Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt tại công ty bảo hiểm dầu khí việt Nam (PVI)

Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt mặc dù mới triển khai nhưng đang có tốc độ phát triển rất nhanh và là một trong những nghiệp vụ có doanh thu cao, đạt hiệu quả kinh doanh lớn. Công ty bảo hiểm dầu khí Việt Nam hiểu rõ hơn hết tiềm năng cũng như xu hướng phát triển của nghiệp vụ này. Với chiến lược phát triển từ nay đến năm 2010, PVI đã nghiên cứu và đề ra cho mình những giải pháp nhằm nângcao hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt phù hợp với đặc trưng của lĩnh vực kinh doanh trong ngành.

pdf93 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 14/11/2013 | Lượt xem: 1992 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt tại công ty bảo hiểm dầu khí việt Nam (PVI), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hu. Sau đó chỉ tiêu này giảm vào năm 1999 với 1 triệu đồng chi phí thu về 3,17 triệu đồng doanh thu. Năm 2000 là năm có mức tăng của chỉ tiêu DT/CP gần bằng năm 1998 là 3,32 lần. Các năm sau đó, từ năm 2001 đến 2003 có tăng giảm không đáng kể và duy trì ở mức 3,19 lần.  Chỉ tiêu LN/CP: năm 1998 chỉ tiêu này đạt ở mức cao nhất là 2,33 tức là cứ 1 triệu đồng chi phí thì thu được lợi nhuận 2,33 triệu đồng và cũng tăng cao trong năm 2000, đạt 2,32 nghĩa là cứ 1 triệu đồng chi phí thì thu được lợi nhuận 2,32 triệu đồng. Sau đó chỉ tiêu này giảm đi vào năm 2001, năm 2002 và 2003 ở mức xấp xỉ 2,19 do số tiền bồi thường của những năm này tăng cao hơn nhiều so với những năm trước đó. Với thực tế như vậy cho thấy hoạt động kinh doanh của nghiệp vụ này không cao như tiềm năng của nó. Kết quả và hiệu quả kinh doanh của nghiệp vụ này chưa cao và có xu hướng tăng nhẹ có thể do một số nguyên nhân sau: - Do tâm lý chủ quan của khách hàng cũng như sự thiếu hiểu biết về vai trò của nghiệp vụ này. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 70 - Nghiệp vụ bảo hiểm cháy hiện nay vẫn là nghiệp vụ rất mới trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Do vậy, vẫn còn nhiều cán bộ khai thác bảo hiểm chưa có đầy đủ kinh nghiệm và kiến thức khai thác loại hình dịch vụ này. - Cơ chế chính sách pháp luật về bảo hiểm chưa thống nhất, chưa hoàn thiện để tạo điều kiện phát triển xứng đáng cho nghiệp vụ. Tóm lại, những nguyên nhân trên là khó tránh khỏi khi triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy. Với mục tiêu phấn đấu đưa nghiệp vụ này trở thành nghiệp vụ then chốt, đóng góp tỷ trọng lớn vào doanh thu, công ty BHDK cần nhiều sự cố gắng và nỗ lực của toàn bộ cán bộ công nhân viên, Ban giám đốc của công ty. II. THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN: 1. Thuận lợi: - Trong những năm gần đây, sự ổn định của tình hình chính trị và sự phát triển kinh tế trong nước là điều kiện quyết định đảm bảo sự phát triển ổn định của mọi ngành trong nền kinh tế. Môi trường kinh tế và tốc độ phát triển của các doanh nghiệp trong nước đã mang lại nguồn khách hàng tiềm năng cho ngành bảo hiểm nói chung và cho nghiệp vụ bảo hiểm cháy nói riêng. Nền kinh tế tiếp tục phát triển với sự đóng góp lớn của các ngành công nghiệp dịch vụ, đầu tư nước ngoài đã bắt đầu phục hồi cộng với tác động của các chính sách phát triển kinh tế của nhà nước vẫn là các yếu tố làm tăng nhanh nhu cầu bảo hiểm. Bên cạnh đó, các diễn biến trên thị trường bảo hiểm thế giới đang tạo các sức ép rất lớn lên thị trường Việt Nam. Đây thực sự là cơ hội thuận lợi để các công ty bảo hiểm, trong đó có PVI tăng phí. - Xu hướng hội nhập được xem là một trong những cơ hội rất lớn của thị trường bảo hiểm Việt Nam. Doanh thu phí bảo hiểm của toàn thị trường Việt Nam khi kết thúc năm 2002 đạt 7.707 tỷ đồng, trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt 3.062 tỷ đồng. Những con số này chứng tỏ thị trường bảo hiểm tại Việt Nam đang rất có tiềm năng. Việt Nam đang trên đường hội nhập với AFTA và WTO, đây sẽ là bước tiến quan trọng trong việc thu hút đối tác nước ngoài, giúp thị trường sôi động hơn. Các công ty bảo hiểm trong nước sẽ có điều kiện mở rộng liên kết với các ngân hàng, các tổ chức tín dụng có mạng lưới khách hàng rộng khắp giúp quảng bá mạnh mẽ thương hiệu của các công ty này ra công chúng. - Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đã đi vào hoạt động từ năm 2000, hiện nay hiệp hội đã có 13 hội viên gồm cả các công ty bảo hiểm trong nước và 100% vốn đầu tư Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 71 nước ngoài, cả các công ty bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ. Hiệp hội bảo hiểm ra đời đã giúp các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động ở Việt Nam thống nhất giải quyết các vấn đề chung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm và ổn định thị trường bảo hiểm trong nước khi có sự biến động của thị trường thế giới. - Về môi trường pháp lý, Luật bảo hiểm đã được quốc hội thông qua tháng 12/2000, có hiệu lực thi hành từ 1/4/2001, Bản thoả thuận về khai thác bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt và bảo hiểm mọi rủi ro công nghiệp do Bộ Tài chính phê chuẩn và áp dụng từ ngày 1/6/2001 và Luật phòng cháy chữa cháy cũng đã được công bố từ ngày 12/7/2001 là các quy phạm pháp lý rất thuận lợi cho các công ty bảo hiểm trong lĩnh vực tài sản. - Công ty Bảo hiểm Dầu khí là doanh nghiệp nhận được chứng chỉ ISO 9001: 2000 về quản lý chất lượng do 2 tổ chức quốc tế là Quacert (Úc) và DVN (Na Uy) công nhận. Hiện nay tất cả các khâu trong quá trình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt tại phòng bảo hiểm kỹ thuật đều được tiến hành theo qui trình ISO 9001:2000. Điều này giúp cho công ty chuẩn mực hoá có hiệu quả các khâu trong quá trình quản lý và nâng cao chất lượng khai thác đến từng chi nhánh, đại lý. - Công ty Bảo Hiểm Dầu Khí là đơn vị thành viên của Tổng công ty dầu khí Việt Nam nên được sự ủng hộ mạnh mẽ của Tổng công ty và các đơn vị trong ngành, công ty luôn được chọn là nhà bảo hiểm và tư vấn về quản lý rủi ro. Đây cũng là một trong những lợi thế thương mại rất quan trọng đối với công ty trong hoạt động kinh doanh hiện tại cũng như tương lai. - Công ty đã cải tiến, thay đổi quan hệ hợp tác với các công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm trong nước và quốc tế nhằm xây dựng chiến lược phát triển lâu dài, bền vững để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Ngoài những thuận lợi trên phải kể đến sự nỗ lực rất cao của ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên trong toàn công ty cùng với các biện pháp khoán chi hợp lý đã làm tăng nhanh năng suất lao động, nâng cao sức cạnh tranh và sẵn sàng hội nhập quốc tế. 2. Khó khăn: - Thị trường Tái bảo hiểm quốc tế đang ở giai đoạn khó khăn nhất trong vòng 40 năm trở lại đây, đặc biệt sau nhiều vụ tổn thất có tính thảm hoạ và thiên tai liên tiếp xảy ra tại các nước trong khu vực cũng như trên toàn thế giới. Những diễn biến mới này đã dẫn đến năng lực của thị trường tái bảo hiểm quốc tế giảm sút trầm trọng, nhiều Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 72 công ty bảo hiểm quốc tế bị phá sản hoặc thu hẹp phạm vi hoạt động dẫn đến khó khăn trong việc thu xếp tái bảo hiểm - Thị trường bảo hiểm Việt Nam tiếp tục cạnh tranh gay gắt, phí bảo hiểm giảm với các điều kiện bảo hiểm mở rộng đi ngược với trào lưu chung của quốc tế, ảnh hưởng đến việc tái tục các hoạt động tái bảo hiểm cố định và làm mất ổn định hoạt động kinh doanh. Hiện nay trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có hơn 16 công ty bảo hiểm được cấp giấy phép hoạt động bao gồm cả các công ty liên doanh và công ty bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài. Thế mạnh của các công ty này không chỉ ở kinh nghiệm hoạt động, đội ngũ nhân viên được đào tạo chính quy mà còn ở sự hậu thuẫn bằng nguồn lực tài chính khổng lồ của các công ty mẹ, do đó họ có khả năng hạ phí thấp hơn nhiều so với các công ty bảo hiểm khác. Để cạnh tranh với công ty Bảo Hiểm Dầu Khí, nhiều công ty bảo hiểm khác (do biết khó vào được thị trường dầu khí) đã cố tình chào phí cho các công ty trong ngành với phí bảo hiểm thấp hơn của thị trường, thậm chí chỉ chào để gây rối, làm cho Bảo Hiểm Dầu Khí rất khó khăn trong việc cấp đơn và thu xếp tái bảo hiểm. - Về nhân sự: là một công ty mới thành lập nên cơ cấu nhân sự chưa cân đối và đồng đều. Trình độ, kinh nghiệm kỹ thuật nghiệp vụ và tích luỹ dự trữ kỹ thuật của các chuyên viên còn hạn chế. Đây là một trong những khó khăn không nhỏ của công ty vì công ty hàng năm phải chi các khoản phí không nhỏ để đào tạo lại hay bồi dưỡng kiến thức về bảo hiểm cũng như kiến thức kinh doanh cho các chuyên viên của mình. Mặt khác, đội ngũ giám định viên còn mỏng, chỉ tập trung ở một số thành phố, cảng biển lớn và chưa được đào tạo chính thức; trang thiết bị để phục vụ cho công tác giám định còn thiếu và lạc hậu nên đã gây không ít khó khăn và trở ngại cho công tác giám định. - Nghiệp vụ bảo hiểm cháy là nghiệp vụ rất mới, đội ngũ cán bộ giỏi về nghiệp vụ chưa nhiều, trình độ tiếng Anh và sử dụng vi tính của cán bộ nhân viên còn chưa cao. Nhiều cán bộ khai thác chưa tận dụng khai thác bảo hiểm kết hợp với tuyên truyền quảng cáo, vận động nên số lượng khách hàng cũng như các đơn bảo hiểm cấp hàng năm không đạt mức tăng đáng kể. - Cơ chế chính sách pháp luật về bảo hiểm chưa thống nhất, hiện nay luật bảo hiểm đã có hiệu lực, tạo hành lang pháp lý để các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động. Tuy nhiên, Nghị định và Thông tư hướng dẫn liên quan đến việc thực hiện bảo hiểm bắt buộc về cháy nổ vẫn chưa được ban hành nên trên thực tế môi trường pháp lý chưa Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 73 thực sự mang lại các điều kiện thuận lợi cho người làm bảo hiểm. Mặt khác sau nghị định 100CP (18/12/93) có rất nhiều công ty bảo hiểm trong nước cũng như nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam. Việc cạnh tranh của các công ty với các đối thủ gặp rất nhiều khó khăn khi mà các công ty nước ngoài có bề dày kinh nghiệm về quản lý và đánh giá rủi ro, họ có tiềm lực tài chính hùng mạnh tạo được uy tín với khách hàng, đặc biệt là các doanh nghiệp liên doanh, dẫn đến việc PVI cũng như các công ty bảo hiểm trong nước bị cạnh tranh và mất thị phần ngay trên “sân nhà”. Tóm lại, những nguyên nhân trên là khó tránh khỏi khi triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy. Để đạt được mục tiêu nghiệp vụ này trở thành nghiệp vụ then chốt, đóng góp tỷ trọng lớn vào doanh thu của công ty thì cần nhiều sự cố gắng và nỗ lực của toàn bộ cán bộ công nhân viên, Ban giám đốc của công ty, cần nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho các cán bộ, đại lý, chuyên viên giám định, cần khắc phục các hạn chế, khó khăn để đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng và phát triển của nghiệp vụ trong tương lai. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 74 CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM HOẢ HOẠN VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI PVI I. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2010 I. Phương hướng phát triển của công ty Với vị trí của mình trong nước và trên trường quốc tế, PVI tập trung mọi tiềm lực của mình nhằm nâng cao năng lực nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn. Công ty sẽ cố gắng duy trì lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm dầu khí bao gồm các hoạt động đặc thù như khai thác, sản xuất, bảo quản, vận chuyển, chế biến và các dịch vụ cũng như các hoạt động kinh doanh khác giúp bảo vệ ở mức tốt nhất tài sản cũng như con người trong ngành công nghiệp dầu khí. Điều này phải kể đến nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt đã và đang góp phần không nhỏ trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh của công ty. Nghiệp vụ này vốn từ lâu đã gần như trở thành nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc trong kinh doanh bảo hiểm tài sản của công ty. Phương hướng cụ thể: - Nâng cao chất lượng dịch vụ của nghiệp vụ Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt, đặc biệt các dịch vụ cung cấp cho các công ty thuộc Tổng công ty dầu khí Việt Nam. - Đẩy mạnh việc nghiên cứu các giải pháp thích hợp nhằm tăng hiệu quả sử dụng nguồn vốn tài chính của công ty. - Thúc đẩy hợp tác đa phương có hiệu quả đối với các công ty bảo hiểm trong và ngoài nước trong các nghiệp vụ chính của công ty, đồng thời tổ chức các buổi hội thảo giữa các công ty bảo hiểm trong nước nhằm mục đích học hỏi và nâng cao kinh nghiệm hoạt động. - PVI nỗ lực tăng doanh thu, lợi nhuận của các lĩnh vực kinh doanh nói chung và nghiệp vụ Bảo hiểm cháy nổ nói riêng, phấn đấu tăng tỉ lệ đóng Ngân sách Nhà nước hàng năm lên 8-10%. * Hoạt động kinh doanh - Tăng cường hoạt động Marketing đã được công ty đưa vào là một trong những phương hướng chiến lược quan trọng từ nay đến năm 2010. PVI sẽ triển khai áp dụng những phương pháp tiếp cận khách hàng mới phù hợp với xu hướng phát triển của thị Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 75 trường bảo hiểm nhằm đưa ra những giải pháp hợp lý đáp ứng được những thông tin dự báo về sự phát triển kinh tế trong nước và khu vực. - PVI đặc biệt chú trọng đến sự phát triển của những sản phẩm bảo hiểm hiện có của công ty với mục tiêu phát triển bền vững, đưa doanh thu và lợi nhuận của nghiệp vụ Bảo hiểm hoả hoạn hàng năm tăng 10%-20%. - Nâng cao chất lượng dịch vụ, đặc biệt trong công tác giám định và bồi thường của nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt. Điều này rất quan trọng trong việc duy trì số lượng khách hàng truyền thống của công ty và thu hút những khách hàng mới đầy tiềm năng cho dịch vụ này. - Áp dụng chính sách tái bảo hiểm hiệu quả dựa trên các điều kiện và nguồn lực hiện có của công ty. PVI sẽ phân tích nhằm tăng hơn nữa mức phí giữ lại thích hợp. * Quan hệ hợp tác - Nội bộ: Tăng cường và duy trì các mối quan hệ hợp tác với các công ty trực thuộc Tổng công ty dầu khí Việt Nam thông qua các cuộc hội thảo, các khoá đào tạo nghiệp vụ. Nâng cao chuyên môn và khả năng tư vấn cho các chuyên viên công ty về công tác hạn chế rủi ro và các chương trình bảo hiểm khác nhằm tăng cường số lượng các dự án đầu tư của công ty. - Bên ngoài: Ưu tiên hàng đầu trong quan hệ hợp tác với các công ty bảo hiểm trong nước trên tinh thần hợp tác cùng có lợi. Hợp tác với các công ty bảo hiểm nước ngoài, đặc biệt trong khu vực và tiến dần đến thị trường bảo hiểm quan trọng của thế giới như Anh, Mỹ, Úc. Đẩy mạnh hợp tác hơn nữa với các quốc gia có mối quan hệ gần gũi với Dầu khí Việt Nam nhằm tăng cường thu hút thêm các dịch vụ bảo hiểm của những nước này. * Phương hướng đầu tư Chúng ta nên ý thức một cách đầy đủ và đúng đắn rằng phần lớn các công ty bảo hiểm trên thế giới không thu được lợi nhuận chủ yếu của mình thông qua doanh thu phí bảo hiểm mà chính là từ hoạt động đầu tư. Trong tương lai, các công ty nên đề ra chính Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 76 sách đầu tư dựa trên hiệu quả sử dụng vốn và doanh thu phí. Để đạt được hiệu quả này, nên có những phương hướng đầu tư tương lai như sau: - Duy trì các khoản tiền mặt ở những ngân hàng đáng tin cậy nhằm thu được tỉ lệ lãi suất cao nhất. - Tăng cường đầu tư vào các dự án trong ngành công nghiệp dầu và khí cũng như các dự án ngoài ngành khác với hiệu quả cao và thu hồi vốn nhanh. - Ưu tiên đầu tư vào các thị trường tài chính. - Phân bổ ngân sách hợp lý để đầu tư có hiệu quả vào hoạt động hạn chế rủi ro; trích một lượng tiền lớn vào công tác đánh giá, hạn chế và quản lý rủi ro, đặc biệt là những rủi ro gây tổn thất lớn trong ngành công nghiệp dầu và khí. - Tham gia tích cực vào thị trường chứng khoán. * Nguồn nhân lực Để có thể đáp ứng được phương hướng phát triển vừa đưa ra, yếu tố con người, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cần phải thoả mãn những nhu cầu sau: - Trước tiên, cần vạch ra chiến lược đào tạo lao động. Nên ưu tiên các khoá học đào tạo chuyên ngành, chất lượng cao ví dụ: đào tạo các chuyên gia đánh giá rủi ro, các nhà bảo hiểm và các chuyên viên thống kê. Ngoại ngữ cũng được xem là một phương tiện hết sức quan trọng nhằm tiếp cận được với những kiến thức bảo hiểm trong thời gian ngắn nhất. - PVI là công ty mới ra đời từ năm 1996 nên trong thời gian tới công ty sẽ xây dựng cho mình một nền văn hoá doanh nghiệp phù hợp với một công ty 100% vốn Nhà nước. * Quản lý - Hoàn thiện chính sách tài chính nhằm tạo điều kiện cho các phòng chức năng và các chi nhánh chủ động sáng tạo trong thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay. Ví dụ như cuối tháng 11/2003, Ban giám đốc đã chính thức gửi công văn xuống các phòng kinh doanh của công ty là phòng BHNL, phòng BHHH, phòng BHKT cho phép các trưởng phòng có quyền ký kết chính thức các hợp đồng bảo hiểm không cần thông qua Ban giám đốc với các hợp đồng có vốn của Tổng công ty dầu khí và trị giá hợp đồng dưới 100 triệu đồng Việt Nam. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 77 - Thay đổi cơ cấu tổ chức của công ty phù hợp với sự phát triển theo xu hướng mới của thị trường bảo hiểm; ưu tiên hoàn thiện các thủ tục về bảo hiểm và Marketing như khảo sát, ký kết hợp đồng bảo hiểm và giải quyết bồi thường. - Áp dụng các biện pháp công nghệ thông tin hiện đại trong công tác quản lý và thống kê; vạch chiến lược phát triển hệ thống thông tin và xử lý dữ liệu từ trụ sở chính đến các chi nhánh nhằm thiết lập một trật tự quản lý số liệu và trao đổi thông tin. 2. Dự báo thị trường Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt ở Việt Nam Theo thống kê sơ bộ từ các công ty bảo hiểm, sau 9 tháng 2003 tình hình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy trên thị trường Việt Nam vẫn giữ tốc độ tăng trưởng ổn định. Trên toàn thị trường, tổng phí bảo hiểm cháy tăng khoảng 10% so với cùng kỳ năm trước. So sánh với các nghiệp vụ đối ngoại khác như xây dựng lắp đặt, hàng hải, thị trường bảo hiểm cháy không có những thay đổi đột biến, tốc độ tăng trưởng đạt được ở mức không cao so với kết quả vài năm gần đây, chưa đạt được mức kế hoạch nhiều công ty đặt ra là khoảng từ 15%-20%. Mặc dù vậy, tình hình khai thác và cạnh tranh trên thị trường vẫn diễn biến sôi động. Ở giai đoạn này, nhìn chung các công ty vẫn duy trì được tỉ lệ phí như năm trước, nhưng đã xuất hiện lác đác một số trường hợp hạ phí, đặc biệt là đối với một số dịch vụ tái tục với số tiền bảo hiểm lớn. 9 tháng qua được đánh giá là khoảng thời gian có tình hình bồi thường diễn biến không thuận lợi với sự phát sinh của vụ cháy nhà máy chế biến thức ăn Interfood. Cho dù gần đây công ty giám định tổn thất đã điều chỉnh giảm số tiền bồi thường cho vụ cháy Interfood từ hơn 6 triệu đôla xuống còn 4,65 triệu đôla, nhưng đây vẫn là vụ tổn thất có số tiền bồi thường và số tiền thu hồi tái bảo hiểm lớn nhất từ trước đến nay. Chính vì thế, vụ tổn thất này không chỉ gây thiệt hại lớn về tiền cho các công ty bảo hiểm liên quan, mà có khả năng nó sẽ tiếp tục gây ra nhiều khó khăn chung cho việc kinh doanh của toàn thị trường sau này. Về tình hình tái bảo hiểm, các thông tin hiện tại đều cho thấy thị trường vẫn đang “cứng” và tình trạng này sẽ tiếp tục kéo dài trong thời gian tới. Hai xu hướng trái ngược trên thị trường quốc tế (tăng phí) và thị trường trong nước (tiếp tục cạnh tranh) dẫn tới việc thu xếp tái bảo hiểm khó khăn, đặc biệt là việc thu xếp tái bảo hiểm cho các dịch vụ tạm thời. Kết quả không thuận lợi trên thị trường Việt Nam dẫn tới việc một số nhà nhận tái bảo hiểm hàng đầu của thị trường như Hàn Quốc, Malaysia, Singapore đã và sẽ tiếp tục áp dụng các chính sách thắt chặt, cụ thể là họ gần như không nhận các dịch vụ tạm thời hạ phí hoặc mở rộng điều kiện điều khoản. Trong buổi hội thảo với chủ đề “Tái bảo hiểm trên thị trường Việt Nam hôm qua, hôm nay và Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 78 ngày mai” tổ chức ngày 16/10/2003, đại diện của công ty tái bảo hiểm Munich Re chi nhánh Singapore đã phân tích, đánh giá về tình hình thị trường Việt Nam, đồng thời họ so sánh tình hình thị trường Việt Nam với thị trường các nước trong khu vực. Nhìn chung, họ đánh giá cao kết quả đạt được và tiềm năng của thị trường Việt Nam nhưng họ cũng nhận xét tỉ lệ phí của thị trường hiện vẫn còn khá cạnh tranh. Trước kỳ tái tục mới, Munich Re đã chính thức thông báo một số điều chỉnh áp dụng với các hợp đồng bảo hiểm cố định trên thị trường Việt Nam, đó là giảm giới hạn (capacity) và hoa hồng tái bảo hiểm. Các điều chỉnh của Munich Re được nhìn nhận là có thể gây một số khó khăn cho các công ty bảo hiểm, nhưng mặt khác, nó có thể khuyến khích các công ty tăng phí. Điểm qua một số tình hình thực tế trong các năm, dự kiến thị trường trong nước sắp tới sẽ tiếp tục diễn biến khó khăn, trước mắt là mùa tái tục vào cuối năm nay. Do vậy, ngoài việc nhận thức và đánh giá đúng thực chất của thị trường để có các đối sách kinh doanh thích hợp, các công ty cần phải quan tâm chú trọng đến sự phát triển của thị trường một cách toàn diện, đảm bảo an toàn, cạnh tranh lành mạnh sao cho phù hợp với các nguyên tắc chuẩn mực của thị trường trong nước và khu vực, cũng như dần dần từng bước hội nhập với thị trường quốc tế như mục tiêu trong “Chiến lược phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 tới 2010” mà chính phủ đề ra cho ngành bảo hiểm. II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM HOẢ HOẠN VÀ RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI PVI 1. Một số kiến nghị từ phía Nhà nước Nghiệp vụ Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt là một nghiệp vụ còn khá mới ở Việt Nam. Vì vậy, ý thức và tầm hiểu biết của người dân, của các doanh nghiệp Việt Nam còn chưa cao, dẫn đến doanh thu và thị phần của nghiệp vụ này còn chiếm tỉ lệ thấp trên thị trường bảo hiểm. Với mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn và lành mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm cơ bản của nền kinh tế và dân cư, bảo đảm cho các tổ chức, cá nhân được hưởng thụ những sản phẩm bảo hiểm đạt tiêu chuẩn quốc tế, thu hút các nguồn lực trong nước và nước ngoài cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội, nâng cao năng lực tài chính, kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập quốc tế, Nhà nước cần đề ra chiến lược về mặt cơ chế chính sách một cách cụ thể và hiệu quả như sau: - Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói chung và nghiệp vụ Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt nói riêng như ban hành Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 79 Nghị định và Thông tư hướng dẫn liên quan đến việc thực hiện bảo hiểm bắt buộc về cháy nổ để tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các công ty bảo hiểm. - Nhà nước có chính sách khuyến khích người dân, các doanh nghiệp tham gia bảo hiểm, ưu tiên phát triển các sản phẩm có tính chất đầu tư dài hạn. - Phát triển mạng lưới đại lý bảo hiểm chuyên nghiệp, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và các kênh phân phối khác. Đa dạng hoá các loại hình doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, Nhà nước không trực tiếp đầu tư thêm vốn vào lĩnh vực môi giới bảo hiểm. - Nhà nước cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập quỹ đầu tư, quỹ tín thác và công ty quản lý quỹ theo quy định của pháp luật. - Nhà nước có cơ chế chính sách để các doanh nghiệp bảo hiểm tự bổ sung vốn điều lệ cho phù hợp với tính chất hoạt động và quy mô doanh nghiệp. - Khuyến khích các doanh nghiệp bảo hiểm hiện đại hoá công nghệ quản lý kinh doanh, đào tạo đội ngũ cán bộ có đủ trình độ theo các chuẩn mực quốc tế, được thuê chuyên gia trong và ngoài nước để quản lý một số lĩnh vực hoạt động theo đúng quy định của pháp luật. - Nhà nước cần khuyến khích các doanh nghiệp trong nước mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh, kể cả ở thị trường bảo hiểm quốc tế và khu vực, tham gia góp vốn vào các công ty bảo hiểm, môi giới bảo hiểm, tái bảo hiểm đang hoạt động thành công ở nước ngoài và thành lập các công ty con kinh doanh bảo hiểm ở nước ngoài. - Nhà nước cần đổi mới phương thức và nâng cao năng lực quản lý đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, tiến dần tới thực hiện các nguyên tắc và chuẩn mực quản lý bảo hiểm quốc tế. Nhà nước giám sát các hoạt động kinh doanh bảo hiểm thông qua hệ thống các chỉ tiêu về hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm và kiểm tra, xử lý vi phạm theo pháp luật, không can thiệp hành chính vào hoạt động của các doanh nghiệp. Tóm lại, vai trò chỉ đạo của Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nói chung và bảo hiểm hoả hoạn nói riêng mang một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Các văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động của nghiệp vụ được xem là “kim chỉ nam” cho xu hướng hội nhập của thị trường. Đứng trên góc độ vĩ mô, với những cơ chế chính sách thuận lợi của mình, Nhà nước sẽ góp phần quyết định tới phương hướng phát triển từ nay đến năm 2010 của bảo hiểm Việt Nam. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 80 2. Một số giải pháp từ phía doanh nghiệp 2.1 Thực hiện chiến lược tiếp cận khách hàng một cách hiệu quả Ngày nay, nhiều công ty bảo hiểm đặt trọng tâm vào mục tiêu tăng trưởng. Vì thế họ dành quá nhiều thời gian và công sức cho các chiến lược mua bán và sáp nhập. Quy mô là một yếu tố quan trọng, song việc duy trì sự tồn tại của công ty trong một thời gian dài cũng có tầm quan trọng không kém. Trong một thế giới mà công nghệ không ngừng phát triển, các sản phẩm có thể sinh ra và mất đi nhưng khách hàng thì vẫn luôn còn đó. Do đó, những chiến lược mua bán và sáp nhập chỉ là những phương tiện để đạt được mục đích. Mục đích cuối cùng là giữ được khách hàng và qua đó tạo ra lợi nhuận cho công ty. Trước đây các công ty bảo hiểm tập trung nhiều công sức vào việc xây dựng hình ảnh, coi đó là phương tiện để nâng cao uy tín và hiệu quả kinh doanh. Đây là một yếu tố quan trọng trong môi trường cạnh tranh. Tuy nhiên, trong điều kiện ngày nay, việc duy trì quan hệ với khách hàng cũng là một yếu tố cạnh tranh rất nhạy cảm. Ngày nay các nhà lãnh đạo các công ty bảo hiểm nhận thức được rằng mối quan hệ giữa khách hàng và người cung cấp dịch vụ là cực kỳ quan trọng. Chiến lược khách hàng đòi hỏi công ty phải thay đổi cơ cấu quản lý theo hướng tập trung vào khách hàng. Do đó, công ty phải điều chỉnh những sự khác biệt về chiến lược, sản phẩm cung cấp, dịch vụ cung cấp, giải quyết khiếu nại. Khách hàng sẽ có những yêu cầu và mong muốn khác nhau đối với chất lượng dịch vụ của công ty. Vậy nên công ty cần có một sách lược mềm dẻo để đáp ứng những nhu cầu khác nhau đó. Những nỗ lực của PVI trong việc duy trì khách hàng cần được cụ thể hoá như sau: * Tối đa hoá khả năng khách hàng sẽ tái tục những hợp đồng hiện có * Tối đa hoá số tiền bảo hiểm và các quyền lợi khác * Mở ra khả năng cung cấp thêm các sản phẩm khác * Giảm thiểu khả năng khách hàng huỷ hợp đồng * Tạo ra lợi nhuận từ nhóm khách hàng hiện có Lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về công ty nào có chiến lược tiếp cận khách hàng riêng, độc đáo và duy nhất. Sự thành công trong tương lai sẽ phụ thuộc nhiều vào việc Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 81 duy trì mối quan hệ với khách hàng không chỉ vì lợi nhuận trước mắt mà còn vì lợi nhuận lâu dài. Sản phẩm trong thời đại ngày nay không còn giữ vai trò quan trọng nhất nữa. Việc lựa chọn đúng khách hàng và phục vụ họ chu đáo để từ đó thu được lợi nhuận là vấn đề mấu chốt. Sản phẩm là quan trọng nhưng thuyết phục được khách hàng mua sản phẩm và tái tục trong một thời gian dài mới là lợi thế cạnh tranh của công ty. Công ty bảo hiểm cần ghi nhớ rằng: * Cái giá của việc để mất một khách hàng lớn gấp 5 lần giá trị dịch vụ mà khách hàng đó đem lại mỗi năm * Chi phí cho việc thuyết phục được một khách hàng mới lớn gấp 5 lần chi phí cho việc duy trì một khách hàng sẵn có * Chỉ cần tăng 5% tỷ lệ khách hàng duy trì bảo hiểm với công ty thì doanh thu trung bình mà mỗi khách hàng mang lại sẽ tăng từ 25% đến 100%. 2.2 Phân loại thị trường hợp lý Trên thị trường bảo hiểm, lượng khách hàng tương đối đa dạng với những nhu cầu khác nhau, trình độ nhận thức cũng khác nhau và đặc biệt mức độ “ưa chuộng” bảo hiểm cũng hoàn toàn khác nhau nên để đảm bảo công tác khai thác đạt hiệu quả cao nhất thì cần có biện pháp phân loại thị trường phù hợp với từng công ty. Có thể phân loại theo hình thức sở hữu tài sản, đối tượng tham gia, thị trường các thành viên trong ngành, các thành viên ngoài ngành. Khi phân loại theo hình thức sở hữu, cán bộ khai thác của PVI nên xác định vai trò, thẩm quyền và nhu cầu của chủ sở hữu hay người được giao quản lý tài sản đó. Đối với mỗi đối tượng khác nhau nên có những biện pháp tiếp cận khác nhau. Công ty cũng có thể phân loại thị trường theo khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng. Đối với khách hàng hiện tại trong đó có khách hàng truyền thống, công ty có thể thực hiện các biện pháp chăm sóc khách hàng tốt nhất, giảm chi phí, có các điều kiện ưu đãi để tái tục hợp đồng. Đối với khách hàng tiềm năng, công ty lại càng phải chú trọng hơn cả vì trong quá trình khai thác bảo hiểm của PVI, tìm khách hàng tiềm năng là bước đầu tiên trong quy trình khai thác gồm 4 bước: Tìm kiếm khách hàng; hẹn gặp, tiếp xúc và giới thiệu sản phẩm; vượt qua trở ngại và kết thúc thành công; phục vụ khách hàng. “Đầu xuôi đuôi lọt”, nếu bước đầu làm tốt, làm có kết quả thì các công việc tiếp theo sẽ thuận lợi hơn, có niềm tin hơn. Tìm khách hàng tiềm năng chính là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình bán bảo hiểm. Đây là một hoạt động đòi hỏi sự kiên trì của người khai thác bởi chúng ta chưa thấy được lợi ích ngay của công việc tìm kiếm. Với khách Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 82 hàng tiềm năng phải lập các kế hoạch Maketing để thu hút sự quan tâm và nhu cầu bảo hiểm của họ. Danh sách khách hàng phải luôn luôn được cập nhật hàng ngày và tìm khách hàng là hoạt động ưu tiên và cần kíp của công ty. Công ty cũng có thể dựa vào những khách hàng hiện tại của mình để tìm kiếm khách hàng tiềm năng. Khai thác nguồn này là cách mở rộng bán hàng hiệu quả nhất. Những người đang tham gia bảo hiểm là bằng chứng sống động nhất để thuyết phục người khác. Họ có thể là những tuyên truyền viên tích cực của bảo hiểm. Những khách hàng hiện tại có thể giới thiệu cho bạn bè, người thân, đồng nghiệp. Đồng thời họ có thể tham gia các sản phẩm bảo hiểm khác, hoặc là tái tục hợp đồng. Tóm lại, dù phân loại theo phương pháp nào cũng phải tìm được sự khác biệt của từng loại thị trường để từ đó có cách ứng phó hợp lý nhất, mang lại hiệu quả tốt nhất. 2.3 Gắn trách nhiệm của mình đối với khách hàng Hoạt động kinh doanh bảo hiểm thực chất là một hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực tài chính. Do vậy để phục vụ tốt khách hàng thì công ty luôn phải quan tâm đến khách hàng, thường xuyên kiểm tra, giám sát, đôn đốc khách hàng thực hiện các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tổn thất, đề xuất, tư vấn cho khách hàng về các biện pháp PCCC. Khi chẳng may xảy ra sự kiện bảo hiểm thì nhanh chóng có mặt tại hiện trường để khắc phục hậu quả, giám định chính xác, thực hiện thủ tục giải quyết bồi thường nhanh chóng. Đây thực sự là sự chia sẻ, an ủi động viên khách hàng khi gặp rủi ro, thái độ phục vụ phải tận tình chu đáo, tránh thái độ ban ơn thì hiệu quả tuyên truyền mới cao bởi vì trên một thị trường có nhiều người phục vụ cùng một nhu cầu thì đương nhiên khách hàng sẽ tìm đến những nơi mà họ được phục vụ tốt hơn khi cùng bỏ ra một lượng tiền như nhau. Công ty chăm sóc khách hàng để giữ khách hàng. 2.4 Phát huy mọi thế mạnh của doanh nghiệp thành viên trực thuộc Tổng công ty dầu khí Việt Nam Trên thị trường quốc tế, mô hình tập đoàn kinh tế mạnh, hoạt động đa ngành đang là xu hướng phổ biến và ngày càng được nhân rộng. Riêng trong lĩnh vực bảo hiểm thì điều này thể hiện càng rõ với chức năng bảo toàn vốn ngày càng cao của các tập đoàn trước những rủi ro và đảm bảo sinh lợi khi kinh doanh bảo hiểm. Với lợi thế là doanh nghiệp bảo hiểm trực thuộc PetroVietnam, PVI cần tận dụng thế mạnh của mình trong việc quảng bá thương hiệu PetroVietnam trên thị trường trong nước và quốc tế. Từ đó, doanh nghiệp bảo hiểm chuyên ngành có cơ hội được thừa hưởng thương hiệu của tập đoàn, khi hội nhập hay phát triển ra nước ngoài giúp tăng khả năng cạnh tranh so với các doanh nghiệp khác. Công ty có thể được các tập đoàn bảo hiểm quốc tế ủng hộ và Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 83 chấp nhận duy trì các hợp đồng bảo hiểm cố định của mình trong các điều kiện thị trường khó khăn. Dựa vào uy tín của PetroVietnam, PVI hàng năm sẽ thu được các hợp đồng hàng trăm tỉ đồng từ các công ty dầu khí, các nhà thầu dịch vụ dầu khí nước ngoài. Số doanh thu này có thể coi tương đương như phần thu từ xuất khẩu vì nếu không có thương hiệu của tập đoàn dầu khí chắc chắn các công ty nước ngoài sẽ mua bảo hiểm tại nước họ. Điều quan trọng trong việc tăng sức cạnh tranh trong hoạt động bảo hiểm hiện nay là yếu tố liên kết chặt chẽ và chỉ đạo thống nhất từ doanh nghiệp “mẹ”. Được sự quan tâm của PetroVietnam, trong công tác phát triển nguồn nhân lực, PVI nên chú trọng khâu đào tạo cán bộ, coi đây là yếu tố bảo đảm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ và chiến lược đến năm 2010 của mình. Mỗi năm, PetroVietnam cần đưa từ 4 đến 5 chuyên viên của PVI đi đào tạo chính quy về chuyên ngành bảo hiểm ở nước ngoài, đồng thời liên tục tổ chức nhiều cuộc hội thảo, các khoá đào tạo ngắn hạn. Để tạo cho mình một chỗ đứng vững chắc ở thị trường trong và ngoài nước, Bảo hiểm dầu khí cần có một đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp am hiểu chuyên môn, thông thạo ngoại ngữ, marketing và có khả năng giao tiếp với các nhà thầu trong nước và ngoài nước. “Biết người, biết ta, trăm trận trăm thắng”, với thương hiệu của tập đoàn dầu khí Việt Nam ngày càng được quảng bá trên thị trường Việt Nam và thế giới, Bảo hiểm dầu khí đã từng bước triển khai hoạt động theo các dự án đầu tư, dịch vụ của ngành để thu xếp bảo hiểm cho các công ty nước ngoài như: Keppel Fels, Sembawang của Singapo, Talisman tại Malaixia và trong tương lai có kế hoạch triển khai sang một số nước Trung Đông và khu vực. Đó cũng nằm trong chiến lược phát triển của Tổng công ty dầu khí Việt Nam. 2.5 Nâng cao hiệu quả công tác giám định và bồi thường Công tác giám định và bồi thường có chức năng và vai trò rất quan trọng, nó thể hiện chất lượng dịch vụ cũng như uy tín của công ty với khách hàng. Nếu làm tốt công tác này sẽ có tác dụng to lớn trong công tác khai thác tạo lập uy tín, lôi cuốn khách hàng tham gia bảo hiểm đồng thời tránh trục lợi bảo hiểm. Trong trường hợp Công ty bảo hiểm tự giám định tổn thất, khi có tổn thất, công ty cần nhanh chóng cử giám định viên xuống hiện trường để nắm tình hình. Giám định viên có nhiệm vụ điều tra tổn thất nhằm thu thập các bằng chứng và sự kiện để trên cơ sở đó có thể giải quyết được các câu hỏi: tai nạn đó đã xảy ra như thế nào, ở đâu, khi nào và vì sao. Muốn vậy, trong quá trình điều tra tai nạn, giám định viên phải thu thập 2 loại thông tin: các tang vật và lời thuật của nhân chứng. Tang vật là bất kỳ một vật gì Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 84 có liên quan giúp cho việc xác định những sự việc liên quan đến tai nạn. Lời khai của nhân chứng là những lời kể, những câu trả lời của các nhân chứng, thường là những người có mặt tại hiện trường khi xảy ra tổn thất. Ngoài việc tiếp xúc, trao đổi với các nhân chứng, giám định viên cần gặp gỡ trao đổi ý kiến với người được bảo hiểm, với công an, cảnh sát PCCC. Cần nắm bắt tình huống xảy ra tổn thất, xem xét, mô tả hiện trường sau khi cháy, đánh giá sơ bộ và khái quát mức độ thiệt hại. Thông thường sau hoả hoạn, người được bảo hiểm rất hoang mang và lúng túng không biết cần làm gì. Vì vậy, trên cơ sở xem xét hiện trường và song song với việc điều tra tổn thất, GĐV phải góp ý kiến với người được bảo hiểm về các biện pháp hạn chế tổn thất như: - Cách ly khu vực và tài sản bị thiệt hại - Rào kín những nơi mà người ngoài có thể đột nhập vào - Bơm rút nước cứu hoả còn đọng lại ra khỏi những nơi chứa tài sản để tránh tài sản hư hỏng thêm - Di chuyển các mảnh đổ vỡ, tro than để cứu tài sản - Phơi, sấy, lau chùi những tài sản bị ướt, mốc và bẩn. Trên cơ sở những thông tin thu được trong quá trình điều tra tổn thất, giám định viên bảo hiểm cần cố gắng tìm ra nguyên nhân gây ra tổn thất và mức độ thiệt hại. Điều quan trọng là phải tìm ra nguyên nhân trực tiếp gây ra tổn thất. Nguyên nhân trực tiếp là động lực chính làm cho cả một chuỗi sự kiện liên quan chặt chẽ với nhau chuyển động và dẫn đến tổn thất. Việc xác định nguyên nhân trực tiếp có khi rất dễ dàng nhưng cũng có khi rất khó. Vì vậy, quá trình điều tra nói trên phải rất tỉ mỉ và mọi kết luận đều phải được chứng minh bằng những tang vật cụ thể và lời khai, lời kể của nhân chứng. Tất cả các kết luận rút ra từ quá trình điều tra đều phải được đưa vào biên bản giám định. Do công tác giám định chỉ mang tính chất tương đối nên dễ dẫn đến sự phản ánh không chính xác và trung thực. Vì vậy các cán bộ làm công tác này ngoài trình độ chuyên môn cao, còn cần phải có tư cách đạo đức nghề nghiệp phải khách quan, vô tư, trung thực để phản ánh đúng toàn bộ sự thực, diễn biến gây ra rủi ro, đồng thời còn phải có sự đúc kết và tập hợp thành sổ tay nghiệp vụ giám định để dễ dàng tra cứu và đưa ra kết luận chính xác. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 85 Khách hàng chỉ thực sự cảm thấy ý nghĩa của bảo hiểm khi nhận được tiền bồi thường, vì vậy để tạo lập uy tín của công ty đối với khách hàng thì công ty cần thực hiện các thủ tục bồi thường nhanh chóng, kịp thời, chính xác, tránh các tranh chấp, khiếu nại gây mất uy tín của công ty, tạo điều kiện cho khách hàng nhận tiền bồi thường, đồng thời giúp đỡ họ phục hồi sản xuất kinh doanh, ổn định cuộc sống. 2.6 Kiểm tra giám sát công tác đề phòng và hạn chế tổn thất. Việc PCCC không tốt là nguyên nhân làm cho hiệu quả hoạt động kinh doanh của nghiệp vụ này chưa cao. Thông qua số liệu thống kê của cơ quan PCCC thì có khoảng 80 đến 90% nguyên nhân các vụ cháy là do chập điện gây ra và thiệt hại trung bình trên một vụ cháy ngày càng tăng. Điều này đòi hỏi công ty cần thực hiện tốt công tác đề phòng và hạn chế tổn thất. Muốn vậy, công ty cần chủ động nghiên cứu và áp dụng phương pháp quản lý rủi ro thích hợp với đặc tính nghiệp vụ của công ty mình trước khi cấp đơn bảo hiểm và tư vấn cho khách hàng. Công tác quản lý rủi ro được chia thành 2 bước là: xác định, đánh giá rủi ro và khống chế rủi ro. Xác định và đánh giá rủi ro là việc đánh giá chất lượng kỹ thuật của một đơn vị rủi ro về hoả hoạn. Chất lượng rủi ro là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc bảo hiểm. Ngoài ra còn có các nhân tố khác cũng góp phần ảnh hưởng đến toàn bộ chất lượng rủi ro như động đất, lụt, bão, rủi ro liên quan đến vấn đề đạo đức và gián đoạn kinh doanh. Xác định và đánh giá rủi ro được xây dựng trên kết quả giám định một nhà máy hoặc cơ sở sản xuất/dịch vụ do một giám định viên có kinh nghiệm thực hiện hoặc do các chuyên gia đánh giá rủi ro của công ty bảo hiểm thực hiện. Đối với hiểm họa cháy nổ, có một kỹ thuật thường được áp dụng để định lượng mức độ rủi ro là kỹ thuật chỉ số hiểm hoạ. Có 3 nhân tố để tạo ra hiểm họa cháy nổ là: vật tư, điều kiện vận hành hoạt động của đơn vị rủi ro và điều kiện môi trường của đơn vị rủi ro đó. Người ta có thể tìm ra các chỉ số hiểm họa riêng cho từng nhân tố nói riêng và được ký hiệu lần lượt là: F1, F2, F3. Khi đó, chỉ số hiểm hoạ tổng hợp của đơn vị rủi ro đang khảo sát là F1xF2xF3. Với chỉ số tổng hợp này, người ta tìm ra bán kính ảnh hưởng do cháy nổ và do đó sẽ tìm được khu vực ảnh hưởng của nó. Các kết quả trên đây sẽ chỉ cho người đầu tư dự án biết cách hoạch định một sơ đồ xây cất hợp lý, tránh sự cháy nổ liên hoàn khi xảy ra sự cố ở một vị trí nào đó. Đồng thời cũng chỉ ra sự cần thiết phải bố trí một hệ thống phòng hoả như thế nào cho thích hợp. Xác định và đánh giá đúng đắn, đầy đủ các rủi ro là điều kiện tiên quyết để có thể khống chế chúng một cách kinh tế. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 86 Mục đích cuối cùng của khống chế rủi ro là giảm thiểu tổng chi phí về rủi ro tổn thất trên cơ sở một kế hoạch rủi ro của năm tài chính. Kế hoạch rủi ro tập trung ngăn ngừa và xử lý tốt các tình thế tổn thất lớn thực tế và tiềm ẩn. Cụ thể là nó sẽ dự kiến trước các sự cố và tính chất của chúng có thể xảy ra, nêu ra các biện pháp ứng phó, ghi nhận cụ thể danh sách đội xử lý sự cố, liệt kê các tài sản ưu tiên cứu hộ, nêu ra các hành động phải thực hiện ngay sau khi xảy ra sự cố. Kỹ thuật ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro tổn thất phải được tiến hành cả trước, trong và sau khi xảy ra sự cố rủi ro tổn thất. Đặc biệt, kỹ thuật này phải được đặt ra và áp dụng ngay từ khi bắt đầu hình thành các dự án, các kế hoạch hoạt động của công ty, không nên để sau khi triển khai kế hoạch, sau khi hoàn thành dự án rồi mới đặt ra. Có nhiều việc cụ thể để ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro tổn thất, được phân thành 3 nhóm chính như sau: - Phòng tránh và trừ khử các hiểm hoạ của rủi ro - Phát tán và làm giảm xác suất hiểm hoạ của rủi ro - Ngăn ngừa và giảm thiểu tổn thất và các hậu quả của rủi ro Công tác quản lý rủi ro cho khách hàng cần được công ty bảo hiểm triển khai dưới dạng tư vấn, tài trợ và phối hợp theo chương trình quản lý rủi ro của khách hàng nhưng không làm thay cho họ. Việc này đã trở thành một chiến lược kinh doanh bảo hiểm, nhất là trong thị trường bảo hiểm có cạnh tranh khốc liệt. Việc này chẳng những có lợi cho các khách hàng bảo hiểm mà còn có lợi cho chính công ty bảo hiểm. Bởi vì nó giúp cho công ty bảo hiểm giữ vững các dịch vụ đã có và giành thêm các dịch vụ tiềm năng, đồng thời khống chế bớt các khiếu nại bảo hiểm trong tương lai do công tác quản lý rủi ro có hiệu quả. Công ty bảo hiểm có thể tư vấn cho khách hàng của mình trong các vấn đề sau đây: Trước hết là tư vấn để xác định các nguy cơ và đánh giá các hiểm hoạ có thể gây ra các sự cố rủi ro tổn thất đối với khách hàng. Phòng giám định và bồi thường của công ty bảo hiểm có thể làm việc này một cách thường xuyên trước khi cấp đơn bảo hiểm và sau khi giải quyết một khiếu nại cho khách hàng. Đối với khách hàng đặc biệt quan trọng và/hoặc do sự cạnh tranh khốc liệt, công ty bảo hiểm nên thuê giám định độc lập để làm việc này, mặc dù không thể thường xuyên được vì rất tốn kém. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 87 Tiếp theo, công ty bảo hiểm có thể hướng dẫn khách hàng nên mua loại bảo hiểm nào, không hoặc chưa nên mua loại bảo hiểm nào, nên giữ lại loại rủi ro nào hoặc giữ lại với mức khấu trừ bao nhiêu là thích hợp. Việc này góp phần nâng cao uy tín và hình ảnh tốt đẹp của công ty bảo hiểm. Ngoài ra, công ty bảo hiểm có thể trao đổi và giúp đỡ khách hàng xây dựng chương trình quản lý rủi ro. Nhất là khi bộ phận quản lý rủi ro của đơn vị khách hàng chưa có người chuyên trách hoặc còn mới mẻ. Công ty bảo hiểm sẽ biết cách làm hài lòng khách hàng và do đó càng gắn bó hơn với thân chủ của mình. Ngoài việc tư vấn, công ty bảo hiểm còn phải tài trợ về quản lý rủi ro cho thân chủ của mình. Công ty bảo hiểm thường tài trợ cho khách hàng của mình để: - Thuê giám định độc lập để giám định và tư vấn về quản lý rủi ro cho khách hàng trong một số trường hợp nhất định. - Trang bị một phần hoặc nâng cao khả năng khống chế rủi ro cho khách hàng, như là để trang bị một phần các trang bị phòng cháy chữa cháy, thực tập chữa cháy, diễn tập một số nội dung quan trọng trong kế hoạch rủi ro của khách hàng theo một số tình huống giả định. Nói tóm lại, công ty bảo hiểm sẽ phải là người phối hợp tích cực nhất và có hiệu quả nhất với khách hàng của mình trong công tác quản lý rủi ro nhằm đề phòng và hạn chế tổn thất. 2.7 Đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đại lý, cộng tác viên Con người luôn là trung tâm của mọi vấn đề, là nhân tố quyết định thành công hay thất bại của công ty nói chung và từng nghiệp vụ bảo hiểm nói riêng. Nghiệp vụ bảo hiểm cháy là một nghiệp vụ có nhiều yêu cầu từ đối tác nước ngoài và là một nghiệp vụ khá mới mẻ, do đó đòi hỏi cán bộ vừa giỏi về nghiệp vụ và ngoại ngữ đồng thời thành thạo về máy vi tính thì mới có thể xâm nhập thị trường một cách trực tiếp đỡ tốn kém, không phải thông qua con đường môi giới. Thường xuyên mở các lớp đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho các đại lý, cán bộ, cộng tác viên của công ty, sau mỗi đợt tập huấn cần kiểm tra sát hạch nhằm đạt được các yêu cầu đề ra. 2.8 Tăng cường quan hệ với các tổ chức trong và ngoài nước Kinh doanh là cạnh tranh, tuy nhiên trong cạnh tranh vẫn có sự hợp tác. Để nâng cao uy tín của mình trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế, PVI nên tăng cường các mối quan hệ hợp tác với các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước và nước ngoài. Sự Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 88 hợp tác này giúp chúng ta học hỏi được kinh nghiệm mà họ đã tích luỹ được trong nhiều năm, mặt khác thông qua hoạt động tái bảo hiểm công ty còn có một nguồn thu đáng kể từ hoa hồng nhượng tái, và tạo được niềm tin đối với khách hàng khi mà đứng sau PVI là các tập đoàn tái bảo hiểm hùng mạnh về tài chính và có bề dày kinh nghiệm. Thông qua quan hệ hợp tác thì công tác tái bảo hiểm sẽ có nhiều thuận lợi và sẽ đạt được hiệu quả cao hơn. PVI có một thuận lợi rất lớn là doanh nghiệp thành viên của Tổng công ty dầu khí Việt Nam nên thông qua thương hiệu của tập đoàn dầu khí Việt Nam để có quan hệ hợp tác với các tập đoàn bảo hiểm, tái bảo hiểm hàng đầu thế giới. Đối với các công ty bảo hiểm trong nước, PVI cũng có kế hoạch phối hợp cùng nhau để phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam thông qua đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm với Bảo Việt, Bảo Minh. Hiện nay PVI đã có quan hệ quốc tế với các công ty, tập đoàn bảo hiểm, tái bảo hiểm của khoảng 20 nước trên thế giới như Munich Re, SwissRe, West of England. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 89 KẾT LUẬN Dầu khí là một ngành kinh tế đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn và có tính rủi ro cao nên hầu hết các Tập đoàn dầu khí quốc tế và các công ty dầu quốc gia đều thành lập các công ty bảo hiểm riêng nhằm đảm bảo an toàn trước mọi rủi ro. Tổng công ty Dầu khí Việt Nam trong chiến lược đa dạng các lĩnh vực kinh doanh của một tập đoàn kinh tế đã thành lập Công ty Bảo hiểm Dầu khí (PVI) với nhiệm vụ xây dựng chương trình quản lý rủi ro và đảm bảo an toàn cho tài sản, tiền vốn và mang lại nguồn thu cho ngân sách cũng như lợi nhuận cho Tổng công ty. Đây là bước chuyển đổi của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam sang lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. BHDK ra đời và hoạt động trong bối cảnh thị trường bảo hiểm Việt Nam đã trở nên sôi động. Từ chỗ quy mô chưa phát triển, đến nay, thị trường bảo hiểm đã có 20 doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động, bao gồm: 4 doanh nghiệp Nhà nước, 4 công ty cổ phần, 7 doanh nghiệp liên doanh và 5 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Ngoài ra, sự có mặt của 30 văn phòng đại diện các tổ chức bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam đã góp phần cải thiện môi trường đầu tư và tăng lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài khi đến Việt Nam. Bằng cố gắng nỗ lực của mình, được sự quan tâm chỉ đạo của Tổng công ty dầu khí và sự ủng hộ của các đơn vị trong ngành, các nhà thầu dầu khí, Công ty BHDK đã thực sự trở thành công ty nắm giữ vai trò chủ đạo trong thị trường bảo hiểm Việt Nam. Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt mặc dù mới triển khai nhưng đang có tốc độ phát triển rất nhanh và là một trong những nghiệp vụ có doanh thu cao, đạt hiệu quả kinh doanh lớn. Công ty bảo hiểm dầu khí Việt Nam hiểu rõ hơn hết tiềm năng cũng như xu hướng phát triển của nghiệp vụ này. Với chiến lược phát triển từ nay đến năm 2010, PVI đã nghiên cứu và đề ra cho mình những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt phù hợp với đặc trưng của lĩnh vực kinh doanh trong ngành. Xuất phát từ nhận thức: kinh doanh bảo hiểm có hiệu quả cần phải dựa trên nền tảng kiến thức sâu về kỹ thuật chuyên môn để phân tích, đánh giá chính xác mức độ rủi ro, công ty đã chú trọng công tác nghiên cứu để tìm ra phương án bảo hiểm tối ưu nhất, góp Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 90 phần làm giảm chi phí bảo hiểm, chi phí khắc phục rủi ro cho các đơn vị trong ngành và khách hàng của mình, coi trọng mục tiêu tăng lợi nhuận thông qua các hoạt động đầu tư để tạo điều kiện giảm phí bảo hiểm cho khách hàng. Trong thời gian tới, PVI sẽ tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả bộ máy quản lý nghiệp vụ, từng bước thực hiện cơ chế khoán doanh thu nhằm mục đích gắn thu nhập của người lao động với kết quả hoạt động kinh doanh, tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ kỹ thuật, tập trung đào tạo các chuyên gia bảo hiểm theo hướng chuyên ngành sâu, từng bước đa dạng hoá các nguồn doanh thu của công ty bằng việc mở rộng hoạt động khai thác bảo hiểm hoả hoạn ra những thị trường có tính chuyên ngành kỹ thuật. Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 91 Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình: Bảo hiểm trong kinh doanh- Đại học Ngoại Thương/PGS, TS Hoàng Văn Châu (chủ biên); TS Vũ Sĩ Tuấn- TS Nguyễn Như Tiến 2. Tạp chí “Thông tin thị trường bảo hiểm- tái bảo hiểm” Số 2, tháng 4- 2000/ “Tìm hiểu về quản lý rủi ro”/Ngô Hải Bình Số 3, tháng 8- 2002/ “Bảo hiểm cháy 6 tháng đầu năm 2002”/Trần Sơn Vũ Số 1, tháng 1- 2003/ “Thị trường bảo hiểm cháy 2002”/Trần Sơn Vũ Số 3, tháng 8- 2003/ “Thị trường bảo hiểm cháy 6 tháng đầu năm 2003”/Trần Sơn Vũ Số 4, tháng 11- 2003 “Bảo hiểm cháy đối mặt với một mùa tái tục khó khăn”/Trần Sơn Vũ “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam 2003-2010”/LM 3. “Chiến lược khách hàng- con đường dẫn tới thành công”/tháng 6/2001/Asia Insurance Review 4. Thời báo kinh tế Việt Nam số 120 ngày 28/7/2003/ “Tăng trưởng dựa trên ưu thế riêng”/Lan Hương 5. Tạp chí dầu khí số 4- năm 2002/ “Bảo hiểm- Lĩnh vực kinh doanh mới của Petrovietnam”/Lê Hùng- giám đốc PVI 6. “Bản thoả thuận về khai thác bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt và bảo hiểm mọi rủi ro công nghiệp” của Bộ Tài chính áp dụng từ ngày 1/6/2001. 7. Thông tin khu công nghiệp Việt Nam số 8- 2002/ “Công ty bảo hiểm dầu khí Việt Nam tạo vị thế vững chắc trên thị trường bảo hiểm”/ Lê Văn Hùng-giám đốc PVI 8. Báo bảo hiểm ra ngày 1/10/2003/ “Sẽ về đích sớm một quý”/LT 9. Quy trình hướng dẫn khai thác nghiệp vụ bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt của PVI. 10. Báo cáo kết quả kinh doanh hàng năm của PVI Kho¸ luËn tèt nghiÖp Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT 93

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLuận văn Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt tại công ty bảo hiểm dầu khí việt Nam (PVI).pdf