Thực trạng huy động và sử dụng vốn FDI ở Việt Nam

Nội dung chính: 1. Khái niệm, xuất xứ. 2. Đặc điểm, ưu nhược điểm. 3. Thực trạng huy động và sử dụng vốn. 4. Thu hút vốn đầu tư FDI. I. Khái niệm, xuất xứ. Trước hết ta nói lại về các loại vốn đầu tư. Vậy FDI là gì? 1. Khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI- Foreing Direct Investment) là việc các tổ chức, cá nhân một nước thực hiện đầu tư vốn ra nước ngoài dưới hình thức tự mình đứng ra kinh doanh hoặc hợp tác kinh doanh với các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới: Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước( nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác( nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác . Trong phần lớn, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong nững trường hợp đó, nhà đầu tư thường được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay chi “nhánh công ty” . 2. Xuất xứ Trong lịch sử thế giới, FDI đã tồn tại từ lâu,ngay từ thời tiền tư bản. các công ty của Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha là những công ty đi đầu trong lĩnh vực đầu tư FDI dưới hình thức đầu tư vốn vào các nước châu Á nhằm đua các nguồn nguyên liệu, khoáng sản về chính quốc. Từ sau chiến tranh thế giới thứ II,FDI đã có sự thay đổi rõ rệt với sự đầu tư ồ ạt của các nhà đầu tư Mỹ vào châu Âu,sau đó là sự đầu tư lẫn nhau giữa các nước châu Âu thực hiện sư lien minh tư bản, tăng cường khả năng kinh tế, chống độc quyền cảu các nhà đầu

pdf37 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 13/04/2013 | Lượt xem: 1071 | Lượt tải: 9download
Tóm tắt tài liệu Thực trạng huy động và sử dụng vốn FDI ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
oanh nghiệp nhỏ, nhưng vì có những ưu điểm rõ rêt nên cũng được các doanh nghiệp lớn quan tâm. Việc cho ra đời hình thức cty hợp danh ỏ các nước nhăm tao thêm cơ hội cho nhà đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư cho phù hợp với yều cầu, lợi ích của họ. Thực tế cho thấy một số loại hình dịch vụ như tư vấn pháp luật, khám chữa bệnh, thiết kế kiến trúc.. đã và đang phát triển nhanh chóng. Đó là những dịch vụ mà người tiêu dùng không thể kiểm tra được chất lượng cung ứng trước khi sử dụng, nhưng lại có ảnh hưởng đến sức khởe tính mạng và tài sản của người tiêu dùng khi sử dụng. Việc thành lập công ty hợp danh là hình thức thức đầu tư phù hợp trong việc phát triển và cung cấp các dịch vụ nêu trên. Trong đó những người có vốn đóng vai trò là thành viên góp vốn và chịu trách nhiệm hữu hạn còn các nhà chuyên môn là thàn viên hợp danh tổ chức điều hành, cung ứng dịch vụ và chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của họ. 9. Hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập (M&A) Phần lớn các vụ M&A được thực hiện giữa các TNC lớn và tập trung vào các lĩnh vự công nghiệp ô tô, dược phẩm, viễn thông và tài chính ở các nước phát triển. Mục đích chủ yếu : -Khai thác lợi thế của thị trươg mới mà hoạt động thương mại quốc tế hay đầu tư mới theo kênh truyền thống không mang lại hiệu quả mong đợi. Hoạt động M&A tạo cho các công ty cơ hội mở rộng nhanh chóng hoạt động ra thị trường nước ngoài. -Bằng con đường M&A, các TNC có thể sáp nhập các ty của mình với nhau hình thnàh một công ty khổng lồ hoạt độg trong nhiều lĩnh vự hay các công ty khác nhau cùng hoạt động trông một lĩnh vực có thể sáp nhập lại nhằm tăng khả năng cạnh tranh toàn cầu của tập đoàn -Các công ty vì mục đích quốc tế hoá sản phẩm muốn lấp chỗ trống trong hệ thống phân phối của họ trên thị trường thế giới -Thông qua cong đường M&A các ty có thể giảm chi phí từng lĩnh vực nghiên cứu và phát triển sản xuất, phân phối và lưu thông. -M&A tao điều kiện thuận lợi cho việc tái cấu trúc các ngành công nghiệp và cơ cấu ngành công nghiệp ở các quốc gia, do đó, hình thức này đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển công nghiệp ở mọi quốc gia. Hoạt động phân làm 3 loại: -MA theo chiều ngang xảy ra khi 2 cty hoạt động trong cùng 1 lĩnh vực sx kinh doanh muốn hình thành 1 cty lớn hơn để tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường của cùng 1 loại mặt mà trc đó 2 cty cùng sx. -MA theo chiều dọc diễn ra khi 2 cty hoạt động ở 2 lĩnh vự khác nhau nhưng cùng chịu sự chi phối của 1 cty mẹ, laọi hình MA này thwongf xảy ra ở các cty xuyên quốc gia -MA theo hướng đa dạng hoá hay kết hợp thường xảy ra khi các ty lớn tiến hành sáp nhập với nhau với mục tiêu tối thiểu hoá rủi ro và tránh thiệt hại khi 1 cty tự thâm nhập thị trường. So với đầu tư truyền thống, từ quan điểm của nước tiếp nhận đầu tư:-Về bổ sung vốn đầu tư trong khi hình thức đầu tư truyền thống bổ ngày một lượng vốn FDI nhất định cho đầu tư phát triển thì hình thức MA chủ yếu chuyển sở hữu từ các doanh nghiệp đang tồn tại ở nước chủ nhà cho các công ty nước ngoài. Tuy nhiên, về dài hạn, hình thức này cũng thu hút mạnh được nguồn vốn từ bên ngoài cho nước chủ nhà nhờ mở rộng quy mô hoạt độn của doanh nghiệp. -Về tạo việc làm, hình thức đầu tư truyền thống tạo ngay được việc làm cho nước chủ nhà, trong khi hình thức M&A không những không tạo được việc làm ngay mà còn có thể làm tang thêm tình trạng căng thẳng về việc làm (tăng thất nghiệp) cho nước chủ nhà. Tuy nhiên về lâu dài, tình trạng này có thể được cải thiện khi các doanh nghiệp mở rông quy mô sản xuất. -Về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, đầu tư truền thống tác động trực tiếp dến thay dổi cơ cấu knh tế thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới trong khi đó M&A không có tác động trong giai đoạn ngắn hạn -Về cạnh tranh và an ninh quốc gia, trong khi đầu tư truyền thống thúc đẩy cạnh tranh thì M&A không tác động đáng kể đến tình trạng cạnh tranh về mặt ngắn hạn nhưng về dài hạn có thể làm tăng canh tranh độc quyền. Mặt khác, M&A có thể ảnh hưởng đến an ninh của nước chủ nhà nhiều hơn hình thức đư truyền thống vởi vì tài sản của nước chủ nhà được chuyển cho người nước ngoài. 2. Ưu điểm Đối với nước tiếp nhận vốn Đối với các nước đang phát triển +Đây là nguồn vốn bổ xung quan trọng để các nước đang phát triển thực hiện tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là đối với Việt Nam thì nó là nguồn vốn quan trọng trong góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng hướng công ngiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. + Thông qua FDI góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp, cụ thể đối với các dự án đầu tư FDI sẽ tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động và tạo them thu nhập. + Thông qua FDI, doanh nghiệp của nước chủ nhà còn có thể tiếp thu được công nhệ, kỹ thuật tiên tiến kinh, nghiệm quản lý hiệ đại. Đối với nước phát triển . không chỉ các quốc gia đang phát triển mới tiêp nhận vốn đầu tư nước ngoài mà các quốc gia phát triển thì hoạt động này cũng diễn ra mạnh mẽ. Lợi thế từ các hoạt động này là không nhỏ trên những khía cạnh sau: + Giải quyết những vấn đề khó khăn về kinh tế-xã hội như: lạm phát,thất nghiệp… thông qua đầu tư nước ngoài chủ đàu tư sẽ mua lại công ty , doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản giúp cải thiện tình hình hoạt động của công ty, đồng thời tiếp tục xây dựng và phát triển của công ty, từ đó góp phần tạo việc làm cho người lao động. + Thông qua FDI góp phần tăng nguồn thu cho nhà nước dưới hình thức đánh thuế cho hoạt động này. + Thông qua FDI sẽ tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất và tăng trưởng kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh thúc đẩy phát triển kinh tế,thương mại, qua đó học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển khác. Đối với nước xuất khẩu FDI Thông qua FDI, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, thâm nhập thị trường các nước, tránh được hang rào bảo hộ của mậu dịch của nước sở tại. Từ đó, bành trương thị trường và nâng cao ảnh hưởng những sản phẩm đối với tiêu dung các nước sở tại. Nhờ FDI mà công ty nước ngoài giảm chi phí sản xuất thông qua lợi thế nhân công giá rẻ, đồng thời tìm được nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định, thu được lợi nhuận cao do lợi dụng được lợi thế so sánh của nước sở tại,giảm chi phí quảng cáo vận chuyển, tiếp thị…. Thông qua FDI các chủ đầu tư nước ngoài đổi mới cơ cấu sản phẩm, áp dụng công nghệ mới, nâng cao năng lực cạnh tranh. 3. Nhược điểm Đối với các nước nhận FDI + Các nước nhận đầu tư có thể phải tiếp nhận những công nghệ lạc hậu từ đó có thể gây rrats nhiều thiệt hại cho nước sở tại. + Nước nhận đầu tư phải áp dụng một số ưu đãi cho nhà đầu tư như miễn,giảm thuế.. từ đó tạo bất lợi cho doanh nghiệp trong nước trong quá trình cạnh tranh. + Nếu nước nhận đầu tư không có kế hoạch đầu tư cụ thể và khoa học dãn tới đầu tư tràn lan, kém hiệu quả dẫn tới tài nguyên bị tàn phá qua mức, nạ ô nhiễm môi trường tỏ ra nghiêm trọng. + Nước nhận đàu tư có thể bị thua thiệt do các nhà đầu tư thường tính giá cao hơn hoặc bằng quốc tế cho các yếu tố đầu vào. Đối với nhà đầu tư + Nếu không xem xét cẩn trọng về môi trương đầu tư thì khi có sự bất ổn về kinh tế, chính trị thì nhà đầu tư sẽ bị mất vốn. + Nếu không am hiểu về luật và phong tục tập quán của nước sở tại thì có thể dẫn đến khônng thành công trong đầu tư… III. Thực trạng huy động và sử dụng vốn 1. Thu hút vốn đầu tư (Bảng theo giai đoạn) Số dự án Vốn đăng ký (Triệu đô la Tổng số vốn thực hiện (triệu Mỹ) (*) đo la Mỹ) 1988 - 1990 211 1602.2 1991 - 1997 2130 33417.8 12346.8 1998 - 2000 1003 10504.2 7115.8 2001 - 2005 3935 20720.2 13852.8 2006 987 12004.0 4100.1 2007 1544 21347.8 8030.0 2008 1557 71726.0 11500.0 Sơ bộ 2009 1208 23107.3 10000.0 Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ 1988 – 2009 Bảng chi tiết Số dự án Vốn đăng ký (Triệuđô la Mỹ) (*) Tổng số vốn thực hiện (Triệu đô la Mỹ) Tổng số 12575 194429.5 66945.5 1988 37 341.7 1989 67 525.5 1990 107 735.0 1991 152 1291.5 328.8 1992 196 2208.5 574.9 1993 274 3037.4 1017.5 1994 372 4188.4 2040.6 1995 415 6937.2 2556.0 1996 372 10164.1 2714.0 1997 349 5590.7 3115.0 1998 285 5099.9 2367.4 1999 327 2565.4 2334.9 2000 391 2838.9 2413.5 2001 555 3142.8 2450.5 2002 808 2998.8 2591.0 2003 791 3191.2 2650.0 2004 811 4547.6 2852.5 2005 970 6839.8 3308.8 2006 987 12004.0 4100.1 2007 1544 21347.8 8030.0 2008 1557 71726.0 11500.0 Sơ bộ 2009 1208 23107.3 10000.0 1. Từ 1988 - 1990: 3 năm khởi đầu, FDI chưa có tác động rõ rệt đến tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam - Tổng 3 năm có hơn 1,6 tỷ USD vốn đăng kí - Vốn thực hiện ko đáng kể vì các doanh nghiệp FDI sau khi đc cấp phép phải làm nhiều thủ tục cần thiết mới đc đưa vốn vào Việt Nam. 2. Từ 1991- 1997: FDI tăng trưởng nhanh chóng và góp phần ngày càng quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. - Trong kế hoạch 5 năm 1991 - 1995, tốc độ tăng trưởng cao. Hơn 17,6 tỷ USD vốn đăng kí, vốn đăng kí năm 1991 là1,2 tỷ USD thì năm 1995 tăng 5,75 lần, đạt hơn 6,9 tỷ USD. Đạt 6,5 tỷ USD vốn thực hiện, bằng 36,9% vốn đăng kí. - 1996 -1997, FDI tiếp tục tăng trưởnh nhanh. Thêm hơn 15,7 tỷ USD vốn đăng kí mới và 5,8 tỷ USD vốn thực hiện. 3. Từ 1998 - 2000: thời kì suy thoái của FDI - Vốn đăng kí giảm từ 1998 và giảm mạnh 2 năm tiếp theo. Năm 1998 khoảng 5 tỷ USD, năm 1999 chỉ còn 50% năm trước đạt 2,5 tỉ USD, năm 2000 nhích lên 1 chút đạt 2,8 tỷ USD. - Vốn thực hiên năm 1997 đạt kỉ lục 3,1 tỷ USD, nhưng giảm mạnh trong 3 năm này. 1998 và 1999 chỉ còn 2,3 tỷ USD, năm 2000 lên 2,4 tỷ USD. 4. Từ 2001 - 2005: phục hồi hoạt động của FDI - Vốn đăng kí năm 2001 là 3,1 tỷ USD tăng 10,7% so với năm 2000. Vốn thực hiện là 2,45 tỷ USD tăng 1,5% so với năm 2000. - Năm 2002 vốn đăng kí là 2,99 tỷ USD, vốn thực hiện là 2,59 tỷ USD - Năm 2003 vốn đăng kí là 3,19 tỷ USD, vốn thực hiện là 2,65 tỷ USD - Năm 2002 vốn đăng kí là 4,5 tỷ USD, vốn thực hiện là 2,85 tỷ USD - Đến cuối năm 2005, Việt Nam thu hút hơn 6,8 tỷ USD vốn đăng kí, vốn thực hiện đạt 3,3 tỷ USD. 5. Từ 2006 - 2008: FDI tăng nhanh chóng - Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong 5 năm (2001- 2005), Việt Nam thu hút 20,7 tỉ USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI); năm 2006 đạt trên 12 tỉ USD; năm 2007 vượt ngưỡng 21 tỉ USD, tăng gần 75% so năm 2006. Đặc biệt, năm 2008, lượng vốn FDI đạt 71 tỉ USD, trong đó 60,2 tỉ USD là cấp mới. Vốn FDI vào Việt Nam tăng mạnh trong năm 2008 nhờ hàng loạt dự án lớn, trong đó lớn nhất là hai liên doanh thép của tập đoàn Lion (Ma-lai-xi-a) và Vinashin với 9,79 tỉ USD, đưa Ma-lai-xi-a, lần đầu tiên, trở thành nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam, với 14,9 tỉ USD. - Vốn thực hiện tăng từ 4,1 tỷ USD năm 2006 lên 11,5 tỷ USD năm 2008 6. Tính sơ bộ năm 2009 vốn đăng kí là 23 tỷ USD - 9 tháng đầu năm 2010 là 12,19 tỷ USD bằng 87,3% so với cùng kì năm 2009 2.Hình thức đầu tư - Từ 1988 – 1994, FDI tập trung chủ yếu vào hình thức liên doanh, chiếm khoảng 80% vốn đăng ký; 20% còn lại chia đều cho các hình thức khác. - Sau đó, hình thức 100% vốn nước ngoài tăng thông qua đầu tư mới hoặc từ liên doanh chuyển sang, do đó hình thức liên doanh giảm rõ rệt. Phương thức BOT chiếm tỷ trọng không đáng kể. ĐTNN phân bổ theo hình thức đầu tư giai đoạn 2004-2007 Hình thức đầu tư Vốn đầu tư thực hiện (tỷ USD) Tỷ trọng (%) Hợp đồng hợp tác kinh doanh 4,5 5,5 Liên doanh 23,8 28,7 100% vốn nước ngoài 51,2 61,6 BTO,BT,BOT 3,44 4,2 Tổng 82,94 100 - Từ 2004-2007, chủ yếu các doanh nghiệp ĐTNN thực hiện theo hình thức 100% vốn nước ngoài, có 6.685 dự án ĐTNN với tổng vốn đăng ký 51,2 tỷ USD, chiếm 77,2% về số dự án và 61,6% tổng vốn đăng ký. Theo hình thức liên doanh có 1.619 dự án với tổng vốn đăng ký 23,8 tỷ USD, chiếm 18,8% về số dự án và 28,7% tổng vốn đăng ký. Theo hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh có 221 dự án với tổng vốn đăng ký 4,5 tỷ USD chiếm 2,5% về số dự án và 5,5% tổng vốn đăng ký. Số còn lại thuộc các hình thức khác như BOT, BT, BTO. - Đến hết năm 2004, nếu tính theo vốn đăng ký, thì hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 71,5% số dự án và 45,6% tổng vốn đăng ký; con số tương ứng của hình thức liên doanh là 24,7% và 42,5%; còn lại là thuộc hợp đồng kinh doanh và BOT. - Nếu tính theo vốn thực hiện thì chênh lệch giữa hình thức liên doanh và 100% vốn nước ngoài không nhiều với tỷ lệ tương ứng là 40,6% và 39,9% do nhiều dự án liên doanh trong lĩnh vực sản xuất, khách sạn, khu đô thị có quy mô lớn đã đi vào hoạt động trước năm 2000, trong khi nhiều dự án 100% vốn nước ngoài gia tăng trong những năm gần đây. - Tính đến hết năm 2007, chủ yếu các doanh nghiệp ĐTNN thực hiện theo hình thức 100% vốn nước ngoài, có 6.685 dự án ĐTNN với tổng vốn đăng ký 51,2 tỷ USD, chiếm 77,2% về số dự án và 61,6% tổng vốn đăng ký. Theo hình thức liên doanh có 1.619 dự án với tổng vốn đăng ký 23,8 tỷ USD, chiếm 18,8% về số dự án và 28,7% tổng vốn đăng ký. Theo hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh có 221 dự án với tổng vốn đăng ký 4,5 tỷ USD chiếm 2,5% về số dự án và 5,5% tổng vốn đăng ký. Số còn lại thuộc các hình thức khác như BOT, BT, BTO. Có thể so sánh tỷ trọng dự án hoạt động theo hình thức 100% vốn nước ngoài tính đến hết năm 2004 là 39,9%, theo hình thức liên doanh là 40,6% và theo hình thứuc hợp doanh là 19,5% để thấy được hình thức 100% vốn nước ngoài được các nhà đầu tư lựa chọn hơn. 3. Địa bàn đầu tư Qua 20 thu hút, ĐTNN đã trải rộng khắp cả nước, không còn địa phương “trắng” ĐTNN nhưng tập trung chủ yếu tại các địa bàn trọng điểm, có lợi thế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương, làm cho các vùng này thực sự là vùng kinh tế động lực, lôi kéo phát triển kinh tế-xã hội chung và các vùng phụ cận Vùng trọng điểm phía Bắc có 2.220 dự án còn hiệu lực với vốn đầu tư trên 24 tỷ USD, chiếm 26% về số dự án, 27% tổng vốn đăng ký cả nước và 24% tổng vốn thực hiện của cả nước; trong đó Hà Nội đứng đầu (987 dự án với tổng vốn đăng ký 12,4 tỷ USD) chiếm 51% vốn đăng ký và 50% vốn thực hiện cả vùng. Tiếp theo thứ tự là Hải Phòng (268 dự án với tổng vốn đăng ký 2,6 tỷ USD), Vĩnh Phúc (140 dự án với tổng vốn đăng ký 1,8 tỷ USD), Hải Dương (271 dự án với tổng vốn đăng ký 1,7 tỷ USD), Hà Tây (74 dự án với tổng vốn đăng ký 1,5 tỷ USD), Bắc Ninh (106 dự án với tổng vốn đăng ký 0,93 tỷ USD) và Quảng Ninh (94 dự án với tổng vốn đăng ký 0,77 tỷ USD). Vùng trọng điểm phía Nam thu hút 5.293 dự án với tổng vốn đầu tư 44,87 tỷ USD, chiếm 54% tổng vốn đăng ký, trong đó, tp Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước (2.398 dự án với tổng vốn đăng ký 16,5 tỷ USD) chiếm 36,9% tổng vốn đăng ký của Vùng. Tiếp theo thứ tự là Đồng Nai (918 dự án với tổng vốn đăng ký 11,6 tỷ USD) chiếm 25,9% vốn đăng ký của Vùng, Bình Dương (1.570 dự án với tổng vốn đăng ký 8,4 tỷ USD) chiếm 18,8% vốn đăng ký của Vùng; Bà Rịa-Vũng Tàu (159 dự án với tổng vốn đăng ký 6,1 tỷ USD) chiếm 13,6% vốn đăng ký của Vùng; Long An (188 dự án với tổng vốn đăng ký 1,8 tỷ USD) chiếm 4,1% vốn đăng ký của Vùng. Điều này, minh chứng cho việc triển khai thực hiện Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày 28/8/2001 của Chính phủ và Chỉ thị 19/2001/CT-TTg ngày 28/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả ĐTNN thời kỳ 2001-2005 Chính vì vậy, ngoài một số địa phương vốn có ưu thế trong thu hút vốn ĐTNN (Hà Nội, tp Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Hải Phòng, Quảng Ninh) một số địa phương khác (Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Phú Yên, Hà Tây..) do yếu tố tích cực của chính quyền địa phương nên việc thu hút vốn ĐTNN đã chuyển biến mạnh, tác động tới cơ cấu kinh tế trên địa bàn. Năm 2004 công nghiệp có vốn ĐTNN chiếm 86% giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, 81% của tỉnh Vĩnh Phúc, 70% của tỉnh Đồng Nai, 65% của tỉnh Bình Dương, 46% của Thành phố Hải Phòng, 35% của Thành phố Hà Nội và 27% của thành phố Hồ Chí Minh. Đối với Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đang chuyển dần sang trở thành trung tâm dịch vụ cao cấp của cả vùng (bưu chính, viễn thông, tài chính, ngân hàng..) cũng như hướng thu hút vốn ĐTNN vào các ngành công nghệ cao thông qua một số khu công nghệ cao (Quang Trung, Hòa Lạc) Vùng trọng điểm miền Trung thu hút được 491 dự án với tổng vốn đăng ký 8,6 tỷ USD qua 20 năm thực hiện Luật Đầu tư, chiếm 6% tổng vốn đăng ký của cả nước, trong đó: Phú Yên (39 dự án với tổng vốn đăng ký 1,9 tỷ USD) hiện đứng đầu các tỉnh miền Trung với dự án xây dựng nhà máy lọc dầu Vũng Rô có vốn đăng ký 1,7 tỷ USD. Tiếp theo là Đà Nẵng (113 dự án với tổng vốn đăng ký 1,8 tỷ USD), Quảng Nam (15 dự án với tổng vốn đăng ký 1,1 tỷ USD) đã có nhiều tiến bộ trong thu hút vốn ĐTNN, nhất là đầu tư vào xây dựng các khu du lịch, trung tâm nghỉ dưỡng, vui chơi đạt tiêu chuẩn quốc tế, bước đầu đã góp phần giảm tình trạng “cháy” buồng, phòng cho khách du lịch, nhưng nhìn chung vẫn còn dưới mức nhu cầu và tiềm năng của vùng. Tây Nguyên cũng ở trạng thái thu hút vốn ĐTNN còn khiêm tốn như vùng Đông Bắc và Tây Bắc, trong đó, tuy Lâm Đồng (93 dự án với tổng vốn đăng ký 318,4 triệu USD) đứng đầu các tỉnh khu vực Tây Nguyên nhưng chỉ chiếm tỷ trọng 1% về số dự án. Đồng bằng sông Cửu Long thu hút vốn ĐTNN còn thấp so với các vùng khác, chiếm 3,6% về số dự án và 4,4% về vốn đăng ký và 3,2% vốn thực hiện của cả nước. Tuy Nhà nước đã có chính sách ưu đãi đặc biệt cho những vùng có điều kiện địa lý-kinh tế khó khăn nhưng việc thu hút ĐTNN phục vụ phát triển kinh tế tại các địa bàn này còn rất thấp . Bảng xếp hạng vốn đầu tư FDI theo tỉnh thành Tỉnh, thành phố số dự án vốn đăng kí (triệu USD) S T T TP.Hồ Chí Minh 3683 30981.3 1 Bà Rịa - Vũng Tàu 296 25700.2 2 Hà Nội 1803 22306.9 3 Đồng Nai 1121 17838.1 4 Bình Dương 1970 13924.6 5 Ninh Thuận 22 10055.9 6 Hà Tĩnh 19 8068.4 7 Phú Yên 52 8060.8 8 Thanh Hoá 47 7040.3 9 Quảng Nam 75 5190.4 1 0 Quảng Ngãi 28 4827.9 1 1 Hải Phòng 390 4781.9 1 2 Đà Nẵng 200 3431.1 1 3 Long An 321 3001.9 1 4 Kiên Giang 25 2815.5 1 5 Hải Dương 232 2554.7 1 6 Vĩnh Phúc 185 2292.7 1 7 Bắc Ninh 165 2053.5 1 8 Thừa Thiên Huế 68 1989.6 1 9 Quảng Ninh 163 1743.8 2 0 Khánh Hoà 120 1344.9 2 1 Lâm Đồng 142 1341.3 2 2 Bình Thuận 88 914.2 2 3 Tây Ninh 204 913.7 2 4 Hưng Yên 168 892.0 2 5 Cần Thơ 76 816.0 2 6 Hậu Giang 7 632.0 2 7 Ninh Bình 26 577.8 2 8 Phú Thọ 61 392.9 2 9 Nghệ An 32 371.1 3 0 Tiền Giang 29 367.5 3 1 Thái Nguyên 27 347.4 3 2 Lào Cai 55 341.7 3 3 Bắc Giang 72 326.4 3 4 Bình Định 45 316.4 3 5 Bình Phước 70 305.0 3 6 Thái Bình 39 222.8 3 7 Hà Nam 35 217.1 3 8 Lạng Sơn 52 164.9 3 9 Bến Tre 18 149.9 4 0 Nam Định 24 119.9 4 1 Sơn La 10 115.0 4 2 Hoà Bình 31 113.6 4 3 Tuyên Quang 6 95.7 4 4 Trà Vinh 23 95.6 4 5 Vĩnh Long 16 85.9 4 6 Quảng Trị 16 82.5 4 7 Kon Tum 4 82.1 4 8 Bạc Liêu 13 47.8 4 9 Đồng Tháp 20 45.1 5 0 Yên Bái 21 44.8 5 1 Sóc Trăng 7 42.3 5 2 Quảng Bình 8 42.2 5 3 An Giang 14 29.5 5 4 Cao Bằng 14 27.6 5 5 Đắk Lắk 5 26.4 5 6 Hà Giang 10 24.3 5 7 Gia Lai 7 24.0 5 8 Cà Mau 11 21.0 5 9 Bắc Kạn 7 19.4 6 0 Lai Châu 4 16.7 6 1 Đắk Nông 6 16.4 6 2 Điện Biên 1 0.1 6 3 4. Lĩnh vực đầu tư Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng: - Từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Việt Nam đã chú trọng thu hút ĐTNN vào lĩnh vực công nghiệp-xây dựng. Qua mỗi giai đoạn các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư, các sản phẩm cụ thể được xác định tại Danh mục các lĩnh vực khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu tư. Trong những năm 90 thực hiện chủ trương thu hút ĐTNN, Chính phủ ban hành chính sách ưu đãi, khuyến khích các dự án : (i) sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu, (ii) sản xuất hàng xuất khẩu (có tỷ lệ xuất khẩu 50% hoặc 80% trở lên), (iii) sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước và có tỷ lệ nội địa hoá cao. - Sau khi gia nhập và thực hiện cam kết với WTO (năm 2006), Việt Nam đã bãi bỏ các quy định về ưu đãi đối với dự án có tỷ lệ xuất khẩu cao, không yêu cầu bắt buộc thực hiện tỷ lệ nội địa hoá và sử dụng nguyên liệu trong nước. Qua các thời kỳ, định hướng thu hút ĐTNN lĩnh vực công nghiệp- xây dựng tuy có thay đổi về lĩnh vực, sản phẩm cụ thể nhưng cơ bản vẫn theo định hướng khuyến khích sản xuất vật liệu mới, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo, thiết bị cơ khí chính xác, sản xuất sản phẩm và linh kiện điện tử... Đây cũng chính là các dự án có khả năng tạo giá trị gia tăng cao và Việt Nam có lợi thế so sánh khi thu hút ĐTNN. Nhờ vậy, cho đến nay các dự án ĐTNN thuộc các lĩnh vực nêu trên (thăm dò và khai thác dầu khí, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm điện và điện tử, sản xuất sắt thép, sản xuất hàng dệt may...) vẫn giữ vai trò quan trọng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu và tạo nhiều việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho hàng triệu lao động trực tiếp. Cơ cấu đầu tư có chuyển biến tích cực theo hướng gia tăng tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, lọc dầu và công nghệ thông tin (IT) với sự có mặt của các tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng thế giới: Intel, Panasonic, Canon, Robotech.v.v. Hầu hết các dự án ĐTNN này sử dụng thiết bị hiện đại xấp xỉ 100% và tự động hoá đạt 100% cho sản lượng, năng suất, chất lượng cao, do đó có ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu giá trị của toàn ngành. - Tính đến hết năm 2007, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớn nhất với 5.745 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 50 tỷ USD, chiếm 66,8% về số dự án, 61% tổng vốn đăng ký và 68,5% vốn thực hiện. S TT C h u y ê n ngành S ố dự án Vốn đầu t ư (USD) Vốn thực hiện (USD) 1 CN dầu khí 3 8 3,861,511,81 5 5,148,473,303 2 CN nhẹ 2 , 542 13,268,720,9 08 3,639,419,314 3 CN nặng 2 , 404 23,976,819,3 32 7,049,365,865 4 CN thực phẩm 3 10 3,621,835,55 0 2,058,406,260 5 Xây dựng 4 51 5,301,060,92 7 2,146,923,027 Tổng số 5 , 745 50,029,948,5 32 20,042,587,769 ĐTNN trong lĩnh vực dịch vụ: - Nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh dịch vụ phát triển từ khi thi hành Luật Đầu tư nước ngoài (1987). Nhờ vậy, khu vực dịch vụ đã có sự chuyển biến tích cực đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và đời sống nhân dân, góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế. Một số ngành dịch vụ (bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải hàng không, vận tải biển, du lịch, kinh doanh bất động sản) tăng trưởng nhanh, thu hút nhiều lao động và thúc đẩy xuất khẩu. Cùng với việc thực hiện lộ trình cam kết thương mại dịch vụ trong WTO, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh thu hút ĐTNN, phát triển các ngành dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất và xuất khẩu. - Trong khu vực dịch vụ ĐTNN tập trung chủ yếu vào kinh doanh bất động sản, bao gồm: xây dựng căn hộ, văn phòng, phát triển khu đô thị mới, kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp (42% tổng vốn ĐTNN trong khu vực dịch vụ), du lịch-khách sạn (24%), giao thông vận tải-bưu điện (18%) (xem bảng). T T Chuyên ngành Số dự án V ố n đầu tư (triệu USD) Đầu tư đã thực hiện (triệu USD) 1Giao thông vận tải-Bưu điện ( bao gồm cả dịch vụ logicstics) 208 4.287 721 2Du lịch - Khách sạn 223 5.883 2.401 3Xây dựng văn phòng, 153 9.262 1.892 căn hộ để bán và cho thuê 4Phát triển khu đô thị mới 9 3.477 283 5Kinh doanh hạ tầng KCN-KCX 28 1.406 576 6Tài chính – ngân hàng 66 897 714 7Văn hoá - y tế – giáo dục 271 1.248 367 8Dịch vụ khác (giám định, tư vấn, trợ giúp pháp lý, nghiên cứu thị trường...) 954 2.145 445 Tổng cộng 1.912 28.609 7.399 Trong năm 2007 tuy vốn đầu tư đăng ký tiếp tục tập trung vào lĩnh vực công nghiệp (50,6%), nhưng đã có sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư mạnh vào lĩnh vực dịch vụ, chiếm 47,7% tổng vốn đăng ký của cả nước, tăng 16,5% so với năm 2006 (31,19%) với nhiều dự án xây dựng cảng biển, kinh doanh bất động sản, xây dựng khu vui chơi, giải trí.v.v. ĐTNN trong lĩnh vực Nông-Lâm-Ngư : - Dành ưu đãi cho các dự án đầu tư vào lĩnh vực Nông Lâm ngư nghiệp đã được chú trọng ngày từ khi có luật đầu tư nước ngoài 1987. Tuy nhiên đến nay do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân rủi ro đầu tư cao trong lĩnh vực này, nên kết quả thu hút ĐTNN vào lĩnh vực Nông – Lâm ngư chưa được như mong muốn. - Đến hết năm 2007, lĩnh vực Nông- Lâm- Ngư nghiệp có 933 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 4,4 tỷ USD, đã thực hiện khoảng 2,02 tỷ USD; chiếm 10,8% về số dự án ; 5,37% tổng vốn đăng ký và 6,9% vốn thực hiện, (giảm từ 7,4% so với năm 2006). Trong đó, các dự án về chế biến nông sản, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất 53,71% tổng vốn đăng ký của ngành, trong đó, các dự án hoạt động có hiệu quả bao gồm chế biến mía đường, gạo, xay xát bột mì, sắn, rau. Tiếp theo là các dự án trồng rừng và chế biến lâm sản, chiếm 24,67% tổng vốn đăng ký của ngành. Rồi tới lĩnh vực chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc chiếm 12,7%. Cuối cùng là lĩnh vực trồng trọt, chỉ chiếm gần 9% tổng số dự án. Có 130 dự án thuỷ sản với vốn đăng ký là 450 triệu USD, - Cho đến nay, đã có 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào ngành nông-lâm-ngư nghiệp nước ta, trong đó, các nước châu Á ( Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông,..) chiếm 60% tổng vốn đăng ký vào ngành nông nghiệp (riêng Đài Loan là 28%). Các nước thuộc EU đầu tư vào Việt Nam đáng kể nhất gồm có Pháp (8%), quần đảo British Virgin Islands (11%). Một số nước có ngành nông nghiệp phát triển mạnh (Hoa Kỳ, Canada, Australi)a vẫn chưa thực sự đầu tư vào ngành nông nghiệp nước ta. - Các dự án ĐTNN trong ngành nông-lâm-ngư nghiệp tập trung chủ yếu ở phía Nam. Vùng Đông Nam Bộ chiếm 54% tổng vốn đăng ký của ngành, đồng bằng sông Cửu Long 13%, duyên hải Nam Trung Bộ 15%. Miền Bắc và khu vực miền Trung, lượng vốn đầu tư còn rất thấp, ngay như vùng đồng bằng sông Hồng lượng vốn đăng ký cũng chỉ đạt 5% so với tổng vốn đăng ký của cả nước. S T T Nông, lâm nghiệp Số dự án Vốn đăng ký (USD) Vốn thực hiện (USD) 1 Nông-Lâm nghiệp 803 4,014,833,49 9 1,856,710,521 2 Thủy sản 130 450,187,779 169,822,132 Tổng số 933 4,465,021,27 8 2,026,532,653 5. Đối tác đầu tư - Thực hiện phương châm của Đảng và Chính phủ “đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ hợp tác.. Việt Nam muốn làm bạn với các nước trong khu vực và thế giới...” được cụ thể hóa qua hệ thống pháp luật ĐTNN, qua 20 năm đã có 81 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký trên 83 tỷ đô la Mỹ. Trong đó, các nước Châu Á chiếm 69%, trong đó khối ASEAN chiếm 19% tổng vốn đăng ký. Các nước châu Âu chiếm 24%, trong đó EU chiếm 10%. Các nước Châu Mỹ chiếm 5%, riêng Hoa Kỳ chiếm 3,6%. Tuy nhiên, nếu tính cả số vốn đầu tư từ các chi nhánh tại nước thứ 3 của các nhà đầu tư Hoa Kỳ thì vốn đầu tư của Hoa Kỳ tại Việt Nam sẽ đạt con số trên 3 tỷ USD, đứng vị trí thứ 5 trong tổng số 80 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam, ví dụ Tập đoàn Intel không đầu tư thẳng từ Mỹ vào Việt Nam mà thông qua chi nhánh tại Hồng Kông. Hai nước châu Úc (New Zealand và Australia) chỉ chiếm 1% tổng vốn đăng ký (xem biểu 4). - Hiện đã có 15 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vốn đăng ký cam kết trên 1 tỷ USD tại Việt Nam (xem Phụ lục). Đứng đầu là Hàn Quốc vốn đăng ký 13,5 tỷ USD, thứ 2 là Singapore 10,7 tỷ USD, thứ 3 là Đài loan 10,5 tỷ USD (đồng thời cũng đứng thứ 3 trong giải ngân vốn đạt 3,07 tỷ USD), thứ 4 là Nhật Bản 9,03 tỷ USD. Nhưng nếu tính về vốn thực hiện thì Nhật Bản đứng đầu với vốn giải ngân đạt gần 5 tỷ USD, tiếp theo là Singapore đứng thứ 2 đạt 3,8 tỷ USD. Hàn Quốc đứng thứ 4 với vốn giải ngân đạt 2,7 tỷ USD. - Trong nhưng năm đầu 90 thực hiện Luật Đầu tư, chủ yếu là dự án quy mô nhỏ và từ các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc châu Á, như Hồng Kông, Hàn Quốc và Đài Loan. Cho tới hết năm 2007, vốn ĐTNN vào Việt Nam vẫn từ các nước châu Á mặc dù Đảng và Chính phủ đã có Nghị quyết 09 đã đề ra ba định hướng thu hút ĐTNN. - Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ 1988 - 2009 phân theo đối tác đầu tư chủ yếu Số dự án Vốn đăng ký (Triệu đô la Mỹ) (*) Tổng số 12575 194429.5 Trong đó: Hàn Quốc 2560 26880.4 1 Đài Loan 2260 22618.8 2 Ma-lai-xi-a 395 17202.3 3 Nhật Bản 1247 17149.6 4 Xin-ga-po 870 16345.7 5 Hoa Kỳ 589 15403.1 6 Quần đảo Vigin thuộc Anh 495 15261.4 7 Đặc khu hành chính Hồng Công (TQ) 740 8540 8 Quần đảo Cay men 44 6758.4 9 Thái Lan 284 6198.4 10 Ca-na-đa 120 4932 11 Bru-nây 95 4638.3 12 Pháp 347 3895.4 13 Hà Lan 144 3399.7 14 Xa-moa 80 3394.4 15 CHND Trung Hoa 810 2930.3 16 Vương quốc Anh 146 2782.5 17 Liên bang Nga 117 2321.7 18 Síp 6 2211.6 19 Ôx-trây-li-a 276 2070 20 Thụy Sỹ 85 1745.7 21 Lúc-xăm-bua 20 1017.2 22 CHLB Đức 157 904.3 23 Pa-na-ma 13 688.4 24 Tây Ấn thuộc AnhIndies 7 511.5 25 Bơ-mu-đa 9 442.6 26 Phi-li-pin 57 432.7 27 Thụy Điển 26 414.7 28 Ba-ha-ma 6 351.8 29 Đan Mạch 85 336.2 30 In-đô-nê-xi-a 31 327.8 31 I-ta-li-a 50 233.8 32 Ma-ri-ti-us 31 218.3 33 Ấn Độ 44 199.3 34 Quần đảo Cúc 3 141.9 35 Quần đảo Cha-nen 16 117.2 36 Tiểu VQ A-rập Thống nhất 1 112 37 Ba Lan 10 107.6 38 Niu-di-lân 26 93 39 Bỉ 38 87.3 40 Na Uy 25 86.3 41 6. Vốn giải ngân ĐTNN từ 1988 đến 2007: Vốn thực hiện có xu hướng tăng qua các năm nhưng với tốc độ chậm trong khi vốn đăng ký và số lượng dự án cấp mới biến động tăng mạnh. giai đoạn 1991-1995 vốn thực hiện mới đạt 7,1 tỷ USD, chiếm 44% tổng vốn đăng ký thì trong thời kỳ 1996-2000, mặc dù có ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế khu vực, vốn thực hiện đã đạt 13,5 tỷ USD, tăng 89% so với 5 năm trước, chiếm 64,8% tổng vốn đăng ký và tăng 90% so với 5 năm trước. Trong 5 năm 2001-2005 vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD, chiếm 64,8% tổng vốn đăng ký mới, tăng 6% so với 5 năm . Riêng hai năm 2006 và 2007 tổng vốn thực hiện đạt 8,7 tỷ USD tuy chỉ bằng 27% tổng vốn đăng ký mới, nhưng vốn thực hiện năm 2007 tăng 12% so với năm 2006, và sẽ là tiền đề cho việc giải ngân của 2 năm tới 2008 và 2009 tăng cao vì trong các dự án cấp mới trong 2 năm 2006 và 2007 có nhiều dự án quy mô vốn đăng ký lớn. Giai đoạn Số vốn giảingân (tỷ USD) Tỷ lệ so với vốn đăng ký (%) 1991-1995 7,1 44 1996-2000 13,5 64,8 2001-2005 14,3 64,8 2006-2007 8,7 27 2008-2009 10-12 17-20 7.Triển khai hoạt động sản xuất-kinh doanh của dự án ĐTNN : Trong 20 năm qua, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã góp phần đáng kể trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội đất nước bằng việc tạo ra tổng giá trị doanh thu đáng kể, trong đó có giá trị xuất khẩu, cũng như đóng góp tích cực vào ngân sách và tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động. Đồng thời, tiếp tục khẳng định vai trò trong sự nghiệp phát triển kinh tế, đóng góp ngày càng lớn vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước và thực sự trở thành bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế. Từ mức đóng góp trung bình 6,3% của GDP trong giai đoạn 1991-1995, khu vực doanh nghiệp ĐTNN đã tăng lên 10,3% GDP của 5 năm 1996-2000. Trong thời kỳ 2001-2005, tỷ trọng trên đạt trung bình là 14,6%. Riêng năm 2005, khu vực ĐTNN đóng góp khoảng 15,5% GDP, cao hơn mục tiêu đề ra tại Nghị quyết 09 (15%). Trong hai năm 2006 và 2007 khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đóng góp trên 17% GDP. Đóng góp của FDI vào GDP Giai đoạn Đóng góp (%) 1991-1995 6,3 1996-2000 10,3 2001-2005 14,6 2006-2007 17 Nếu trong giai đoạn 1991-1995 tổng giá trị doanh thu mới đạt 4,1 tỷ USD thì trong thời kỳ 1996-2000 tổng giá trị doanh thu đã đạt 27,09 tỷ , tăng gấp 6,5 lần so với 5 năm trước. Trong giai đoạn 2001-2005 tổng giá trị doanh thu đạt 77,4 tỷ tăng gấp 2,8 lần so với 5 năm 1996-2000. Trong hai năm 2006, 2007 tổng giá trị doanh thu đạt 69 tỷ USD, trong đó giá trị xuất khẩu (trừ dầu thô) đạt 28,6 tỷ USD, chiếm 41% tổng doanh thu. Giai đoạn Tổng giá trị doanhthu (tỷ USD) 1991-1995 4,1 1996-2000 27,09 2001-2005 77,4 2006-2007 69 Không kể dầu thô, giá trị xuất khẩu của khu vực có vốn ĐTNN cũng gia tăng nhanh chóng. Cả thời kỳ 1991-1995 tổng giá trị xuất khẩu mới đạt 1,2 tỷ USD, nhưng đã tăng lên 10,5 tỷ USD trong giai đoạn 1996-2000, gấp hơn 8 lần so với 5 năm trước. Trong 5 năm 2001-2005, giá trị trên đạt hơn 34,6 tỷ USD, cao gấp 3 lần so với thời kỳ 5 năm trước, trong đó năm sau tăng hơn năm trước, năm 2002 tăng 25%, năm 2003 tăng 38%, năm 2004 tăng 39%, năm 2005 đạt 11,2 tỷ USD, tăng 26%, đóng góp 35% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước; tính cả dầu thô tỷ lệ này là 56%. Năm 2006-2007, giá trị xuất khẩu của khu vực có vốn ĐTNN đạt đạt 32,3 tỷ USD, chiếm trên 56,9% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước. Tuy những năm đầu thi hành Luật Đầu tư nước ngoài, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước, nhưng cũng đã tích cực đóng góp vào ngân sách nhà nước.Giai đoạn 1991-1995 do chính sách ưu đãi, khuyến khích ĐTNN của Nhà nước ta nên các doanh nghiệp ĐTNN đóng góp ngân sách còn hạn chế 115 triệu USD, nhưng con số này đã tăng hơn 10 lần trong thời kỳ 1996-2000 (đạt 1,49 tỷ USD). Lý do một số doanh nghiệp ĐTNN đã qua thời gian hưởng chính sách ưu đãi thuế của nhà nước. Giai đoạn 2001-2005 khu vực doanh nghiệp ĐTNN đã nộp ngân sách hơn 3,6 tỷ USD, tăng gấp hơn 2 lần 5 năm trước. Năm 2006 con số trên đạt 1,4 tỷ USD, bằng cả 5 năm 1996-2000. Năm 2007, dự kiến thu ngân sách đạt 1,576 tỷ USD, tăng 7% so với năm trước. Giai đoạn Đóng góp (tỷ USD) 1991-1995 0,115 1996-2000 1,49 2001-2005 3,6 2006-2007 3,1 Đồng thời, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cũng tạo việc làm và thu nhập ổn định cho một bộ phận dân cư. 8.Thu hút lao động trong khu vực FDI: - Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cũng tạo việc làm và thu nhập ổn định cho một bộ phận dân cư: - Tính từ 1988 đến cuối 2007 có trên 1,26 triệu lao động trực tiếp, chưa kể số lao động gián tiếp khác làm việc trong khu vực dịch vụ mà theo kết quả điều tra của Ngân hàng Thế giới, cứ 1 lao động trực tiếp sẽ tạo việc làm cho khoảng từ 2-3 lao động gián tiếp khác. - Số lao động làm việc trong các doanh nghiệp ĐTNN cũng tăng lên qua từng giai đoạn, từ 21 vạn người vào cuối năm 1995 đã tăng lên 37,9 vạn người vào cuối năm 2000, tăng 80% so với 5 năm trước. - Đến cuối năm 2005 đã tăng gấp 2,5 lần so với 5 năm trước thể hiện số lượng các doanh nghiệp đi vào triển khai dự án tăng lên. Trong 2 năm 2006 và 2007 do lượng dự án vào nhiều và triển khai nhanh nên số lượng lao động trong khu vực ĐTNN tính đến cuối 2 năm này đã tăng 9,9% và 12% so với cuối năm 2005. Bảng số liệu một số chỉ tiêu đóng góp của FDI 9. Rút giấy phép đầu tư, giải thể trước thời hạn - Tính đến hết năm 2007, đã có 38 dự án ĐTNN kết thúc đúng thời hạn với tổng vốn đăng ký 658 triệu USD. - Các dự án kết thúc đúng thời hạn chủ yếu là các dự án đầu tư trong những lĩnh vực đặc thù như trục vớt tàu đắm, thăm dò và khai thác dầu, khí, nuôi trồng thuỷ sản... - Đồng thời, đã có 1.359 dự án ĐTNN bị giải thể trước thời hạn với số vốn đăng ký giải thể khoảng 15,5 tỷ USD, trong đó, vốn giải thể chủ yếu tập trung trong lĩnh vực dịch vụ chiếm 50%, lĩnh vực công nghiệp- xây dựng chiếm 42,3%. Điều này cho thấy các doanh nghiệp thuộc dịch vụ không vượt qua được khó khăn, trở ngại trong hoạt động. - Trong các dự án ĐTNN bị giải thể, số dự án hoạt động theo hình thức liên doanh chiếm đa số (56% về số dự án và 67,2% về tổng vốn đăng ký), tiếp theo là hình thức Hợp doanh (10,2% về số dự án và 15,5% về tổng vốn đăng ký). Hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm13,1% về số dự án và 15,5% về tổng vốn đăng ký IV. Thu hút vốn FDI NHỮNG GIẢI PHÁP CỤ THỂ NHẰM THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM TỚI 1. Duy trì sự ổn định chính trị-xã hội. Ổn định chính trị-xã hội là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư vì rủi ro chính trị là rất lớn. Chúng ta phải duy trì sự ổn định chính trị, ngăn ngừa và loại bỏ các nguy cơ gây mất ổn định chính trị-xã hội. Tạo ra tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài khi xem xét đầu tư vào Việt Nam. 2.Cải thiện môi trường pháp lý về đầu tư: Môi trường đầu tư của nước ngoài là tổng hoà các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội có liên quan, tác động đến hoạt động đầu tư và đảm bảo khả năng sinh lợi của vốn đầu tư nước ngoài. Chúng ta đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư nước ngoài từ đó đưa ra những phương pháp hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm bảo đảm khả năng sinh lợi của các nhà đầu tư cũng như lợi ích của toàn bộ nền kinh tế : 2.1. Cho phép thành lập liên doanh hoạt động trong nhiều lĩnh vực thay vì chỉ hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định Thứ nhất: bó buộc các chủ đầu tư phải thành lập một thực thể pháp luật đối với mọi dự án, và như vậy xin phép đầu tư và chi phí thành lập sẽ buộc phải tăng lên rất nhiều. Thứ hai: Nó làm chậm trễ các dự án đầu tư dẫn đến làm mất cơ hội và làm nản lòng các nhà đầu tư. Thứ ba: Nó không cho phép củng cố các kết quả đã đạt được ở các dự án khác nhau cùng thực thể tức là không cho phép đa dạng hoá kinh doanh và tận dụng lợi thế của nó. 2.2.Mở rộng thêm điều kiện chuyển nhượng vốn cho các bên. Thiếu tự do trong việc chuyển nhượng vốn góp trong các nhà đầu tư và kìm hãm đầu tư. Việc cần phải cho phép trước của cơ quan cấp giấy phép đầu tư để bán toàn bộ hay một phần vốn góp của minh để hạn chế khả năng vay và như vậy cũng chính là tăng đầu tư. 2.3.Đơn giản hoá thủ tục cấp giấy phép đầu tư : Nâng cao tính chất đồng bộ và pháp lý của các văn bản hướng dẫn đầu tư, tránh chồng chéo. Cần phải có sự phối hợp đồng bộ giứa các cơ quan liên quan trong việc thẩm định dự án khả thi . Các cơ quan thẩm định không nên can thiệp quá sâu vào các chỉ tiêu cụ thể mà chủ đầu tư phải tự tính toán. 2.4. Vấn đề chuyển đổi và cân đối ngoại tệ: Theo quy định hiện hành, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài chỉ có thể đổi VND ra ngoại tệ khi được phép chuyển đổi ngoại tệ. Không phải bất kỳ trường hợp nào NHNN cũng cho phép chuyển đổi ngoại tệ. Tình trạng này đã gây ra khó khăn vì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần phải có khả năng đảm bảo việc cung ứng cho xí nghiệp từ nước ngoài và chuyển lợi nhuận về nước ngoài cho nhà đầu tư nước ngoài . Nhà nước cần đảm bảo cân đối ngoại tệ cho các dự án đầu tư quan trọng có lợi ích kinh tế xã hội cao, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các dự án đó đi vào hoạt động và phát huy tác dụng. 2.5. Vấn đề tổ chức và nguyên tắc hoạt động trong doanh nghiệp liên doanh: Quy định về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý: Hội đồng quản trị, ban giám đốc, kế toán trưởng... Còn tồn tại một số bất cập, điều này làm cho các nhà đầu tư rất lo ngại vì nó ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty dẫn đến mâu thuẫn trong nội bộ công ty. Trong gần 300 dự án bị rút giấy phép thì một tỷ lệ không nhỏ là do mâu thuẫn nội bộ hội đồng quản trị mà không giải quyết được. Vì vậy cần phải khẩn trương nghiên cứu cơ chế này theo hướng vừa đảm bảo quá trình sản xuất, kinh doanh của công ty. 2.6.Vấn đề tài khoản của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nhà nước cần cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được mở tài khoản tại nhiều ngân hàng ở Việt nam để buộc các ngân hàng phải thực sự điều chỉnh theo quy luật cạnh tranh, tránh tình trạng độc quyền, cửa quyền của ngân hàng gây phiền hà cho người đầu tư và không phù hợp với điều kiện của nền kinh tế thị trường. 3.Cụ thể hoá chiến lược và kế hoạch thu hút FDI. Chiến lược thu hút FDI là một bộ phận tổng thể nền kinh tế nói chung và chiến lược kinh tế đối ngoại nói riêng. Do đó chiến lược thu hút FDI phải được thể hiện với những nội dung chủ yếu sau: Xây dựng và ban hành quy hoạch đầu tư dài hạn ở Việt nam để tránh đầu tư giàn trải và kém hiệu quả, tạo điều kiện cải thiện cơ sở hạ tầng Công bố rộng rãi, rõ ràng, cụ thể các danh mục, nghành và lĩnh vực khuyến khích đầu tư, mức độ khuyến khích và những ưu đãi của nó. Những nghành và lĩnh vực không cho phép đầu tư nước ngoài. 4.Thực hiện đồng bộ chính sách khuyến khích đầu tư. Khả năng sinh lợi và hiệu quả kinh tế xã hội của FDI là chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài của nhà nước và đặc biệt là chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài tích cực chuyển vốn vào Việt nam. Hoàn thiện các chính sách khuyến khích đầu tư thông qua biện pháp thuế: +Thứ nhất, thuế ảnh hưởng đến quyết định đầu tư. Khi một nhà đầu tư dự định đầu tư vào một dự án nào đó, họ sẽ quan tâm đến trước tiên là lợi nhuận. Thuế sẽ tác động đến lợi nhuận và do đó có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư +Thứ hai: Thuế ảnh hưởng tới môi trường đầu tư. Thuế là một trong những yếu tố quan trọng tạo ra môi trường đầu tư và điều này được thể hiện: Là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, thuế có ảnh hưởng quyết định đến việc chi tiêu ngân sách +Thứ ba: Thuế là biện pháp quan trọng trong chính sách ưu đaĩ đầu tư, hướng đầu tư vào các dự án thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế–xã hội của đất nước Việc cải tiến hệ thống thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng : Đơn giản hoá, dễ tính, đảm bảo lợi ích quốc gia, có tác dụng khuyến khích đầu tư và phù hợp với thông lệ quốc tế. 5.Vấn đề quan hệ giữa FDI với các nguồn vốn khác. Các nguồn vốn này phải có một mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau và theo một tỷ lệ hợp lý tối ưu. Theo các nhà kinh tế, tỷ lệ giữa vốn trong nước và nước ngoài thích hợp ở Việt nam hiện nay phải là 2:1. Biện pháp tích cực nhằm bảo đảm tỷ lệ hợp lý giữa các nguồn vốn cho phát triển kinh tế ở Việt nam hiện nay là: -Đa dạng hoá, đa phương hoá các phương thức thu hút vốn nước ngoài Hoạt động thị trường vốn phải sôi động và theo quy luật của cơ chế thị trường. 6. Xây dựng và lựa chọn đối tác đầu tư Đây là một vấn đề hết sức cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt. Với chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa +Một là: Lựa chọn đối tác đầu tư nước ngoài cần phải hướng trọng tâm lâu dài vào các công ty xuyên quốc gia thực thụ, bởi vì đó là nguồn vốn, nguồn kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, đồng thời ở mức độ đúng đắn, mức độ tin cậy. Đây là vấn đề lớn nhưng không thể chậm trễ và càng không thể bỏ qua vì không có tập đoàn mạnh thì sẽ không có đối tác có tiềm lực để quan hệ và rơi vào thế bất lợi trong đàm phán, hợp tác, và sau nữa là các tập đoàn mạnh không chỉ hoạt động ở trong nước. Hai là: Lựa chọn đối tác cho từng ngành, từng lĩnh vực Phương án tốt nhất là kêu gọi được những nhà đầu tư đầu đàn trong mỗi lĩnh vực. Song trước mắt nếu không đạt được yêu cầu đó, vẫn cần tranh thủ cả những công ty nhỏ môi giới, rồi từng bước hướng tới mục tiêu trên. Thông qua thông tin nhiều chiều cần nắm chắc các đối tác và kịp thời sàng lọc cũng như có biện pháp đối phó với những nhà đầu tư có ý đồ xấu muốn phá hoại ngầm hoặc không có khả năng thực thi các dự án. 7. Tăng cường kết cấu hạ tầng, đảm bảo điều kiện thuận lợi để thu hút, hấp thu tốt FDI. Kết cấu hạ tầng là điều kiện tiên quyết đối với thu hút FDI. Sự yếu kém về kết cấu hạ tầng đã hạn chế nhiều việc thu hút đầu tư vào Việt nam . Vì vậy, trong thời gian trước mắt phải tập trung thích đáng cho hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc, cấp thoát nước đô thị, hệ thống công nghệ phụ trợ và các trung tâm công nghệ phụ trợ. Cần điều chỉnh chính sách để tạo hấp dẫn cao đối với các nhà đầu tư thực hiện đầu tư vào kết cấu hạ tầng, nông lâm nghiệp, trung du, miền núi. Chấn chỉnh lại các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao đã có, xây dựng các vùng kinh tế trọng điểm. Do điều kiện vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng còn ít, để tránh đầu tư dàn trải cần tập trung vào việc đầu tư cho những khu vực trọng điểm, vùng trọng điểm, để nhanh chóng có cơ sở hạ tầng tốt phục vụ thu hút và hấp thu FDI. 8. Vấn đề nguồn nhân lực: 8.1. Về nguồn lao động Hiện nay lao động rẻ không còn là lợi thế so sánh tạo nên sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nữa. Một đội ngũ lao động có tay nghề cao, cần cù, chịu khó, có ý thức tổ chức kỉ luật, có tác phong công nghiệp và do đó năng suất lao động cao mới là những yếu tố hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Vì vậy vấn đề đào tạo cần được chú trọng thích đáng. Trước tiên phải đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề, có vốn ngoại ngữ( đặc biệt là tiếng Anh) đủ để có thể tiếp thu nhanh các kĩ thuật và công nghệ cao. ở nước ta hiện nay, cơ cấu giữa kĩ sư và công nhân lành nghề là chưa hợp lý. Vì thế vấn đề đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề là cần thiết. Tiếp đến phải đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý có đầy đủ kiến thức khoa học của các hoạt động quản trị kinh doanh.. . Tránh tình trạng “ thừa thầy, thiếu thợ”. Thực hiện tự do hoá tuyển dụng trên cơ sở pháp luật. 8.2.Về đội ngũ cán bộ: Cần phải bố trí cán bộ có năng lực, phẩm chất vào các vị trí chủ chốt trong các doanh nghiệp liên doanh, Bồi dưỡng đào tạo lại cán bộ đang làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Gấp rút nâng cao năng lực điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước đặc biệt là các cơ quan có liên quan đến lĩnh vực đầu tư nước ngoài. 9. Tiếp tục hoàn thiện các chính sách kinh tế vĩ mô: Chính sách kinh tế cần phải được hoàn thiện theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu, tăng cường hội nhập để thu hút các nhà đầu tư vào các vùng trọng điểm, các khu công nghiệp. Chấm dứt tình trạng độc quyền để tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế ( tất nhiên kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo). Ngoài ra cần lưu ý, giữa đầu tư và thương mại có quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Vì vậy, để FDI tăng mạnh thì xuất khẩu phải tăng. Do đó Việt nam cần mau chóng gia nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO), tiếp cận các thị trường lớn như Mỹ, Tây âu và Nhật bản. Khi quan hệ thương mại hai chiều giữa Việt nam và các quốc gia này tăng lên thì FDI của các nước đó vào Việt nam sẽ tăng hơn nhiều lần. 10. Đẩy mạnh hoạt động của thị trường và có chính sách tỉ giá thích hợp. Thị trường là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư. Việt Nam là một thị trường mới nhiều tiềm năng của các nhà đầu tư nước ngoài. Trong thời gian tới chúng ta phải đẩy mạnh các biện pháp kích cầu mà chính phủ đã đề ra, để tạo nên diện mạo mới cho thị trường, khích thích sản xuất phát triển và từ đó sẽ hấp dẫn FDI. Cần phải hoàn thiện các thị trường theo yêu cầu của cơ chế thị trường như: Thị trường bất động sản, thị trường lao động và quan trọng là thị trường vốn Việt nam đã có thị trường chứng khoán song cần phải đẩy mạnh hoạt động của thị trường này, tạo điều kiện để các nhà đầu tư và kinh doanh chuyển vốn từ nơi kinh doanh kém hiệu quả sang nơi kinh doanh có hiệu quả hơn. Cùng với thị trường chứng khoán, cần phải thành lập thị trường vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, từng bước gia nhập vào thị trường vốn quốc tế. Về chính sách tỉ giá cũng phải được đổi mới theo hướng linh hoạt để vừa khuyến khích xuất khẩu nhưng cũng không làm hại đến các nhà đầu tư tại Việt nam . 11. Tăng cường hoạt động xúc tiến vận động đầu tư nước ngoài. Khi hoạt động đầu tư nước ngoài ở Việt nam ở giai đoạn đầu, các chủ đầu tư nước ngoài còn đang tiếp cận, thăm dò và lựa chọn thì hoạt động xúc tiến đầu tư như chiếc cầu nối lôi cuốn các công ty nước ngoài đến Việt nam, tạo điều kiện để các chủ đầu tư trong nước và nước ngoài nhanh chóng đi đến làm ăn với nhau. Có thể nói những yếu tố thuận lợi của môi trường đầu tư thông qua các cơ chế hữu hiệu của hệ thống các khuyến khích tác động đến nhà đầu tư tiềm tàng ở nước ngoài. Đồng thời cần phải xúc tiến đầu tư vì có quá nhiều cơ hội đầu tư trên thế giới, sự lựa chọn của các nhà đầu tư là phải trên lượng thông tin kịp thời và chính xác trên cơ sở so sánh mức độ sinh lợi và rui ro. Cạnh tranh thu hút FDI cũng là cạnh tranh trong lĩnh vực xúc tiến, vận động đầu tư. Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế , từ nay đến những năm đầu của thế kỷ XXI vai trò của hoạt động xúc tiến đầu tư sẽ rất quan trọng. Hiện nay, hệ thống xúc tiến đầu tư còn manh mún, thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất. Đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư thiếu về thiết vị, yếu kém về trình độ, năng lực. Phần lớn họ mới chỉ đảm bảo được chức năng tư vấn môi giới còn tư vấn tác nghiệp rất ít và yếu. Đẫ đến lúc phải tổ chức lại hệ thống này theo hướng: Hoạch định một chiến lược xúc tiến đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu của mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế – xã hội. Củng cố bộ phận xúc tiến đầu tư đủ mạnh về đội ngũ, mạnh về trình độ, năng lực theo hướng tập trung hoá, chuyên môn hoá, tránh tình trạng manh mún, phân tán như hiện nay. Tăng cường và có kế hoạch đưa các bộ, viện, trường và các cơ quan làm công tác đối ngoại tham gia vào hoạt động xúc tiến đầu tư, phối hợp các chương trình nghiên cứu, nhằm tạo thế chủ động trong giao tiếp và sử lý các quan hệ với bên ngoài. -Thiết lập quan hệ với các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư của một số nước để trao đổi thông tin, kinh nghiệm. Đẩy mạnh quan hệ với các công ty tư vấn pháp luật, dịch vụ đầu tư quốc tế để có nguồn thông tin và có sự trợ giúp trong công tác xây dựng luật, vận động đầu tư. Tổ chức mạng lưới xúc tiến đầu tư ở một số nước, khu vực trọng yếu. Tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế như: UNDP, UNIDO, WB... và việt kiều ở nước ngoài để giới thiệu môi trường đầu tư ở Việt nam. Sắp xếp lại các công ty, các trung tâm dịch vụ tư vấn đầu tư. Kiên quyết bãi bỏ và xử lý nghiêm với các tổ chức yếu kém đáng làm xấu môi trường đầu tư ở Việt nam. Nâng cao năng lực tư vấn( cả về môi giới và tác nghiệp cho các công ty, trung tâm xúc tiến đầu tư chủ chốt). 12.Tạo lập và duy trì triển vọng tăng trưởng nhanh, lâu bền. Trên quan điểm dài hạn thì sự ổn định kinh tế thực sự vững chắc chỉ có thể duy trì được trong khuôn khổ bảo đảm một tốc độ tăng trưởng đáng kể cho nó. Đó cũng là một bài học quý báu trong việc sử lý tương quan biện chứng giữa ổn định và tăng trưởng trong những năm qua ở nước ta. Vẫn đề tăng trưởng ở đây liên quan đến một nguyên tắc sâu xa và mang tính chủ đạo trong việc thu hút FDI: Vốn được sử dụng càng có hiệu quả thì khả năng thu hút nó càng lơn. Thực chất của nguyên tắc này chính là mối quan hệ nhân quả của các sự vật hiện tượng. Ngoài ra cần phải xem xét và sử lý linh hoạt các yêu cầu chính đáng của nhà đầu tư nước ngoài như: Vấn đề bản quyền, cho phép thành lập các công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, được áp dụng chế độ kế toán thông dụng quốc tế; Hình thức đầu tư và chuyển đổi giữa các hình thức đầu tư.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfThực trạng huy động và sử dụng vốn FDI ở Việt Nam.pdf
Luận văn liên quan