng thì tổ chức tại trung tâm giao dịch chứng khoán.  Các quy định mới trên dự thảo sắp ban hành đã được thảo luận kỹ càng, được nhiều Bộ, ngành, các nhà kinh tế ủng hộ vì có thể thực hiện được mục tiêu khắc phục tình trạng cổ phần hóa trong nội bộ doanh nghiệp, tạo điều kiện thay đổi phương thức quản lý và huy động thêm vốn xã hội đồng thời khắc phục hạn chế những khiếm khuyết trong xác định giá trị doanh nghiệp. Đây cũng là cơ hội tạo nguồn hàng để phát triển thị trường chứng khoán.  Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 về Chứng khoán và Thị trường chứng khoán đã đơn giản hóa nhiều những điều kiện để các Công ty cổ phần phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (chỉ cần vốn điều lệ 5 tỷ đồng, hoạt động kinh doanh năm trước có lãi) hoặc điều kiện để được niêm yết cổ phiếu (vốn điều lệ trên 5 tỷ đồng, 2 năm liên tục trước đó có lãi…). Chỉ thị số 20/2004/CT-UB của Ủy ban nhân dân Thành phố đã giao Ban Đổi mới Quản lý doanh nghiệp Thành phố phối hợp với Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố tổ chức tập huấn, khuyến khích các doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia Thị trường chứng khoán, chọn một số doanh nghiệp cổ phần hóa thí điểm bán cổ phần lần đầu ở Trung tâm giao dịch chứng khoán. 2)Những kết quả đạt được và hạn chế cần khắc phục: Cổ phần hoá các DNNN thời gian qua đạt được những kết quả đáng ghi nhận, nhưng việc cổ phần hoá, sắp xếp các doanh nghiệp có quy mô lớn, trong đó các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng thực hiện còn chậm. CPH đã tạo ra loại hình DN nhiều chủ sở hữu bao gồm Nhà nước, công nhân viên trong DN và cổ đông ngoài DN. Sự đa dạng về sở hữu mang lại sự đa dạng về vốn, huy động được nguồn vốn đang nằm trong các tổ chức, cá nhân ngoài xã hội vào sản xuất kinh doanh. Nhờ vậy quy mô vốn của một DN được tăng lên, trong khi Nhà nước lại tránh được tình trạng đầu tư dàn trải, nhỏ lẻ vào tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế; từ đó thu lại được một phần vốn để đầu tư vào những ngành, lĩnh vực then chốt và các mục đích khác cần thiết hơn. Thông qua CPH các khoản nợ xấu, tài sản không sử dụng được trong sản xuất kinh doanh của DN (hàng tồn kho lâu ngày, kém, mất phẩm chất, máy móc thiết bị hư hỏng, hết khấu hao...) được xử lý nên đã làm lành mạnh tình hình tài chính của DN, qua đó mở ra cơ hội phát triển cho DN. CPH cũng đã tạo nên một cơ chế quản lý mới cùng đội ngũ cán bộ quản lý thích nghi hơn với cơ chế thị trường. Những chuyển biến nói trên đã nâng cao rõ rệt hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DN CPH trên tất cả các chỉ tiêu chủ yếu: về vốn, doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách, số lượng lao động và thu nhập của lao động, cổ tức. Kết quả các cuộc điều tra cho thấy: vốn bình quân một DN tăng từ 24 tỷ đồng (2001) lên 63,6 tỷ đồng (2004); có tới 92,5% số DN được điều tra cho rằng có lãi, lợi nhuận trước thuế tăng bình quân 149,8%, lợi nhuận sau thuế tăng bình quân 182,3%, mức nộp ngân sách tăng bình quân 26,53%/DN, năng suất lao động tăng trung bình 63,9%, thu nhập bình quân tháng của lao động tăng 34,5% so với trước khi CPH, lao động tăng do mở rộng sản xuất, cổ tức cao hơn nhiều so với lãi suất ngân hàng. Các DNNN đã cổ phần hoá, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và việc huy động vốn ngoài xã hội trong quá trình cổ phần hoá DNNN còn hạn chế do chưa khuyến khích việc bán cổ phần ra bên ngoài. Chưa có doanh nghiệp nào tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá. Thời gian thực hiện cổ phần hoá một doanh nghiệp còn dài, làm tiến độ cổ phần hoá chậm. Vốn nhà nước còn chiếm tỷ trọng lớn trong vốn điều lệ ở nhiều doanh nghiệp không thuộc diện cần giữ cổ phần chi phối, phổ biến nhất là trong các tổng công ty nhà nước thuộc các ngành xây dựng, giao thông. Nhiều công ty cổ phần chưa có sự đổi mới thực sự trong quản trị công ty; phương pháp quản lý, lề lối làm việc, tư duy quản lý vẫn còn như DNNN. Hạn chế này rõ nhất là ở những doanh nghiệp mà Nhà nước còn giữ cổ phần chi phối, ban lãnh đạo của doanh nghiệp đều từ DNNN trước đó chuyển sang. Trong một số công ty cổ phần, người lao động - cổ đông phần do nhận thức chưa đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình, phần do sự hiểu biết pháp luật về công ty cổ phần còn hạn chế, nên có nơi quyền làm chủ chưa được phát huy. Ngược lại có nơi lạm dụng quy định của pháp luật gây khó khăn cho công tác quản lý của Hội đồng quản trị, sự điều hành của giám đốc. Nhiều nội dung của cơ chế, chính sách quản lý công ty cổ phần như: chính sách tiền lương, tiền thưởng… vẫn còn áp dụng như DNNN. 3)Nguyên nhân Một bộ phận cán bộ lãnh đạo, đảng viên ở các cấp, người lao động trong doanh nghiệp chưa nhận thức đúng đắn về công cuộc đổi mới, sắp xếp và cổ phần hoá DNNN. Một số khác còn mang nặng tư tưởng bao cấp, lo ngại sau cổ phần sẽ mất đặc quyền, đặc lợi. Một số Bộ, ngành, địa phương, tổng công ty nhà nước chưa quán triệt sâu sắc và nghiêm chỉnh chấp hành Nghị quyết của Đảng, quy định của Nhà nước, thiếu chương trình, kế hoạch cụ thể, chưa tích cực, sâu sát trong chỉ đạo thực hiện đã làm ảnh hưởng tới tiến độ cổ phần hoá DNNN. Một số khó khăn, vướng mắc trong chính sách cổ phần hoá chưa được xử lý kịp thời như: đối tượng cổ phần hoá, việc bán cổ phần ra bên ngoài, chính sách bán cổ phần ưu đãi, phương thức bán cổ phần, quy định về xác định giá trị doanh nghiệp; chưa có giải pháp xử lý dứt điểm các tồn tại về tài chính, quy trình cổ phần hoá toàn bộ tổng công ty nhà nước. Những khó khăn, vướng mắc của DNNN sau cổ phần hoá chưa được xử lý kịp thời, vẫn còn tình trạng phân biệt đối xử trong việc cho thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất, di chuyển địa điểm sản xuất, vay vốn kinh doanh… CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA DNNN TẠI VIỆT NAM 1)Thực trạng chung hiện nay: Quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước trên thực tế được triển khai trên nhiều bình độ, trong đó nổi lên một xu hướng được coi là chủ lưu: đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước. Trong chương trình “đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước" thì ai cũng biết, cổ phần hóa các doanh nghiệp là một nội dung được coi là chủ yếu. Chương trình sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước được khởi động từ đầu những năm 1990 đến nay đã làm được nhiều việc; trong đó ấn tượng nhất là số lượng doanh nghiệp nhà nước từ hơn 12 nghìn năm 1992 đã giảm xuống còn gần 2.200 (9-2006); trong đó, hơn 1.500 doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, 355 doanh nghiệp quốc phòng an ninh và sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, số còn lại là các nông, lâm trường quốc doanh, với tổng số vốn nhà nước gần 260 nghìn tỷ đồng. Một phần trong số này nằm trong 105 tập đoàn và tổng công ty (trong đó 7 tập đoàn, 13 tổng công ty 91; 83 tổng công ty thuộc các bộ, ngành, địa phương và 2 tổng công ty thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - khoáng sản Việt Nam). Đóng góp vào mức giảm số lượng gần 10 nghìn doanh nghiệp nhà nước từ năm 1992 đến nay, hình thức cổ phần hóa chỉ chiếm 1/4 (3.060 doanh nghiệp), còn 6.740 doanh nghiệp (3/4 số doanh nghiệp) giảm đi qua các hình thức chuyển đổi, sáp nhập và một phần không đáng kể bị giải thể. Theo đánh giá của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, nhìn chung các doanh nghiệp sau cổ phần hóa đều nâng cao được hiệu quả sản xuất, kinh doanh với các mức độ khác nhau. Dựa trên báo cáo của các bộ, ngành, địa phương về kết quả hoạt động của 850 doanh nghiệp cổ phần hóa đã hoạt động trên 1 năm cho thấy, vốn điều lệ bình quân tăng 44%, doanh thu bình quân tăng 23,6%, lợi nhuận thực hiện bình quân tăng 139,76%. Đặc biệt, có tới trên 90% số doanh nghiệp sau cổ phần hóa hoạt động kinh doanh có lãi, nộp ngân sách bình quân tăng 24,9%, thu nhập bình quân của người lao động tăng 12%, số lao động tăng bình quân 6,6%, cổ tức bình quân đạt 17,11%. Báo cáo tình hình thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại phiên họp thứ 43 của ủy ban Thường vụ Quốc hội (ngày 21-9-2006) nhận định: "Qua hơn 15 năm triển khai, chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã đạt được những hiệu quả về kinh tế, chính trị, xã hội nhất định, tạo sự rõ ràng về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của từng thành phần sở hữu, từng cổ đông; xoá bỏ cơ chế phân phối bình quân; hình thành phương thức phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn, giảm được sự can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước; tạo cơ chế quản lý tự chủ, tự chịu trách nhiệm nhằm thúc đẩy doanh nghiệp năng động hơn; tạo cơ sở pháp lý và vật chất để người lao động xác lập và nâng cao vai trò làm chủ, gắn bó máu thịt với doanh nghiệp. Kết quả nổi bật của cổ phần hoá là năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước được nâng lên đáng kể. Họ phải tự tìm kiếm cơ hội, đối tác kinh doanh, chủ động đổi mới công nghệ, tiết kiệm tối đa các chi phí để tăng doanh thu. Cổ phần hoá cũng đã huy động thêm vốn của xã hội đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh, tạo cơ hội việc làm cho người lao động. Dưới góc độ phân công lao động trong xã hội, cổ phần hoá đã thật sự giải phóng sức lao động từ chỗ đông mà không mạnh, ỷ lại, dựa dẫm, thụ động chuyển sang chủ động, tích cực hơn trong nền kinh tế nhiều thành phần với thái độ đầy đủ hơn, trách nhiệm hơn, góp phần tăng thu nhập cho xã hội, cho Nhà nước và cho người lao động". Và cũng theo đánh giá của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, sau quá trình thực hiện sắp xếp, số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm nhưng vẫn tiếp tục giữ vai trò chi phối những ngành, lĩnh vực then chốt. Khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn đóng góp gần 40% GDP và 50% tổng thu ngân sách nhà nước. Thực tiễn đó đã đủ để khẳng định, về cơ bản cổ phần hóa là một hướng đổi mới doanh nghiệp phù hợp với tiến trình đổi mới kinh tế nói chung. Nhưng, một nghịch lý đã từng tồn tại ngay từ khi công cuộc cổ phần hóa được khởi động cho đến tận nay là "Tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp Việt Nam còn chậm, chưa đạt yêu cầu" như nhan đề của một bài viết đăng trên website của Đảng (ngày 21-9-2006). Bản báo cáo nêu rõ: những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2001, số lượng doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa tăng đáng kể, nhưng nhìn chung việc triển khai còn chậm. Số doanh nghiệp được cố phần hóa tăng nhiều, nhưng số vốn mới chiếm 12% tổng số vốn trong các doanh nghiệp nhà nước; nếu trừ đi phần vốn nhà nước còn giữ lại gần 50% trong các doanh nghiệp cố phần hóa, thì thực chất tỷ lệ trên chỉ chiếm khoảng 6%. So với mục tiêu của Nghị quyết Trung ương 9 khoá IX thì còn chậm, nhất là các doanh nghiệp có quy mô lớn, các doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Tiến độ cổ phần hóa không đồng đều giữa các bộ, ngành, địa phương; một số bộ, ngành chưa hoàn thành theo đề án đã được phê duyệt. Như vậy, tuy số lượng doanh nghiệp có thể nhiều, nhưng xét về chỉ tiêu vốn đã được cổ phần hóa thì coi như không đáng kể, thậm chí chưa xứng với một chương trình lớn ở tầm quốc gia, bởi vì cổ phần hóa dường như ít ảnh hưởng tới nguyên tắc thị trường của các doanh nghiệp nhà nước nói riêng và toàn bộ cơ chế vận hành của nền kinh tế nói chung. Điều này cũng có nghĩa là, mục tiêu chính của sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước là góp phần thúc đẩy nhanh sự chuyển đổi cơ chế của nền kinh tế, làm cho nguyên tắc thị trường thay thế nguyên tắc kế hoạch hóa tập trung, vẫn chưa đạt được như mong đợi. Chính vì vậy mà tại Hội nghị về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2006-2010 được tổ chức ngày 7-10-2006 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: "Nhiệm vụ sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp trong 5 năm tới trọng tâm là cổ phần hóa. Mục tiêu đến năm 2010, chúng ta sẽ cơ bản cổ phần hóa xong doanh nghiệp nhà nước". Phương án được lựa chọn để tiếp tục thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước từ nay đến 2010 là đẩy mạnh sắp xếp, cố phần hóa các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước. Theo đó, từ nay đến hết năm 2010 sẽ cổ phần hóa khoảng 1.500 doanh nghiệp (riêng các doanh nghiệp thành viên của tổng công ty nhà nước phải hoàn thành trong năm 2008), trong đó, năm 2007 phải cổ phần hóa 550 doanh nghiệp (có khoảng 20 tổng công ty), số còn lại sẽ thực hiện trong các năm 2008-2009, một số công ty và số ít doanh nghiệp chưa cố phần hóa được thực hiện trong năm 2010. Theo kết quả này, đến cuối năm 2010, cả nước sẽ chỉ còn 554 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, trong đó có 26 tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn; 178 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ thiết yếu; 200 nông, lâm trường; 150 doanh nghiệp thành viên các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Có thể nói rằng, đây là một trong những nhiệm vụ rất khó khăn trong những năm sắp tới. Bởi vì như thực tiễn nhiều năm qua đã cho thấy, không chỉ khối lượng công việc phải tiến hành rất lớn, mà còn có thể phải đối mặt với không ít trở lực. Trong 4 năm sắp tới (2007-2010) sẽ phải cổ phần hóa 1.500 doanh nghiệp (bình quân mỗi năm cổ phần hóa 375 doanh nghiệp), riêng năm 2007 đặt kế hoạch cổ phần hóa 550 doanh nghiệp. Chỉ tiêu này tuy không cao hơn nhiều so với kế hoạch của một số năm trước, nhưng so với kinh nghiệm thực hiện nhiều năm thì rất cao. Như trên đã nêu, trong khoảng 15 năm (1992-2006), cả nước cổ phần hóa được 3.060 doanh nghiệp, tức là bình quân mỗi năm cổ phần hóa được 204 doanh nghiệp. Tất nhiên, với quyết tâm cao và kinh nghiệm đã tích lũy được, hoàn toàn có cơ sở để hoàn thành mục tiêu này, dĩ nhiên là còn cần phải có những đổi mới mạnh mẽ trong phương thức tiến hành cổ phần hóa. Thật vậy, với cách làm như từ trước đến nay, diện mạo của tình hình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam là: "quy mô doanh nghiệp được sắp xếp hoặc cổ phần hóa trong thời gian qua chủ yếu vẫn là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong tổng số doanh nghiệp được cổ phần hóa có trên 2.600 đơn vị có quy mô dưới 10 tỉ đồng. Tuy việc cố phần hóa các doanh nghiệp quy mô trên 10 tỉ đồng đã tăng lên trong các năm 2004-2005, số doanh nghiệp dưới 10 tỉ vẫn chiếm 80% tổng số được cổ phần hóa... Đáng chú ý, trong số các đơn vị đã cổ phần hóa có tới gần 1.200 đơn vị nhà nước tiếp tục giữ trên 50% vốn điều lệ, tỷ lệ này tương đương khoảng 33% nhưng hầu hết đây là những doanh nghiệp có vốn lớn. Nhiều doanh nghiệp không thuộc diện Nhà nước nắm 100% vốn nhưng đã tránh cổ phần hóa bằng cách chuyển sang mô hình công ty mẹ - công ty con hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Số lượng doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ công ích còn lớn, nhưng không ít doanh nghiệp có số thu từ dịch vụ công ích dưới 20%. Hiệu quả của quá trình sắp xếp, cổ phần hóa vẫn chưa được như mong đợi. Tuy Chính phủ đã hỗ trợ: loại trừ tài sản và công nợ không tính vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa trên 2.500 tỉ đồng; xóa nợ thuế và các khoản phải nộp Nhà nước trên 310 tỉ đồng; ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trên 1.000 tỉ đồng; chi phí cho cải cách doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng thương mại để hỗ trợ doanh nghiệp sắp xếp và xử lý nợ và lỗ là 2.962 tỉ đồng; hỗ trợ lao động dôi dư 6.000 tỉ đồng; chi xử lý nợ các ngân hàng thương mại 8.317 tỉ đồng. Tình trạng này cho thấy, cổ phần hóa chưa đạt được kết quả tương xứng với sự kỳ vọng cũng như hỗ trợ của Nhà nước. Một khía cạnh rất quan trọng khác của tình hình là bộ máy quản lý và phương thức hoạt động của các doanh nghiệp được cổ phần hóa. Công chúng vẫn thấy một tình hình rất phổ biến là những “Công ty cổ phần nhà nước”. Bởi vì, “Sau khi cổ phần hóa, khoảng 81,5% giám đốc, 78% chức danh phó giám đốc và kế toán trưởng không có sự thay đổi. Điều này cho thấy trên thực tế là nhiều doanh nghiệp sau cổ phần hóa vẫn hoạt động như trước cả về tổ chức, tư duy, công nghệ, quản lý và triết lý kinh doanh vẫn mang dáng dấp của doanh nghiệp nhà nước. Nếu có thay đổi chỉ là giám đốc doanh nghiệp nhà nước cũ trở thành lãnh đạo mới của công ty cổ phần, chưa có doanh nghiệp nào sử dụng cơ chế thuê giám đốc điều hành”(7). Rõ ràng, để tăng tốc tiến trình cổ phần hóa trong những năm tới, cần phải xem xét lại nhiều vấn đề liên quan, trong đó đặc biệt là các chính sách thực thi cổ phần hóa đã và đang được áp dụng. 2)Một số DNNN điển hình: a/DNNN cổ phần hóa không đạt mục tiêu: Đó là phương án CPH TCty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn được Bộ Công nghiệp trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với vốn điều lệ là 5.500 tỉ đồng thì phần vốn Nhà nước nắm giữ tới 80% là quá lớn và không cần thiết, còn phần bán cho CBNV và ra ngoài có 20%.  Hay theo hồ sơ bán đấu giá cổ phần lần đầu của Cty thuỷ điện Thác Mơ thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam ngày 29.3.2007 có vốn điều lệ 700 tỉ đồng thì phần vốn Nhà nước nắm giữ cũng tới 79,73%, bán ra bên ngoài 20%, còn phần bán ưu đãi cho người lao động chỉ có 0,27%.   Đây là một xu hướng không tích cực, cả bộ chủ quản lẫn DN đều muốn Nhà nước (mà thực chất là bộ và DN) nắm giữ cổ phần chi phối tới 80%. Trong khi DN rượu - bia - nước giải khát thực ra Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối, còn với khâu phát điện Nhà máy thuỷ điện Thác Mơ với công suất 150MW thì giai đoạn đầu Nhà nước cũng chỉ cần nắm giữ cổ phần chi phối ở mức trên 51% là được.   Hiện cả nước còn 2.176 DN 100% vốn nhà nước chưa CPH với giá trị tài sản 260 nghìn tỉ đồng (đó là giá trên sổ sách kế toán, nếu CPH áp giá mới đánh giá lại thì giá trị tài sản còn lớn hơn nhiều).  Nếu vẫn cung cách xây dựng và phê duyệt phương án CPH như trên thì rất khó đẩy nhanh tốc độ CPH DNNN và hiệu quả huy động vốn của các nhà đầu tư sẽ vẫn rất thấp. b/Các DNNN cổ phần hóa có hiệu quả: Công ty cổ phần cơ điện lạnh tại Thành phố Hồ Chí Minh là một minh chứng điển hình của các doanh nghiệp cổ phần hoá làm ăn có hiệu quả. Với số vốn ban đầu 15 tỉ đồng, sau 5 năm cổ phần hoá, vốn của doanh nghiệp đã tăng lên 167 tỉ đồng, doanh thu tăng từ 78,44 tỉ đồng lên 353 tỉ đồng và lợi nhuận tăng gấp 4 lần, thu nhập bình quân hàng tháng của người lao động tăng từ 1,4 triệu đồng lên 2 triệu đồng. Công ty cổ phần bông Bạch Tuyết chỉ có 11 tỉ đồng vốn khi tiến hành cổ phần hoá, sau 1 năm số vốn này đã tăng lên 15 tỉ đồng, doanh thu tăng 22 lần, lợi nhuận tăng 30%. c/Các dự án cổ phần hóa khác: Ngân hàng Thương mại Việt Nam và Công ty bảo hiểm Bảo Việt nằm trong số các doanh nghiệp nhà nước bắt đầu bán cổ phần cho công chúng trong năm nay; 26 công ty khác, trong đó có VietNam Airlines, sẽ được cổ phần hóa vào năm 2008. 19 công ty khác sẽ bán cổ phần vào năm 2009 và đến năm 2010 sẽ có thêm 6 công ty tiến hành cố phần hóa. Một viên chức của VietNam Airlines, ông Trần Đình Hùng, cho phái viên AP biết rằng công ty đang nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của thủ tướng này dự trù bán từ 10 đến 20% phần hùn cho công chúng. Ông Hùng nói thêm rằng sau khi cổ phần hóa, công ty ông sẽ hoạt động có hiệu quả và năng động hơn. Đầu năm 2006 đã triển khai sắp xếp: Công ty mía đường, đã phê duyệt giá trị doanh nghiệp; xây dựng phương thức bán và giá khởi điểm để đưa ra đấu giá. Tỉnh củng đã kiến nghị Bộ Tài chính giao cho Trung tâm thẩm định giá và dịch vụ bất động sản để tổ chức đấu giá nhà máy đường. Quyết định phê duyệt phương án chuyển đổi công ty bế xe tàu thành đơn vị sự nghiệp có thu thực hiện theo Nghị định số 10 của Thủ tướng Chính phủ. Xây dựng phương án hợp nhất giữa Công ty du lịch và Công ty thương mại thành Công ty du lịch thương mại, hoạt động theo mô hình Công ty mẹ, công ty con. Triển khai xây dựng phương án thành lập Công ty nông lâm nghiệp. Triển khai thực hiện cổ phần hoá: Tổ chức đại hội cổ đông thành lập công ty cổ phần nông lậm sản. Các đơn vị: Công ty TNHH Kiên Hùng I và các cơ sở của Công ty Du lịch (Khách sạn nhà hàng Tô Châu, Nhà hàng Hải Âu, khách sạn- nhà hàng Hòn Trẹm và các cơ sở du lịch tại Mũi Nai) đang trong quá trình thẩm định giá trị doanh nghiệp để lập phương án cổ phần hoá. Đối với Công ty xuất nhập khẩu thủy sản, hiện đang trong quá trình quyết toán tài chính năm 2005 và thẩm định giá trị doanh nghiệp để lập phương án cổ phần hoá. Có thể nói tiến động sắp xếp và thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước thuộc tỉnh quản lý vẫn đảm bảo theo kế hoạch đề ra, các doanh nghiệp thuộc diện cổ phần hoá (Công ty cổ phần chế biến thủy sản xuất khẩu Ngô Quyền, Công ty cổ phần nước đá thủy sản, Công ty cổ phần chế biến thực phẩm đóng hộp, Công ty cổ phần vận tải thủy bộ,….đều có công nhân tham gia vay; đồng thời đơn vị đã chủ động qua hệ với các ngân hàng thương mại để vay vốn cho công nhân, viên chức của doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính (thế chấp bằng cổ phiếu), mua cổ phần ưu đãi, nhằm hạn chế tình trạng mua, bán cổ phần ưu đãi giữa công nhân viên chức với nhau. Ngoài ra theo như Ban chỉ đạo đổi mới phát triển doanh nghiệp tỉnh cho biết từ khi chuyển giao một số doanh nghiệp: Công ty TNHH Kiên Hùng I, Công ty cổ phần chế biến xuất khẩu thủy sản Ngô Quyền, Công ty cổ phần nước đá thủy sản, Công ty cổ phần chế biến thực phẩm đóng hộp, Công ty cổ phần nước mắm Nam Phương và Công ty cổ phần khai thác thủy sản (Công ty quốc doanh đánh cá cũ) về Công ty thương mại đại diện làm chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp này, hoạt động hiệu quả tốt hơn, do Công ty thương mại đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và đã hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp này hoạt động. d/DNNN điển hình: Công ty Cổ phần sữa Việt Nam(vốn điều lệ 1.590.000.000.000 đồng) Theo điều lệ của công ty Điều 2: Tên, Hình thức, Trụ sở, Đại diện theo pháp luật, Chi nhánh, Văn phòng đại diện và Thời hạn hoạt động của Công ty 1. Tên hợp pháp của Công ty bằng tiếng Việt là Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam. Tên đăng ký hợp pháp của Công ty bằng tiếng Anh là Vietnam Dairy Products Joint-Stock Company. Tên viết tắt là Vinamilk. 2. Công ty được thành lập theo phương thức chuyển từ một doanh nghiệp nhà nước thành một công ty cổ phần, được tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Theo đó, Công ty có tư cách pháp nhân kể từ Ngày Thành lập, và các Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của Công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào Công ty. 3. Trụ sở đăng ký của Công ty là: Địa chỉ: 184-186-188 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh Điện thoại: (848) 9300 358 Fax: (848) 9305 206 E-mail: vinamilk@vinamilk.com.vn Website: www.vinamilk.com.vn 4. Tổng Giám đốc sẽ là đại diện theo pháp luật của Công ty. 5. Công ty có thể thành lập chi nhánh và văn phòng đại diện tại Địa bàn Kinh doanh để hỗ trợ các mục tiêu của Công ty phù hợp với Nghị quyết của Hội đồng quản trị và trong phạm vi Pháp luật cho phép. 6. Trừ khi chấm dứt hoạt động trước thời hạn theo Điều 43.2 và 44 hoặc gia hạn hoạt động theo Điều 45, Thời hạn của Công ty là 50 năm kể từ Ngày Thành lập Theo Thứ trưởng Bộ Công nghiệp Nguyễn Xuân Thúy, Bộ Công nghiệp đã quyết định  khi tiến hành cổ phần hóa Công ty Vinamilk, Nhà nước giữ 80% vốn điều lệ của công ty, 20% còn lại được bán cho cán bộ nhân viên công ty và các cổ đông bên ngoài (chủ yếu là các hộ bán sữa cho công ty, các đối tác chiến lược...). Lý do Nhà nước giữ cổ phần lớn ở Vinamilk vì đây là công ty có vốn lớn và đang kinh doanh có hiệu quả (đối với các công ty loại này, qui định là khi cổ phần hóa Nhà nước phải giữ cổ phần chi phối). Ngoài ra, mức cổ phần bán ra cho cán bộ nhân viên và cổ đông bên ngoài tuy chỉ có 20% nhưng do Vinamilk khi cổ phần hóa có vốn điều lệ lớn (khoảng 1.500 tỉ đồng) nên lượng cổ phần bán ra cũng không phải ít. Thứ trưởng Nguyễn Xuân Thúy cũng cho biết ngoài Vinamilk, hiện nay Bộ Công nghiệp đang đẩy mạnh thực hiện cổ phần hóa ở gần 100 doanh nghiệp thuộc bộ quản lý, trong số này có khá nhiều doanh nghiệp loại lớn và làm ăn có hiệu quả 3)Mục tiêu hoàn thành CPH hơn 1500 DNNN vào năm 2010: Sau quá trình thực hiện sắp xếp, số lượng doanh nghiệp Nhà nước giảm nhưng vẫn tiếp tục giữ vai trò chi phối những ngành, lĩnh vực then chốt. Khu vực doanh nghiệp Nhà nước vẫn đóng góp gần 40% GDP và 50% tổng thu ngân sách Nhà nước. Dựa trên báo cáo của các bộ, ngành, địa phương về kết quả hoạt động của 850 doanh nghiệp CPH đã hoạt động trên 1 năm cho thấy, vốn điều lệ bình quân tăng 44%, doanh thu bình quân tăng 23,6%, lợi nhuận thực hiện bình quân tăng 139,76%. Đặc biệt, có tới trên 90% số doanh nghiệp sau CPH hoạt động kinh doanh có lãi, nộp ngân sách bình quân tăng 24,9%, thu nhập bình quân của người lao động tăng 12%, số lao động tăng bình quân 6,6%, cổ tức bình quân đạt 17,11%. Cùng với việc sắp xếp, CPH doanh nghiệp Nhà nước, từ năm 2001 đến nay, trên địa bàn cả nước đã tiến hành giải thể 5 tổng công ty không giữ được vai trò chi phối, đồng thời hỗ trợ các công ty thành viên sát nhập, hợp nhất 7 tổng công ty; tổ chức lại tổng công ty rượu - bia - nước giải khát thành 2 tổng công ty; thành lập thêm 17 tổng công ty Nhà nước, tổ chức lại 7 tổng công ty thành tập đoàn, đưa 1 tổng công ty 90 vào cơ cấu của tập đoàn. Như vậy, đến hết tháng 9/2006, cả nước đã có 105 tập đoàn và tổng công ty, cụ thể gồm 7 tập đoàn, 13 tổng công ty 91; 83 tổng công ty thuộc các bộ, ngành, địa phương và 2 tổng công ty thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - khoáng sản Việt Nam. Theo số liệu tổng hợp từ các bộ, địa phương, đến nay, cả nước còn 2.176 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước với tổng số vốn Nhà nước gần 260 nghìn tỷ đồng. Trong đó, 1.546 doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, 355 doanh nghiệp quốc phòng an ninh và sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích và 295 nông, lâm trường quốc doanh. Phương án được lựa chọn để tiếp tục thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước từ nay đến 2010 là đẩy mạnh sắp xếp, CPH các tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước. Theo đó, từ nay đến hết năm 2010 sẽ cổ phần hoá khoảng 1.500 doanh nghiệp (riêng các doanh nghiệp thành viên của tổng công ty Nhà nước phải hoàn thành trong năm 2008), trong đó, năm 2007 phải CPH 550 doanh nghiệp (có khoảng 20 tổng công ty), số còn lại sẽ thực hiện trong các năm 2008- 2009, một số công ty và số ít doanh nghiệp chưa cổ phần hoá được sẽ thực hiện trong năm 2010. Như vậy, đến cuối năm 2010, cả nước sẽ chỉ còn 554 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, trong đó có 26 tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn; 178 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ thiết yếu; 200 nông, lâm trường; 150 doanh nghiệp thành viên các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước. Tại hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo, để cơ bản hoàn thành xong CPH vào năm 2010, chúng ta dự kiến sẽ phải cổ phần hoá xong 79 tổng công ty trong số 105 tổng công ty và CPH khoảng 1.500 doanh nghiệp, còn lại là các doanh nghiệp công ích, nông, lâm trường. Theo Thủ tướng, trước mắt, trong khi chưa thực hiện CPH được tổng công ty thì tiến hành cổ phần hóa tất cả các doanh nghiệp thành viên trước và chuyển sang mô hình hoạt động công ty mẹ - con. Chúng ta chưa cần CPH ngay các tổng công ty vì hiện vẫn chưa có kinh nghiệm cổ phần hóa tổng công ty. Vì thế, Ban chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp sẽ có hướng dẫn cụ thể đối với các tổng công ty. Riêng những lĩnh vực mới, kể cả những lĩnh vực nhạy cảm, đòi hỏi Nhà nước phải tham gia quản lý như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, điện lực, viễn thông thì phải xây dựng đề án CPH cụ thể để trình Chính phủ phê duyệt. Đối với những doanh nghiệp đã lỗ hết vốn thì buộc phải giải thể và thực hiện chính sách lao động dôi dư hoặc bán đấu giá mặt bằng thu hồi về cho Nhà nước. Một vấn đề quan trọng nữa là CPH phải gắn liền với vấn đề đưa ra sàn đấu giá và niêm yết trên thị trường chứng khoán (tính đến thời điểm này, mới chỉ có trên 60 doanh nghiệp Nhà nước được CPH đã niêm yết trên thị trường chứng khoán) CHƯƠNG VI: VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT CỦA NHÀ NƯỚC 1)Vấn đề đặt ra hiện nay: Bên cạnh những kết quả tích cực kể trên, tiến trình CPH cũng đang phải đối mặt với những vướng mắc, đặc biệt là những vấn đề nảy sinh từ “hậu” CPH. Hiện tại Nhà nước vẫn còn nắm tỷ lệ vốn quá cao trong tổng vốn điều lệ của các DN đã CPH (bình quân tới 46,5%) và đóng vai trò là cổ đông lớn nhất; đồng thời phần lớn các công ty cổ phần đang được Nhà nước giữ cổ phần chi phối (chỉ khoảng 30% DN CPH là Nhà nước không giữ % nào). Hơn nữa tuy số DNNN đã CPH khá lớn (khoảng trên 60%) nhưng số vốn Nhà nước được cổ phần còn nhỏ (khoảng 9%), bởi hầu hết các DN đã CPH là các DN nhỏ và vừa, trong khi vốn Nhà nước lại tập trung ở các DN lớn. Điều này cho thấy Nhà nước vẫn còn đầu tư dàn trải, hơn nữa còn làm hạn chế việc mua cổ phần tham gia đầu tư của công nhân viên trong DN và đặc biệt là các tổ chức, cá nhân ngoài DN ở trong và ngoài nước. Trong khi đó những người đại diện phần vốn nhà nước tại các DN CPH là những công chức nhà nước, do đó họ cần hệ số an toàn hơn là sự mạo hiểm, mà trong kinh doanh muốn thành công không thể không mạo hiểm. Vì vậy trình độ quản lý, điều hành DN chưa có tính đột phá. Tình trạng cổ phần khép kín đã dẫn đến thiếu những cổ đông chiến lược từ bên ngoài với tỷ lệ cổ phần đủ lớn để tạo ra cuộc “cách mạng” trong quản trị DN. Một vướng mắc lớn khác là vấn đề đất đai và sở hữu tài sản. Quyền sử dụng đất và các quyền nghĩa vụ đất đai có liên quan trước khi đăng ký dưới hình thức công ty cổ phần vẫn còn thiếu rõ ràng và chưa được giải quyết dứt điểm. Điều này khiến DN CP gặp nhiều khó khăn trong bố trí kế hoạch sản xuất kinh doanh như xây dựng nhà xưởng, góp vốn liên doanh bằng tài sản có trên đất mà DN đang sử dụng hay vay vốn ngân hàng... Về tài sản, trước CPH hầu hết các dây chuyền sản xuất chính hoặc các tài sản lớn đều do tổng công ty đứng tên sở hữu, nhưng khi CPH việc chuyển giao đăng ký chưa dứt điểm gây ra tình trạng quyền sở hữu tài sản không rõ ràng. Do đó, khi DN muốn triển khai mở rộng, liên doanh, hợp tác kinh doanh sẽ gặp khó khăn. Các DN còn cho rằng chưa có sự đối xử bình đẳng trong vấn đề tài chính đối với DN trước và sau CPH. Sau CPH tỷ trọng vay vốn từ Ngân hàng thương mại Nhà nước đã giảm đáng kể bởi có sự khác biệt trong điều kiện về tín dụng, thế chấp, cầm cố tài sản và lòng tin khi cho vay của ngân hàng với DN trước và sau CPH. Thêm nữa là những vướng mắc về xử lý nợ tồn đọng của DN sau CPH, về tư vấn CPH và xác định giá trị DN, về thời gian hoàn tất CPH còn quá dài (trên 400 ngày/DN), về xác định đối tượng lao động dôi dư... Những vướng mắc kể trên một mặt làm giảm hiệu quả của CPH, mặt khác góp phần tạo ra tâm lý e ngại CPH trong cán bộ lãnh đạo quản lý DN, làm “chùn tay” những DN chưa CPH; do đó làm cho tốc độ CPH hiện vẫn chậm so với mục tiêu mà Đảng, Nhà nước đã đặt ra. Ngoài ra: Thực trạng quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta nói trên đang đặt ra nhiều vấn đề cả về mặt lý luận, tư duy kinh tế lẫn thực tiễn quản lý, tổ chức hoạt động doanh nghiệp. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam có những đặc điểm khác với tính quy luật chung ở các nước, bởi: - Các doanh nghiệp mà Việt Nam thực hiện cổ phần hóa được hình thành trong quá trình thực hiện công hữu hóa, tập thể hóa nền kinh tế trước đây. Điều này khác với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước phát triển: là kết quả của quá trình phát triển lực lượng sản xuất đã vượt quá tầm của sở hữu tư nhân, đòi hỏi phải mở rộng quan hệ sở hữu. - Các doanh nghiệp mà nước ta thực hiện cổ phần hóa vốn tồn tại lâu năm trong cơ chế bao cấp và kế hoạch của Nhà nước và mới làm quen với cơ chế thị trường, khác với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước là đã tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường, cạnh tranh. - Các doanh nghiệp mà nước ta tiến hành cổ phần hóa chủ yếu được tổ chức và hoạt động theo yêu cầu và kế hoạch của Nhà nước, khác với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước là tổ chức và hoạt động vì lợi nhuận tối đa của bản thân và tuân theo quy luật thị trường. - Lý do chính của chủ trương cổ phần hóa ở nước ta là các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản, khác với lý do thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp ở các nước phát triển là chuyển từ giai đoạn tập trung tư bản sang giai đoạn tập trung vốn xã hội (trong và ngoài doanh nghiệp) để nâng cao chất lượng và quy mô sản xuất trong cạnh tranh. Từ những sự khác biệt đó cho thấy: - Chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giải quyết những tồn tại và tình trạng sản xuất, kinh doanh kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước, đang gây trở ngại cho tiến trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Tình hình đó không giống với yêu cầu có tính quy luật là cổ phần hóa doanh nghiệp là một bước tiến của quá trình xã hội hóa, tuân theo quy luật khách quan: quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. - Đối tượng cổ phần hóa ở nước ta khác hẳn với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa trong nền kinh tế thị trường phát triển cao. Ở nước ta, một bộ phận doanh nghiệp nhà nước sau khi được cổ phần hóa vẫn chưa thoát khỏi cơ chế tập trung quan liêu cả về tài chính, tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý, tức là, chưa hẳn là một tổ chức hoạt động tuân theo quy luật khách quan của kinh tế thị trường. - Chính sách và quy trình cổ phần hóa ở nước ta, trên thực tế, vẫn dựa trên tư duy cũ. Vì vậy, từ khâu định giá tài sản doanh nghiệp, cho đến tổ chức quản lý sau khi doanh nghiệp đã cổ phần hóa đều tồn tại nhiều vấn đề. Việc giải quyết vấn đề tài chính trước, trong và sau khi cổ phần hóa còn nhiều bất cập như: Xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa chưa đúng, gây nên thất thoát và lãng phí tài sản nhà nước trong và sau quá trình cổ phần hóa. Việc xác định giá trị doanh nghiệp trải qua hai giai đoạn khác nhau. Trong giai đoạn chưa có Nghị định 187: việc xác định giá trị doanh nghiệp do một Hội đồng hoặc doanh nghiệp tự đảm nhận. Điều đó dẫn đến việc xác định thấp hoặc quá thấp giá trị doanh nghiệp, do đó, phần lớn cổ phần rơi vào tay một nhóm người. Trong giai đoạn sau khi có Nghị định 187: sự thất thoát tài sản nhà nước đã được hạn chế, nhưng lại nảy sinh tình trạng liên kết, gian lận trong đấu thầu. Việc xử lý các khoản nợ tồn đọng gây nhiều khó khăn. Tính đến ngày 31-12-2005, dư nợ cho vay đối với các công ty cổ phần vào khoảng 51.603 tỉ đồng. Đặc biệt, việc xử lý nợ xấu đã mất rất nhiều thời gian do thiếu sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ngành ngân hàng, thuế, tài chính. Chất lượng định giá doanh nghiệp của nhiều tổ chức cung ứng dịch vụ thẩm định giá trị có độ tin cậy thấp. Mặt khác, quy chế lựa chọn, giám sát hoạt động tư vấn và xác định giá trị doanh nghiệp chưa được quy định rõ, chưa gắn trách nhiệm của tổ chức tư vấn, định giá với việc bán cổ phần. - Quy trình cổ phần hóa (từ xây dựng đề án đến thực hiện đề án) chưa sát thực tế, còn rườm rà, phức tạp nên đã kéo dài thời gian cổ phần hóa. Bình quân thời gian để thực hiện cổ phần hóa một doanh nghiệp mất 437 ngày, tổng công ty mất 554 ngày. Sau khi cổ phần hóa, rất nhiều doanh nghiệp vẫn hoạt động như cũ; quản lý nhà nước vẫn chi phối mọi hoạt động, kể cả trong các doanh nghiệp mà vốn nhà nước chưa tới 30% vốn điều lệ doanh nghiệp; bộ máy quản lý cũ trong nhiều doanh nghiệp vẫn chiếm giữ đến 80%. Thực tiễn 15 năm thực hiện chủ trương cổ phần hóa ở nước ta cho thấy: chúng ta còn chậm trễ trong việc tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế khi chuyển sang kinh tế thị trường và trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng. Như vậy, doanh nghiệp nhà nước do chế độ công hữu hóa xã hội chủ nghĩa trước đây để lại đang là một bài toán khó khi chúng ta chuyển sang kinh tế thị trường. Những vấn đề này đang trở thành một thách thức đối với công tác lý luận, đổi mới tư duy, công tác tổ chức và quản lý nền kinh tế quốc dân. 2)Biện pháp khắc phục: Quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước chỉ có hiệu quả khi đồng thời tạo được các điều kiện sau đây: CThứ nhất, điều chỉnh phương hướng đầu tư từ ngân sách nhà nước nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này, khai thác những lợi thế của đất nước và các nguồn đầu tư bên ngoài để đưa đến một mô hình kinh tế hợp lý. Theo dõi quá trình phát triển kinh tế Việt Nam, giáo sư Đa-vít Đa-pi (David Dapice đại học Ha-vớt) nêu rõ: thực tế mỗi năm Chính phủ Việt Nam đầu tư khoảng 30% GDP, nhưng chỉ tăng trưởng 7%-8%. Nếu biết đầu tư đúng thì tăng trưởng phải đạt ở mức 9%-10% như Trung Quốc. Theo cách tính toán trên, do đầu tư không phù hợp, chúng ta đã làm tổn thất 2% GDP của đất nước (khoảng 1 tỉ USD mỗi năm). Vì thế, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước phải dựa trên quan điểm tiết kiệm ngân sách, đầu tư khôn ngoan, chứ không phải chỉ là giải pháp cho những yếu kém trong kinh tế nhà nước. Trên thế giới, đã có những nước sử dụng rất hiệu quả ngân sách nhà nước. Ví dụ, Đài Loan vào thập kỷ 1960-1970 chỉ có mức thu nhập bình quân đầu người như Việt Nam hiện nay, nhưng họ đã đạt được tăng trưởng kinh tế ở mức 11% trong suốt 10 năm liền, tuy lượng đầu tư chỉ chiếm 25% ngân sách. AThứ hai, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước phải hướng tới sự thu hút và tập trung các nguồn vốn xã hội vào phát triển kinh tế, tạo ra hình ảnh nhân dân xây dựng và làm chủ nền kinh tế. Khi điều này được thực hiện thì các khâu của quy trình cổ phần hóa sẽ thay đổi, từ việc định giá doanh nghiệp, cơ cấu vốn điều lệ doanh nghiệp cổ phần, cơ cấu cổ đông, tổ chức bộ máy, đến những vấn đề nhân sự khác… sẽ không như hiện nay, mà sẽ bảo đảm cho doanh nghiệp hoạt động tốt hơn trước, có lợi cho người lao động, nhà đầu tư và cho cả nền kinh tế. BThứ ba, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước phải tính tới những yêu cầu đặt ra khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO để sau khi cổ phần hóa thì các doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển. Tác động của việc gia nhập WTO tốt hay xấu đối với doanh nghiệp đã cổ phần hóa hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm và định hướng quy trình cổ phần hóa. Ở đây xin nêu lên hai vấn đề quan trọng: - Cần xác định rõ: ai là chủ sở hữu thực tế của công ty cổ phần và chủ sở hữu phải gắn liền với trách nhiệm đối với công ty như thế nào?. Trong vấn đề này có một nội dung phải làm rõ: ai đại diện chủ sở hữu số vốn nhà nước trong công ty cổ phần nhằm chấm dứt quan hệ sở hữu nhà nước chung chung và không có trách nhiệm, kéo dài nhiều năm nay. - Cần vận dụng: “Quy chế quản trị công ty” nhằm tạo ra môi trường đầu tư minh bạch, lành mạnh. Yêu cầu này chỉ thực hiện được khi có sự lựa chọn những giám đốc phù hợp với quy chế quản trị công ty, nhất là phải sớm đào tạo và bố trí các giám đốc tài chính của công ty (có vai trò và phạm vi hoàn toàn khác với kế toán trưởng trong doanh nghiệp kiểu cũ). 3)Chủ trương,chính sách của Nhà nước: Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách cổ phần hoá Thực tế trên cho thấy, để có thể thực hiện tốt kế hoạch cổ phần hoá, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp CPH, cần thiết phải nghiên cứu hoàn thiện cơ chế cổ phần hoá DNNN quy định tại Nghị định 187 theo hướng: _Mở rộng đối tượng và điều kiện cổ phần hoá Bổ sung thêm đối tượng cổ phần hoá bao gồm cả các công ty TNHH Nhà nước một thành viên; các công ty nhà nước độc lập là công ty mẹ được tổ chức và hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con; Các công ty TNHH Nhà nước hai thành viên trở lên khi thực hiện chuyển đổi sang hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần được phép áp dụng các quy định có liên quan tại Nghị định này và Điều lệ tổ chức hoạt động của công ty. _Về điều kiện, cho phép cổ phần hoá cả doanh nghiệp "không bị âm vốn nhà nước" theo hình thức phát hành cổ phiếu để huy động vốn. Bổ sung thêm điều kiện cổ phần hoá bộ phận công ty là công ty nhà nước thuộc diện Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc có quy mô lớn thực hiện cổ phần hoá các bộ phận và công ty mẹ theo đúng lộ trình đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. _Về giá trị quyền sử dụng đất và giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp Để phù hợp với Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/1/2006 của Chính phủ; ngăn chặn tổn thất cho ngân sách Nhà nước, dự kiến: Ä Trường hợp DNCPH lựa chọn hình thức giao đất thì phải tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị DNCPH theo giá đất đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định và công bố; nếu giá này chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường tại thời điểm cổ phần hoá thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định giá đất cụ thể cho phù hợp. ÄMặt khác, để nâng cao trách nhiệm của UBND các tỉnh, thành phố và doanh nghiệp cũng như đảm bảo tiến độ cổ phần hoá, cần thiết yêu cầu các doanh nghiệp chủ động triển khai  xác định giá trị quyền sử dụng đất ngay khi kiểm kê, phân loại tài sản. Đồng thời, quy định UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có ý kiến về vấn đề này trong thời hạn 30 ngày, nếu quá 30 ngày UBND không có ý kiến thì cơ quan có thẩm quyền quyết định giá trị doanh nghiệp được quyền xác định giá trị doanh nghiệp theo phương án đã xây dựng và báo cáo UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trình tự và thủ tục giao đất, nộp tiền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về đất đai. ÄĐể hạn chế tổn thất cho Ngân sách, cần quy định rõ trường hợp DNCPH lựa chọn hình thức thuê đất thì phải hoàn tất thủ tục chuyển sang thuê đất theo quy định trước khi khi chính thức chuyển sang công ty cổ phần. _Xoá bỏ sự phân biệt giữa nhà đầu tư trong và ngoài nước Quy định hiện hành, nhà đầu tư chiến lược là các nhà đầu tư trong nước và được mua cổ phần ưu đãi giảm giá 20%. Quy định này cho thấy còn có sự phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; các nhà đầu tư nước ngoài có tiềm lực về tài chính, kinh nghiệm tổ chức quản lý chưa được xác định là nhà đầu tư chiến lược. Việc quy định giảm 20% giá bán cổ phiếu cho các nhà đầu tư chiến lược đã làm giảm khoản thu của Ngân sách từ cổ phần hoá, trong khi các nhà đầu tư tiềm năng góp vốn mua cổ phần muốn tham gia quản trị doanh nghiệp về cơ bản đều có tiềm lực về tài chính, họ cần được ưu đãi quyền mua cổ phần hơn là ưu đãi giảm giá. Để xoá bỏ sự cách biệt giữa các nhà đầu tư trong và ngoài nước, dự kiến sửa đổi theo hướng mở rộng đối tượng là nhà đầu tư chiến lược nhưng không ưu đãi giảm giá, cụ thể: *Nhà đầu tư chiến lược là các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước như: người sản xuất và thường xuyên cung cấp nguyên liệu cho doanh nghiệp; người cam kết tiêu thụ lâu dài sản phẩm của doanh nghiệp; người gắn bó lợi ích chiến lược lâu dài trong kinh doanh, có tiềm năng về tài chính và năng lực quản lý, không bao gồm người lao động trong doanh nghiệp và các pháp nhân trong cùng tổng công ty khi cổ phần hoá các đơn vị thành viên hoặc đơn vị phụ thuộc của tổng công ty. * Giá bán cho các nhà đầu tư chiến lược được thực hiện theo giá đấu thành công của từng nhà đầu tư hoặc theo giá thỏa thuận nhưng không thấp hơn giá đấu thành công bình quân của cuộc đấu giá cho các nhà đầu tư thông thường. _Sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm nâng cao tính công khai minh bạch, gắn kết hơn nữa quá trình cổ phần hoá với sự phát triển TTCK: Nâng tỷ lệ cổ phẩn bán đấu giá công khai lên không thấp hơn 30% vốn điều lệ, dành một tỷ lệ cổ phần để bán đấu giá cho nhà đầu tư tiềm năng (mức cụ thể do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trong phương án cổ phần hoá). - Các doanh nghiệp có đủ điều kiện niêm yết theo quy định của pháp luật chứng khoán thì phương án bán cổ phần phải đảm bảo đủ điều kiện về số lượng cổ đông bên ngoài để thực hiện niêm yết ngay sau khi chuyển thành công ty cổ phần. - Mặt khác, để khắc phục trường hợp thông thầu, cần bổ sung quy định các trường hợp số lượng cổ phần chưa bán hết lớn ,phải thực hiện đấu giá lại hoặc điều chỉnh quy mô, cơ cấu vốn điều lệ trong phương án cổ phần hoá . - Để gắn kết quá trình cổ phần hoá DNNN với việc phát triển TTCK, cần bổ sung quy định buộc những doanh nghiệp có quy mô vốn lớn và hiệu quả thực hiện cổ phần hoá gắn với việc tham gia niêm yết, giao dịch. Giao trách nhiệm cho cơ quan có thẩm quyền quyết định cổ phần hoá phải hướng dẫn và phê duyệt ngay trong quyết định phê duyệt phương án cổ phần hoá. _Về quản lý và sử dụng số tiền thu từ cổ phần hoá công ty nhà nước *Cho phép doanh nghiệp để lại một phần của khoản chênh lệch tăng do bán đấu giá cổ phần phát hành thêm để thực hiện các dự án đầu tư theo phương án cổ phần hoá được cấp có thẩm quyền phê duyệt. *Cho phép sử dụng một phần nguồn thu này để tham gia giải quyết chính sách cho người lao động theo Nghị quyết 06 của Chính phủ. _Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền Tăng cường kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước và nâng cao trách nhiệm của các Bộ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, giám đốc và các cán bộ quản lý điều hành doanh nghiệp trong quá trình triển khai cổ phần hoá các doanh nghiệp trực thuộc. Đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn từ 100 tỷ đồng trở lên, Bộ, địa phương chỉ ra quyết định phê duyệt giá trị doanh nghiệp và phê duyệt phương án cổ phần hoá sau khi có ý kiến thoả thuận của Bộ Tài chính và Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp. Trường hợp còn lại nếu quyết định của các cơ quan này gây tổn thất đến quyền lợi của Nhà nước, người đầu tư thì người quyết định phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật _Đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá công ty Nhà nước. 4)Kết luận: Từ khi bắt đầu thực hiện công cuộc cổ phần hóa DNNN đến nay, kết quả thu được là rất khả quang:tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng phát triển, vốn điều lệ tăng lên đáng kể, mở rộng được qui mô sản xuất, làm ăn hiệu quả hơn, năng động hơn, lợi nhuận doanh thu cao hơn và điều đó được ghi nhận bằng sự lên giá cổ phiếu. Trên 90% doanh nghiệp nhà nước (DNNN) sau khi cổ phần hóa kinh doanh có lãi. Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Tài chính tại Hội nghị sắp xếp, đổi mới DNNN giai đoạn 2006 – 2010 tổ chức gần đây thì cổ phần hóa DNNN trong những năm qua đã đạt được những kết quả nhất định nhưng hiệu quả chưa cao, “chưa tương xứng với sự quan tâm chỉ đạo và nguồn kinh phí hỗ trợ của Đảng, nhà nước” số lượng DNNN vẫn còn nhiều, sức cạnh tranh chưa cao và khó đáp ứng được yêu cầu hội nhập khu vực và thế giới. Các vấn đề tồn tại còn quá nhiều. chưa có hướng giải quyết tích cực nên vẫn còn tồn đọng. Cổ phần hóa lại diễn ra chậm ở hầu hết các doanh nghiệp qui mô lớn, một số doanh nghiệp vừa và nhỏ Mục tiêu của doanh nghiệp là sinh lợi chứ không phải là sở hữu. Chính vì sự nhầm lẫn về mục tiêu của doanh nghiệp nên hiện vẫn còn có nhiều ý kiến nhấn mạnh và coi trọng tính sở hữu của doanh nghiệp hơn là khả năng sinh lợi. Khả năng sinh lợi của doanh nghiệp gắn liền với việc mở rộng sản xuất, tạo thêm việc làm, tăng sản phẩm hàng hóa cho thị trường, tăng khoản nộp cho ngân sách. Tăng nguồn thu cho ngân sách là cách duy nhất để Nhà nước tăng phúc lợi cho người lao động. Nếu nhấn mạnh tính sở hữu, không những mục tiêu về lợi nhuận không đạt được mà mục tiêu về phúc lợi cho người lao động cũng vô nghĩa. Đây là bài học cay đắng mà chúng ta đã phải trả trong mấy chục năm kinh tế quốc doanh. Một yếu tố khác làm tăng hiệu năng của doanh nghiệp là đội ngũ cán bộ công nhân viên. Thói quen bao cấp trong nhiều năm đã đào tạo ra một lực lượng cán bộ trong các doanh nghiệp theo kiểu công chức không dễ gì thay đổi. Muốn thay đổi phải có quá trình sàng lọc, đào thải. Những người trì trệ, không thích ứng được phải ra đi, nhường chỗ cho những người ưu tú hơn vào thay thế. Với mục tiêu đảm bảo việc làm cho người lao động đã vô tình chống lại quá trình sàng lọc ấy. Một doanh nhân đã nói: doanh nghiệp không phải là nhà trẻ Trung ương, cũng không phải là cơ quan từ thiện. Đó là nơi phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt, phải cạnh tranh sống còn với từng đối thủ. Ai không thích ứng được với quá trình ấy sẽ phải ra ngoài. Tuy nhiên, cơ chế của chúng ta hiện nay đang chưa thực sự đáp ứng đầy đủ với quy luật thị trường, mặc dù, chúng ta đã là thành viên thứ 150 của WTO và lộ trình này là không thể thay đổi. 4TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1)Nghị định của Chính phủ số187/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần 2)Nghị định của Chính phủ số 25/CP ngày 26/3/1997 sửa đổi mội số điều cuả nghị định 28/CP ngày 7/5/1996 về chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần 3) Tạp chí Lý luận Chính trị số 1/2007 4) Tạp chí Lý luận Chính trị số 2/2007 5) Tạp chí Thông tin lý luận số 12 (238), tháng 12-1997.- Bùi Tất Thắng: Hình thái cổ phần và vấn đề cổ phần hóa ở nước ta hiện nay. 6)Thời báo Kinh tế Sài Gòn tháng 11/2006 7) Chỉ thị số 04/2005/CT-TTg ngày 17/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy nhanh vững chắc cổ phần hoá công ty nhà nước 8) Các trang web: ngày 10-10-2006. ngày 21-9-2006. ngày 22-9-2006.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doccophanhoaDNNN.doc
Luận văn liên quan