Thực trạng kiểm toán tscđ trong kiểm toán báo cáo tài chính do Aasc thực hiện

MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU TÓM TẮT KHOÁ LUẬN LỜI MỞ ĐẦU 1 PHẦN 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TSCĐ TRONG KIỂM TOÁN BCTC. 3 1.1.TSCĐ VỚI HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH .3 1.1.1. Khái niệm TSCĐ 3 1.1.2. Đặc điểm TSCĐ 6 1.1.3. Phân loại TSCĐ 7 1.2.CÔNG TÁC KẾ TOÁN TSCĐ 8 1.2.1. Chứng từ kế toán TSCĐ 8 1.2.2. Hệ thống tài khoản và sổ sách kế toán 8 1.2.3. Phương pháp và nội dung hạch toán TSCĐ 10 1.3. KIỂM TOÁN TSCĐ TRONG KIỂM TOÁN BCTC .13 1.3.1. Vai trò kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán báo cáo tài chính 13 1.3.2. Mục tiêu kiểm toán TSCĐ 14 1.3.3. Nội dung và trình tự kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán báo cáo tài chính 15 1.3.3.1. Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán 16 1.3.3.2. Giai đoạn thực hiện kiểm toán 18 1.3.3.3. Giai đoạn kết thúc kiểm toán 26 PHẦN 2: THỰC TRẠNG KIỂM TOÁN TSCĐ TRONG KIỂM TOÁN BCTC DO AASC THỰC HIỆN 28 2.1. GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN (AASC) .28 2.1.1. Quá trình hình thành và lĩnh vực hoạt động 28 2.1.2. Cơ cấu tổ chức và bộ máy kế toán 29 2.1.2.1. Đặc điểm tổ chức bộ máy của Công ty 29 2.1.2.2. Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty 30 2.1.2.3. Đội ngũ nhân viên. 31 2.1.3. Đặc điểm hoạt động kinh doanh tại Công ty 31 2.1.3.1. Các loại hình dịch vụ Công ty cung cấp 31 2.1.4. Kết quả hoạt động của Công ty 33 2.2. KIỂM TOÁN TSCĐ TRONG KIỂM TOÁN BCTC DO AASC THỰC HIỆN TẠI MỘT SỐ ĐƠN VỊ KHÁCH HÀNG 34 2.2.1. Tiếp cận khách hàng 35 2.2.2. Lập kế hoạch chiến lược 35 2.2.3. Thiết kế chương trình kiểm toán TSCĐ 40 2.2.3.1. Đánh giá rủi ro kiểm toán trên toàn bộ báo cáo tài chính 40 2.2.3.2. Đánh giá rủi ro cho khoản mục TSCĐ tại hai khách hàng 43 2.2.3.3. Đánh giá về mức trọng yếu và phân bổ ước lượng về tính trọng yếu 45 2.2.4. Thực hiện kế hoạch kiểm toán 53 2.2.4.1. Thực hiện thủ tục phân tích 53 2.2.4.2. Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết 54 2.2.5. Kết thúc cuộc kiểm toán 74 2.2.5.1. Soát xét giấy tờ làm việc của kiểm toán viên 74 2.2.5.2. Xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày lập báo cáo tài chính 74 2.2.5.3. Phát hành báo cáo kiểm toán và thư quản lý 75 PHẦN 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM TOÁN TSCĐ TRONG KIỂM TOÁN BCTC TẠI AASC 76 3.1. NHẬN XÉT VỀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN TẠI CÔNG TY 76 3.1.1. Nhận xét chung về Công ty 76 3.1.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn hoạt động kiểm toán tại AASC 78 3.2. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM TOÁN TSCĐ TRONG KIỂM TOÁN BCTC TẠI AASC .82 3.2.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện quy trình kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán BCTC tại AASC 82 3.2.2. Một số đề xuất nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán BCTC tại AASC 84 3.2.2.1. Sử dụng ý kiến của chuyên gia 84 3.2.2.2. Áp dụng các thủ tục phân tích 86 3.2.2.3. Hoàn thiện công tác tìm hiểu và đánh giá hệ thống KSNB 88 3.2.2.4. Việc áp dụng chương trình kiểm toán trong môi trường tin học 90 KẾT LUẬN 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BCTC Báo cáo tài chính KSNB Kiểm soát nội bộ KTV KTV SXVC Sản xuất vật chất TM,DV Thương mại, dịch vụ TNHH Trách nhiệm hữu hạn TK Tài khoản TSCĐ Tài sản cố định XDCB Xây dựng cơ bản XDCB Xây dựng cơ bản VNĐ Việt Nam đồng Phần 1: Lý luận chung về kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán báo cáo tài chính. 1.1. TSCĐ với hoạt động sản xuất kinh doanh 1.1.1. Khái niệm TSCĐ TSCĐ hữu hình: Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 03: TSCĐ hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình. Một tài sản được ghi nhận là TSCĐ hữu hình phải thoả mãn đồng thời 4 tiêu chuẩn ghi nhận sau: ã Chắc chắn thu được lợi ích trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; ã Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy; ã Thời gian sử dụng ước tính trên một năm; ã Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành; TSCĐ vô hình: Theo QĐ 206/2003/QĐ-BTC:: TSCĐ vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của TSCĐ vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng; chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04: TSCĐ vô hình là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh cung cấp dịch vụ hoặc cho đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình. Tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình cũng tương tự như tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 03. TSCĐ thuê tài chính: Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 06: Thuê tài chính là thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê. Quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê. TSCĐ thuê tài chính là những tài sản chưa thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp đi thuê. Nhưng bên thuê phải có nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý về quản lý, bảo dưỡng, giữ gìn, sử dụng và trích khấu hao cho TSCĐ thuê tài chính như một TSCĐ của doanh nghiệp. Khấu hao TSCĐ: Theo QĐ 206: Khấu hao TSCĐ là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của TSCĐ vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong thời gian sử dụng của TSCĐ. Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 03: Khấu hao TSCĐ là sự phân bổ có hệ thống giá trị phải khấu hao của TSCĐ trong suốt thời gian sử dụng hữu ích TSCĐ . Theo Chuẩn mực kế toán Việt nam số 03: có ba phương pháp khấu hao TSCĐ hữu hình, gồm: ã Phương pháp khấu hao đường thẳng ã Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần; và ã Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm. Nguyên giá của TSCĐ: Theo QĐ 206: Nguyên giá TSCĐ hữu hình là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có TSCĐ tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. Nguyên giá TSCĐ vô hình là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có TSCĐ vô hình tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào sử dụng theo dự tính. Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 03: Nguyên giá TSCĐ là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được TSCĐ tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. 1.1.2. Đặc điểm TSCĐ TSCĐ là những tư liệu lao động chủ yếu, có giá trị lớn và có thời gian sử dụng lâu dài. TSCĐ là cơ sỏ vật chất chủ yếu, giúp cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu về hoạt động về tài chính trong quá trình sản xuất kinh doanh Đặc điểm cơ bản nhất của TSCĐ là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. Khi tham gia vào quá trình sản xuất – kinh doanh, TSCĐ bị hao mòn dần và giá trị của nó được chuyển dịch từng phần vào chi phí kinh doanh 1.1.3. Phân loẠi TSCĐ Theo công dụng kinh tế: TSCĐ gồm 4 loại:  TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh  TSCĐ hành chính sự nghiệp  TSCĐ phúc lợi  TSCĐ chờ xử lý Theo nguồn hình thành: TSCĐ gồm có 4 loai:  TSCĐ được hình thành từ nguồn vốn do Ngân sách Nhà nước hoặc cấp trên cấp;  TSCĐ được hình thành từ nguồn vốn tự bổ sung (từ các quỹ xí nghiệp )  TSCĐ được hình thành từ nguồn vốn vay;  TSCĐ được hình thành từ nguồn vốn liên doanh hoặc vốn cổ phần (góp vốn bằng hiện vật là TSCĐ) Theo hình thái biểu hiện kết hợp với tính chất đầu tư, TSCĐ gồm 3 loại: ã TSCĐ hữu hình ã TSCĐ vô hình ã TSCĐ thuê tài chính Theo tính chất sở hữu: TSCĐ gồm có 2 loại:  TSCĐ tự có ã TSCĐ thuê ngoài 1.2. Công tác kế toán TSCĐ 1.2.1. Chứng từ kế toán TSCĐ Kế toán TSCĐ sử dụng các chứng từ chủ yếu sau: Biên bản giao nhận TSCĐ (mẫu 01 – TSCĐ) Biên bản thanh lý TSCĐ (mẫu 02 – TSCĐ) 1.2.2. Hệ thống tài khoản và sổ sách kế toán  Hệ thống tài khoản TSCĐ hữu hình: TK 211, bao gồm những tiểu khoản sau: TK 2111 “Nhà cửa, vật kiến trúc” TK 2112 “Máy móc, thiết bị” TK 2113 “Phương tiện, thiết bị vận tải, truyền dẫn” TK 2114 “Thiết bị, dụng cụ quản lý” TK 2115 “Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm” TK 2118 “TSCĐ khác” TSCĐ vô hình: TK 213, bao gồm những tiểu khoản sau: TK 2131 “Quyền sử dụng đất” TK 2132 “Quyền phát hành” TK 2133 “Bản quyền, bằng sáng ahế” TK 2134 “Nhãn hiệu hàng hoá” TK 2135 “Phần mềm máy vi tính” TK 2136 “Giấy phép và giấy phép nhượng quyền” TK 2138 “TSCĐ vô hình khác” TSCĐ thuê tài chính : TK 212 Để theo dõi hao mòn TSCĐ, kế toán sử dụng TK 214 và theo dõi ngoài bảng nguồn vốn khấu hao cơ bản của doanh nghiệp trên TK 009. TK 214 có 4 tiểu khoản sau: TK 2141 “Hao mòn TSCĐ hữu hình” TK 2142 “Hao mòn TSCĐ đi thuê tài chính” TK 2143 “Hao mòn TSCĐ vô hình” TK 2147 “Hao mòn bất động sản đầu tư”  Sổ sách kế toán TSCĐ: Các doanh nghiệp sử dụng sổ (thẻ) TSCĐ để hạch toán chi tiết TSCĐ theo bộ phận sử dụng hoặc theo loại TSCĐ. Để hạch toán tổng hợp tăng, giảm TSCĐ, tương ứng với 4 hình thức sổ kế toán chủ yếu sẽ có các loại sổ kế toán tổng hợp phù hợp. 1.2.3. Phương pháp và nội dung hạch toán TSCĐ Trình từ kế toán tăng, giảm TSCĐ hữu hình Trình tự kế toán tăng, giảm TSCĐ vô hình Trình tự kế toán tăng giảm TSCĐ thuê tài chính 1.3. Kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán báo cáo tài chính 1.3.1. Vai trò kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán báo cáo tài chính 1.3.2. Mục tiêu kiểm toán TSCĐ Mục tiêu của kiểm toán BCTC là giúp KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mục và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận, có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính trên các khía cạnh trọng yếu hay không Mục tiêu kiểm toán tài chính gồm có 6 mục tiêu chung. Đối với khoản mục TSCĐ trên BCTC, 6 mục tiêu chung này đựơc cụ thể hoá thành các mục tiêu đặc thù 1.3.3. Nội dung và trình tự kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán báo cáo tài chính 1.3.3.1. Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 “Lập kế hoạch kiểm toán”: Kế hoạch kiểm toán gồm ba bộ phận: kế hoạch chiến lược, kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toán. Ba bộ phận của kế hoạch kiểm toán được cụ thể hoá thành bước công việc sau:  Thu thập thông tin cơ sở: Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 “Lập kế hoạch kiểm toán” và số 310 “Hiểu biết về tình hình kinh doanh”, KTV phải thu thập những hiểu biết về ngành nghề, công việc kinh doanh của khách hàng. Đối với khoản mục TSCĐ, qua quá trình thu thập thông tin cơ sở, KTV xác định được đơn vị kiểm toán thuộc loại hình doanh nghiệp nào và xác định được tỷ trọng TSCĐ trên tổng tài sản đối với loại hình doanh nghiệp cụ thể đó, liệu khoản mục TSCĐ có ảnh hưởng trọng yếu trên BCTC của doanh nghiệp hay không  Thực hiện các thủ tục phân tích: Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520 “quy trình phân tích”: KTV phải thực hiện quy trình phân tích khi lập kế hoạch kiểm toán và giai đoạn soát xét tổng thể cuộc kiểm toán. KTV phải áp dụng quy trình phân tích trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán để tìm hiểu tình hình kinh doanh của đơn vị và xác định những vùng có thể rủi ro. Thủ tục phân tích thực hiện đối với TSCĐ gồm hai loại cơ bản: Phân tích ngang (phân tích xu hướng) Phân tích dọc (phân tích tỷ suất)  Đánh giá trọng yếu và rủi ro: Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 320 “Tính trọng yếu trong kiểm toán”: khi tiến hành một cuộc kiểm toán, KTV phải quan tâm đến dính trọng yếu của thông tin và mối quan hệ của nó với rủi ro kiểm toán. Đánh giá rủi ro: Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ”: KTV phải sử dụng khả năng xét đoán chuyên môn của mình để đánh giá rủi ro kiểm toán và xác định các thủ tục kiểm toán nhằm giảm các rủi ro kiểm toán xuống thấp tới mức có thể chấp nhận được.  Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát: Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ”: KTV phải có đủ hiểu biết về hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toán thích hợp, có hiệu quả. Sau khi thực hiện xo¬ng năm bước công việc của giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán tổng quát, KTV tiến hành bước công việc thứ sáu – đó là lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo chương trình kiểm toán. 1.3.3.2. Giai đoạn thực hiện kiểm toán  Thực hiện thử nghiệm kiểm soát Các thử nghiệm kiếm soát chỉ áp dụng trong giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán khi trong giai đoạn lập kế hoạch, KTV cho rằng có thể dựa vào hệ thống KSNB để giảm bớt qui mô và phạm vi các thử nghiệm cơ bản. KTV sử dụng các phương thức chủ yếu là quan sát việc quản lý và sử dụng TSCĐ ở đơn vị, phỏng vấn những người có liên quan về các thủ tục và quy định của đơn vị đối với TSCĐ, kiểm tra các chứng từ sổ sách, làm lại thủ tục kiểm soát TSCĐ của đơn vị.  Thủ tục phân tích đối với TSCĐ Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520 “Quy trình phân tích”: Quy trình phân tích là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng, biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị dự kiến.  Thử nghiệm cơ bản (thủ tục kiểm tra chi tiết) đối với khoản mục TSCĐ: Kỉêm tra nghiệp vụ tăng TSCĐ Thử nghiệm cơ bản thường được sử dụng để kiểm tra việc mua sắm TSCĐ là xem xét các chứng từ phê duyệt mua, hợp đồng mua bán TSCĐ. KTV so sánh số tiền ghi trên hoá đơn của người bán, người vận chuyển lắp đặt, các khoản thuế phải nộp với số liệu phản ánh nguyên giá TSCĐ ghi trên sổ kế toán, kiểm tra quá trình ghi sổ TSCĐ Kiểm tra các nghiệp vụ giảm TSCĐ: Trước hết, KTV lập hoặc sử dụng bảng kê các nghiệp vụ giảm TSCĐ có sẵn của doanh nghiệp. KTV tiến hành cộng các chỉ tiêu giá trị của bảng và đối chiếu số liệu có đựơc với sổ hạch toán chi tiết từng trường hợp ghi giảm TSCĐ. Đồng thời xem xét mức trích khấu hao từng TSCĐ và mức khấu hao luỹ kế, trên cơ sở đó tính toán giá trị còn lại của TSCĐ. Kiểm tra chi tiết số dư các tài khoản TSCĐ KTV quan tâm tới số dư đầu kỳ và số dư cuối kỳ của khoản mục TSCĐ trên BCTC Kiểm tra chi phí khấu hao TSCĐ: Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 03 “TSCĐ hữu hình” và số 04 “TSCĐ vô hình”, phương pháp khấu hao TSCĐ phải được xem xét lại theo định kỳ, ít nhất 1 năm 1 lần, và thường là cuối năm¬ Nếu có sự thay đổi đáng kể trong cách thức sử dụng tài sản để đem lại lợi ích cho doanh nghiệp thì được phép thay đổi khấu hao và mức khấu hao tính cho năm hiện hành và các năm tiếp theo, và được thuyết minh trong BCTC. Vì vậy, KTV đối với mọi trường hợp thay đổi mức khấu hao, KTV phải xem xét cụ thể việc xin duyệt mức khấu hao mới của doanh nghiệp. Kiểm tra tài khoản hao mòn TSCĐ: KTV tập trung kiểm tra số khấu hao luỹ kế bằng cách phân tích số dư TK 214 thành các bộ phận chi tiết của từng loại tài sản. Với số tổng hợp, cần xem xét tính toán chính xác số dư cuối kỳ dựa vào số liệu khấu hao đầu kỳ, khấu hao tăng trong kỳ và khấu hao giảm trong kỳ. 1.3.3.3. Giai đoạn kết thúc kiểm toán  Xem xét sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ  Đánh giá kết quả kiểm toán  Công bố Báo cáo kiểm toán kèm Thư quản lý

doc122 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 3095 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Thực trạng kiểm toán tscđ trong kiểm toán báo cáo tài chính do Aasc thực hiện, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ành đối chiếu giữa Bảng tính khấu hao đã được Kế toán trưởng Công ty ký duyệt với Sổ Nhật ký TK 214, các chứng từ tăng - giảm TSCĐ nhằm phát hiện các sai sót trong hạch toán khoản mục khấu hao TSCĐ. Kết quả kiểm tra chi tiết cho thấy: Tại xưởng chế tạo số 1: Qua kiểm tra chứng từ, tài liệu kế toán KTV phát hiện thấy một máy xúc (Nguyên giá 110.457.320 VNĐ, thời gian khấu hao đăng ký 8 năm) đã trích khấu hao hết vào tháng 8/2006, nhưng đơn vị vẫn tiếp tục trích khấu hao cho các tháng còn lại của năm 2006 với số tiền là 5.425.780 VNĐ. KTV đề nghị khách hàng ghi giảm chi phí theo bút toán điều chỉnh: Nợ TK 214: 5.425.780 Có TK 421(627): 5.425.780 Tổng hợp các bút toán điều chỉnh phần hành kiểm toán TSCĐ Đối với khoản mục TSCĐ và khấu hao TSCĐ, KTV tiến hành lập tờ “Kết luận kiểm toán”, thực chất là Bảng tổng hợp các bút toán điều chỉnh đối với khoản mục TSCĐ và khấu hao TSCĐ được đưa ra sau quá trình kiểm toán. Sau khi thực hiện xong các thủ tục kiểm tra chi tiết, KTV đưa ra kết luận kiểm toán đối với 2 đơn vị khách hàng. Bảng 2.25: Trích giấy làm việc của KTV - Kết luận kiểm toán TK 211 tại Công ty ABC CÔNG TY DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN AUDITING AND ACCOUNTING FINANCIAL CÓNULTANCY SERVICE COMPANY THÀNH VIÊN INPACT QUỐC TẾ Tên khách hàng Công ty ABC Niên độ kế toán 31/12/06 Tham chiếu: Khoản mục TK 211 Người thực hiện: Bước công việc Kết luận kiểm toán Ngày thực hiện: 13/03/2007 Kết luận kiểm toán Công việc đã tiến hành Công việc thực hiện đối với phần TK 211 đã tiến hành theo đúng chương trình kiểm toán Các vấn đề phát sinh Điều chỉnh tăng Nguyên giá TSCĐ Nợ TK 211: 2.761.774 Có TK 241: 2.761.774 Kết luận Dựa vào kết quả công việc, theo ý kiến tôi: Ngoài trừ vấn đề trên Cơ sở dẫn liệu cho phần TK 211 là thích hợp trên các khia cạnh trọng yếu và tổng số dư 20.753.639 (đồng) là trung thực theo đúng các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung và được lập nhất quán với các năm trước. Bảng2.26: Trích giấy làm việc của KTV - Kết luận kiểm toán TK 211 tại Công ty XYZ CÔNG TY DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN AUDITING AND ACCOUNTING FINANCIAL CÓNULTANCY SERVICE COMPANY THÀNH VIÊN INPACT QUỐC TẾ Tên khách hàng Công ty XYZ Niên độ kế toán 31/12/06 Tham chiếu: Khoản mục TK 211 Người thực hiện: Bước công việc Kết luận kiểm toán Ngày thực hiện: 13/03/2007 Kết luận kiểm toán Công việc đã tiến hành Công việc thực hiện đối với phần TK 211 đã tiến hành theo đúng chương trình kiểm toán Các vấn đề phát sinh Nợ TK 421(642): 11.615.000 (VNĐ) Có TK 211 11.615.000 (VNĐ) Kết luận Dựa vào kết quả công việc, theo ý kiến tôi: Ngoài trừ vấn đề trên Cơ sở dẫn liệu cho phần TK 211 là thích hợp trên các khia cạnh trọng yếu và tổng số dư 4,813,746 USD là trung thực theo đúng các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung và được lập nhất quán với các năm trước. Bảng 2.27: Trích giấy làm việc của KTV - Kết luận kiểm toán TK 214 tại Công ty ABC CÔNG TY DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN AUDITING AND ACCOUNTING FINANCIAL CÓNULTANCY SERVICE COMPANY THÀNH VIÊN INPACT QUỐC TẾ Tên khách hàng Công ty ABC Niên độ kế toán 31/12/2006 Tham chiếu: Khoản mục TK 214 – Khấu hao TSCĐ Người thực hiện: Bước công việc Kết luận kiểm toán Ngày thực hiện: 13/03/2007 Kết luận kiểm toán Công việc đã tiến hành Công việc thực hiện đối với phần TK 214 đã tiến hành theo đúng chương trình kiểm toán Các vấn đề phát sinh Điều chinh giảm chi phí khấu hao Nợ TK 214: 10.836.576 Có TK 421 : 10.836.576 Điều chỉnh giảm chi phí khấu hao TSCĐ phúc lợi Nợ TK 431: 24.779.001 Có TK 421: 24.779.001 Kết luận Dựa vào kết quả công việc, theo ý kiến tôi: Ngoài trừ vấn đề trên Cơ sở dẫn liệu cho phần TK 214 là thích hợp trên các khia cạnh trọng yếu và tổng số dư 20.753.639 (đồng) là trung thực theo đúng các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung và được lập nhất quán với các năm trước. Bảng 2.28: Trích giấy làm việc của KTV - Kết luận kiểm toán TK 214 tại Công ty XYZ CÔNG TY DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN AUDITING AND ACCOUNTING FINANCIAL CÓNULTANCY SERVICE COMPANY THÀNH VIÊN INPACT QUỐC TẾ Tên khách hàng Công ty XYZ Niên độ kế toán 31/12/2006 Tham chiếu: Khoản mục TK 214 – Khấu hao TSCĐ Người thực hiện: Bước công việc Kết luận kiểm toán Ngày thực hiện: 13/03/2007 Kết luận kiểm toán Công việc đã tiến hành Công việc thực hiện đối với phần TK 214 đã tiến hành theo đúng chương trình kiểm toán Các vấn đề phát sinh Điều chinh giảm chi phí khấu hao Nợ TK 214: 9.282.280 Có TK 421(627): 19.282.280 Kết luận Dựa vào kết quả công việc, theo ý kiến tôi: Ngoài trừ vấn đề trên Cơ sở dẫn liệu cho phần TK 214 là thích hợp trên các khia cạnh trọng yếu và tổng số dư 20.753.639 (đồng) là trung thực theo đúng các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung và được lập nhất quán với các năm trước. Chú ý: Để đưa ra ý kiến trên Báo cáo kiểm toán, KTV tiến hành so sánh số điều chỉnh kiểm toán với ước tính sai số đối với khoản mục TSCĐ và khấu hao TSCĐ để khẳng định xem các chênh lệch được phát hiện có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC của đơn vị hay không. Đối với Công ty ABC Khoản mục Điều chỉnh kiểm toán Ước tính sai số Đánh giá mức trọng yếu của sai sót Nguyên giá TSCĐ 2.761.774 52.215.057 Dưới mức trọng yếu Khấu hao TSCĐ 10.836.576 52.215.057 Dưới mức trọng yếu Tổng cộng 13.598.350 104.430.114 Dưới mức trọng yếu Đối với Công ty XYZ Khoản mục Điều chỉnh kiểm toán Ước tính sai số Đánh giá mức trọng yếu của sai sót Nguyên giá TSCĐ 11.615.000 45.609.558 Dưới mức trọng yếu Khấu hao TSCĐ 9.282.280 45.609.558 Dưới mức trọng yếu Tổng cộng 20.897.280 45.609.558 Dưới mức trọng yếu Kết thúc cuộc kiểm toán Soát xét giấy tờ làm việc của kiểm toán viên Đây là bước quan trọng trước khi AASC phát hành báo cáo kiểm toán và thư quản lý. Sau khi đã hoàn tất mọi thủ tục kiểm toán được thiết kế trong chương trình kiểm toán, KTV thực hiện kiểm toán khoản mục TSCĐ soát xét giấy tờ làm việc của mình; đánh giá về tính chính xác, đầy đủ và hợp lý của bằng chứng kiểm toán; bổ sung những bằng chứng mới thu thập được hoặc nếu thiếu thì cần nhanh chóng hoàn thiện, thu thập thêm. Đối với hai khách hàng là Công ty ABC và XYZ, việc soát xét giấy tờ làm việc của KTV đối với phần hành TSCĐ cho thấy quy trình kiểm toán đã được thực hiện khá đầy đủ, đảm bảo cơ sở vững chắc để KTV đưa ra kết luận kiểm toán. Xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày lập báo cáo tài chính Trong các cuộc kiểm toán thời gian từ khi lập bảng cân đối tài sản đến khi KTV ký báo cáo kiểm toán có thể có những sự kiện xảy ra ảnh hưởng đến BCTC của doanh nghiệp. Đó là những sự kiện cung cấp thêm bằng chứng về các sự việc đã tồn tại vào ngày khoá sổ kế toán để lập BCTC hay những sự kiện cung cấp dấu hiệu về các sự việc đã phát sinh tiếp sau ngày khoá sổ kế toán lập BCTC. Những sự kiện này có thể gây ảnh hưởng trọng yếu hoạc không trọng yếu đến BCTC. Tuy nhiên xem xét các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ luôn được đánh giá là cần thiết và phù hợp với nguyên tắc thận trọng trong nghề nghiêp. Đối với hai khách hàng ABC và XYZ , quá trình xem xét cho thấy, tình hình hoạt động của khách hàng sau ngày kết thúc niên độ là ổn định, không phát sinh sự kiện nào gây ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC kết thúc ngày 31/12/2006. Phát hành báo cáo kiểm toán và thư quản lý Trước khi phát hành Báo cáo kiểm toán và Thư quản lý, AASC tổ chức họp thống nhất kết quả kiểm toán với Công ty khách hàng. Trong cuộc họp KTV phải giải trình được những sai phạm đã phát hiện và đưa ra các bằng chứng phù hợp để chứng minh cho các sai phạm đó là đúng đắn đồng thời khẳng định rằng việc lập BCKT cho BCTC của đơn vị là hoàn toàn trung thực và hợp lý xét trên mọi khía cạnh trọng yếu. Đối với khách hàng ABC sử dụng dịch vụ kiểm toán của AASC thường có yêu cầu KTV lập Thư quản lý để tư vấn để hoàn thiện và nâng cao các hoạt động KSNB, công tác quản lý, hạch toán kế toán tại đơn vị khách hàng. Bài học kinh nghiệm và phương hướng hoàn thiện quy trình kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán BCTC tại AASC Nhận xét về quy trình kiểm toán tại Công ty Nhận xét chung về Công ty Với truyền thống lâu đời của mình, Công ty không ngừng mở rộng và phát triển, đã đóng góp to lớn đối với ngành tài chính, kế toán và kiểm toán Việt Nam. Công ty ngày càng khẳng định được chỗ đứng của mình. Hiện AASC là Công ty kiểm toán được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận là tổ chức kiểm toán độc lập được phép tham gia kỉêm toán các tổ chức tham gia kiểm toán các tổ chức phát hành và kinh doanh chứng khoán. Ngày 18/08/2001 - Chủ tịch nước đã có Quyết định số 586 KT/CT tặng thưởng Huân chương lao động Hạng Ba cho AASC và ngày 27/07/2001 - Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 922/QĐ/TT tặng thưởng Cờ thi đua và Bằng khen cho nhiều tập thể và cá nhân… Số lượng nhân viên hiện nay của Công ty lớn. Đây là thế mạnh riêng có của Công ty. Công ty sẽ cố gắng giữ vững và phát huy lợi thế đó thông qua các cơ chế về quản lý, về sự đồng thuận, tâm huyết, về sử dụng, phân phối công bằng, minh bạch cho người lao động, tạo công ăn việc làm, phát huy trí tuệ tập thể và nội lực tiềm tàng để người lao động thực sự gắn bó với Công ty, coi sự vững mạnh của Công ty là mục tiêu phấn đấu của mình. Công ty hiện nay đang duy trì chế độ tương đối tốt đối với các nhân viên của mình. Đối với các nhân viên mới vào hay thực tập viên, Ban Giám đốc luôn chú trọng quan tâm, giúp đỡ nhằm tháo gỡ các khó khăn trong công việc. Đặc biệt Công ty còn có những buổi đào tạo và giảng dạy đối với nhân viên mới do các kiểm toán viên có trình độ và kinh nghiệm nhằm giúp đỡ họ tiếp cận nhanh chóng với công việc. Không chỉ quan tâm đến việc đào tạo nội bộ, Công ty còn rất quan tâm dến việc nâng cao trình độ và kiến thức chuyên môn của các nhân viên. Cụ thể hàng năm Công ty cử nhân viên có kinh nghiêm, có khả năng đi học ACCA hoặc cử đi học đào tạo ngắn hạn ở nước ngoài để nâng cao trình độ. Công ty luôn chú trọng tới việc áp dụng các thành tựu khoa học tiên tiến trong việc giải quyết các vấn đề trong nội bộ Công ty nói riêng cũng như với các khách hàng nói chung. Bộ máy kế toán được thiết kế nhỏ gọn do 3 người thực hiện gồm một kế toán trưởng, một kế toán viên và một thủ quỹ. Tuy nhiên là loại hình cung cấp dịch vụ kiểm toán do đó các nghiệp vụ kinh tế phát sinh không nhiều nên việc hạch toán kế toán tại Công ty rất đơn giản. Công ty cũng áp dụng tin học trong việc xử lý các thông tin kinh tế. Việc ứng dụng tin học trong công tác kế toán cho phép việc thực hiện hạch toán kế toán tại Công ty rất nhanh gọn và thuận tiện với độ chính xác cao đồng thời tiết kiệm chi phí và nhân lực. Công tác kế toán được tổ chức vận dụng phù hợp với tình hình, đặc điểm của Công ty. Công ty đã sử dụng công nghệ thông tin vào việc làm kế toán nên khối lượng công việc giảm nhiều so với làm kế toán thủ công, tiết kiệm được nhân lực. Công tác kế toán của Công ty nhìn chung được thực hiện tốt vì nhân viên trong Công ty đều là những người am hiểu các quy định về kế toán tài chính. Việc Công ty cho phép các chi nhánh hạch toán độc lập đã phát huy được tính tự chủ trong việc hạch toán lãi lỗ và đó cũng là một giải pháp tốt cho công tác kế toán của Công ty. Cấu trúc bộ máy của AASC hiện nay khá chặt chẽ. Với sự nỗ lực hết mình của Ban giám đốc Công ty và đội ngũ cán bộ trong Công ty, tổ chức bộ máy Công ty ngày càng hoàn thiện, đồng thuận về tư tưởng từ ban giám đốc Công ty đến Kiểm toán viên, kỹ thuật viên, trợ lý kiểm toán và nhân viên. Tuy nhiên, do đặc thù của loại hình hoạt động rộng và phân tán trên các địa bàn nên trong một số trường hợp cơ cấu tổ chức không thể phát huy hết hiệu quả. Việc phân chia các phòng nghiệp vụ chỉ mang tính tương đối nên không thể hiện được chức năng và thế mạnh chuyên biệt của các phòng, ban. Khi mà, các loại hình dịch vụ cung cấp đa dạng thì cơ cấu tổ chức càng phải chặt chẽ và khoa học nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn Công ty nhưng cũng cần phải linh hoạt vì kiểm toán là công việc mang tính mùa vụ. Quy trình thực hiện kiểm toán chủ yếu dựa trên kinh nghiệm của các kiểm toán viên, các chuyên gia và sự học hỏi các công ty kiểm toán, đặc biệt là các công ty kiểm toán nước ngoài. Chương trình thường xuyên được bổ sung, hoàn thiện và nâng cao qua các năm hoạt động gồm: các hồ sơ mẫu, các câu hỏi đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, các mẫu quy định chung về lập kế hoạch kiểm toán, chương trình kiểm toán cụ thể đối với từng khoản mục trên Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nói chung. Quy trình kiểm toán của AASC tuân thủ các yêu cầu của Chuẩn mực kiểm toán quốc tế và chuẩn mực kiểm toán Việt Nam. Tuy nhiên Công ty cần tập trung cho việc xây dựng một quy trình chuẩn áp dụng thống nhất giữa văn phòng Công ty và các chi nhánh; đồng thời chú trọng hơn nữa vào việc lập kế hoạch kiểm toán, đặc biệt là kế hoạch kiểm toán tổng quát và chương trình kiểm toán vì lập kế hoạch kiểm toán chi phối chất lượng chung của toàn bộ cuộc kiểm toán. Đối với chất lượng kiểm toán, AASC là một trong những Công ty kiểm toán tiên phong trong việc thành lập một phòng chức năng chuyên biệt là kiểm soát chất lượng và đào tạo phục vụ cho tất cả các phòng chức năng khác và hỗ trợ đắc lực trong việc đánh giá sản phẩm kiểm toán do Công ty cung cấp. Công ty cần chú trọng hơn nữa tới công tác kiểm soát chất lượng bao gồm kiểm soát chất lượng cho toàn Công ty và cho từng hợp đồng kiểm toán để phản ánh kịp thời, phát hiện các vướng mắc, sai sót trong quá trình kiểm toán. Bộ phận kiểm soát chất lượng phải thực sự là công cụ hỗ trợ cho các nhà quản lý. Với đội ngũ kiểm toán viên và trợ lý kiểm toán trẻ tuổi, năng động, sáng tạo trong công việc nên một phần công việc kiểm toán cũng được thực hiện trên các công cụ là phần mềm máy tính mang lại hiệu quả cao hơn. Tuy nhiên, Công ty chưa xây dựng được một phần mềm làm kiểm toán mang tính chất chuyên ngành và đặc thù nhằm giảm nhẹ công việc cho các kiểm toán viên và các trợ lý kiểm toán. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn hoạt động kiểm toán tại AASC Qua thời gian thực tập tại AASC, được sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo Công ty cùng các anh chị trong phòng kiểm toán Thương mại và dịch vụ, em có cơ hội được tiếp cận với thực tiễn hoạt động kiểm toán tại hai đơn vị khách hàng. Qua nghiên cứu lý luận kết hợp với thực tiễn kiểm toán BCTC được thực hiện thống nhất trên cơ sở quy trình kiểm toán do AASC xây dựng. Tuy nhiên do đặc thù của từng khách hàng về lĩnh vực hoạt động, ngành nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức nên việc vận dụng quy trình kiểm toán có khác nhau. Em xin có một vài nhận xét về thực tiễ kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán BCTC tại AASC như sau: Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán Chuẩn bị kiểm toán là giai đoạn đầu tiên nhằm tạo đầy đủ các điều kiện cần thiết cho một cuộc kiểm toán. Nhận thức được tầm quan trọng của giai đoạn này, AASC đã cụ thể hoá các công việc cần thực hiện gồm: tiếp cận khách hàng, xây dựng chiến lược kiểm toán và lập kế hoạch kiểm toán. So sánh với Chuẩn mực kiểm toán số 300 “Lập kế hoạch kiểm toán” AASC đã tuân thủ các nguyên tắc cơ bản phù hợp với các quy định của Chuẩn mực. Trong đó, tiếp cận khách hàng là bước khởi đầu quan trọng quyết định cuộc kiểm toán có được tiếp tục hay không. AASC luôn chủ động tiếp cận khách hàng thông qua gửi Thư chào hàng tới các đơn vị có nhu cầu kiểm toán BCTC. Thư chào hàng được viết đơn giản, xúc tích nhưng thể hiện sự tôn trọng và thu hút đối với khách hàng. Việc tiếp cận khách hàng được thực hiện không dập khuôn, máy móc mà linh hoạt tùy thuộc vào mối quan hệ giữa Công ty và khách hàng, chủ yếu được thực hiện thông qua sự ngoại giao của Ban Giám đốc. Trong quá trình lập kế hoạch chiến lược, Ban Giám đốc AASC luôn tôn trọng đầy đủ các bước công viêc, lấy đó làm cơ sở để lập kế hoạch kiểm toán chi tiết, đảm bảo xây dựng các thủ tục kiểm toán phù hợp với đặc thù của từng khách hàng. Trong bước công việc này, KTV đặc biệt chú ý đến việc thu thập đầy đủ các thông tin về khách hàng từ đó có những đánh giá chính xác về hệ thống kế toán và hệ thống KSNB nhằm định hướng cho cuộc kiểm toán sau này. Trong quá trình tìm hiểu khách hàng, AASC luôn kết hợp việc thu thập thông tin về khách hàng đặt trong quan hệ với các biến động của ngành nghề kinh doanh, của nền kinh tế từ đó xác định phương pháp tiếp cận và lựa chọn thủ tục kiểm toán phù hợp. Đối với khách hàng thường xuyên, AASC có thể bỏ qua một số bước công việc trong công tác lập kế hoạch vì định hướng đã được thực hiện từ những lần kiểm toán trước đó. Tuy nhiên để đảm bảo tính thận trọng nghề nghiệp KTV vẫn thu thập đầy đủ các thông tin về những thay đổi trong hoạt động kinh doanh đặc biệt là những thay đổi trong chính sách kế toán có thể ảnh hưởng đến BCTC của khách hàng trong năm kiểm toán. Điều này thể hiện sự linh hoạt, sáng tạo nhưng vẫn bám sát và thực hiện tốt các quy định của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam. Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán tổng thể, mô hình đánh giá trọng yếu và rủi ro đối với các khoản mục trên BCTC được AASC thực hiện khá hiệu quả. Mô hình này giúp KTV dự toán được các ước tính sai số, từ đó xác định được trọng tâm kiểm toán và định hướng KTV vào những khoản mục có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC. Đặc biệt đối với những khách hàng có hệ thống KSNB được đánh giá là hữu hiệu, thông qua xác định mức trọng yếu và rủi ro có thể giúp KTV giảm bớt được một số thủ tục kiểm toán từ đó nâng cao hiệu quả cuộc kiểm toán. Giai đoạn thực hiện kiểm toán: Thực hiện kiểm toán dựa trên kế hoạch kiểm toán đã được lập trong đó, chỉ rõ về thời gian thực hiện, phạm vi tiến hành và dựa trên chương trình kiểm toán chuẩn đã được xây dựng trong kế hoạch tổng thể đối với từng phần hành. Trong giai đoạn này, các thủ tục kiểm toán được thực hiện một cách linh hoạt, sáng tạo. Vai trò của chương trình mẫu chỉ mang tính chất hỗ trợ. Để chương trình kiểm toán mẫu trở lên khả thi trong điều kiện cụ thể của mỗi cuộc kiểm toán, đòi hỏi sự linh hoạt của KTV trong việc lựa chọn, thiết kế các thử nghiệm kiểm toán. Muốn vậy, KTV phải hiểu biết đầy đủ về hoạt động kinh doanh, đặc biệt hiểu rõ về khoản mục mình thực hiện. KTV phải hiểu rõ mục đích công việc cụ thể, phải xét đoán được hiệu quả của từng thủ tục kiểm toán, không chỉ đòi hỏi kiến thức, kinh nghiệm mà cả sự năng động, sáng tạo của KTV. TSCĐ và khấu hao TSCĐ là những khoản mục trọng yếu trên BCTC, do vậy quá tình thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết đối với số dư và nghiệp vụ luôn được KTV đặc biệt quan tâm. Tuy vậy, các thủ tục kiểm tra hệ thống KSNB, thủ tục phân tích, thủ tục kiểm tra chi tiết được thực hiện ở mức độ khác nhau đối với từng khách hàng. Đối với những khách hàng có số nghiệp vụ về TSCĐ và khấu hao TSCĐ phát sinh nhiều, KTV có thể thực hiện kiểm tra chọn mẫu, kết hợp thực hiện thêm các thủ tục kiểm toán bổ sung. Trong quá trình kiểm toán mặc dù tiếp cận các phần hành kiểm toán theo khoản mục nhưng KTV đã kết hợp chặt chẽ các khoản mục có liên quan làm giảm bớt thời gian, nâng cao hiệu quả toàn cuộc kiểm toán. Khi tiến hành kiểm toán các nghiệp vụ tăng TSCĐ, KTV kết hợp kiểm tra mức tính khấu hao nên khi kiểm tra khoản mục khấu hao, công việc sẽ giảm bớt rất nhiều mà tập trung vào kiểm tra việc khấu hao các TSCĐ từ năm trước chuyển sang. Tuy nhiên thực tiễn kiểm toán cho thấy, quá trình thực hiện kiểm toán chủ yếu tập trung vào kiểm tra chi tiết số dư và nghiệp vụ về TSCĐ và khấu hao TSCĐ mà chưa được thực hiện đầy đủ, chưa phát huy hết được vai trò của nó trong việc thu thập bằng chứng kiểm toán. Theo quy định của Chuẩn mực kiểm toán số 500, các thủ tục phân tích được áp dụng cho tất cả các cuộc kiểm toán và chúng được thực hiện trong mọi giai đoạn của cuộc kiểm toán. Tuy nhiên thực tiễn cho thấy, thủ tục phân tích chỉ được thực hiện trong giai đoạn thực hiện kiểm toán qua việc so sánh số liệu với năm trước và phân tích một số tỷ suất tài chính quan trọng mà chưa mở rộng sang các thủ tục khác như so sánh giữa số liệu thực tế với số liệu dự kiến, giữa dữ liệu của đơn vị với dữ liệu chung của ngành. Thực tế này gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả cuộc kiểm toán do không phát huy được sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các thủ tục kiểm toán. Trong quá trình thực hiện kiểm toán, trưởng nhóm kiểm toán luôn bám sát công việc của các trợ lý kiểm toán. Các vấn đề phát sinh luôn được thảo luận kỹ càng cùng thống nhất và tìm ra cách giải quyết. Giấy tờ làm việc cùng các tài liệu thu thập được trong quá trình kiểm toán được đánh số tham chiếu một cách hệ thống và được lưu giữ trong Hồ sơ kiểm toán là bằng chứng cho kết quả kiểm toán sau này, đồng thời giúp người soát xét thuận tiện khi kiểm tra. Giai đoạn kết thúc kiểm toán: Sau khi thực hiện các thủ tục kiểm toán chi tiết, công việc đầu tiên mỗi KTV phải làm là kiểm tra lại các giấy tờ làm việc, các tài liệu thu thập được trong quá trình kiểm toán. Trưởng nhóm kiểm toán thực hiện tổng hợp và soát xét công việc của từng trợ ly kiểm toán, đánh giá tính đầy đủ và hợp lý của bằng chứng kiểm toán thu thập được. KTV tiến hành rà soát, đánh giá lại các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm toán, kiểm tra các chênh lệch giữa số liệu kiểm toán với số liệu trên sổ sách kế toán của đơn vị, soát xét giấy tờ làm việc của KTV. Khi có chênh lệch cần điều chỉnh, KTV đưa ra bút toán điều chỉnh và sau khi có sự thoả thuận với khách hàng, đồng thời dựa vào mức trọng yếu của các khoản mục sẽ là căn cứ để KTV hình thành ý kiến trên BCTC. Tuy nhiên, chất lượng kiểm toán phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Thực tế cho thấy, với các KTV có trình độ chuyên môn cùng kinh nghiệm thực tế thì các sai sót vẫn có thể xảy ra trong quá trình thực hiện kiểm toán. Bên cạnh đó các yếu tố khách quan cũng có thể tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc kiểm toán. Nhận thức được điều này, đội ngũ KTV AASC luôn thực hiện đánh giá, rá soát nhằm tìm ra các sai sót và hướng giải quyết kịp thời. Công việc này đóng vai trò tích cực trong việc nâng cao không ngừng hiệu quả kiểm toán, đồng thời qua đó nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khả năng phán đoán nghề nghiệp cho KTV. Báo cáo kiểm toán và Thư quản lý là những sản phẩm cuối cùng của cuộc kiểm toán được KTV công bố sau khi có sự thoả thuận thống nhất giữa hai bên nhằm đáp ứng cao nhất mong đợi của khách hàng trên cơ sở kết quả thực hiện kiểm toán theo đúng quy định của Chuẩn mực và các quy định khác của Nhà nước. Báo cáo kiểm toán được AASC lập theo đúng quy định của Chuẩn mực kiểm toán số 700 “Báo cáo kiểm toán” trong đó, KTV nêu lên ý kiến chính thức về BCTC đã được kiểm toán của khách hàng. Thư quản lý được lập trên cơ sở thoả thuận của Hợp đồng kiểm toán nhằm đưa ra những ý kiến có tính chất tư vấn, giúp khách hàng khắc phục những hạn chế tồn tại trong công tác kế toán từ đó nâng cao năng lực quản lý trong công tác kế toán – tài chính tại đơn vị. Phương hướng hoàn thiện quy trình kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán BCTC tại AASC Sự cần thiết phải hoàn thiện quy trình kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán BCTC tại AASC Thế kỷ 21 là thế kỷ của hội nhập quốc tế về kinh tế, thương mại, đầu tư, tài chính. Tiến trình này đã và đang diễn ra sâu rộng trên phạm vi toàn thế giới và trong từng quốc gia. Việt Nam cũng đang chủ động, tích cực vận động tham gia tiến trình hội nhập này. Nhiệm vụ trọng tâm đặt ra đối với ngành tài chính trong thời kỳ mới là thực hiện hội nhập quốc tế về tài chính. Trong bối cảnh trên, kế toán và kiểm toán đã được đặt ra lộ trình cho sự phát triển với mục tiêu là tạo điều kiện phát triển mạnh ngành kế toán và kiểm toán và là nguồn cung cấp thông tin tài chính kinh tế kịp thời, đúng đắn tình hình tài chính doanh nghiệp, quốc gia để làm cơ sở hoạch định các chính sách kinh tế, tài chính cho từng doanh nghiệp cũng như quốc gia trong từng giai đoạn phát triển. Cải cách và đổi mới công tác kế tóan, kiểm toán phù hợp với chính sách đổi mới kinh tế và phù hợp với thông lệ quốc tế là một đòi hỏi khách quan và cấp bách trong tiến trình đổi mới. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán cũng ngày càng phát triển đòi hỏi không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp. Ngoài lĩnh vực kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập đã trở thành nhu cầu tất yếu đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Các Công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam được thành lập ngày càng nhiều, tồn tại dưới các hình thức sở hữu và quản lý khác nhau, nhưng cùng thực hiện cung cấp các dịch vụ liên quan đến kế toán, kiểm toán và tài chính cho khách hàng. Trong môi trường cạnh tranh như vậy, tất yếu các Công ty kiểm toán độc lập phải tìm mọi cách nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp của mình – AASC cũng không nằm ngoài số đó. Do đặc trưng của nền kinh tế thị trường là cạnh tranh, bất kỳ sản phẩm nào, bất kỳ loại hình dịch vụ nào cũng phải đặt yếu tố chất lượng lên hàng đầu. Để nâng cao chất lượng của một cuộc kiểm toán, trước tiên phải nâng cao trình độ nhân viên kế toán, tăng cường trang bị may móc kỹ thuật hiện đại phục vụ cho công tác kiểm toán được tiến hành nhanh chóng, đạt hiệu quả kiểm toán cao. TSCĐ là một khoản mục thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của một doanh nghiệp, do vậy tính trung thực và hợp lý của số liệu khoản mục TSCĐ có ảnh hưởng trọng yếu tới BCTC. Nâng cao chất lượng cuộc kiểm toán đồng nghĩa với việc nâng cao chất lượng kiểm toán tất cả các khoản mục trên báo cáo kiểm toán và đặc biệt là khoản mục TSCĐ. Trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay và tương lai của nước nhà, mọi hoạt động nhằm nâng cao chất lượng cuộc kiểm toán nói chung và nâng cao chất lượng công việc kiểm toán khoản mục TSCĐ trên báo cáo tài chính nói riêng là tất yếu. Một số đề xuất nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán BCTC tại AASC Sử dụng ý kiến của chuyên gia Cơ sở đưa ra kiến nghị TSCĐ là một khoản mục đặc biệt, có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài. Do vậy, kết quả kiểm toán khoản mục TSCĐ không chỉ có ảnh hưởng trong một năm kiểm toán mà trong nhiều năm, suốt đời hữu dụng của tài sản. KTV phải có những hiểu biết sâu sắc về bản chất của TSCĐ để kiểm tra. Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, trang thiết bị ngày càng được cải tiến, nâng cấp. Đối với một KTV, thật khó để vừa học tập không ngừng nâng cao chuyên môn kiểm toán của mình, vừa phải am hiểu tường tận mọi đặc tính của TSCĐ, cả hữu hình và vô hình đặc thù ở các đơn vị khác nhau, lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhau. Theo Nguyên tắc kiểm toán quốc tế số 18 “Sử dụng tư liệu của các chuyên gia”: trình độ học vấn và kinh nghiệm của bản thân sẽ giúp KTV nắm bắt được các vấn đề kinh doanh nói chung nhưng KTV không thể là những chuyên gia thông thạo của các chuyên ngành khác. Khi thực hiện kiểm toán một khách hàng có các nghiệp vụ phức tạp, KTV có thể thu thập các ý kiến đánh giá và ý kiến xác định của các chuyên gia. Ví dụ: Đánh giá một loại tài sản nào đó như đất đai, nhà cửa, máy móc thiết bị, các công trình nghệ thuật, vàng bạc đá quý, kim khí quý… Xác định số lượng hoặc chất lượng hiện có của tài sản như: trữ lượng quặng, trữ lượng khoáng sản, nhiên liệu trong lòng đất, dưới đại dương, thời gian hữu ích còn lại của tài sản máy móc… Việc đánh giá gía trị TSCĐ rất phức tạp, nhất là đối với điều kiện hiện nay của nước ta - một nước đang phát triển, việc mua sắm TSCĐ tại các doanh nghiệp có quá nhiều nguồn gốc xuất xứ: có thể mua mới hàng trong nước, nhập khẩu mới hoặc nhập khẩu tài sản đã qua sử dụng, Khi thực hiện quan sát kiểm kê, đánh giá giá trị tài sản, KTV không thể đánh giá một cách chính xác được giá trị của tài sản, bởi nhiều khi máy móc hình thức rất mới nhưng công nghệ lại lạc hậu… Như vậy việc sử dụng ý kiến đánh giá của các chuyên gia bên ngoài - một loại bằng chứng đặc biệt trong kiểm toán khoản mục TSCĐ giúp KTV đưa ra ý kiến chính xác về số liệu đơn vị báo cáo. Thực tế tồn tại Tại AASC, kiểm toán khoản mục TSCĐ mới chỉ sử dụng ý kiến của chuyên gia khi định giá lại TSCĐ (trong trường hợp nghiệp vụ TSCĐ phát sinh của đơn vị khách hàng đòi hỏi cần định giá lại tài sản), còn các trường hợp khác khi thực hiện kiểm toán BCTC chưa có kế hoạch sử dụng chuyên gia bên ngoài trợ giúp kiểm toán khoản mục TSCĐ. Giải pháp hoàn thiện: Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, cần xem xét có sử dụng chuyên gia bên ngoài đối với khoản mục TSCĐ hay không tuỳ thuộc vào mức độ phức tạp của khoản mục TSCĐ của đơn vị khách hàng cụ thể. Ngay trong quá trình tìm hiểu sơ bộ về khách hàng tiền kiểm toán, qua đánh giá công việc kinh doanh của khách hàng, xác định mức độ phức tạp của cơ cấu và chủng loại TSCĐ để ra quyết định về việc sử dụng chuyên gia. Nếu có, dự tính phí chuyên gia để tính toán ra mức phí kiểm toán phù hợp, tiến hành kí kết hợp đồng kiểm toán. Cũng theo Nguyên tắc kiểm toán quốc tế số 18: Trước tiên, các KTV phải cân nhắc tính khách quan, kỹ năng và trình độ nghiệp vụ của các chuyên gia. Các tư liệu chuyên gia cung cấp được coi như là những bằng chứng đặc biệt của cuộc kiểm toán. Trong quá trình thực hiện kiểm toán, các KTV phải đánh giá và tổng hợp về những ý kiến, tư liệu của chuyên gia thành kết quả kiểm toán, bởi KTV là người chịu trách nhiệm cuối cùng đối với kết quả kiểm toán, không phải là chuyên gia. Tính khả thi Việc có sử dụng chuyên gia bên ngoài hay không ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian kiểm toán, chi phí kiểm toán và chất lượng cuộc kiểm toán. Cân nhắc quyết định vấn đề này trong giai đoạn lập kế hoạch rất quan trọng. Đối với những doanh nghiệp khách hàng có tính hình kinh doanh phức tạp, số lượng TSCĐ nhiều, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản, tính chất tài sản đa dạng, đặc thù, gồm nhiều tài sản có kỹ thuật mới, khó xác định giá trị thì mới sử dụng chuyên gia. Không phải bất cứ lúc nào, doanh nghiệp khách hàng nào cũng sử dụng chuyên gia làm chậm tiến trình kiểm toán, tăng chi phí kiểm toán, giảm hiểu quả hoạt động. Áp dụng các thủ tục phân tích Cơ sở đưa ra kiến nghị Theo Nguyên tắc kiểm toán quốc tế số 12 “phương pháp phân tích”: Phương pháp phân tích được coi là một dạng của phương pháp kiểm toán cơ bản nhằm thu thập bằng chứng kiểm toán. Nguyên tắc này yêu cầu sử dụng phương pháp Fphân tích trong giai đoạn lập kế hoạch và soát xét lại toàn bộ các bước công việc của một cuộc kiểm toán. Nguyên tắc này cũng hướng dẫn việc sử dụng phương pháp phân tích như là các biện pháp kiểm tra cơ bản. Trong nguyên tắc này, phương pháp phân tích được sử dụng để mô tả các tỷ lệ quan trọng, các chỉ số,kể cả việc điều tra kết quả các khoản mục và các biến động bất thường. Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520 “Quy trình phân tích”: quy trình phân tích được thực hiện như là một thử nghiệm cơ bản khi việc sử dụng thủ tục này có hiệu quả hơn so với kiểm tra chi tiết trong việc giảm bớt rủi ro phát hiện liên quan đến cơ sở dẫn liệu của BCTC. Theo tiến trình phát triển của kiểm toán hiện đại, việc sủ dụng thủ tục phân tích sẽ được tích cực khuyến khích sử dụng mỗi khi có điều kiện thoả mãn. Thủ tục phân tích sẽ được xem xét thực hiện để có thể bỏ qua kiểm tra chi tiết, tiết kiệm thời gian và chi phí kiểm toán; đồng thời nâng cao hiệu quả cuộc kiểm toán. Thực tế tồn tại Tại AASC hiện nay, thủ tục phân tích chưa được áp dụng triệt để, hầu hết các khoản mục được kiểm toán nếu có sử dụng thủ tục phân tích thì chỉ là kết hợp với thủ tục kiểm tra chi tiết. Trong điều kiện hiện tại, KTV không có trong tay số liệu ngành để so sánh nên không thể đưa ra các kết luận chính xác đối với các biến động bất thường trong kinh doanh. Vì vậy, thủ tục phân tích chỉ dừng lại ở việc phân tích các biến động nhằm hiểu rõ hơn tình hình hoạt động của khách hàng, đồng thời phán đoán những rủi ro có thể xảy ra đối với từng khoản mục trên BCTC. Sau đó, kết quả của quá trình phân tích sẽ được sử dụng để hướng các thủ tục kiểm tra chi tiết vào các sai sót tiềm tàng. Giải pháp hoàn thiện Để hoàn thiện và nâng cao quy trình phân tích đối với các khoản mục trên BCTC nói chung và TSCĐ nói riêng, KTV vận dụng quy trình phân tích chuẩn kết hợp với xét đoán nghề nghiệp của mình tiến hành phân tích sự biến động các khoản mục, xác định nguyên nhân chênh lệch và phát hiện sự kiện bất thường. KTV tiến hành thu thập số liệu chung của toàn ngành, so sánh số liệu của khách hàng với các đơn vị khác cùng ngành. Trong quá trình phân tích tỷ suất để dự đoán về khả năng sai phạm hoặc có một cái nhìn tổng quan về những biến động bất thường tồn tại trong khoản mục TSCĐ trong tổng tài sản hoặc trong các tương quan khác. Đối với khoản mục TSCĐ, KTV có thể sử dụng tỷ suất đầu tư và tỷ suất tự tài trợ để phân tích (ngoài việc phân tích ngang là so sánh số liệu giữa kỳ này với kỳ trước, giữa số liệu đơn vị hạch toán với số ước tính của KTV) Tỷ suất đầu tư để đánh giá năng lực hiện có của doanh nghiệp, đánh giá mức độ trang bị máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất kinh doanh và cho công tác quản lý. Sau đó xem xét với tỷ suất chung của ngành. Tỷ suất này luôn nhỏ hơn 1, mức độ cao hay thấp tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp (ví dụ: đối với ngành thăm dò và khai thác dầu khí, tỷ suất đầu tư bằng 0,9 là hợp lý; đối với ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, tỷ suất bằng 0,1 – 0,3 là hợp lý…) Tỷ suất tự tài trợ cho biết nguồn gốc vốn chủ sở hữu dùng vào đầu tư TSCĐ và đầu tư dài hạn là bao nhiêu. Nếu doanh nghiệp có khả năng tài chính tốt thì nguồn vốn chủ sở hữu phải có đủ để đầu tư vào TSCĐ và đầu tư dài hạn để hoạt động. Tuy nhiên, do TSCĐ có tốc độ chu chuyển vốn chậm nếu đầu tư quá nhiều sẽ không tốt làm ứ đọng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Tỷ suất đầu tư = TSCĐ và đầu tư dài hạn Tổng tài sản Tỷ suất tự tài trợ = Nguồn vốn chủ sở hữu TSCĐ và đầu tư dài hạn Kiểm toán khoản mục TSCĐ, KTV không chỉ kiểm toán trực tiếp số dư của khoản mục TSCĐ mà còn phải thực hiện kiểm toán các khoản mục liên quan khác như: khấu hao TSCĐ, chi phí sửa chữa lớn TSCĐ. KTV có thể tính toán và phân tích một số tỷ suất sau: so sánh tỷ suất tổng chi phí khấu hao TSCĐ với tổng nguyên giá TSCĐ năm nay với năm trước; so sánh tỷ suất tổng khấu hao luỹ kế với tổng nguyên giá TSCĐ năm nay với năm trước, KTV nhằm phát hiện ra khả năng số khấu hao luỹ kế đơn vị phản ánh không chính xác; so sánh tỷ suất tổng chi phí sửa chữa lớn TSCĐ trên tổng nguyên giá TSCĐ năm nay với năm trước, KTV nhằm xác định có những chênh lệch trong phản ánh chi phí sửa chữa lớn; phân biệt chi phí sửa chữa lớn loại nào được ghi tăng nguyên giá TSCĐ, loại nào đưa trực tiếp vào các chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh trong kỳ… Khi thực hiện một thủ tục phân tích không phát hiện thấy có các biến động bất thường có nghĩa là khả năng sai số hoặc sai nguyên tắc hạch toán kế toán là không trọng yếu. Trong trường hợp đó, thể thức phân tích cấu thành bằng chứng thật sự để chứng minh tính trung thực và hợp lý trong trình bày số dư tài khoản liên quan, và việc tiến hành kiểm tra chi tiết sẽ được loại trừ hoặc quy mô mẫu có thể giảm bớt. Lúc đó hiệu quả của cuộc kiểm toán được nâng cao, chất lượng vẫn đảm bảo được thời gian và chi phí. Tính khả thi Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) có đặc điểm khách hàng là những Tổng Công ty lớn, do vậy việc lấy số liệu, các tỷ suất chung của toàn ngành liên quan đến công việc kiểm toán là có thể thực hiện được. Vì đa số khách hàng của Công ty là thường niên nên KTV rất am hiểu về đặc điểm hoạt động kinh doanh của đơn vị cũng như của toàn ngành, đó là cơ sở rất tích cực để tiến hành các thủ tục phân tích. Hoàn thiện công tác tìm hiểu và đánh giá hệ thống KSNB Cơ sở đưa ra kiến nghị Đánh giá vai trò chung của hệ thống KSNB và vai trò kiểm soát đối với từng khoản mục thường được thực hiện ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán. Công việc này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc đánh giá rủi ro kiểm soát, từ đó xác định được các thử nghiệm kiểm toán nhằm giảm thiểu rủi ro kiểm toán xuống mức thấp nhất. Thực tế tồn tại Tại AASC, các KTV luôn thận trọng và đảm bảo thu thập đầy đủ các thông tin cần thiết về khách hàng. Trong mỗi File “Hồ sơ kiểm toán”, KTV đều lưu giữ bảng câu hỏi tìm hiểu về hệ thống KSNB ứng với mỗi phần hành. Việc đánh giá hệ thống KSNB tại AASC được thiết kế trên chương trình kiểm toán nhưng thực tế công việc này chỉ được thực hiện đối với những khách hàng lớn và có bên thứ ba soát xét chất lượng thực hiện kiểm toán. Hơn nữa, việc đánh giá nhiều khi mang tính chất khái quát, không chi tiết và thường không lưu lại trên giấy làm việc mà chủ yếu qua sự phán xét của KTV. Thực tế này gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng chung của công tác kiểm toán, đặc biệt đối với những khách hàng kiểm toán năm đầu tiên. Khi tìm hiểu hệ thống KSNB của khách hàng, kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán chủ yếu thông qua phỏng vấn Ban Giám đốc đơn vị khách hàng, Thêm vào đó, các tài liệu thu thập được lưu ít trong Hồ sơ kiểm toán, chủ yếu bao gồm: quy chế làm việc, quy chế quản lý tài chính, Báo cáo của Ban kiểm soát., Biên bản họp HĐQT. Các thông tin này được xếp vào một File mà không có sự chắt lọc, phân tích, tổng hợp. Điều này sẽ khó khăn cho các lần kiểm toán tiếp theo, nhất là khi công việc do KTV mới đảm nhiệm. Giải pháp hoàn thiện Các thông tin thu thập được về khách hàng đặc biệt là những thông tin về tình hình kinh doanh, cơ sở pháp lý nên được chắt lọc, sắp xếp để tiện cho việc theo dõi. KTV cũng nên tổng hợp các thông tin thu thập được dưới dạng chắt lọc những thông tin quan trọng nhất vừa làm bằng chứng đánh giá hệ thống KSNB vừa là tài liệu tham khảo cho kỳ kiểm toán sau. Trong bảng câu hỏi đánh giá về hệ thống KSNB ứng với từng phần hành, ngoài các câu hỏi Có, Không, Không áp dụng, KTV nên thiết kế mở rộng Bảng câu hỏi dưới dạng câu hỏi mở. Ngoài ra, sau khi có các thông tin về khách hàng, KTV nên tóm tắt các thông tin đó dưới dạng Bảng tường thuật hoặc lưu đồ. Tính khả thi Để mô tả về hệ thống KSNB, các KTV của AASC sử dụng Bảng câu hỏi về hệ thống KSNB. Ưu điểm của công cụ này là được lập sẵn nên KTV có thể tiến hành nhanh chóng và không bỏ sót các vấn đề quan trọng. Nhưng do được thiết kế chung, nên Bảng câu hỏi có thể không phù hợp với mọi loại hình doanh nghiệp. Do đó, KTV nên sử dụng kết hợp Bảng câu hỏi với lưu đồ hoặc Bảng tường thuật. Nếu như việc Bảng câu hỏi cho KTV những đánh giá, nhận định các điểm yếu của hệ thống KSNB thì vẽ sơ đồ sẽ giúp KTV có cái nhìn tổng quát về hệ thống KSNB. Kết hợp hai hình thức này sẽ cho phép KTV có sự nhận xét chính xác hơn khi đánh giá hệ thống KSNB của khách hàng.Việc sử dụng kết hợp Bảng câu hỏi với Lưu đồ hoặc Bảng tường thuật sẽ giúp KTV hiểu tốt hơn về hệ thống KSNB, vừa làm cơ sở đưa ra ý kiến tư vấn cho khách hàng sau này. Việc áp dụng chương trình kiểm toán trong môi trường tin học Cơ sở đưa ra kiến nghị: Theo Chuẩn mực kiểm toán số 401 “Thực hiện kiểm toán trong môi trường tin học”, KTV và Công ty kiểm toán phải hiểu biết đầy đủ về môi trường tin học để lập kế hoạch chỉ đạo, giảm sát và kiểm tra công việc kiểm toán đã thực hiện. Việc vận dụng các chương trình kiểm toán trong môi trường tin học sẽ mang lại kết quả tích cực trong việc đánh giá hệ thống KSNB của khách hàng, đảm bảo thu thập được các bằng chứng đáng tin cậy về thiết kế và hoạt động của hệ thống KSNB của khách hàng. Từ đó, giai đoạn thực hiện kiểm toán không nhất thiết phải thực hiện thủ tục kiểm soát mà có thể đi thẳng vào các thủ tục kiểm tra chi tiết, giúp KTV Công ty kiểm toán tiết kiệm được thời gian, tiền bạc. Thực tế tồn tại: Tại AASC, trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, KTV chủ yếu thực hiện thủ tục phân tích và thủ tục kiểm tra chi tiết chứ chưa thực hiện thử nghiệm kiểm soát nhằm thu thập các bằng chứng đủ tin cậy về hệ thống KSNB của khách hàng. Hạn chế này sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng trong thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết sẽ kém hiệu quả làm ảnh hưởng đến chất lượng toàn cuộc kiểm toán. Giải pháp hoàn thiện Kiểm toán trong môi trường tin học đòi hỏi phải sử dụng kỹ thuật kiểm toán được trợ giúp bởi máy tính (CAATs). Kỹ thuật này giúp đỡ các KTV trong nhiều nhiệm vụ kiểm toán. CAATs là tập hợp các phương pháp, công cụ sử dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm toán. Một trong những công cụ được các KTV sử dụng rộng rãi hiện nay để thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán là phần mềm kiểm toán tổng quát (GAS). Nó cho phép KTV có thể truy nhập vào dữ liệu và áp dụng những qui tắc nghề nghiệp đối với dữ liệu để kiểm tra sự tồn tại và hiệu quả của kiểm soát nội bộ. Phần mềm kiểm toán tổng quát tổng hợp lại cho phép KTV xem xét các File máy tính mà không cần phải liên tục tạo ra các chương trình xử lý. Việc sử dụng phầm mềm máy tính trong hoạt động kiểm toán rất hiệu quả và tiết kiệm thời gian. Tuy nhiên hiệu quả của việc sử dụng CAATs còn phụ thuộc vào điều kiện ứng dụng cụ thể của từng Công ty. Tính khả thi: Để nhanh chóng đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kiểm toán, trước hết AASC phải đào tạo một đội ngũ KTV và chuyên gia nghiệp vụ đảm bảo về chuyên môn và thông thạo về máy tính nhằm đảm bảo: Có được sự hiểu biết đầy đủ về hệ thống kế toán và hệ thống KSNB chịu ảnh hưởng của môi trường tin học; Xác định ảnh hưởng của môi trường tin học đến việc đánh giá chung về rủi ro kiểm toán. rủi ro số dư tài khoản hoặc rủi ro từng loại giao dịch; Xây dựng và thực hiện các thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản phù hợp Như vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kiểm toán sẽ có ý nghĩa thiết thực trong việc đánh giá rủi ro kiểm toán đặc biệt là rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Sử dụng CAATs sẽ cải tiến việc kiểm tra hệ thống kiểm soát và kiểm tra độc lập giúp thu thập các bằng chứng có độ tin cậy cao hơn. Với sự hỗ trợ của phần mềm CAATs, việc lấy mẫu kiểm toán được thực hiện với kỹ thuật cao hơn làm giảm rủi ro phát hiện; qua đó, rủi ro kiểm toán cũng giảm đi. Để đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ tin học trong hoạt động kiểm toán, thiết nghĩ AASC nên tham khảo và lựa chọn một chương trình phần mềm phù hợp với đặc điểm hoạt động của Công ty trong tình hình thực tế kế toán, kiểm toán tại Việt Nam. Đồng thời, AASC nên tăng cường trang bị cho mình một hệ thống trang thiết bị phù hợp như đầu tư mua phần mềm kiểm toán phù hơp, trang bị hệ thống máy vi tính hiện đại cùng các chương trình quản lý và phát triển phần mềm. Ngoài ra, Công ty cũng nên đưa ra các giải pháp hỗ trợ việc ứng dụng phần mềm trong hoạt động kiểm toán nhằm đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ tin học trong thực tiễn hoạt động kiểm toán, xứng đáng là một trong những Công ty kiểm toán hàng đầu tại Việt Nam. KẾT LUẬN Kiểm toán trong nền kinh tế thị trường là một yếu tố tất yếu khách quan, nhất là trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, kiểm toán có vai trò hết sức quan trọng không chỉ đối với những người có nhu cầu sử dụng BCTC của các doanh nghiệp mà cả đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế tài chính của cơ quan chức năng nói riêng và Nhà nước nói chung. Với chức năng và nhiệm vụ của mình, kiểm toán đã chiếm một vị trí quan trọng trong việc tạo niềm tin cho những người quan tâm, làm lành mạnh hoá các thông tin tài chính, góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nền nếp hoạt động tài chính, từ đó nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý. Điều này một lần nữa khẳng định kiểm toán là “quan toà công minh của quá khứ”, người dẫn dắt cho hiện tại” và “người cố vấn sáng suốt cho tương lai”. Kiểm toán khoản mục TSCĐ, ước tính khấu hao tài sản đóng vai trò trong toàn bộ quy trình kiểm toán BCTC, bởi khoản mục TSCĐ có ảnh hưởng trọng yếu đến thông tin trên BCTC của một doanh nghiệp. Việc lập kế hoạch kiểm toán hợp lý, thực hiện công việc kiểm toán một cách khoa học tại tất cả các phần hành kiểm toán từ đơn giản đến phức tạp sẽ quyết định đến chất lượng, hiệu quả của cuộc kiểm toán. Khoản mục TSCĐ là khoản mục có ít nghiệp vụ và phát sinh không thường xuyên song lại có quy mô lớn và ảnh hưởng tới nhiều khoản mục và chỉ tiêu tài chính trên các bảng khai tài chính. Nó ảnh hưởng tới các tỷ suát tài chính, phản ánh năng lực sản xuất kinh doanh trong kỳ dẫn tới việc thay đổi lợi nhuận và các khoản thuế phải nộp nhà nước của doanh nghiệp. Vì vậy khi thực hiện kiểm toán BCTC của một đơn vị thì khoản mục TSCĐ là một trong những khoản mục quan trọng cần được tập trung kiểm toán. Trong quá trình học tập tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân và thời gian thực tập tại Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC), em đã có cách nhìn toàn diện hơn về kiểm toán BCTC nói chung và kiểm toán TSCĐ nói riêng. Do thời gian và kiến thức có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, em mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy, cô giáo cùng các anh, chị trong Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) để luận văn hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO GS.TS.Nguyễn Quang Quynh, Giáo trình Lý thuyết kiểm toán, Đại học Kinh tế Quốc dân – NXB Tài chính, Hà Nội tháng 01/2005 GS.TS Nguyễn Quang Quynh – TS.Ngô Trí Tuệ, Giáo trình kiểm toán tài chính, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2006 PGS.TS.Nguyễn Văn Công, Lý thuyết và thực hành kế toán tài chính, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 8/2006 A. Aren & J.K. Locbbecke, Auditing: An Interated Approach, Prentice/Hall internationa, INC Chuẩn mực kế toán, kiểm toán Việt Nam Hồ sơ kiểm toán, giấy tờ làm việc của KTV tại Công ty AASC Phụ lục số 01: Đánh giá hệ thống KSNB đối với khoản mục TSCĐ Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ Tên khách hàng: Tham chiếu: Niên độ kế toán: Người thực hiện: người được phỏng vấn: Ngày thực hiện: Tài sản cố định Các chỉ dẫn và yêu cầu Những cầu hỏi dưới đây nhằm trợ giúp cho việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng để giúp kiểm toán viên xác định mức độ trọng yếu khi kiểm toán BCTC của khách hàng. Những câu hỏi này không những cung cấp cho kiểm toán viên sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng mà còn giúp cho kiểm toán viên trong việc lập kế hoạch kiểm toán và xác định các thủ tục kiểm toán. Trước tiên kiểm toán viên cần thu thập các câu trả lời bằng cách phỏng vấn nhân sự chịu trách nhiệm quản lý hoặc ban hành các quy định của khách hàng. Mỗi câu hỏi cần được trả lời bằng cách điền vào các cột, dòng tương ứng. Có = Có áp dụng thủ tục kiểm soát Không = Thủ tục kiếm soát là cần thiết đối với hoạt động của doanh nghiệp nhưng khoông được áp dụng Không áp dụng = Thủ tục kiểm soát không cần thiết đối với hoạt động của doanh nghiệp Với những thủ tục có câu trả lời “Có” cần thu thập bản copy văn bản quy định của khách hàng hoặc mô tả lại một cách cụ thể trên các giấy làm v iệc khác. Với những thủ tục có câu trả lời “Không” hoặc “Không áp dụng” cần chỉ rõ ảnh hưởng của nó đến rủi ro kiểm toán và những điểm cần khuyến nghị trong TQL để hoàn thiện hệ thống KSNB.. Câu hỏi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ Có Không Không áp dụng Hệ thống thẻ tài sản cố định có được duy trì và cập nhật kịp thời không? Ngoài bộ phận kế toán, có bộ phận nào khác theo dõi và quản lý danh mục TSCĐ không? Việc mua sắm TSCĐ có phải lập kế hoạch trước hàng năm không? Có sự phân cấp trong việc quyết định mua sắm, đầu tư tài sản không? TSCĐ khi mua về có bắt buộc phải có bộ phận kiểm tra chất lượng và lập biên bản nghiệm thu trước khi giao cho bộ phận sử dụng và thanh toán không? TSCĐ khi giao cho bộ phận sử dụng có được lập biên bản bàn giao cho bộ phận chịu trách nhiệm quản lý và sử dụng không? TSCĐ có được mô tả đầy đủ thông tin trong Thẻ tài sản (sổ quản lý) đến mức có thể nhận diện TS ở bên ngoài không? TSCĐ có được đánh MÃ QUẢN LÝ riêng để có thể đối chiếu giữa tài sản ghi chép trên sổ và trên thực địa không? Đơn vị có văn bản quy định về trách nhiệm của người sử dụng, quy trình vận hành và sử dụng tài sản đối với những TSCĐ quan trọng, TSCĐ có giá trị lớn hoặc TSCĐ đòi hỏi phải tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt không? TCSĐ khi mang ra ngoài công ty có bắt buộc phải có sự đồng ý bằng văn bản của cấp lãnh đạo có thẩm quyền không? Có sổ theo dõi, quản lý các tài sản được tạm thời đưa ra khỏi Công ty hoặc đang sử dụng ngoài văn phòng Công ty (ví dụ như máy tính xách tay hay các tài sản mang đi công tác, cho thuê) không? Những TSCĐ đang thế chấp, cầm cố để đảm bảo cho các khoản vay có được ghi chép lại để theo dõi riêng không? Công ty có giao cho một bộ phận chuyên chịu trách nhiệm xử lý các vấn để khi TSCĐ bị hỏng không? Các nhân viên có buộc phải báo cho bộ phận chuyên trách khi TSCĐ bị hỏng trong quá trình sử dụng không? Các nhân viên có được phép tự sửa chữa TSCĐ khi TS bị sự cố mà không cần xin phép cấp lãnh đạo (hoặc xin phép sau) không? Tất cả các sự cố hỏng của TSCĐ có được ghi lại thành biên bản và lưu giữ lại không? Các TSCĐ chưa cần dùng có được bảo quản riêng trong kho để đảm bảo chúng không bị hư hại không? Tất cả các tài sản chờ thanh lý, chưa sử dụng có được theo dõi và quản lý riêng không? Công ty có quy định về việc thanh lý TSCĐ không? Các TS khi thanh lý có được sự phê duyệt của cấp lãnh đạo không? Có quy định bộ phận kế toán phải được nhận 01 bản các biên bản bàn giao tài sản đưa vào sử dụng, giấy báo hỏng, ngừng sử dụng tài sản, biên bản thanh lý không? Có quy định kiểm kê TSCĐ ít nhất 1 lần 1 năm không? Kế hoạch kiểm kê hoặc các tài liệu hướng dẫn có được lập thành văn bản và gửi trước cho các bộ phận, nhân sự tham gia không? Công ty có mua bảo hiểm cho TSCĐ không? Nếu có, tỷ lệ giá trị tài sản đã được bảo hiểm là ......% Công ty có theo dõi, ghi chép đối với các TSCĐ không cần dùng chờ thanh lý, tạm thời chưa sử dụng, đã khấu hao hết nhưng vẫn sử dụng không? Các quy định về mua sắm, quản lý, sử dụng và thanh lý TSCĐ có được tập hợp và hệ thống hoá thành 1 văn bản (quy chế) thống nhất không? Thử nghiệm kiểm soát Tham chiếu Đánh giá của KTV sau khi tiến hành kiểm tra hệ thống Dựa trên các công việc đã thực hiện,theo ý kiến của tôi:cácthủ tục kiểm soát có vẻ được thiết kế phù hợp và được vận hành một cách có hiệu quả trong suốt năm cho phép ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa những sai sót đáng kể phát sinh. [đã quy định nhưng các thủ tục…. là chưa phù hợp hoặc vận hành không hiệu quả nên không thể ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa những sai sót đáng kể phát sinh ] Khoanh vùng rủi ro và các chỉ dẫn cho việc lập kế hoạch Các vấn đề cần phải nêu trong TQL KTV soát xét (ký/tên viết tắt) Ngày soát xét: Phụ trách phòng soát xét (ký/tên viết tắt) Ngày soát xét:

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docThực trạng kiểm toán tscđ trong kiểm toán bctc do aasc thực hiện.DOC
Luận văn liên quan