Thực trạng và giải pháp cải cách hành chính ở các địa phương trong giai đoạn hiện nay

Lời Nói Đầu Vấn đề cải cách bộ máy Nhà nước, cải cách hệ thống hành chính Nhà nước từ Trung ương đến địa phương đã trở thành một vấn đề hết sức cấp bách và trọng yếu của đất nước trong công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm. Trong nhiều năm nay, để tăng cường năng lực quản lý của nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng ta chủ trương cải cách hành chính một cách mạnh mẽ, toàn diện.Cải cách hành chính nhằm góp phần xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực và hiệu quả. Trên cơ sở đó làm cho bộ máy nhà nước thực hiện tốt nhiệm vụ thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và tổ chức tốt việc điều hành, quản lý đất nước thông suốt, tạo điều kiện cho nền kinh tế nhiều thành phần phát triển, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là việc làm không đơn giản, đòi hỏi trong quá trình cải cách hành chính phải tính toán kỹ lưỡng, lựa chọn chính xác tập trung giải quyết từng bước các vấn đề để tạo sự chuyển biến vững chắc theo chiều sâu. Với Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, lần đầu tiên trong quá trình cải cách, Chính phủ có một chương trình có tính chiến lược, dài hạn, xác định rõ 4 lĩnh vực cải cách là cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chính công, định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách và xác định các giải pháp thực hiện nhằm bảo đảm thắng lợi công cuộc cải cách. Chương trình tổng thể sẽ là công cụ quan trọng để Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành Trung ương và chính quyền địa phương các cấp đẩy mạnh cải cách hành chính. II) Tổng quan về chương trình tổng thể cải cách hành chính 1. Nội dung của cảI cách hành chính a) Cải cách thể chế hành chính Những năm qua, Chính phủ tập trung chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện thể chế phục vụ trực tiếp cho cải cách hành chính. Chú trọng xây dựng luật, pháp lệnh và ban hành số lượng lớn nghị định hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh. Tính từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI đến hết tháng 4-2005, Chính phủ đã trình Quốc hội 49 dự án luật, qua đó đã tạo cơ sở vững chắc cho cải cách thể chế, kết hợp giữa cải cách lập pháp và cải cách hành chính. Các luật đã thể hiện rõ các quan điểm, các chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế, tạo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước, giảm sự can thiệp bằng các biện pháp hành chính của các cơ quan nhà nước vào các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và hoạt động của các doanh nghiệp, giảm bớt cơ chế xin - cho. Nhờ vậy, nước ta được thế giới xem như một nước có nhiều nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, là một trong nhóm các quốc gia có tốc độ cải cách nhanh. Chính quyền các địa phương tăng cường công tác cải cách thể chế, ban hành các văn bản theo thẩm quyền để thi hành các thể chế do Trung ương quy định và cụ thể hóa việc thực hiện vào điều kiện cụ thể của từng địa phương trong thu hút đầu tư, xây dựng khu công nghiệp, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển, phân cấp, ủy quyền cho các sở và cấp huyện trên nhiều lĩnh vực . Tiếp tục làm rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan trong hệ thống hành chính, loại bỏ dần sự chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ và bước đầu phân biệt rõ hoạt động của cơ quan hành chính với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công. Thể chế quan hệ giữa nhà nước với nhân dân tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện. Nổi bật là việc lấy ý kiến nhân dân trước khi quyết định các chủ trương, chính sách quan trọng. Tăng cường sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước. Xử lý các hành vi trái pháp luật của cơ quan và cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ. Tăng thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hành chính trong giải quyết khiếu nại của nhân dân. Thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, cơ chế "một cửa", công khai ngân sách, tài chính, đấu thầu, thanh tra nhân dân . Điều đó góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia và giám sát các hoạt động của chính quyền và đội ngũ cán bộ, công chức các cấp.

doc21 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 17/08/2013 | Lượt xem: 45757 | Lượt tải: 169download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực trạng và giải pháp cải cách hành chính ở các địa phương trong giai đoạn hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
sách địa phương của hội đồng nhân dân cấp tỉnh được bảo đảm. Quyền quyết định ngân sách và phân bổ ngân sách hằng năm được Quốc hội thực hiện dần đi vào nền nếp. Tiếp tục đổi mới quản lý và điều hành ngân sách. Nguồn thu ngân sách tiếp tục tăng và được tập trung kịp thời. Việc cấp phát vốn đầu tư và hạn mức kinh phí cho các đơn vị dự toán và các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ đã cải tiến, tạo chủ động cho các đơn vị giảm nhiều thủ tục không cần thiết. Bước đầu đổi mới cơ chế tài chính cho các loại hình tổ chức trong hệ thống hành chính bằng cách khoán biên chế, kinh phí quản lý hành chính và cơ chế tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu. Qua việc khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho các cơ quan trong tổ chức, sắp xếp bộ máy đã thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao hiệu suất lao động, hiệu quả công việc. Trên cơ sở đó tạo điều kiện cho cán bộ, công chức tham gia giám sát quá trình thực hiện cơ chế khoán theo đề án đã được duyệt, thúc đẩy sử dụng kinh phí tiết kiệm, hiệu quả thông qua xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, xây dựng tiêu chuẩn định mức chi của cơ quan; tăng thu nhập cho cán bộ, công chức thông qua các biện pháp tiết kiệm. Các đơn vị sự nghiệp có thu được giao quyền tự chủ về tài chính đã chủ động sử dụng các nguồn kinh phí đáp ứng yêu cầu hoạt động của đơn vị bảo đảm chi tiêu hiệu quả, tiết kiệm trên cơ sở quy chế chi tiêu nội bộ do đơn vị xây dựng. Thực hiện tốt hơn quy định công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng nguồn tài chính công. Phát triển và mở rộng các hoạt động dịch vụ, chủ động huy động các nguồn lực, nguồn vốn và cơ sở vật chất để tổ chức các hoạt động sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ, nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp tăng thu nhập cho người lao động. 2. Kết quả và hạn chế của cải cách hành chính tại Việt Nam trong thời gian qua Công cuộc phát triển đất nước theo cơ chế thị trường định hướng XHCN gắn liền với sự thay đổi căn bản vai trò của Nhà nước và phương thức hoạt động của nền hành chính quốc gia. Có thể nói rằng, cải cách hành chính (CCHC) là tiền đề và động lực thúc đẩy cải cách phát triển kinh tế - xã hội. Sau gần 20 năm thực hiện, CCHC tại Việt Nam đã thu được những kết quả đáng khích lệ: Hệ thống thể chế trong đó chủ yếu là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và thể chế về tổ chức, hoạt động của nền hành chính Nhà nước đã từng bước hình thành và hoàn thiện theo hướng đồng bộ hơn, phù hợp với nền kinh tế thị trường và thông lệ quốc tế. Hệ thống thủ tục hành chính từng bước được cải cách theo hướng đơn giản hoá, công khai hoá, nâng cao hiệu quả giải quyết công việc của các cơ quan công quyền nhà nước trong quan hệ với nhân dân và doanh nghiệp. Vai trò và chức năng kinh tế của Nhà nước đã được thay đổi căn bản từ chỗ chủ yếu sử dụng mệnh lệnh hành chính với hệ thống chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh chi tiết từ trên xuống dưới trong quản lý kinh tế sang xây dựng hệ thống thị trường có tính cạnh tranh. Tổ chức bộ máy của Nhà nước đã được cải cách theo hướng tinh giản hơn; việc phân cấp giữa các yếu tố, phân hệ trong bộ máy quản lý Nhà nước cũng từng bước được cải thiện, tạo điều kiện cho mỗi cấp, mỗi tổ chức trong hệ thống đề cao quyền hạn, trách nhiệm đồng thời phát huy tính năng động, sáng tạo trong công việc. Đội ngũ công chức Nhà nước đã được quan tâm xây dựng, bồi dưỡng về năng lực công tác, tinh thần trách nhiệm và ý thức phục vụ nhân dân... Những cải cách trên đây đã góp phần tạo ra tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong thời gian qua, đồng thời làm cho bộ máy Nhà nước trở nên gần dân hơn, khắc phục nhiều bất cập vốn có trong thời cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp. Điểm nổi bật trong công tác chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ trong những năm gần đây, nhất là năm 2006 là khá sâu sắc và quyết liệt. Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành và địa phương phải triển khai những việc cụ thể, thiết thực đẩy mạnh cải cách hành chính, đặc biệt là công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, tạo ra sự chuyển biến thực chất trong mối quan hệ giữa cơ quan hành chính với dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Thực tiễn cho thấy, cải cách hành chính trong năm qua có khối lượng công việc khá lớn, số lượng các văn bản phải tổ chức thực hiện tăng nhiều so với các năm trước. Đó là: tiếp tục điều chỉnh chức năng của các cơ quan hành chính nhà nước, khắc phục chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan nhà nước, thực hiện phân cấp trung ương - địa phương theo Nghị Quyết số 08 của Chính phủ, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức sự nghiệp dịch vụ công, của tổ chức khoa học và công nghệ công lập; đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục - thể thao; thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước... Rút kinh nghiệm từ thực tiễn triển khai cải cách hành chính của những năm trước, công tác kiểm tra việc thực hiện cải cách hành chính đã được tăng cường. Ban Thư ký Ban chỉ đạo Cải cách hành chính Chính phủ đã có nhiều buổi làm việc, kiểm tra việc triển khai thực hiện Chương trình và kế hoạch cải cách hành chính của các bộ, ngành và các tỉnh, qua đó có sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiến nghị cấp trên giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Dưới sự lãnh đạo của cấp ủy các cấp, nhờ những nỗ lực, cố gắng của cả hệ thống hành chính nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức, công tác cải cách hành chính năm 2006 đã được đẩy mạnh và có tính toàn diện góp phần tích cực vào những thành tựu phát triển của đất nước. Hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện. Đây là kết quả nổi bật trong cải cách, thể hiện tính nhất quán trong việc hoạch định thể chế, chính sách cải cách, đổi mới của Nhà nước ta. Chúng ta đã tập trung chỉ đạo xây dựng thể chế, chính sách, tạo lập môi trường pháp lý và hoàn thiện khuôn khổ thể chế cho cơ chế quản lý mới trên các mặt đời sống kinh tế - xã hội. Trước hết, thể chế quản lý nhà nước tiếp tục được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu đổi mới trong điều kiện chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Công tác xây dựng thể chế, luật, pháp lệnh, nghị định đã bám sát hơn yêu cầu thực tiễn, phục vụ tốt cho việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Quy trình xây dựng, soạn thảo văn bản pháp luật từng bước được đổi mới nhằm nâng cao chất lượng văn bản; bảo đảm quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng, tính thống nhất trong hệ thống thể chế, nâng cao tính khả thi và tính kịp thời. Chính phủ đã ban hành và trình Quốc hội ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước các cấp. Thể chế việc phân biệt quản lý nhà nước với hoạt động của đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công, phân cấp trung ương - địa phương, thúc đẩy xã hội hóa được chú trọng. Việc ban hành và thực hiện Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Kinh doanh bất động sản... và các văn bản hướng dẫn thi hành đã góp phần tạo lập đồng bộ và vận hành thông suốt các loại thị trường, trong đó quan trọng là thị trường tài chính, thị trường bất động sản. Mặt khác, đã xác lập về cơ bản các cơ chế tổ chức và hoạt động cho các loại hình tổ chức trong khu vực công. Đây là bước đi nhằm cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội X của Đảng, về phân biệt và tách rõ hoạt động quản lý nhà nước với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, với hoạt động sự nghiệp dịch vụ công. Công việc này đã được triển khai trong các năm 2004, 2005. Các thể chế được ban hành trong năm 2006, về cơ bản đã được xác lập: Cơ chế tổ chức và hoạt động cho các cơ quan hành chính nhà nước, được quy định chủ yếu tại Quy chế làm việc của Chính phủ, của các bộ, ngành trung ương và ủy ban nhân dân các cấp; Nghị định số 130 về Chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước; Quyết định số 144 về Áp dụng tiêu chuẩn ISO trong các cơ quan hành chính nhà nước và Quyết định số 181 về Cơ chế "một cửa". Cơ chế tổ chức và hoạt động cho các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công, được quy định chủ yếu tại Nghị định số 115 về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập, Nghị định số 43 về Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Cơ chế tổ chức và hoạt động cho các doanh nghiệp nhà nước, được quy định chủ yếu tại Luật Doanh nghiệp, Luật Phá sản, Nghị định số 132 ngày 20-10-2005 về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty nhà nước, Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước. Trong thực tiễn, các cơ chế này đang phát huy hiệu lực, làm cho các cơ quan, tổ chức trong cả hệ thống hành chính có bước phát triển về chất, phân biệt và tách rõ giữa hoạt động của cơ quan hành chính với đơn vị sự nghiệp dịch vụ công và với doanh nghiệp nhà nước. Tính đến cuối tháng 11-2006, riêng ở địa phương đã có 68% các cơ quan hành chính nhà nước từ tỉnh đến xã thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí hành chính; đã có 62% các đơn vị sự nghiệp công lập ở địa phương thực hiện Nghị định số 43 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Điều này khẳng định, có bước tiến tích cực ban đầu trong thay đổi mối quan hệ giữa cơ quan hành chính với công dân và tổ chức theo hướng phục vụ tốt hơn, nâng cao tính công khai, minh bạch của nền hành chính, đơn giản hóa và công khai thủ tục hành chính ở các cấp, các ngành. Thông qua sự chỉ đạo sâu sát, kiên quyết của Thủ tướng Chính phủ thời gian vừa qua về chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của cơ quan hành chính, về rà soát, đơn giản hóa và công khai các thủ tục hành chính, về thực hiện với chất lượng tốt hơn cơ chế "một cửa", nâng cao trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính, bằng các việc làm cụ thể ở các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp đã khẳng định có sự chuyển biến bước đầu trong mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với dân, doanh nghiệp. Các bộ, ngành và các tỉnh, thành phố đã nghiêm túc tổ chức thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp nhận, xử lý kiến nghị của cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp về thủ tục hành chính. Bước đầu đã có hàng trăm kiến nghị, phản ánh được tiếp nhận, xử lý thông qua trang tin điện tử của Chính phủ. Các tổ công tác do các bộ, địa phương lập ra đã có những hoạt động mang lại một số kết quả tích cực. Thực hiện sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ đã tiến hành sơ kết 3 năm thực hiện cơ chế "một cửa" ở địa phương. Đến nay, về cơ bản, 4 sở bắt buộc ở các tỉnh, thành phố đã phải thực hiện là kế hoạch và đầu tư, tài nguyên và môi trường, lao động - thương binh và xã hội, xây dựng, 59% số sở khác thực hiện mở rộng, 98% đơn vị cấp huyện và 89% đơn vị cấp xã trong cả nước đã triển khai cơ chế "một cửa". Bên cạnh việc triển khai mô hình "một cửa" ở cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã, một số tỉnh, thành phố như: Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Phú Thọ, Trà Vinh, đã thí điểm thực hiện cơ chế "một cửa" liên thông giữa các cơ quan hành chính cùng cấp và liên thông giữa các cơ quan cấp xã, huyện, tỉnh nhằm giảm thiểu khó khăn cho dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc. Có thể nói, đây là những bước đột phá trong cải cách hành chính nhà nước. Từ thực tiễn triển khai cải cách hành chính những năm gần đây, nhất là những nỗ lực, cố gắng của các cấp, các ngành dưới sự chỉ đạo kiên quyết của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã mang lại những kết quả tích cực, góp phần vào hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, hoàn thiện hệ thống thể chế, tạo bước chuyển biến, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính. Người dân, doanh nghiệp được tạo thuận lợi hơn trong việc tiếp xúc, giải quyết công việc với cơ quan hành chính. Tính minh bạch, công khai của nền hành chính được nâng lên một bước. Tuy nhiên, cải cách vẫn chưa được quán triệt trong cả đội ngũ cán bộ, công chức. Những tồn tại, yếu kém trong xây dựng thể chế, việc chậm chễ trong thực thi các luật đã ban hành, thái độ quan liêu, hách dịch trong một bộ phận cán bộ, công chức đang cản trở công cuộc làm ăn của dân, doanh nghiệp, gây bất bình trong xã hội. Đây là những thách thức phải vượt qua, nhất là khi nước ta đã chính thức gia nhập WTO. Trong thời gian tới, Chính phủ tiếp tục chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính, kiện toàn và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, tập trung chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ đơn giản hóa thủ tục hành chính. Trong năm 2007, tập trung đồng bộ các nội dung cải cách về thể chế, tổ chức bộ máy, công chức công vụ, tài chính công và hiện đại hóa hành chính. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm trước Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ triển khai cải cách hành chính, thực hiện các đề án được nêu trong Kế hoạch Cải cách hành chính giai đoạn II do Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt: - Thứ nhất, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế. - Thứ hai, từng cơ quan trong cả hệ thống hành chính nhà nước có trách nhiệm rà soát thủ tục hành chính, các loại giấy phép để tự quyết định theo thẩm quyền hoặc trình cấp trên xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ. Các thủ tục phải được rà soát, sửa đổi đồng bộ theo hướng đơn giản hóa, tránh chồng chéo, tạo thuận lợi cho nhân dân và doanh nghiệp. - Thứ ba, tiếp tục điều chỉnh chức năng của Chính phủ cho phù hợp với yêu cầu của cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở đó xác định rõ thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Tinh thần chung là giảm bớt các quyết định cụ thể không cần thiết của Thủ tướng Chính phủ; phân bớt việc thực hiện trách nhiệm của Thủ tướng cho các bộ trưởng, chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh theo nguyên tắc nếu bộ trưởng, chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh có thể tự giải quyết được các loại công việc này thì phân về cho bộ trưởng, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh. - Thứ tư, thực hiện phân cấp trung ương - địa phương theo tinh thần Nghị quyết 08 của Chính phủ. Các bộ, ngành trung ương phải thật sự có trách nhiệm trong đề xuất với Chính phủ để phân cấp những công việc, những nhiệm vụ mà chính quyền địa phương có thể tự giải quyết được và kiểm tra chính quyền địa phương trong thực hiện các vấn đề đã phân cấp. Thứ năm, triển khai chương trình hiện đại hóa nền hành chính đáp ứng yêu cầu hội nhập và các tiêu chuẩn của nền hành chính khu vực và thế giới. Xây dựng chương trình "Chính phủ điện tử" có bước đi rõ ràng, thích hợp. Đồng thời với cải cách thủ tục hành chính, các bộ, ngành, địa phương cần chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng phẩm chất, năng lực cho cán bộ, công chức; chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính, tăng cường công tác thanh tra công vụ, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm, nhũng nhiễu của cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính nhà nước. Phát huy tính chủ động, trách nhiệm và sáng kiến cải cách của bộ máy hành chính các cấp và của chính đội ngũ cán bộ, công chức để đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, chúng ta mới tận dụng được cơ hội để vượt qua thách thức, đưa đất nước tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Công cuộc CCHC nhà nước mặc dù đã đạt được những kết quả tiến bộ, quan trọng, đáng ghi nhận nhưng vẫn đang còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém, chưa đáp ứng đòi hỏi của nhịp điệu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mới, những hạn chế lớn tập trung chủ yếu ở những điểm sau: - Cho đến nay vẫn chưa tạo lập được một hệ thống thể chế đầy đủ, đồng bộ, phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và dân chủ hóa đời sống xã hội trong điều kiện mở cửa hội nhập quốc tế và tiến bộ khoa học công nghệ của thế giới hiện đại. Hiện vẫn chưa xác định được một cách đầy đủ, rõ ràng về khung khổ thể chế cần phải có cho quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước trong điều kiện mới. Những bổ sung, sửa đổi về mặt thể chế mặc dù rất tích cực nhưng chất lượng còn nhiều hạn chế; mang tính chắp vá, thiếu đồng bộ và vẫn còn bị ảnh hưởng bởi thể chế cũ - thể chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp. - Thủ tục hành chính tuy đã có những tiến bộ nhất định nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều phức tạp, rườm rà, gây không ít phiền toái cho doanh nghiệp và người dân; chủ yếu vẫn theo cơ chế “xin - cho”. Cơ chế “một cửa” tuy được tuyển khai rất rộng rãi nhưng còn mang tính hình thức, chưa có chuyển biến thực sự về chất trong quan hệ giữa Nhà nước với công dân. - Việc điều chỉnh, đổi mới chức năng, nhiệm vụ của cả bộ máy hành chính Nhà nước cũng như của từng cấp, từng cơ quan hành chính còn rất chậm, chưa phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chưa phù hợp với thông lệ chung của thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa. Hiện nay bộ máy hành chính Nhà nước, từ Chính phủ đến chính quyền địa phương còn ôm đồm quá nhiều việc thuộc lĩnh vực quản lý sản xuất, kinh doanh và hoạt động sự nghiệp dịch vụ, chưa tập trung vào thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước. Hiện vẫn chưa có sự phân biệt rõ vai trò, chức năng của ba khu vực: Nhà nước - Thị trường - Xã hội dân sự, kể cả trong lĩnh vực thể chế cũng như trong thực tiễn hoạt động của bộ máy nhà nước. - Cơ cấu bộ máy hành chính nhà nước vẫn đang còn rất cồng kềnh, đồ sộ, nhiều tầng cấp trung gian. Việc phân cấp Trung ương - địa phương vẫn rất chậm chạp. Cho đến nay, các Bộ ngành vẫn đang nắm giữ nhiều việc cụ thể của chính quyền địa phương làm hạn chế tính chủ động, sáng tạo của địa phương. Các Bộ vẫn được tổ chức theo mô hình Bộ đơn ngành, đơn lĩnh vực, cơ cấu tổ chức bên trong của các Bộ, số lượng cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh, cấp huyện lại đang có xu hướng tăng thêm đầu mối. Bộ máy cồng kềnh, nhiều đầu mối như hiện nay tất yếu dẫn đến tình trạng chồng chéo, trùng lắp về chức năng, thẩm quyền và sức ỳ, sự trì trệ, quan liêu của bộ máy là không thể tránh khỏi. - Phương thức quản lý điều hành của bộ máy hành chính các cấp vẫn theo chế độ làm việc tập thể, quyết định theo đa số có nhiều hạn chế nhưng chậm được thay đổi. Hoạt động quản lý điều hành hành chính, cũng như các dạng quản lý điều hành khác, đòi hỏi phải theo chế độ thủ trưởng, phải đề cao vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu thì mới đảm bảo nhanh nhạy, hiệu lực, hiệu quả. - Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều mặt chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, phát triển đất nước. Công tác kiểm tra, thanh tra công vụ và xử lý cán bộ, công chức có vi phạm pháp luật tiến hành chưa nghiêm minh, chưa thường xuyên, thiếu khách quan, công bằng dẫn đến kém hiệu quả, ít tính giáo dục, răn đe, làm gương…Do vậy đạo đức công vụ, trách nhiệm của công chức chậm được nâng cao. Một bộ phận cán bộ, công chức sa xút về phẩm chất đạo đức, tham nhũng, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước yêu cầu của dân, của xã hội. - Về thực hiện yêu cầu hiện đại hóa nền hành chính còn chậm, chưa có sự thay đổi cơ bản trong phương thức lề lối làm việc của cơ quan hành chính và phong cách thực thi công vụ của cán bộ, công chức mà vẫn mang nặng dấu ấn của cơ chế cũ. Khả năng sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính còn nhiều hạn chế làm cho năng suất lao động, hiệu quả công tác của công chức thấp, trình độ ngoại ngữ và tin học của đội ngũ cán bộ, công chức còn yếu kém, nhất là trước yêu cầu hội nhập quốc tế. Tóm lại, kết quả thực hiện chương trình CCHC trong thời gian qua tuy đạt được những tiến bộ đáng kể nhưng nhìn chung còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội và tiến trình hội nhập. iii) vÊn ®Ò c¶i c¸ch hµnh chÝnh ®Þa ph­¬ng trong giai ®o¹n hiÖn nay Chính phủ đã tập trung chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện thể chế phục vụ trực tiếp cho cải cách hành chính; chú trọng công tác xây dựng luật, pháp lệnh và ban hành một số lượng lớn nghị định hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh. Tính từ đầu nhiệm kỳ Quốc Hội khoá XI đến hết tháng 4/2005, Chính phủ đã trình Quốc hội 49 dự án luật. Mỗi năm trung bình Chính phủ ban hành gần 200 nghị định, thông qua đó đã tạo lập cơ sở vững chắc cho cải cách thể chế, thực hiện sự kết hợp giữa cải cách lập pháp và cải cách hành chính. Một loạt các luật được ban hành như Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Bộ Luật dân sự, Bộ Luật lao động, Luật Đầu tư trong nước, Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Cạnh tranh, Luật Phá sản, Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Hải quan, Luật Thương mại, Luật Điện lực v.v… Năm 2005 là năm thứ 3 liên tiếp, Việt Nam được đánh giá như một điểm sáng về nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, là một trong nhóm 10 quốc gia có tốc độ cải cách nhanh nhất thế giới. Chính quyền địa phương các cấp cũng tăng cường công tác cải cách thể chế, ban hành các văn bản pháp luật theo thẩm quyền để thi hành các thể chế do Trung ương ban hành và cụ thể hoá việc thực hiện vào điều kiện cụ thể của từng địa phương. Nhiều địa phương làm tốt công tác này như thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Nam Định, Bình Dương, Bến Tre, Cần Thơ v.v… - Thể chế của bản thân hệ thống hành chính tiếp tục được hoàn thiện, đổi mới, thể hiện trong một loạt các văn bản như Luật tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật Thanh tra , Pháp lệnh cán bộ, công chức (sửa đổi), 39 Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các văn bản về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân ở cấp tỉnh, huyện v.v… - Thể chế về mối quan hệ giữa nhà nước với dân, trong đó đáng chú ý là lấy ý kiến dân trước khi quyết định các chủ trương, chính sách quan trọng, giám sát của dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, xử lý các hành vi trái pháp luật của cơ quan và cán bộ, công chức trong thi hành công vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hành chính trong giải quyết khiếu nại của dân v.v.. tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện. Đáng chú ý là các văn bản về quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở, Luật Khiếu nại tố cáo, cơ chế “một cửa”, công khai ngân sách, tài chính, đấu thầu, thanh tra nhân dân v.v… - Quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi trách nhiệm của Chính phủ đã bước đầu được đổi mới, góp phần vào quá trình hoàn thiện hệ thống thể chế của nước ta. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân được Quốc hội thông qua năm 2004 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương, góp phần khắc phục tình trạng tuỳ tiện trong ban hành văn bản ở địa phương, đưa công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan chính quyền nhà nước ở địa phương vào nề nếp. Cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính gắn với việc thực hiện cơ chế “một cửa” đã được triển khai mạnh trong giai đoạn I và thu được những kết quả bước đầu tích cực. Đây là một trong những lĩnh vực được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đặc biệt quan tâm chỉ đạo trong cả quá trình cải cách. Kể từ năm 1994 khi Chính phủ có Nghị quyết số 38 về cải cách một bước thủ tục hành chính trong giải quyết công việc của công dân, tổ chức, cho đến nay Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo công tác này (Chỉ thị 09/2005/CT-TTg về tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính). Trong lĩnh vực hiện đại hóa hải quan, quy trình thủ tục hành chính đã được cải tiến, bỏ nhiều khâu trung gian theo hướng tổ chức dây chuyền thủ tục hải quan hoàn chỉnh, một cửa, do đó đã giảm đáng kể thời gian thông quan. Công tác kiểm tra thực tế hàng hoá xuất, nhập khẩu được chuyển sang áp dụng phương pháp quản lý rủi ro, kiểm tra có trọng điểm, kiểm tra sau thông quan và đang thí điểm thông quan điện tử tại một số địa phương. Đặc biệt, đầu năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định thành lập Tổ công tác liên ngành (gọi tắt là Tổ 23) xử lý các vướng mắc và kiến nghị của doanh nghiệp về thủ tục hành chính (và các Tổ công tác tương tự do một số tỉnh thành lập). Thông qua hoạt động thực tế, Tổ công tác đã có những kiến nghị, đề xuất thiết thực để Thủ tướng Chính phủ, các bộ xử lý các vấn đề vướng mắc do thực tiễn đặt ra. Chính quyền địa phương các cấp đã triển khai công tác rà soát thủ tục hành chính gắn với việc thực hiện cơ chế “một cửa” theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Nhiều địa phương làm tốt công tác rà soát thủ tục hành chính như Vĩnh Long, Quảng Trị, Phú Thọ, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Quảng Nam. Năm 2005 đã thực sự là năm chính quyền địa phương các cấp đẩy mạnh thực hiện cơ chế “một cửa” ở cả 3 cấp tỉnh, huyện và xã, kết quả cụ thể như sau: + 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã triển khai cơ chế “một cửa” tại 4 sở bắt buộc (Sở Lao động thương binh xã hội, Sở Tài nguyên môi trường, Sở Kế hoạch đầu tư, Sở Xây dựng) đạt tỷ lệ 95,7%. Đối với các sở, ngành khác thuộc diện mở rộng đạt 52%, trong đó có 11 tỉnh đạt trên 80% là: Bình Thuận, Cần Thơ, Đà Nẵng, Đồng Tháp, Gia Lai, Hải Dương, Kon Tum, Phú Thọ, Phú Yên, Quảng Nam, Tây Ninh, 6 tỉnh đạt 100% là Bà Rịa – Vũng Tàu, Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Tiền Giang, Vĩnh Long và Vĩnh Phúc. + Khoảng 98% đơn vị cấp huyện đã triển khai. Trừ các tỉnh là Bạc Liêu, Bình Thuận, Đắk Nông, Hậu Giang, Khánh Hòa, Kon Tum, Lai Châu, Ninh Thuận, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Tuyên Quang, tất cả các địa phương còn lại trong cả nước đã triển khai 100% cơ chế “một cửa” tại cấp huyện. + 78% đơn vị cấp xã đã triển khai cơ chế “một cửa” đạt mục tiêu đề ra cho năm 2005; có 25 tỉnh, thành phố triển khai đạt 100% là: An Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bắc Ninh, Bến Tre, Cao Bằng, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hà Nội, Hà Nam, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Khánh Hoà, Long An, Nam Định, Phú Thọ, Sóc Trăng, Tây Ninh, Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế, Tiền Giang, Vĩnh Long, Vĩnh Phúc, Yên Bái. 1. trªn ®Þa bµn n«ng th«n Trong lịch sử hành chính ở nước ta, huyện (phủ, châu) bao giờ cũng giữ vai trò là cấp trung gian giữa tỉnh (trấn, đạo, lộ) và làng xã của tỉnh. Hơn nữa, xét về mặt đặc thù địa phương và lãnh thổ, các đơn vị hành chính huyện ở nước ta không có sự khác biệt rõ nét (trừ các huyện miền núi, huyện hải đảo). Với nhiều nguyên nhân như vậy, ở cấp huyện không nên tổ chức HĐND. Thực tế là các nghị quyết HĐND huyện chỉ mang tính hình thức, không có khả năng và điều kiện thực thi. Ủy ban nhân dân chủ yếu thực hiện quản lý hành chính Nhà nước, là một cấp thừa hành mệnh lệnh của tỉnh và Chính phủ, là một cấp nối liền với chính quyền xã, được phân công, phân cấp, ủy quyền giải quyết một số mặt trong phạm vi nào đó. Có cần có quá nhiều tổ chức đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân và cũng do nhân dân bầu ra cùng tồn tại trên một địa bàn hay không? Hay là chỉ cần vài cấp đại biểu làm tốt nhiệm vụ đại biểu, đi sâu đi sát dân, nắm bắt tâm tư, tình cảm của dân, thực hiện chức năng giám sát hoạt động của chính quyền tốt thì hoàn toàn có thể bảo đảm dân chủ. Hơn nữa, chúng ta còn có rất nhiều đoàn thể quần chúng, qua các đoàn thể này người dân có thể thực hiện quyền làm chủ của mình. 2. trªn ®Þa bµn ®« thÞ Đô thị là nơi mật độ dân số tập trung cao, dân cư làm nhiều ngành nghề khác nhau, ít có quan hệ mật thiết lâu đời trong cộng đồng dân cư, nói chung là dân cư có nguồn gốc từ nhiều vùng đất nước, trình độ dân trí cao, lượng thông tin nhiều, không gian tương đối hẹp, giao thông thuận lợi, giữa người dân với cấp chính quyền cao nhất của đô thị khá gần gũi. Một điểm đặc biệt rất quan trọng là hệ thống hạ tầng cơ sở (đường sá, điện, nước…), các công trình phúc lợi (bệnh viện, nhà văn hóa, trường học...) đều do thành phố thống nhất quản lý, thống nhất đầu tư, thống nhất duy tu hay nâng cấp. Vấn đề trị an xã hội phải chỉ huy, điều hành giải quyết ở cấp thành phố. Quận và phường không đủ sức đầu tư và cũng không thể đầu tư giải quyết các vấn đề theo lối “cắt khúc”. Không thể có chính sách phường này, quận này khác với phường kia, quận kia mà phải giải quyết đồng bộ, đồng loạt thống nhất trong phạm vi toàn thành phố, do HĐND thành phố bàn bạc, ra quyết định giải quyết. Các Nghị quyết của HĐND quận hay phường đều không có khả năng thực thi mà đều phải chuyển lên cấp thành phố xem xét. Do đó, hoạt động của HĐND quận, phường trở nên hình thức, tốn kém…, Hơn nữa, giữa các quận, phường trong cùng thành phố không có những nét đặc thù địa phương hay lãnh thổ. Vì những lý do trên, không nên tổ chức HĐND quận, phường trên địa bàn thành phố. Nên củng cố về mặt tổ chức, điều kiện hoạt động, nâng cao chất lượng đại biểu cho HĐND thành phố, đủ sức làm tròn nhiệm vụ và chức năng của mình, góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả của chính quyền thành phố, phục vụ tốt cho công dân, cho nhiệm vụ chính trị. Ngoài cấp chính quyền thành phố, có đủ hai bộ phận HĐND và UBND (gọi là cấp chính quyền hành chính), trên địa bàn thành phố có thể tồn tại cấp đại diện hành chính ở quận và phường. Các Ủy ban quận, phường chỉ làm nhiệm vụ quản lý hành chính Nhà nước đối với một số mặt được chính quyền thành phố, phân cấp giao cho hay thực hiện chế độ uỷ quyền. Những người làm việc trong các uỷ ban có nghiệp vụ tinh thông về hành chính, có năng lực do được đào tạo đầy đủ, làm việc lâu dài, ổn định và được chính quyền cấp trên (sau khi làm đủ các thủ tục cần thiết) bổ nhiệm vào các chức danh quận trưởng tùy theo năng lực và phẩm chất. iv) ph­¬ng h­íng c¶I c¸ch hµnh chÝnh ®Þa ph­¬ng trong giai ®o¹n hiÖn nay Công tác cải cách hành chính đã được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo và đã dần đi vào chương trình, kế hoạch. Ban chỉ đạo cải cách hành chính các cấp tiếp tục kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động. Trưởng ban phải là người đứng đầu như bộ trưởng, chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố. Các ban chỉ đạo cải cách hành chính có quy chế làm việc, phân công rõ trách nhiệm các thành viên và định rõ chương trình, kế hoạch, mục tiêu phương hướng biện pháp cụ thể, sát hợp. Cần chỉ đạo thí điểm, làm thử, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm kịp thời. Tăng cường công tác kiểm tra việc triển khai cải cách hành chính qua đó chấn chỉnh ngay những mặt yếu kém và có biện pháp khắc phục kịp thời. Công tác thông tin, tuyên truyền về cải cách hành chính cần được coi trọng và đẩy mạnh. Nói rõ những nơi làm tốt và kinh nghiệm hay trong cải cách hành chính, và chỉ rõ những vấn đề tồn tại, bất cập, đặc biệt là thái độ phục vụ nhân dân của cán bộ công chức trong từng đơn vị. Thực sự coi cải cách hành chính là khâu đột phá, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện tốt công tác tư tưởng đối với cán bộ, công chức, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị tạo chuyển biến về nhận thức và tinh thần trách nhiệm của mọi người. Tập trung chỉ đạo, điều hành nghiêm túc, thường xuyên đạt tới sự đồng bộ, gắn kết giữa cải cách hành chính với công tác chỉnh đốn, xây dựng Đảng, với các cuộc cải cách về kinh tế, lập pháp, tư pháp. Khắc phục các hoạt động hình thức của ban chỉ đạo cải cách hành chính, để có nội dung sinh hoạt thường xuyên, chất lượng, hiệu quả cao. Đội ngũ công chức chuyên làm công tác cải cách hành chính cần được tăng cường. Đầu tư về nhân lực, trí lực, nguồn lực cho cải cách hành chính. Tăng kinh phí triển khai các đề án, nhiệm vụ cải cách hành chính. Thống nhất trong bố trí kinh phí thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính ở cả bộ, ngành trung ương và địa phương. Công tác chỉ đạo thực hiện cải cách hành chính bảo đảm tính thường xuyên, liên tục, nhất quán và quyết liệt đúng với vị trí là một trong 3 giải pháp quan trọng thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Sớm nghiên cứu, kết luận và thể chế hóa các vấn đề liên quan mật thiết tới cải cách hành chính. Tiến hành đồng bộ cải cách hành chính, cải cách kinh tế, cải cách tư pháp, cải cách lập pháp và đổi mới từng bước hệ thống chính trị. Có biện pháp, cơ chế tạo động lực, hưởng ứng cải cách của đa số cán bộ, công chức. Xử lý nghiêm bộ phận cán bộ, công chức thoái hóa, kém phẩm chất trong thực thi công vụ. Từ kết quả đạt được và vấn đề đặt ra, công tác cải cách hành chính thời gian tới cần tập trung làm tốt những việc sau: 1 - Tiếp tục đẩy mạnh quá trình trao quyền chủ động cho chính quyền địa phương Đối với cấp tỉnh, vấn đề chủ yếu là đề cao thẩm quyền quyết định các vấn đề như thu, chi ngân sách, sử dụng đất đai, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Bởi lẽ quá trình phi tập trung hóa trong nước cùng với quá tình toàn cầu hóa đang là xu thế khách quan cần được nhận thức đầy đủ đúng đắn, kịp thời trong quá trình quản lý, điều hành ở địa phương. Cùng với đó, tính lưu động ngày càng tăng của hàng hóa và con người, những cập nhật về thông tin đã giúp cho chính quyền địa phương điều hành có hiệu quả các hoạt động kinh tế - xã hội. Song song với quá trình phi tập trung hóa làm xuất hiện nhu cầu tập trung hóa nhằm đáp ứng những thách thức của quá trình toàn cầu hóa. Từ kết quả phát triển kinh tế - xã hội trong những năm qua cho thấy phạm vi điều hành ở cấp tỉnh càng trở nên quan trọng. Sự năng động của lãnh đạo chính quyền địa phương sẽ tạo nên những bộ mặt mới hấp dẫn, thu hút đầu tư phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. 2 - Đề cao trách nhiệm của viên chức, công chức nhà nước thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch. Các yếu tố nêu trên không tồn tại độc lập mà tác động lẫn nhau như một công cụ giúp cho quản lý hành chính đạt kết quả. Chế độ trách nhiệm được quy định cụ thể rõ ràng, xác định rõ phận sự là của ai, về cái gì, như thế nào trong công việc. Tính công khai, minh bạch phát huy quyền làm chủ đối với mọi cấp, mọi cơ quan, mọi người dân không chỉ về những công việc, về các thông tin mà còn tăng tính chính xác, kịp thời, dễ hiểu của các thông tin trong thực hiện các khâu của cải cách hành chính. Trách nhiệm của công chức và công dân khi được công khai, minh bạch là để tham gia vào những công việc có liên quan xây dựng các chính sách và chương trình kinh tế - xã hội đúng đắn của chính quyền địa phương. Đồng thời giúp họ tham gia với tư cách là những chủ thể các hoạt động kiểm soát đối với các cơ quan liên quan. Tăng chế độ trách nhiệm của công chức, viên chức thể hiện chất lượng và hiệu quả công việc được giao trước cơ quan quản lý và trước nhân dân. Tăng chế độ trách nhiệm là xác định rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của từng cá nhân, từng đơn vị trong bộ máy công quyền. Nó nói rõ anh là ai, làm gì, làm như thế nào, tránh chung chung, trùng lắp, chế độ chức trách không cụ thể, đùn đẩy nhau gây ách tắc, trì trệ, khó quy trách nhiệm khi công việc không hoàn thành. 3 - Xây dựng và quản lý nguồn nhân lực của bộ máy hành chính nhà nước. Để xây dựng nguồn nhân lực cần thường xuyên đào tạo công chức hành chính và bảo đảm đội ngũ ấy hoạt động có hiệu quả trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Đồng thời phát triển thể chế quản lý từ những quy định và biện pháp kém hiệu quả trở thành tích cực, có hiệu quả cao. Củng cố tổ chức, phát triển nguồn nhân lực hướng tới những quy tắc hợp lý, có hiệu quả cao của từng công chức, tổ chức trong bộ máy hành chính. Phát triển nguồn nhân lực cần chuẩn hóa đầu vào thông qua chế độ tuyển chọn cạnh tranh để có được những người thực đức, thực tài tận tụy với công việc, hết lòng phục vụ nhân dân. Có cơ chế loại bỏ những phần tử sâu mọt, cơ hội nịnh bợ, chui vào nắm giữ những trọng trách trong bộ máy, cơ quan hành chính nhà nước. Cùng với đó, có chế độ lương thích hợp, bảo đảm tiền lương là nguồn thu chủ yếu, chính đáng đủ bảo đảm cuộc sống của người lao động trong bộ máy nhà nước để họ yên tâm phục vụ lâu dài. Đồng thời giáo dục tinh thần phục vụ, chống quan liêu, tham nhũng, làm trong sạch bộ máy nhà nước. 4 - Nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước kết hợp với quá trình ra quyết định và thực thi quyết định. Việc ban hành các quyết định có hiệu quả, phù hợp với thực tế, có giá trị thực thi là chức năng cơ bản của bộ máy nhà nước. Khắc phục tính chủ quan, duy ý chí, ban hành nhiều quy định, quyết định, không tính đến các điều kiện và hiệu quả thực thi làm giảm lòng tin của nhân dân và mất đi tính nghiêm minh của cơ quan ban hành quy định. Đồng thời phải tính đến khả năng điều hành thực thi, tránh gây lãng phí, làm cho các quy định có sức sống trong xã hội. Để được như vậy cần xây dựng cơ chế lập và điều phối chính sách có hiệu quả tuân thủ các nguyên tắc tôn trọng tính kỷ luật nhằm loại bỏ những quyết định không có khả năng tài chính, không có khả năng thực thi. Đề cao tính công khai, minh bạch của quá trình ra quyết định mà vẫn bảo toàn tính tập trung cần thiết cho quá trình thảo luận dân chủ thẳng thắn. Kết hợp tính dự báo định hướng chính sách trong điều kiện biến đổi để duy trì sự cân đối, bình ổn, không sa vào những công việc sự vụ lúng túng, trì trệ. Những vấn đề nêu trên cho thấy cải cách hành chính ở nước ta hiện nay không chỉ đơn thuần cải cách thủ tục hành chính mà còn là công việc của bộ máy hành chính, là đội ngũ công chức hành chính, là xây dựng nền hành chính công... đụng chạm đến toàn bộ các hoạt động của hệ thống chính trị. Điểm mấu chốt có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho cải cách hành chính thành công là giữ vững quan điểm chỉ đạo kiên quyết, tập trung của cả hệ thống chính trị và ý thức chủ động, tự giác của mọi cán bộ, công chức nhà nước và tinh thần làm chủ của nhân dân. Tiến hành các hoạt động cải cách hành chính một cách cơ bản, hệ thống, đồng bộ, không chắp vá, làm tăng tính năng động sáng tạo của các cơ quan trong bộ máy hành chính, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, làm trong sạch bộ máy nhà nước, xây dựng Nhà nước ta thực sự là Nhà nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Để phù hợp với bối cảnh và tình hình mới, quán triệt những thách thức và khắc phục những hạn chế như đã phân tích ở trên, CCHC tại Việt Nam cần thực hiện tốt những vấn đề sau đây: - Về cải cách hệ thống thể chế: Cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, trong đó chủ yếu là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thể chế về tổ chức, hoạt động của nền hành chính Nhà nước. Những công việc chủ yếu phải làm là loại bỏ, sửa đổi hoặc bổ sung những thể chế lạc hậu, bất cập, đồng thời thiết lập các thể chế còn thiếu để điều chỉnh các quan hệ kinh tế- xã hội mới phát sinh theo tiến trình phát triển của nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Để đáp ứng tốt các yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, phải tiến tới xây dựng một hệ thống pháp luật đầy đủ, hoàn chỉnh, đồng bộ, thống nhất, minh bạch, dễ đoán trước và phù hợp với luật lệ quốc tế. Trước mắt cần xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật mới như Pháp lệnh về Đối xử quốc gia, Đối xử Tối huệ quốc và quyền tự vệ; sửa đổi các Luật Thương mại, Luật Phá sản doanh nghiệp, Luật các Tổ chức tín dụng, Luật Ngân sách Nhà nước, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động… Bên cạnh việc hoàn thiện về số lượng và nội dung của hệ thống thể chế, cần tăng cường dân chủ, công khai, minh bạch trong việc soạn thảo, ban hành và thực thi nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực của thể chế. Quá trình xây dựng và thực thi thể chế cần có sự tham gia sâu rộng và giám sát thoả đáng của các chủ thể hữu quan, đặc biệt là của người dân và doanh nghiệp. Một mặt rất quan trọng của cải cách thể chế là cải cách thủ tục hành chính, hợp lý hóa trình tự giải quyết công việc trong quan hệ giữa các cơ quan công quyền với xã hội dân sự, với công dân, với doanh nghiệp. Khắc phục những hạn chế trước đây, cải cách thủ tục hành chính trong giai đoạn tới phải được được thực hiện song hành với những mặt khác của cải cách hành chính như đẩy mạnh phân cấp, xã hội hoá các dịch vụ công, cải cách tiền lương, ứng dụng công nghệ điện tử và viễn thông… Mục tiêu cơ bản của cải cách là đơn giản hoá các thủ tục, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp cũng như cho cơ quan nhà nước trong giải quyết công việc. - Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước: Hiện nay, hệ thống tổ chức lãnh đạo của Đảng và tổ chức quản lý của Nhà nước được hình thành song song, kể cả cấp ra quyết định Trung ương và các cấp địa phương. Gần như bên Nhà nước có bộ phận nào thì bên Đảng cũng có bộ phận tương ứng. Việc phân công, phân cấp giữa lãnh đạo và quản lý chưa được thể chế hóa bằng các văn bản có giá trị pháp lý cao, việc xác định trách nhiệm cuối cùng đối với một chủ trương, quyết định thường phức tạp. Cơ chế phối hợp không rõ ràng đã làm cho thời gian chuẩn bị ra các quyết định kéo dài, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước cần xuất phát từ quan điểm cơ bản về hệ thống thể chế chính trị tổng quát của nước ta: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, quan điểm này tạo ra khuôn khổ chung lâu dài về chế độ dân chủ của một Nhà nước có một Đảng lãnh đạo. Cần có nhiều nghiên cứu để làm rõ và thể chế hóa vấn đề này, đứng riêng về góc độ CCHC cần sớm làm rõ các chức năng lãnh đạo và chức năng quản lý để tạo ra một khung khổ phân công, phân cấp hợp lý, giảm bớt và đi đến xóa bỏ những trùng lắp và không rõ trách nhiệm còn tồn tại hiện nay, bảo đảm cả hiệu quả và hiệu suất lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước. Để tổ chức tốt việc phối hợp giữa quá trình lãnh đạo của Đảng và quá trình quản lý của Nhà nước cần quán triệt hai nguyên tắc cơ bản sau: Thứ nhất, mỗi phần việc cụ thể chỉ do một cơ quan hay cá nhân quyết định bằng một văn bản pháp quy cụ thể; Thứ hai, cơ quan hay cá nhân có quyền ra quyết định phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về quyết định đó trước Đảng, Nhà nước và pháp luật. Theo đó cần rà soát lại cơ cấu tổ chức, cho phép giải thể một số tổ chức ban, phòng có nội dung công tác dễ dẫn đến trùng lặp về chức năng đã có từ nhiều năm trước. Cơ quan Đảng và Chính phủ cần sớm nghiên cứu việc thể chế hóa quan hệ phối hợp giữa các tổ chức lãnh đạo và quản lý nhà nước. - Về cải cách tổ chức bộ máy hành chính: Cần chuyển đổi mạnh mẽ, cơ bản vai trò, chức năng, nhiệm vụ của cả bộ máy hành chính nhà nước cũng như của mỗi cơ quan hành chính để phù hợp hơn với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường và dân chủ hóa đời sống xã hội. Trước hết cần điều chỉnh vai trò và chức năng của Chính phủ để đảm bảo “Chính phủ nhỏ cho xã hội lớn”. Đây là vấn đề then chốt trong việc đổi mới thể chế quản lý hành chính nhà nước, vì với sự thay đổi của chức năng Chính phủ, các vấn đề khác như cơ cấu bộ máy hành chính, phương thức quản lý hành chính, cán bộ viên chức hành chính... đều phải có sự thay đổi tương ứng, kể cả thực chất mối quan hệ công việc giữa nhà nước và doanh nghiệp, nhà nước và thị trường, nhà nước và xã hội, nhà nước và nhân dân. Với những yêu cầu của giai đoạn mới, chức năng của Chính phủ cần được xác định chính xác, làm cơ sở cho việc hoàn chỉnh khung CCHC. Về cơ bản chức năng chung và chủ yếu của Chính phủ là quản lý nhà nước, bao gồm các mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trong lĩnh vực kinh tế, khi chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng XHCN, vai trò của Chính phủ phải chuyển dần từ chỗ là tác nhân kinh tế chính sang vai trò người thúc đẩy phát triển, người trọng tài kinh tế. Trong lĩnh vực quản lý chính trị, vai trò của Chính phủ cần chuyển dần từ người cho phép, người gia ân sang người bảo đảm, người tạo điều kiện cho mọi công dân thực hiện được các quyền cơ bản theo luật pháp, đặc biệt là các quyền tự do, dân chủ. Trong lĩnh vực xã hội, vai trò của Chính phủ cần chuyển dần từ người phân phát phúc lợi đồng đều và hạn chế sang người đảm bảo an sinh xã hội cho mọi người, cung cấp dịch vụ sự nghiệp tổi thiểu, đồng thời bảo đảm nguồn dịch vụ khác theo yêu cầu cho toàn xã hội. - Thực hiện mạnh mẽ việc phân cấp giữa Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương: Phân cấp giữa Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương là một tất yếu khách quan nhằm thúc đẩy quá trình dân chủ hoá đời sống xã hội, là một xu thế của thời đại chống lại một nhà nước tập quyền lỗi thời bằng việc phát huy quyền dân chủ trực tiếp của công dân. Phân cấp nhằm bảo đảm yêu cầu tiện lợi trong mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân; nâng cao tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương; phát huy mọi lợi thế riêng có về vật chất, tinh thần và trí tuệ của nhân dân địa phương; bảo đảm cho nhân dân được tham gia trực tiếp với chính quyền trong phát triển kinh tế - xã hội, trong xây dựng cuộc sống cộng đồng; tạo động lực thi đua và hợp tác lành mạnh, thúc đẩy các địa phương cùng phát triển. Để công tác phân cấp có hiệu quả, cần quán triệt một số nguyên tắc và định hướng chủ yếu sau đây: Nâng cao nhận thức của các cơ quan hành chính từ Trung ương đến địa phương về một nền hành chính thống nhất có sự phân cấp hợp lý quyền hạn và trách nhiệm nhằm thực hiện mục đích phát huy tính tập trung điều hành của Chính phủ với việc phát huy sáng tạo, chủ động của hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân các địa phương. Cấp Trung ương cần tập trung vào việc xây dựng thể chế và các lĩnh vực thuộc lợi ích của quốc gia như ngoại giao, quốc phòng, an ninh; các lĩnh vực khác thì phân cấp cụ thể. Việc xử lý vụ, việc trong quan hệ với dân và doanh nghiệp nên phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương. Cần bảo đảm tính thống nhất về tất cả các chủ trương, chính sách của Nhà nước, không để cùng một chủ trương mà các nơi thực hiện khác nhau. Khi phân cấp, cần bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện, bao gồm các điều kiện về pháp chế như quy định rõ các quyền hạn và nhiệm vụ có liên quan, các điều kiện về tài chính, các điều kiện về cán bộ để đảm đương được nhiệm vụ, các điều kiện về quy hoạch chi tiết, về lộ trình cụ thể ... để cơ quan được phân cấp không thể làm khác chủ trương chung, đồng thời cũng không bị vướng mắc về chuyên môn trong khi thực hiện. - Về đổi mới đội ngũ công chức, đặc biệt là nâng cao phẩm chất, phát triển năng lực công chức: Đây là một nhiệm vụ và thách thức lớn, bởi vì công chức được coi là một yếu tố quan trọng để thực hiện được các mục tiêu quốc gia đã đề ra. Xây dựng và phát triển năng lực của đội ngũ công chức cần quan tâm đến những vấn đề cơ bản sau đây: Xây dựng và phát huy năng lực của đội ngũ công chức hành chính Nhà nước thực chất là thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực của quốc gia một cách cụ thể nhằm tạo ra đội ngũ công chức vừa phải làm việc trên các lĩnh vực theo các nguyên tắc của thị trường, vừa phải biết quyết định các vấn đề trên cơ sở hệ thống quyền lực mà nhân dân giao cho. Xây dựng đội ngũ công chức theo nguyên tắc chức nghiệp hay chế độ việc làm đều nhằm đi đến kết quả cuối cùng là tạo ra được đội ngũ công chức thực sự có năng lực, biết giải quyết các vấn đề được giao trên nguyên tắc kết quả, hiệu quả và chất lượng. Do đó, phải quan tâm đến cả quá trình làm việc của công chức từ khi họ được tuyển dụng làm công chức đến khi họ nghỉ hưu. Để duy trì được đội ngũ công chức có năng lực và trình độ chuyên môn ngày càng được nâng cao, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng công chức có ý nghĩa rất quan trọng. Vì vậy, cần phải đổi mới cơ bản công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức nhà nước. Xây dựng một cơ chế tiền lương công chức hợp lý, sự tương đồng ở mức thoả đáng với các vị trí tương tự trong khu vực tư nhân; căn cứ vào chất lượng công việc, thể hiện sự cống hiến của công chức trong tiến trình phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm công bằng trong nền công vụ. - Hợp lý hóa và hiện đại hóa mạnh mẽ công tác hành chính: Mục đích ưu tiên của đổi mới công tác hành chính nhà nước phải là nâng cao hiệu quả và hiệu suất của công tác hành chính, thực hiện công bằng xã hội, nâng cao ý thức dân chủ và pháp trị trong quan hệ với các tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân. Để đạt hiệu quả cao trong quản lý hành chính cần quán triệt các nguyên tắc sau: Quy trình ra quyết định cần thực hiện theo con đường ngắn nhất, gạt bỏ những trùng lặp, làm thay không cần thiết; Mỗi việc chỉ do một tổ chức hay cá nhân phụ trách, có quyền quyết định đồng thời chịu trách nhiệm cuối cùng về quyết định của mình. Không để bất cứ việc gì có hai cơ quan cùng có ý kiến quyết định, kể cả cơ quan Đảng. Cần sớm triển khai dự án Chính phủ điện tử, trước hết ở các thành phố lớn, trong một số ngành và công việc có nhiều giao dịch hành chính với doanh nghiệp hoặc nhân dân. Áp dụng Chính phủ điện tử không những có thể bảo đảm công việc hành chính chạy thông suốt một cách tự động mà còn là phương pháp chống tiêu cực rất có hiệu quả. Cần nghiên cứu triển khai việc mở rộng mạng lưới các tổ chức ngoài doanh nghiệp và cơ quan nhà nước, các tổ chức trung gian, hỗ trợ, dịch vụ không chủ yếu vì lợi nhuận và các tổ chức phi chính phủ khác, tạo điều kiện cho các hoạt động xã hội triển khai thuận lợi. v) kÕt luËn. CCHC trong thời gian qua mặc dù đã đạt được những thành công đáng ghi nhận, tuy nhiên hoạt động của Nhà nước và của nền hành chính quốc gia vẫn còn nhiều điểm bất cập. Nếu duy trì quá lâu tình trạng này sẽ tạo ra tác động kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trước yêu cầu phát triển sâu hơn nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, yêu cầu hội nhập mạnh mẽ và toàn diện, công cuộc CCHC đang đứng trước những thách thức vô cùng to lớn. Để vượt qua những thách thức này, CCHC trong giai đoạn mới cần phải có những thay đổi hết sức sâu sắc cả về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, của bản thân hệ thống thể chế hành chính, của cơ cấu hệ thống tổ chức hành chính và đội ngũ công chức hành chính... Việc thực hiện những phương hướng mới trong CCHC như đã phân tích ở trên là hết sức cần thiết. Với những thành công đã đạt được, với quyết tâm to lớn của cả hệ thống chính trị, chắc chắn CCHC trong giai đoạn tới sẽ thu được những thành công to lớn, góp phần quan trọng thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh, mạnh, vững chắc nền kinh tế - xã hội của nước ta.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTiểu luận- Thực trạng và giải pháp cải cách hành chính ở các địa phương trong giai đoạn hiện nay.doc
Luận văn liên quan