Thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay

LỜI MỞ ĐẦU Một quốc gia muốn tồn tại và phát triển ngoài những điều kiện cần thiết thì cần có một bộ máy lãnh đạo, điều hành, quản lý mọi hoạt động trong mọi lĩnh vực kinh tế-chính trị-xã hội-an ninh quốc phòng. Để bộ máy đó được nuôi sống và hoạt động thường xuyên liên tục, nhà nước cần có một quỹ tài chính để phục vụ cho các hoạt động đó. Nguồn tài chính ấy được tạo ra chính là các khoản thu của nhà nước mà thuế là nguồn thu chủ yếu và quan trọng nhất. Ở Việt Nam, nguồn động viên từ thuế luôn giữ một tỉ lệ lớn. Tuy nhiên thuế lại là một vấn đề nhạy cảm và thường gây ra sự phản ứng của người dân. Chính vì vậy làm sao để thu thuế đạt hiệu quả mà vẫn đảm bảo tính công bằng và nguyện vọng của người dân đó là phải thực hiện một công tác quản lý về thuế tốt. Nhận thức được vai trò của công tác quản lý thuế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, em đã lựa chon đề tài:" Thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay" để tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề chung nhất về thuế và quản lý thuế, tìm hiểu thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam trong giai đoạn gần đay và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn công tác quản lý thuế ở Việt Nam. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU .2 Chương I: Những vấn đề chung về thuế và quản lý thuế .3 I. Khái quát chung về thuế 3 1. Lịch sử hình thành, khái niệm, đặc điểm, phân loại thuế 3 2. Các yếu tố cơ bản của một sắc thuế 6 3. Vai trò của thuế 7 4. Hệ thống thuế ở Việt Nam .7 II. Khái quát chung về quản lý thuế 8 1. Khái niệm, đặc điểm .8 2. Vai trò của quản lý thuế .9 3. Nguyên tắc quản lý thuế 9 4. Nội dung quản lý thuế .10 5. Mục tiêu, yêu cầu quản lý thu thuế .13 Chương II: Thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay .14 I. Thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam giai đoạn 2007-2011 14 1. Chính sách thuế và việc thực hiện chính sách thuế .14 2. Hoạt động của bộ máy quản lý thuế 15 3. Thủ tục hành chính và thực hiện các chức năng quản lý thuế 17 II. Những hạn chế và nguyên nhân quản lý thuế kém hiệu quả 20 1. Một số hạn chế 20 2. Nguyên nhân .22 Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay .23 I. Định hướng hoàn thiện công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay .23 II. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay 23 1. Về chính sách thuế 26 2. Phân cấp chức năng, nhiệm vụ của từng cấp cơ quan quản lý thuế 28 3. Lực lượng cán bộ quản lý thuế 28 4. Tổ chức thực hiện chức năng quản lý thuế .29 KẾT LUẬN 30 TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

doc32 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 07/02/2013 | Lượt xem: 29279 | Lượt tải: 176download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ông bằng. Công bằng theo chiều ngang, mọi cá nhân và tổ chức có thu nhập như nhau thì phải chịu thuế như nhau, không có sự phân biệt giữa thuế nhiều hơn hay ít hơn. Bên cạnh công bằng về chiều ngang thì còn công bằng về chiều dọc. Không phải mọi thu nhập như nhau nào cũng có hoàn cảnh giống nhau. Khả năng nộp thuế của mọi người là khác nhau. Có thể dựa vào gia cảnh của mỗi thu nhập để giảm trừ tiền thuế phải nộp cho các cá nhân, tổ chức. Công bằng trong thuế là công bằng theo nghĩa vụ nộp thuế. Mỗi các nhân, tổ chức đều có nghĩa vụ nộp thuế khác nhau. Nộp thuế là quyền lợi và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức, vì vậy phải đảm bảo thực hiện nộp thuế theo chính sách, pháp luật sao cho công bằng. Về tính ổn định của pháp luật thuế, một luật thuế phải đảm bảo tính ổn định để làm cơ sở cho việc thu nộp thuế, tính thuế. Các cơ sở thuế phải ít thay đổi để người thực hiện nghĩa vụ thuế có thể nắm bắt được mà không phải mất nhiều thời gian tìm hiểu về những pháp luật thuế mới thay đổi. Bên cạnh đó, pháp luật thuế phải đảm bảo tính đơn giản. Đơn giản là luật thuế phải rõ ràng, dễ hiểu, phải đơn giản nhất để người dân dễ dàng nắm bắt được và thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Như vậy, thiết kế chính sách thuế và thể chế thành pháp luật thuế phải đảm bảo được các yêu cầu cần có để có một chính sách thuế hiệu quả, đảm bảo nguồn thu chủ yếu vào ngân sách nhà nước. 4.2. Xây dựng tổ chức bộ máy thu thuế: Để đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước nhằm phục vụ cho việc thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của nhà nước trong từng thời kì nhất định, nhà nước ban hành pháp luật thuế để huy động một bộ phận thu nhập quốc dân thông qua điều tiết một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội vào tay nhà nước. Các luật thuế muốn được thực thi trong đời sống xã hội phải thông qua hoạt động của bộ máy thu thuế. Bộ máy thu thuế là tổng thể các cơ quan hành chính có quan hệ hữu cơ với nhau trên cơ sở chức năng, nhiệm vị và quan hệ công tác được quy định để tổ chức thưc thi các luật thuế. Bộ máy thu thuế được phân chia thành các cấp khác nhau từ trung ương, đến tỉnh, huyện. Tổng cục thuế đề ra chế độ, chính sách về thuế. Cục thuế và chi cục thuế tham gia trực tiếp vào việc thu thuế. Để bộ máy thu thuế dạt hiệu quả cần chú ý đến các nội dung về xây dựng cơ cấu tổ chức các cơ quan trong bộ máy thu thuế, xây dựng hệ thống các quy định về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ trong bộ máy và xây dựng lực lượng cán bộ. Về mô hình tổ chức bộ máy thu thuế có nhiều loại khác nhau như: mô hình tổ chức bộ máy thu thuế theo đối tượng, mô hình tổ chức bộ máy thu thuế theo sắc thuế, mô hình tổ chức bộ máy thu thuế theo sắc thuế, mô hình tổ chức bộ máy thu thuế theo chức năng, mô hình tổ chức bộ máy thu thuế hỗn hợp. Mỗi mô hình có những ưu, nhược điểm nhất định, tùy vào điều kiện, hoàn cảnh của mỗi quốc gia mà áp dụng các mô hình cho phù hợp. Ở Việt Nam, tổ chức bộ máy thu thuế theo mô hình hỗn hợp giữa mô hình chức năng và mô hình theo sắc thuế. Tuy nhiên mô hình theo chức năng là nổi trội hơn cả. Việc xây dựng hệ thống các quy định về chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ trong bộ máy được phân chia theo các cơ quan trong bộ máy, mỗi bộ phận nắm giữ một chức năng riêng và có nhiệm vụ nhất định để hoàn thành tốt việc thu thuế hiệu quả, công bằng. Do nghiệp vụ thu thuế là một nghiệp vụ mang tính chuyên ngành vì vậy các cán bộ làm việc trong các cơ quan, tổ chức cần phải có trình độ, chuyên môn nghiệp vụ để đảm bảo thực hiện đúng quy trình thu thuế. Vấn đề xây dựng lực lượng cán bộ dáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của bộ máy thu thuế được quy định trong Điều 18 Luật quản lý thuế. 4.3. Xây dựng quy trình quản lý thuế: Quy trình quản lý thuế được hiểu là trình tự thực hiện và trách nhiệm thực hiện công việc trong quản lý thu thuế. Quy trình quản lý thu thuế bao gồm những công việc, thao tác nghiệp vụ của cán bộ quản lý thuế đối với đối tượng nộp thuế, trách nhiệm của từng bộ phận trong công việc quản lý, mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận, thời hạn và thời điểm phải hoàn thành những bước công việc, yêu cầu phải đạt được của công việc cụ thể. Quy trình quản lý thuế phải được quy định rõ ràng và công khai. Phải quy định rõ trách nhiệm của đối tượng nộp thuế nhất là việc phải phân chia rõ các doanh nghiệp và các hộ gia đình sản xuất kinh doanh. Có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa các phòng ban chức năng của cơ quan thuế. Đối với quản lý thuế các phần việc phải được quy định một cách khoa học, liên hoàn, thống nhất theo thứ tự yêu cầu quản lý và thuận lợi cho người nộp thuế. 4.4. Tổ chức thực hiện các chức năng quản lý thuế: Quản lý thuế thực hiện nhiều chức năng khác nhau gồm: tuyên truyền giáo dục pháp luật thuế, hỗ trợ đối tượng nộp thuế, quản lý kê khai nộp thuế, kiểm tra thanh tra thuế, đôn đốc thu nộp thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, xử lý vi phạm pháp luật về thuế. Mỗi chức năng có những biện pháp thực hiện khác nhau, phù hợp với từng hoàn cảnh khác nhau mà các chức năng được thực hiện tốt hơn. Tuyên truyền giáo dục pháp luật thuế có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau như: báo, đài, treo băng rôn, khẩu hiệu, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu và tập huấn, lồng ghép tuyên truyền quản lý thuế trong các sản phẩm văn hóa,... Với mục đích là nằm nâng cao hiểu biết và ý thức tự giác của người dân về thuế. Tùy thuộc vào trình độ của người dân ở mỗi địa phương mà áp dụng những biện pháp phù hợp với địa phương mình. Chức năng hỗ trợ đối tượng nộp thuế cũng có nhiều biện pháp khác nhau: kê khai thuế qua mạng, tổ chức các buổi tập huấn về thuế, gửi công văn hướng dẫn đến các cơ quan, giải đáp trực tiếp hoặc qua email, điện thoại,... Với mục đích giúp đối tượng nộp thuế dễ dàng thực hiện nghĩa vụ thuế của mình. Về quản lý đăng ký, kê khai và nộp thuế gồm các nội dung về cấp mã số thuế, thu thập,xử lý thông tin về đối tượng nộp thuế, quản lý kê khai và nộp thuế. Đây là chức năng mang tính nghiệp vụ cụ thể và thực hiện theo quy trình quản lý. Kiểm tra, thanh tra thuế dưới nhiều hình thức khác nhau: kiểm tra hồ sơ thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế, kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế với mục đích đánh giá tính chính xác, đầy đủ của thông tin chứng từ trong hồ sơ thuế và sự tuân thủ pháp luật của đối tượng nộp thuế. Thanh tra thuế cũng được thực hiện dưới các hình thức khác nhau và các đối tượng khác nhau để giải quyết các khiếu nại, tố cáo, ngăn cặn những dấu hiệu vi phạm về thuế. Đôn đốc thu nộp thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế khi không nộp thuế khi đã hết hạn, hết thời gian gia hạn hoặc còn nợ tiền thuế, tiền phạt nhưng có hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn. Các biện pháp cưỡng chế được thực hiện là: trích tiền từ tài khoản, yêu cầu phong tỏa tài khoản, khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập, kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên, thu tiền tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ, dừng làm thủ tục hải quan với hàng hóa nhập khẩu, thu hồi mã số thuế, đình chỉ việc sử dụng hàng hóa, thu hồi giấy chứng nhận kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề. Xử lý vi phạm pháp luật vê thuế bằng biện pháp xử phạt hành chính hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đó là các vi phạm về thủ tục thuế, nộp tiền thuế chậm, khai sai dẫn đến thiếu số thuế phải nộp nhưng được tăng số thuế được hoàn, trốn thuế, gian lận thuế. Mục tiêu, yêu cầu quản lý thu thuế: Mục tiêu quản lý thu thuế thứ nhất là bảo đảm thực hiện tốt nhất dự toán thuế. Dự toán thuế do chính những cơ quan sử dụng trực tiếp ngân sách nhà nước lập dự toán thuế, được lập cùng thời điểm lập dự toán ngân sách nhà nước và được thực hiện cùng thời gian của năm ngân sách. Thứ hai, quản lý thu thuế phải đảm bảo thi hành nghiêm pháp luật về thuế và phát huy được vai trò tích cực của thuế. Yêu cầu quản lý thu thuế gồm các yêu cầu về thu đúng, thu đủ, thu kịp thời. Đúng theo nghĩa vụ thuế của đối tượng nộp thuế. Thu đủ số thuế phải nộp. Thu kịp thời theo đúng thời điểm theo quy định của pháp luật về số thuế phải nộp. Quản lý thu thuế phải tạo thuận lợi cho người thu thuế và người nộp thuế tối thiểu hóa chi phí hành thu. Tiết kiệm thời gian cho người nộp thuế và thu thuế thông qua bộ máy quản lý thu thuế hiệu quả. Bên cạnh đó cải cách quá trình thu nộp thuế. Quản lý thuế phải gắn với việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội vĩ mô của nhà nước như: chống lạm phát,... Phải gắn với thục tế và thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội. Chương II: Thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay I. Thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam trong giai đoạn 2007-2011: Chính sách thuế và việc thực hiện chính sách thuế: Luật Quản Lý Thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 của Quốc Hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 năm 2006 ra đời là cơ sở để tiến hành, thực hiện việc quản lý thu thuế ở nước ta theo đúng quy trình thủ tục và theo đúng các quy định của pháp luật. Trong đó Luật quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nội dung quản lý thuế, các nguyên tắc trong quản lý thuế, nghĩa vụ của người nộp thuế, trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế, thủ tục hành chính thuế,... Ngoài ra còn có một số văn bản liên quan đến quản lý thuế đó là: Nghị định số 85/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25 tháng 5 năm 2007 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế. Thông tư số 60/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 14/6/2007 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế.Ngày 25/7/2007, Bộ Tài chính đã có Quyết định số 2476/QĐ-BTC Về việc đính chính Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế.Thông tư 85/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007 của Bộ Tài chính Hướng dẫn thi hành Luật quản lý thuế về việc đăng ký thuế. Công văn số 3267/TCT–CS của Tổng cục thuế ngày 14 tháng 8 năm 2007 Về việc hướng dẫn áp dụng mẫu tờ khai thuế GTGT thực hiện theo Luật Quản lý thuế. Công văn số 10490 /BTC–TCT của Bộ Tài chính ngày 07 tháng 8 năm 2007 Về việc áp dụng mẫu tờ khai theo ứng dụng phần mềm hỗ trợ kê khai. Hơn 20 năm qua, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới kinh tế, mở cửa và hội nhập, hệ thống chính sách thuế đã được cải cách và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước. Các luật thuế đã được Quốc hội ban hành tương đối đồng bộ và có phạm vi điều chỉnh toàn diện đến các hoạt động kinh tế - xã hội. Đồng thời trong từng luật thuế đã quy định nội dung quản lý thuế mang tính chất khung, trên cơ sở đó Chính phủ, Bộ Tài chính đã có những quy định cụ thể để hướng dẫn, tổ chức công tác quản lý thuế đảm bảo việc thực thi chính sách thuế theo quy định của pháp luật. Luật Quản lý thuế đã tạo khung pháp lý chung để thực thi tất cả các luật, pháp lệnh về thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách Nhà nước do cơ quan quản lý thuế thu. Sự ra đời của Luật Quản lý thuế khắc phục được tình trạng chia cắt tách biệt về phương thức quản lý giữa các loại thuế. Từ đó tạo nền tảng cho việc áp dụng một cơ chế quản lý thuế tiên tiến, hiện đại theo hướng tự tính, tự khai, tự nộp thuế. Về chính sách thuế, hệ thống chính sách đạt được xây dựng đồng bộ có cơ cấu hợp lý bao quát hầu hết các nguồn thu, thực sự trở thành công cụ quan trọng của Đảng và Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo hướng khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Hệ thống chính sách thuế được sửa đổi, bổ sung kịp thời đã góp phần đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng khá, bình quân 7%/năm, góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân. Quy mô thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2006-2010 tăng gấp 2 lần so với giai đoạn 2001-2005. Tỷ lệ động viên thu NSNN bình quân đạt 23% GDP (không bao gồm yếu tố tăng giá, do giá dầu thô ở mức cao và thu từ đất đai) so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đặt ra là 21-22% GDP, trong đó động viên từ thuế và phí vào ngân sách nhà nước bình quân đạt 22% GDP so với mục tiêu Chiến lược cải cách hệ thống đến năm 2010 đặt ra là 20-21% GDP. Tốc độ tăng thu từ thuế, phí và lệ phí vào ngân sách nhà nước bình quân hàng năm đạt 19,6%. Cơ cấu thu ngân sách nhà nước được cải thiện theo chiều hướng tích cực đảm bảo tính ổn định, bền vững, nguồn thu từ sản xuất kinh doanh trong nước tăng dần qua các năm và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu ngân sách nhà nước, năm 2006 tỷ trọng thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) trong tổng thu ngân sách nhà nước là 52% thì đến năm 2010 đã tăng lên 63,4%. 2. Hoạt động của bộ máy quản lý thuế: Sơ đồ bộ máy quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay. Công tác quản lý đã được hiện đại hóa toàn diện cả về phương pháp quản lý, thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy cơ quan thuế, đội ngũ cán bộ, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý thuế; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý thuế, bao quát được các nguồn thu, giảm thiểu tối đa thất thu thuế, bảo đảm thu đúng, thu đủ và kịp thời các khoản thu vào ngân sách nhà nước; đồng thời kiểm soát được các hoạt động sản xuất kinh doanh qua đó thúc đẩy đầu tư, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng. Ý thức chấp hành pháp luật của người nộp thuế cũng được nâng cao hơn qua thực hiện cơ chế cơ sở sản xuất kinh doanh tự tính, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Thông qua thực hiện 10 chương trình cải cách và hiện đại hóa công tác thuế đã tạo thuận lợi hơn cho cơ quan thuế trong thực thi nhiệm vụ và người nộp thuế được tạo thuận lợi tối đa để tự thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật, đặc biệt trong xây dựng thế chế và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế. Căn cứ Chiến lược cải cách, hiện đại hoá hệ thống thuế và Luật Quản lý thuế, Tổng cục Thuế đã xây dựng Đề án trình Bộ Tài chính và trình Thủ tướng Chính phủ quyết định kiện toàn tổ chức bộ máy Tổng cục Thuế chủ yếu theo mô hình chức năng. Đồng thời, Tổng cục Thuế cũng đã xây dựng các văn bản quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban, đơn vị thuộc Tổng cục Thuế; quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Cục Thuế các tỉnh, thành phố, của Chi cục thuế các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc Cục thuế; quy định về chức năng, nhiệm vụ các phòng thuộc Cục thuế và các Đội thuộc Chi cục thuế. Chức năng và nhiệm vụ của từng cấp cơ quan thuế được phân cấp như sau: Tổng cục Thuế thực hiện các nhiệm vụ: Tham gia nghiên cứu, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về thuế, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý thuế theo phân cấp của Bộ Tài chính để hướng dẫn thực hiện trong phạm vi cả nước; Nghiên cứu, xây dựng các quy trình nghiệp vụ quản lý thuế; hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thực các quy trình, biện pháp nghiệp vụ, quản lý biên chế, kinh phí, bảo đảm thống nhất trong toàn ngành thuế. Tổng cục thuế cũng thực hiện chỉ đạo cơ quan thuế các cấp thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật thuế, trực tiếp tổ chức thanh tra thuế đối với những đối tượng nộp thuế lớn, có phạm vi kinh doanh đa dạng, phức tạp, liên quan đến nhiều địa phương hoặc quốc tế. Cục Thuế bên cạnh nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo các Chi cục Thuế thực hiện các chức năng quản lý thuế trên địa bàn, còn trực tiếp quản lý thuế đối với các doanh nghiệp lớn và vừa, có phạm vi kinh doanh liên quan đến nhiều quận huyện, tỉnh, thành phố; các doanh nghiệp thuộc diện phải hoàn thuế giá trị gia tăng; quản lý những nguồn thu lớn, quan trọng, gồm các sắc thuế: giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt, thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân theo phương pháp khấu trừ tại nguồn, các khoản phí, lệ phí của các tổ chức, doanh nghiệp thuộc tỉnh, thành phố quản lý. Thực hiện chức năng thanh tra đối với tất cả các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Chi cục Thuế trực tiếp quản lý thuế đối với các tổ chức, cá nhân nộp thuế còn lại, đó là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, các đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân (không qua khấu trừ tại nguồn), các khoản thu lệ phí trước bạ, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà đất, các loại phí, lệ phí phát sinh trên địa bàn quận, huyện, thị xã... và các sắc thuế mới theo chương trình cải cách của Nhà nước. Chi cục Thuế thực hiện tất cả các chức năng quản lý thuế, trừ nhiệm vụ thanh tra thuế. 3. Thủ tục hành chính và tổ chức thực hiện các chức năng quản lý thuế: Giai đoạn 2007-2011, ngành thuế đã trình Bộ Tài chính công bố bộ thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực thuế, phí, lệ phí, gồm 330 thủ tục và công khai trên các trang thông tin điện tử của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, tại cơ quan thuế các cấp để doanh nghiệp, người dân biết và dễ dàng thực hiện, đồng thời, kiểm soát việc thực thi theo đúng quy định, tránh sự tùy tiện gây phiền hà cho người nộp thuế. Đơn giản hóa 271/330 thủ tục hành chính, trong đó sửa đổi, bổ sung 261 thủ tục, thay thế 6 thủ tục và bãi bỏ 4 thủ tục, tiết kiệm cho cá nhân, tổ chức 1.921 tỷ đồng/năm. Bộ Tài chính đã kiến nghị đơn giản hóa 35 thủ tục kịp thời tháo gỡ những vướng mắc cho doanh nghiệp cắt giảm được 1.582 tỷ đồng/năm. Trong 3 năm qua, với nỗ lực đơn giản hóa các thủ tục hành chính ở các cơ quan công quyền từ Trung ương đến địa phương, 88% thủ tục hành chính đã được đơn giản hóa, tương ứng với gần 5.000 thủ tục hành chính đang được thực hiện tại các cấp chính quyền. Tính đến ngày 10/6/2011, đã có 3.636 thủ tục hành chính của các địa phương được đơn giản hóa và con số này ở bộ, ngành Trung ương là hơn 1.900 thủ tục. Chính phủ ước tính, với việc đơn giản hóa thủ tục hành chính sẽ giúp tiết kiệm khoảng 30.000 tỷ đồng mỗi năm cho các tổ chức, cá nhân. Về thủ tục hóa đơn, cho phép khuyến khích các doanh nghiệp tự in ấn và sử dụng hóa đơn, chỉ cần thông báo mẫu hóa đơn tự in cho cơ quan thuế trước khi sử dụng. Cơ quan thuế chỉ quy định các thông tin chính trên hóa đơn để phục vụ mục tiêu quản lý. Hồ sơ mua hóa đơn được đơn giản hóa đến mức thấp nhất; với phương án này dự kiến tiết kiệm gần 400 tỷ đồng/năm. Thủ tục đăng ký thuế được cải tiến, đẩy mạnh đăng ký thuế qua mạng và đơn giản hóa các mẫu khai đăng ký thuế phù hợp. Ðối với thủ tục về khai thuế, nộp thuế giá trị gia tăng được cải cách theo hướng phân loại đối tượng để giảm số lần kê khai theo tháng xuống còn 3 tháng hoặc 6 tháng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Riêng đối với thủ tục hoàn thuế, hồ sơ hoàn thuế được tách làm hai loại: hoàn thuế gắn liền với hồ sơ khai thuế trong các trường hợp hoàn thuế phát sinh ngay từ khâu tính thuế, quyết toán thuế và hoàn thuế cần phải làm hồ sơ đề nghị hoàn riêng như một thủ tục hành chính độc lập áp dụng đối với các trường hợp hoàn thuế liên quan các số liệu lịch sử. Thực hiện chủ trương của Đảng và nghị quyết của Quốc hội về cải cách hành chính nói chung và thủ tục hành chính nói riêng, ngày 17/9/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 với mục tiêu chung là “Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng” và một trong những mục tiêu cụ thể là “Xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành chính mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân”. Với sự chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ sau khi triển khai Đề án 30 (tháng 7/2008), sự ủng hộ và quyết tâm của các bộ, ngành, địa phương và sự tham gia tích cực của người dân và doanh nghiệp, cũng như huy động được các nguồn lực trong xã hội để thực hiện nên cải cách thủ tục hành chính đã đạt được những kết quả quan trọng, tích cực. Đã công bố được Bộ cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính tại 4 cấp chính quyền và công khai trên mạng Internet, với trên 5.700 thủ tục hành chính, trên 9.000 văn bản có quy định về thủ tục hành chính và trên 100.000 biểu mẫu thống kê thủ tục hành chính. Một số lượng lớn các thủ tục hành chính rườm rà, chồng chéo, không hợp lý, dễ bị lợi dụng, lạm dụng đã được rà soát, loại bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung; nhiều thủ tục hành chính mới được ban hành theo hướng công khai, minh bạch, thuận lợi, hướng tới xây dựng một nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, thu hút đầu tư, được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận. Theo báo cáo đánh giá về môi trường kinh doanh năm 2011 của Ngân hàng thế giới (WB) vừa được công bố, Việt Nam được xếp trong Top 10 nền kinh tế cải cách tốt nhất, đứng thứ 78/183 quốc gia, tăng 10 bậc về môi trường kinh doanh. Đây là thứ hạng cao nhất của Việt Nam trong nhiều năm gần đây.. Cũng theo báo cáo trên, Việt Nam đã áp dụng cơ chế một cửa, giảm nhiều thủ tục hành chính, tổ chức lại bộ máy, thực hiện phân quyền, phân cấp mạnh mẽ và ngày càng đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Từ năm 2007, toàn ngành Thuế đã triển khai tốt việc tổ chức tiếp nhận và giải quyết các thủ tục hành chính thuế cho người nộp thuế theo cơ chế "một cửa". Theo đó, người nộp thuế chỉ phải đến một nơi để thực hiện toàn bộ các thủ tục hành chính thuế từ khi nộp hồ sơ đến khi nhận kết quả, thời gian giải quyết đúng hạn theo giấy hẹn. Bên cạnh việc triển khai cơ chế ‘một cửa’ trong toàn ngành, cơ quan thuế còn phối hợp cơ quan đăng ký kinh doanh, công an thực hiện tốt cơ chế "một cửa liên thông" trong việc cấp đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, chứng nhận con dấu cho doanh nghiệp; liên thông giải quyết các hồ sơ thực hiện nghĩa vụ tài chính liên quan sử dụng đất… Các thủ tục đăng ký cấp mã số thuế, khai thuế, nộp thuế… là những thủ tục hành chính chiếm tỷ trọng lớn trong các thủ tục hành chính thuế, làm mất nhiều thời gian và chi phí của người dân và doanh nghiệp. Trong thời gian qua, ngành thuế đã nỗ lực phát triển và triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ người nộp thuế thực hiện các thủ tục này nhằm tạo thuận lợi và giảm chi phí cho người nộp thuế. Ðã thống nhất áp dụng mã số thuế giữa cơ quan hải quan và cơ quan thuế; thống nhất mã số đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế còn một mã số doanh nghiệp theo cơ chế một cửa liên thông, rút ngắn được thời gian cấp mã số thuế từ 30 ngày xuống còn năm ngày. Bước đầu áp dụng hình thức người nộp thuế khai và gửi hồ sơ qua mạng đối với việc đăng ký thuế thu nhập cá nhân của người làm công ăn lương thông qua cơ quan chi trả… Về thủ tục khai thuế, cùng với việc sửa đổi các văn bản pháp luật, các văn bản hướng dẫn về thuế đơn giản, rõ ràng, dễ thực hiện, ngành thuế đã xây dựng và triển khai dự án nộp hồ sơ khai thuế qua internet, giảm được nhiều chi phí về thời gian đi lại, chờ đợi để nộp tờ khai và chi phí in ấn, lưu trữ tờ khai, giảm áp lực cho cơ quan thuế trong những ngày cao điểm tiếp nhận tờ khai thuế và nhập dữ liệu, lưu trữ hồ sơ của người nộp thuế. Từ tháng 8-2009, ngành Thuế đã thực hiện thí điểm nộp hồ sơ khai thuế qua mạng cho gần 1.500 doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bà Rịa – Vũng Tàu, Ðà Nẵng và Vĩnh Phúc. Ngoài ra, ngành Thuế đã tham gia thực hiện Dự án hiện đại hóa thu ngân sách Nhà nước giữa các cơ quan thuế – kho bạc – hải quan – tài chính; phối hợp kho bạc nhà nước và một số ngân hàng thương mại thực hiện dự án ‘Nộp thuế qua ngân hàng’, giúp người nộp thuế giảm chi phí về thời gian, giấy tờ, bảo đảm tính chính xác trong quá trình thu thuế vào ngân sách Nhà nước. II. Những hạn chế và nguyên nhân quản lý thuế kém hiệu quả: Một số hạn chế: 1.1. Về chính sách, pháp luật thuế: Thủ tục hành chính còn rườm rà, gây khó khăn cho người nộp thuế; một số quy định về thủ tục hồ sơ chưa đồng bộ với các văn bản pháp luật khác. Luật Quản lý thuế hiện hành chủ yếu vẫn đảm nhiệm sứ mệnh giải quyết tình thế cho các luật về chính sách thuế, nên không mang tính chất thực tiễn cao, chưa đáp ứng được nguyện vọng của người nộp thuế, bởi vì nộp thuế không chỉ là nghĩa vụ, mà còn là quyền của người dân, doanh nghiệp đóng góp với Nhà nước, xã hội. Mối quan hệ giữa người nộp thuế chưa trở thành mối quan hệ trung tâm của luật này nên các cơ chế bảo đảm thực hiện vẫn dành quyền lợi hơn cho cơ quan thuế. Các quy định của luật mang tính chất bắt buộc, cưỡng chế, chứ chưa khuyến khích thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Chính vì thế luật này chưa đạt được mục tiêu nâng cao nhận thức về việc tuân thủ nghĩa vụ của hàng chục triệu người nộp thuế. Hiện nay, việc người nộp Thuế thực hiện các giao dịch với cơ quan thuế thông qua môi trường điện tử ngày càng phổ biến ( nộp hồ sơ khai thuế qua mạng ) nhưng luật quản lý thuế chưa quy định tính pháp lý đối với các giao dịch thông qua môi trường này. Thời hạn nộp hồ sơ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp trong luật quản lý thuế chưa phù hợp với người nộp thuế có thu nhập ở nước ngoài thường dài hơn thời hạn khai thuế theo quy định tại văn bản pháp luật về thuế của Việt Nam. Quy định về thời gian nộp hồ sơ khai lệ phí trước bạ trong luật quản lý thuế và thời hạn đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản theo quy định của pháp luật về đăng ký tài sản chưa thống nhất, dẫn đến cách hiểu khác nhau giữa giữa người nộp thuế với cơ quan thuế và giữa các địa phương thực hiện. Luật quy định "hồ sơ hoàn thuế được nộp tại cơ quan quản lý thuế trực tiếp hoặc tại cơ quan hải quan có thẩm quyền hoàn thuế" nhưng lại chưa có quy định đối với trường hợp nhà thầu nước ngoài không có cơ quan quản lý thuế trực tiếp. Tại điều 32 Luật quản lý thuế quy định thời hạn nộp hồ sơ khai thuế chậm nhất là ngày thứ 10 kể từ ngày phát sinh thuế đối với các loại thuế khai và nộp từng lần phát sinh. Tuy nhiên ngày phát sinh nghĩa vụ thuế là thời điểm nào, cụ thể như thế nào lại chưa có văn bản hướng dẫn chưa đảm bảo tính rõ ràng, minh bạch. Tại điểm 2, Điều 32, luật quản lý thuế quy định , thời hạn nộp thuế năm chậm nhất là ngày thứ 90 ngày kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài chính. Nhưng theo các chuyên gia , thời gian 90 ngày là quá ngắn để doanh nghiệp tập hợp chứng từ phục vụ việc quyết toán, dẫn đến nhiều trường hợp doanh nghiệp đến hạn nộp hồ sơ quyết toán nhưng sau khi có kết quả kiểm toán lại phải làm hồ sơ điều chỉnh quyết toán thuế năm mất rất nhiều thời gian, công sức. Tại điều 8 của Luật Quản Lý Thuế quy định cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm " Giải thích, cung cấp thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế cho người nộp thuế". Luật cũng quy định các tổ chức , cá nhân có trách nhiệm tự kê khai, tính thuế , nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Nhưng luật lại không quy định trường hợp cơ quan quản lý thuế giải thích, hướng dẫn sai, dẫn đến người nộp thuế kê khai, tính thuế sai thì trách nhiệm của cơ quan thuế phải xác định và xử lý như thế nào. Thực tế đã cho thấy, có một số trường hợp doanh nghiệp đã khởi kiện cơ quan thuế ra tòa vì hướng dẫn sai, rồi sau đó lại xử phạt doanh nghiệp. Do đó, xây dựng các căn cứ pháp lý điều chỉnh cho các trường hợp này cũng đang là đòi hỏi cấp thiết từ thực tế. Như vậy, luật quản lý thuế có vai trò hết sức quan trọng trong việc điểu hành chính sách thuế, hay nói cách khác, Luật quản lý thuế là luật tổ chức thực hiện các luật thuế. Vì lẽ đó hiệu quả của các luật về chính sách thuế như Luật thuế thu nhập cá nhân, Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế GTVT...phụ thuộc rất nhiều vào luật quản lý thuế. Để luật quản lý thuế đi vào cuộc sống, được thực thi một cách có hiệu quả trong thực tế thì ngày từ khi thiết kế, xây dựng, các nhà hoạch định phải xác định đúng quan điểm, định hướng xây dựng luật là phục vụ người dân, theo đó bộ máy quản lý vận hành chỉ là để thực thi thể chế và phục vụ nhân dân, chỉ khi được tạo dựng trên nền tảng cơ bản đó, các quy định cụ thể của luật quản lý thuế mới được soạn thảo đúng hướng, đúng mục tiêu để trở thành một đạo luật hoàn chỉnh, vừa đáp ứng đầy đủ kịp thời yêu cầu của công tác quản lý, vừa phù hợp với ý nguyện của người nộp thuế.Tính pháp lý của các quy định về quản lý thuế chưa cao, dẫn đến hạn chế trong việc tuân thủ pháp luật thuế; các quy định về quản lý thuế còn phân tán tại nhiều văn bản pháp luật, có nội dung còn chưa thống nhất; quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp luật của các chủ thế tham gia quản lý thuế chưa được quy định đầy đủ, rõ ràng, ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác quản lý thuế, công tác phòng chống, xử lý các hành vi vi phạm phát luật thuế, chống thất thu thuế còn hạn chế. 1.2. Thủ tục hành chính thuế: Bên cạnh những kết quả đã đạt được, Báo cáo giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính. Trong một số lĩnh vực vẫn còn nhiều thủ tục hành chính rườm rà, chồng chéo, chưa hợp lý, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp. Việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính tại các địa phương, đơn vị mặc dù đã có chương trình, kế hoạch, nhưng chưa tạo được bước đột phá mạnh mẽ. Có loại thủ tục hàn chính hợp pháp nhưng không hợp lý, chưa phù hợp với thực tế, kể cả những “giấy phép con” do các cơ quan quản lý tự quy định; còn tình trạng ban hành văn bản chứa quy phạm pháp luật, trong đó có những quy định không phù hợp cả về thẩm quyền, hình thức và nội dung theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Mô hình cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” ở một số nơi còn lúng túng, chưa thực sự hợp lý trong một số lĩnh vực; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành còn chưa nhất quán, thiếu đồng bộ; thời gian giải quyết vẫn còn dài ở một số thủ tục; trụ sở làm việc, cơ sở vật chất một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. 1.3. Lực lượng cán bộ quản lý thuế: Tình trạng cán bộ, công chức giải quyết công việc chậm trễ, cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, tiêu cực, tham nhũng còn khá phổ biến; tình trạng để doanh nghiệp, công dân phải đi lại nhiều lần chưa được khắc phục. Đây là một trong những nguyên nhân rất cơ bản làm cho mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về công tác cải cách thủ tục hành chính chưa cao. Mức độ chuyên nghiệp, tính chuyên sâu, kỹ năng hành chính và cả đạo đức, phẩm chất của một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính. 2. Nguyên nhân: Thứ nhất, do hệ thống pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn còn chưa hoàn thiện, có những nội dung còn chưa sát với thực tế quản lý thu thuế tại Việt Nam nên còn gây ra những hạn chế trong việc tận thu vào ngân sách nhà nước. Thứ hai, do trình độ của đội ngũ cán bộ thuế thấp sẽ dẫn đến sự yếu kém trong công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế đến mọi người dân. Nhà nước buộc người dân phải thực hiện nghĩa vụ thuế nhưng chưa chỉ ra cho họ thấy quyền lợi được hưởng. Trình độ đội ngũ cán bộ thuế thấp cũng dẫn đến những sai phạm trong quá trình quản lý thu thuế: tính thuế, quyết toán thuế,... Đặc biệt trong công tác thanh tra thuế điều này càng được thể hiện rõ ràng hơn. Thủ đoạn trốn thuế hiện nay ngày càng tinh vi, phức tạp. Trình độ đội ngũ cán bộ thuế còn nhiều hạn chế thì không thể phát hiện ra những sai phạm của đối tượng bị thanh tra. Trong những năm gần đây, ngành thuế đã tập trung đào tạo kiến thức cơ bản cho cán bộ của ngành nhưng mới chỉ dừng lại ở việc gửi cán bộ đi học tại các trường đại học và trung học chứ chưa chuyên sâu về nghiệp vụ thuế và các kiến thức theo tiêu chuẩn ngạch công chức nhà nước quy định. Ngành thuế đã tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ nhưng mới chỉ tập trung vào một số cán bộ chủ chốt, chưa làm được nhiều và thường xuyên đối với đội ngũ đông đảo cán bộ trực tiếp quản lý ở các địa phương. Nhiều cán bộ thuế chưa nắm được kiến thức cơ bản về luật thuế ngay trong lĩnh vực chuyên môn mình đảm nhận. Thứ ba, điều kiện vật chất ngành thuế còn lạc hậu, cơ sở làm việc còn chật chội, hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý chưa được nâng cấp. Việc trao đổi thông tin giữa các ngành thuế với các ngành liên quan chưa chặt chẽ, không đầy đủ làm giảm tính khả thi, chính xác và hiệu quả trong công tác quản lý thu thuế. Thứ tư, do ý thức của người dân về nghĩa vụ thuế còn thấp. Nhiều người dân chưa hiểu biết đầy đủ về các loại thuế và sự tự giác còn chưa cao, chưa có sự hiểu biết cặn kẽ về quyền lợi và nghĩa vụ của người nộp thuế nên có nhiều những biểu hiện trốn tránh, thoái thác việc thực hiện pháp luật thuế. Bản thân những người hiểu biết cũng cố tình làm sai và không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay I. Định hướng hoàn thiện công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay: Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 17/05/2011 (theo hành Quyết định số 732/2011/QĐ-TTg) là văn bản pháp lý quan trọng là kim chỉ nam để ngành Thuế thực hiện cải cách, triển khai các giải pháp đồng bộ để đạt được mục tiêu của Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020. Quyết định số 732/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020 và quyết định số 2162/QĐ-BTC ngày 08/9/2011 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về phê duyệt Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2015 và các đề án triển khai thực hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020. Trong lĩnh vực cải cách chính sách thuế, sẽ xây dựng và thực hiện chính sách huy động từ thuế, phí và lệ phí hợp lý nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong nước, khuyến khích xuất khẩu, khuyến khích đầu tư nhất là đầu tư ứng dụng công nghệ cao, vào vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng cao, bền vững, góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo nhu cầu chi tiêu cần thiết hợp lý của ngân sách nhà nước. Hệ thống chính sách thuế được xây dựng, hoàn thiện bảo đảm minh bạch, rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện; mở rộng cơ sở thuế để phát triển nguồn thu, bao quát các nguồn thu mới phát sinh và cơ cấu lại theo hướng tăng nguồn thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) đến năm 2015 đạt trên 70% tổng thu ngân sách nhà nước và đến năm 2020 đạt trên 80% tổng thu ngân sách nhà nước. Tỷ lệ huy động thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2011 - 2015 khoảng 23 - 24% GDP, trong đó tỷlệ động viên từ thuế, phí và lệ phí khoảng 22 - 23% GDP; tốc độ tăng trưởng số thu thuế, phí và lệ phí bình quân hàng năm từ 16% - 18%/năm. Trong giai đoạn 2016 -2020, tỷ lệ huy động thu ngân sách nhà nước và tỷ lệ động viên từ thuế, phí và lệ phí trên GDP ở mức hợp lý theo hướng giảm mức động viên về thuế trên một đơn vị hàng hóa, dịch vụ để khuyến khích cạnh tranh, tích tụ vốn cho sản xuất kinh doanh. Hệ thống chính sách thuế trong giai đoạn 2011 - 2020 bao gồm các sắc thuế, phí và lệ phí chủ yếu sau đây: Thuế giá trị gia tăng; Thuế tiêu thụ đặc biệt; Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Thuế thu nhập doanh nghiệp; Thuế thu nhập cá nhân; Thuế tài nguyên; Thuế sử dụng đất nông nghiệp; Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Thuế bảo vệ môi trường; và Các khoản phí và lệ phí. Bên cạnh đó, chuyển thuế môn bài thành một khoản thu lệ phí quản lý hoạt động kinh doanh hàng năm; hoàn thiện các chế độ, chính sách thu ngân sách nhà nước từ tài nguyên, khoáng sản quốc gia như: thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thu đấu giá quyền khai thác khoáng sản và thu từ dầu khí. Về cải cách quản lý thuế, hiện đại hóa toàn diện công tác quản lý thuế cả về phương pháp quản lý, thủ tục hành chính theo định hướng chuẩn mực quốc tế; nâng cao hiệu quả, hiệu lực bộ máy tổ chức,đội ngũ cán bộ; kiện toàn, hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị; tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ và cung cấp dịch vụ cho người nộp thuế; nâng cao năng lực hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát tuân thủ pháp luật của người nộp thuế; ứng dụng công nghệ thông tin và áp dụng thuế điện tử để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý thuế, phấn đấu đưa Việt Nam thuộc nhóm các nước hàng đầu khu vực Đông Nam Á trong xếp hạng mức độ thuận lợi về thuế vào năm 2020. Ngành Thuế đã xây dựng Chiến lược cải cách và hiện đại hóa hệ thống thuế đến năm 2010 và được Bộ Chính trị phê duyệt tháng 7-2004, trong đó xác định rõ mục tiêu hiện đại hóa toàn diện công tác quản lý thuế cả về phương pháp quản lý, thủ tục hành chính, bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ… Xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành chính mới theo hướng công khai, minh bạch và tạo thuận tiện cho người dân. Xác định cải cách hành chính là nhiệm vụ cấp bách, khâu đột phá, có ý nghĩa quan trọng, tạo động lực cho phát triển kinh tế – xã hội và môi trường kinh doanh, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, ngành thuế đã và đang triển khai xây dựng Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 với những định hướng quan trọng, giải pháp đồng bộ với trọng tâm là tiếp tục đẩy mạnh cải cách Tthủ tục hành chính thuế, tự động hóa quy trình tiếp nhận giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính thuế của người nộp thuế thông qua các chương trình hiện đại hóa và thuế điện tử. Tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành luật, trong đó nghiên cứu, sửa đổi quy định về thời gian khai thuế, nộp thuế để giảm số lần kê khai, chi phí của người nộp thuế; đồng thời công khai các thủ tục hành chính, quy trình nghiệp vụ quản lý tại trụ sở cơ quan thuế các cấp, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin điện tử của ngành thuế. Sửa đổi, bổ sung các luật về chính sách thuế và các văn bản pháp luật khác có liên quan để bảo đảm tính đơn giản, minh bạch, rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện tạo thuận lợi cho người nộp thuế tự nguyện tuân thủ pháp luật thuế. Phối hợp cơ quan bảo hiểm xã hội nghiên cứu cơ chế phối hợp thu thuế thu nhập cá nhân, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, chia sẻ thông tin giữa cơ quan thuế và cơ quan bảo hiểm xã hội Việt Nam. Nâng cao hiệu quả thu và quản lý nguồn thu từ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; bảo vệ quyền lợi của người lao động; cắt giảm khoản 10% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức. Ðẩy mạnh hiện đại hóa toàn diện công tác quản lý thuế và phát triển hệ thống tin học ngành thuế theo chuẩn mực quốc tế. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc hỗ trợ người nộp thuế thực hiện thủ tục khai thuế, nộp thuế, giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chínhvà giảm chi phí cho người nộp thuế.Về mục tiêu, phải hiện đại hoá bộ máy quản lý thuế cả về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức, đủ sức thực hiện thắng lợi mục tiêu, chương trình cải cách và hiện đại hoá đã được Bộ Chính trị thông qua, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; Thực hiện tốt các quy định của Luật Quản lý thuế đã được Quốc hội ban hành. Quá trình kiện toàn tổ chức bộ máy của cơ quan Tổng cục Thuế phải đảm bảo các nguyên tắc: Thứ nhất, phản ảnh đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế, có phân công, phân cấp rõ ràng. Bộ máy của Tổng Cục Thuế vẫn tổ chức theo hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương như hiện nay. Thứ hai, tổ chức bộ máy quản lý thuế thống nhất tại tất cả cơ quan thuế các cấp chủ yếu theo mô hình chức năng, phù hợp với cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế. Mỗi chức năng quản lý thuế như tuyền truyền - hỗ trợ; xử lý tờ khai thuế; quản lý thu nợ và cưỡng chế thuế; kiểm tra, thanh tra thuế có một bộ phận chuyên trách để thực hiện nhiệm vụ quản lý. Thứ ba, cơ cấu bộ máy cơ quan thuế hợp lý; chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận phải đầy đủ, rõ ràng, không chồng chéo, không bỏ sót. Quy mô của từng bộ phận cơ cấu phải hợp lý, tương xứng với khối lượng công việc được phân công và đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong giai đoạn mới. Thứ tư, tổ chức bộ máy Tổng Cục Thuế phải phù hợp với thực tiễn Việt Nam về quản lý hành chính, kinh tế, ngân sách, về trình độ của người nộp thuế... trong giai đoạn hiện nay và khả năng chuyển đổi trong giai đoạn sắp tới; đáp ứng hội nhập quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường hợp tác, trao đổi kinh nghiệm với thế giới và các nước trong khu vực. II. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay: Về chính sách thuế: Thứ nhất, loại bỏ những chứng từ không cần thiết. Nghị quyết của Chính phủ đã yêu cầu rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan thuế như: giảm thời gian giải quyết thủ tục gia hạn nộp hồ sơ khai thuế từ 5 ngày làm việc ngày xuống 3 ngày làm việc; rút ngắn thời hạn giải quyết đối với trường hợp "hoàn thuế trước, kiểm tra sau" từ 15 ngày làm việc xuống còn 6 ngày làm việc; giảm thời hạn giải quyết đối với trường hợp "kiểm tra trước, hoàn thuế sau" từ 60 ngày xuống còn 40 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định. Do đó, Luật Quản lý thuế cũng cần thiết phải rà soát, sửa đổi cho phù hợp với mục tiêu cải cách thủ tục hành chính. Về hồ sơ của người nộp thuế gửi cho cơ quan thuế, Luật Quản lý thuế quy định một số chứng từ, tài liệu đối với một số hồ sơ khai thuế của người nộp thuế. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện luật cho thấy, một số tài liệu không cần thiết, không phù hợp khi gửi hồ sơ cho cơ quan thuế như người nộp thuế phải nộp "chứng từ nộp thuế" đối với hồ sơ hoàn thuế trong khi cơ quan thuế đã có dữ liệu quản lý số thuế đã nộp của ngưòi nộp thuế hoặc người nộp thuế phải nộp "tờ khai quyết toán thuế" trong hồ sơ xoá nợ tiền thuế, tiền phạt đối với trường hợp doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản trong khi quyết định tuyên bố phát sản là quyết định cao nhất. Do đó cần phải nghiên cứu, loại bỏ bớt các chứng từ không cần thiết trong hồ sơ của người nộp thuế gửi cho cơ quan thuế. Thứ hai, điều chỉnh thời gian quyết toán thuế. Một "điểm nóng" trong quá trình thực thi Luật Quản lý thuế được cộng đồng xã hội quan tâm, cần được điều chỉnh, đó là thời hạn nộp hồ sơ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp. Luật Quản lý thuế quy định thời hạn quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp chậm nhất là ngày 31/3 của năm tiếp theo (90 ngày). Thời hạn 90 ngày là quy định chung cho tất cả các doanh nghiệp, bao gồm cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp lớn như các tập đoàn, tổng công ty. Trên thực tế, các doanh nghiệp này phải tổng hợp dữ liệu từ các công ty con vào báo cáo tài chính hợp nhất. Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, báo cáo tài chính nộp kèm theo báo cáo quyết toán thuế còn phải được kiểm toán bởi doanh nghiệp kiểm toán độc lập (theo quy định của pháp luật về kế toán). Do đó, các tập đoàn, tổng công ty và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường phát sinh việc chậm nộp hồ sơ quyết toán thuế năm, dẫn đến phải nộp phạt chậm nộp hồ sơ khai quyết toán thuế. Thứ ba, xác định thời điểm gia hạn nộp thuế. Về gia hạn nộp thuế, Luật Quản lý thuế quy định thời gian gia hạn nộp thuế không quá 2 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế. Trên thực tế, việc giải quyết gia hạn nộp thuế đối với trường hợp người nộp thuế gặp khó khăn đặc biệt, theo quy định của Chính phủ thường kéo dài do phải xem xét tới nhiều yếu tố, cần có ý kiến của nhiều cơ quan. Vì vậy, khi được chấp thuận gia hạn nộp thuế đã vượt quá thời gian bắt đầu tính gia hạn nộp thuế nên khó xác định cho người nộp thuế được gia hạn tính từ thời điểm nào? Thứ tư, xóa nợ thuế, phạt thuế. Về xoá nợ tiền thuế, tiền phạt, Luật Quản lý thuế quy định các trường hợp được xoá nợ thuế là doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của pháp luật phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt và cá nhân được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không có tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt còn nợ. Tuy nhiên, quá trình thực hiện cho thấy còn có một số trường hợp khác phát sinh như có nhiều trường hợp nợ thuế, nợ phạt không phải do chủ quan của doanh nghiệp mà do nguyên nhân khách quan (các thay đổi trong hệ thống chính sách thuế, hải quan, cải cách doanh nghiệp từ 1990 đến nay, tác động của khủng hoảng kinh tế vào các năm 1998- 1999 và năm 2008- 2009), gây khó khăn cho việc xác định số tiền thuế phải nộp, tạo gánh nặng cho doanh nghiệp với các khoản nợ phát sinh do lịch sử để lại chưa được xử lý. Do vậy, trên thực tế hiện còn tồn tại những khoản nợ thuế đang thuộc diện khoanh nợ cần được xem xét để xử lý xoá nợ nhưng chưa có quy định để xử lý. 2. Phân cấp chức năng, nhiệm vụ của từng cấp cơ quan quản lý thuế: Thành lập mới và kiện toàn các bộ phận quản lý thuế theo chức năng gồm: bộ phận truyền truyền, hỗ trợ; bộ phận xử lý kê khai và kế toán thuế; bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế thuế; bộ phận thanh tra, kiểm tra xử lý các vi phạm về thuế để thực hiện quản lý thuế theo chức năng trong toàn bộ hệ thống thuế. Thành lập mới và kiện toàn hệ thống tư vấn pháp chế để giúp thủ trưởng cơ quan thuế các cấp quyết định xử lý hành chính thuế đúng quy định pháp luật thuế, xử lý các tranh chấp, tố tụng về thuế tại toà án. Thành lập bộ phận kiểm tra giám sát nội bộ để giúp thủ trưởng cơ quan thuế các cấp kiểm tra việc chấp hành công vụ của đội ngũ cán bộ thuế. Sáp nhập các bộ phận có chức năng tương tự như nhau vào một bộ phận; lồng ghép các nhiệm vụ quản lý thuế mà khối lượng công việc không nhiều vào một bộ phận cơ cấu để giảm thiểu các các đầu mối quản lý thuế. Giải thể các bộ phận không có chức năng quản lý thuế cụ thể là các bộ phận quản lý thuế đối với: Doanh nghiệp, Nhà nước, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp dân doanh. Phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận cơ cấu, khắc phục tình trạng cùng một loại việc nhưng có nhiều bộ phận cùng thực hiện. 3. Lực lượng cán bộ quản lý thuế: Đánh giá, phân loại lại đội ngũ cán bộ theo cơ cấu tổ chức phải được thảo luận, thống nhất trong tập thể lãnh đạo Cục, cấp uỷ và một số tổ chức quần chúng như công đoàn, đoàn thanh niên, cựu chiến binh... bảo đảm công khai, dân chủ và thực hiện đúng quy định về trình tự, thủ tục điều động luân phiên, luân chuyển cán bộ, bổ nhiệm lại, bổ nhiệm mới, cho nghỉ trước tuổi... và chuẩn bị phương án xử lý cán bộ dôi dư theo quy định về tinh giản biên chế của Chính phủ. Phải nắm được yêu cầu của từng loại công việc như: tuyên truyền và cung cấp dịch vụ hỗ trợ, thanh tra, kiểm tra thuế, ứng dụng công nghệ tin học... để bố trí, sắp xếp công việc cho cán bộ đúng người, đúng việc, phát huy đến mức cao nhất năng lực, sở trường, trình độ của từng cán bộ công chức thuế. Làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ công chức để mọi người thông suốt về nhận thức về việc thực hiện cải cách, hiện đại hoá ngành, đảm bảo đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, ngăn ngừa những xu hướng cá nhân, cục bộ, đồng thời tránh tư tưởng trù dập, chủ quan của cán bộ lãnh đạo đối với cán bộ dưới quyền. Kết hợp sắp xếp lại cơ cấu tổ chức với việc bố trí luân phiên, luân chuyển công việc một cách hợp lý để bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ, nhất là năng lực quản lý, chỉ đạo, điều hành của cán bộ lãnh đạo cơ quan thuế các cấp. Theo đó, chú ý các cán bộ trong diện bồi dưỡng qui hoạch, cán bộ nữ, cán bộ dám nghĩ dám làm, có tư duy sáng tạo, có trách nhiệm và hiệu quả cao trong công việc... để thử thách, rèn luyện. Ưu tiên bố trí đủ những cán bộ có năng lực, phẩm chất vào các khâu công việc trực tiếp tiếp xúc với người nộp thuế như: bộ phận thanh tra thuế, kiểm tra thuế, cung cấp dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế, quản lý thu nợ… và các công việc trọng tâm trong quản lý thuế. Chú ý các địa bàn trọng điểm có số thu lớn, quản lý thuế phức tạp. Những cán bộ có trình độ thấp, năng lực chuyên môn yếu hoặc hạn chế về phẩm chất đạo đức, đã có dấu hiệu, hiện tượng tiêu cực hoặc vi phạm kỷ luật thì không bố trí vào lĩnh vực các công việc tiếp xúc với người nộp thuế, hoặc những công việc dễ phát sinh tiêu cực. Tổ chức thực hiện chức năng quản lý thuế: Tuyên truyền những nội dung mới được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện ở các sắc thuế hiện hành như: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế tài nguyên, thuế thu từ đất, từ thăm dò, khai thác và sử dụng tài nguyên; chú trọng tuyên truyền các loại thuế mới ban hành hoặc được triển khai thực hiện trong giai đoạn tới như: Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế bảo vệ môi trường, Luật phí, lệ phí thay cho Pháp lệnh phí, lệ phí hiện hành. Tuyên truyền về nội dung cải cách công tác quản lý thuế, trong đó nhấn mạnh chủ trương tiếp tục hiện đại hóa toàn diện công tác quản lý thuế cả về phương pháp quản lý, thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất, trang thiết bị, ứng dụng công nghệ thông tin và áp dụng thuế điện tử, giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính thuế nhằm đạt được mục tiêu đưa Việt Nam thuộc nhóm các nước hàng đầu vực Đông Nam Á trong xếp hạng mức độ thuận lợi về thuế. Tiếp tục tuyên truyền biểu dương những tổ chức, cá nhân thực hiện tốt nghĩa vụ thuế, đồng thời phê phán, đấu tranh mạnh mẽ các hành vi gian lận, chây ỳ, trốn lậu thuế, đặc biệt là trong các doanh nghiệp FDI và lĩnh vực bất động sản. KẾT LUẬN Công tác quản lý thuế là một trong những vấn đề phức tạp và nhạy cảm. Nó có ảnh hưởng và chịu sự chi phối của hàng loạt các quan điểm, chín sách kinh tế-xã hội và sự phát triển của nền kinh tế-xã hội. Việc hoàn thiện công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay nhằm khơi tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước và thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Nghiên cứu vấn đề về quản lý thuế hiện nay nhằm khái quát những vấn đề cơ bản về thuế và quản lý thuế. Tìm hiểu thực trang của công tác quản lý này trong giai đoạn 2007-2011 và từ đó đưa ra những hạn chế, nguyên nhân và các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn công tác quản lý thuế ở Việt Nam trong thời gian tới. TÀI LIỆU THAM KHẢO Giáo trình Luật Thuế Việt Nam - Trường Đại Học Luật Hà Nội Giáo trình Quản Lý Thuế - Học Viện Tài Chính Mof.gov.vn Các văn bản pháp luật có liên quan

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docThực trạng quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay.doc