Thực trạng và giải pháp vấn đề bỏ học của học sinh THCS

ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài: Để một nền kinh tế phát triển bền vững thì nhân tố con người luôn đóng vai trò quyết định. Vì vậy, không chỉ Việt Nam mà tất cả các nước trên thế giới đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Cùng với xu hướng trên, Việt Nam luôn tạo mọi điều kiện để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật cho người lao động, nhằm đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Giáo dục đóng vai trò quan trọng là vậy, tuy nhiên thời gian gần đây, dư luận đang “nóng” lên vì những thông tin học sinh bỏ học. Tình trạng học sinh bỏ học hàng loạt đang gia tăng ở các địa phương, khiến những ai có tâm huyết với giáo dục không khỏi băn khoăn, trăn trở. Vấn đề này nếu không được quan tâm đúng mức sẽ đưa đến những hậu quả xấu cho bản thân học sinh bỏ học, gia đình của các em và cũng ảnh hưởng không nhỏ đến xã hội. Có thể thấy rằng, việc khắc phục tình trạng bỏ học của học sinh hiện nay là vấn đề hết sức bức thiết và đòi hỏi sự quan tâm của nhiều thành phần. Trong điều kiện giới hạn, nhóm chúng tôi đã chọn thực hiện đề tài: “Thực trạng và giải pháp vấn đề bỏ học của học sinh THCS” (Điển cứu tại quận Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh), nhằm góp phần tìm hiểu thực trạng và nêu lên những suy nghĩ về biện pháp khắc phục vấn đề này. 2. Sơ lựợc về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: Thực trạng bỏ học của học sinh nói chung và học sinh trung học cơ sở nói riêng, thực chất đã diễn ra trong một thời gian khá dài nhưng hầu như chưa được quan tâm đúng mức. Vấn đề này chỉ được nhắc đến và đưa ra bàn luận trong thời gian gần đây, đặc biệt là sau sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO. Ngoài trọng tâm đào tạo con người với đầy đủ năng lực và phẩm chất, thì vấn đề bỏ học của học sinh trung học cũng ngày càng được Đảng, Nhà nước và các tổ chức ban ngành quan tâm. Tuy nhiên, có thể thấy các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này vẫn chưa nhiều và chưa thật sự phản ánh một cách chân thật nhất, khái quát nhất thực trạng vấn đề. Có chăng chỉ là những trang tin đăng tải trên các tờ báo (báo Tuổi trẻ, báo Thanh niên, báo Sài Gòn giải phóng .), trên internet hoặc một số tin ngắn, phóng sự trên các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh các sự kiện liên quan hay một số bài trích ngắn của các tác giả quan tâm đến vấn đề này. Tập trung giải quyết các “điểm nóng” tại buổi họp báo định kỳ tháng 3 năm 2008 của Bộ GD-ĐT tổ chức ở Hà Nội ngày 12/3/2008, do Phó thủ tướng -Bộ trưởng bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân chủ trì, Bộ GD-ĐT đã dành phần lớn thời gian để nói về vấn đề bỏ học và giải pháp để khắc phục. Ngày 14 tháng 3 năm 2008, Bộ GD-ĐT có công văn số 2092/BGD&ĐT-VP gửi đến lãnh đạo các Tỉnh, Thành phố trên cả nước giải trình về tình trạng học sinh bỏ học trong học kỳ I năm học 2007-2008. Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển, Trần Xuân Nhĩ và một số cá nhân quan tâm (Thạc sĩ Nguyễn Kim Nương - Đại học An Giang, ông Lê Văn Lâm – Đường Nguyễn Văn Cừ - quận 1) cũng đã có những ý kiến đóng góp trong việc chỉ ra nguyên nhân và kiến nghị một số biện pháp nhằm ngăn ngừa, khắc phục tình trạng bỏ học của học sinh trung học. Liên quan đến vấn đề bỏ học và lưu ban của học sinh, đã có một số nghiên cứu nhỏ được tiến hành như : 1.Đề tài: “Khảo sát tình hình lưu ban, bỏ học của học sinh 2 trường vùng ven Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Đặng Văn Minh, Viện Nghiên cứu giáo dục, năm 1992. Nghiên cứu được tiến hành tại hai trường: Trường THCS Đặng Trần Côn và Trường Cấp II, III Võ Văn Tần (năm học1990 – 1991). Tác giả đã đánh giá thực trạng và chỉ ra những nguyên nhân bỏ học của học sinh tại hai trường này. Đề tài đã đưa ra những nguyên nhân chủ quan, cũng như khách quan khiến học sinh bỏ học, những nguyên nhân từ phía bản thân học sinh, gia đình, nhà trường và xã hội. Từ việc phân tích nguyên nhân, tác giả đã đề xuất những giải pháp hữu hiệu ngăn chặn tình trạng bỏ học, nó thật sự có ý nghĩa đối với ngành giáo dục tại thời điểm đó. 2. Bài trích “Hiện tượng lưu ban, bỏ học :Thực trạng, nguyên nhân, vấn đề và biện pháp / Thái Duy Tuyên // Nghiên cứu giáo dục - 1992 - Số 242 - Tr.4-6”. Tác giả đã phản ánh thực trạng, nguyên nhân của hiện tượng lưu ban, bỏ học và đưa ra những biện pháp cần thiết để ngăn chặn và khắc phục tình trạng trên. Qua đề tài, có thể thấy được tình trạng bỏ học, lưu ban của học sinh ở từng vùng, từng miền là khác nhau: về nguyên nhân, tỷ lệ, hệ quả . từ đó tác giả đưa ra những biện pháp ngăn chặn, khắc phục phù hợp với từng nơi. 3.Bài trích “Về nguyên nhân và biện pháp chống bỏ học / Phạm Thanh Bình // Nghiên cứu giáo dục - 1992 - Số 242 - Tr.31- 32”. Tác giả đã chỉ ra những nguyên nhân cơ bản nhất khiến học sinh phải bỏ học: nó có thể xuất phát từ phía nhà trường, học sinh, gia đình và toàn xã hội. Bên cạnh việc nêu ra những nguyên nhân, tác giả đã nêu lên được những biện pháp để ngăn chặn và giải quyết vấn đề đang được quan tâm lúc bấy giờ. 4. Bài trích “Vấn đề lưu ban, bỏ học ở Thành phố Hồ Chí Minh / Hồ Thiệu Hùng // Nghiên cứu giáo dục - 1992 - Số 242 - Tr11-12”. Tác giả đã nêu lên được những đặc điểm chủ yếu về điều kiện kinh tế - xã hội - giáo dục ở TP.Hồ Chí Minh và thực trạng lưu ban, bỏ học của học sinh tại thời điểm nghiên cứu. Qua bài trích, tác giả đã chỉ rõ nguyên nhân khiến cho học sinh bị lưu ban, bỏ học tại một thành phố lớn và đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế hiện tượng này. 5. Báo cáo của Ông Mai Phú Thanh – Chuyên viên Sở GD-ĐT về “Thực trạng học sinh lưu ban, bỏ học tại Thành phố Hồ Chí Minh đầu năm học 2007 – 2008” (Báo cáo tại hội thảo “Nguyên nhân và giải pháp thực trạng bỏ học của học sinh hiện nay”, được tổ chức tại Trường Đại học Bán công Tôn Đức Thắng ngày 25/04/2008”. Trong báo cáo của mình, ông Mai Phú Thanh đã trình bày sơ bộ về tình hình học sinh theo học ở các cấp, kết quả xếp loại học lực hàng năm và đặc biệt là đưa ra những con số thống kê về nguyên nhân bỏ học của học sinh hiện nay. Điểm đáng lưu ý của báo cáo là ông đã đưa ra những giải pháp mang tính chiến lược, nêu bật vai trò của các cấp ban ngành cũng như của các đơn vị, tổ chức có trách nhiệm trong việc hạn chế và ngăn ngừa tình trạng học sinh bỏ học hiện nay. Trong điều kiện giới hạn về thời gian và phương tiện tra cứu, nhóm chúng tôi chỉ có thể sơ lược được một số nghiên cứu nêu trên. Nguồn tư liệu nhóm thu thập được chủ yếu từ một số bài trích của các đề tài nghiên cứu cách đây khá lâu (năm 1992), còn lại một số thông tin liên quan đến vấn đề bỏ học của học sinh THCS hiện nay được lấy từ các bài báo, dữ liệu trên internet và tài liệu tham dự hội thảo “Nguyên nhân và giải pháp thực trạng bỏ học của học sinh hiện nay” (ngày 25/04/2008). Qua đó, cũng có thể nhận định rằng, tình hình nghiên cứu vấn đề bỏ học của học sinh nói chung và học sinh THCS nói riêng còn rất hạn chế. 3. Mục tiêu của đề tài Hiện nay, tình trạng bỏ học của các em học sinh đang ngày càng gia tăng và trở thành điểm “nóng” được cả xã hội quan tâm. Có khá nhiều hội thảo, cuộc họp báo được tổ chức nhằm tìm ra nguyên nhân, giải pháp của thực trạng trên. Dưới góc độ một cuộc nghiên cứu nhỏ của Sinh viên ngành Công tác xã hội, nhóm chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Thực trạng và giải pháp vấn đề bỏ học của học sinh THCS” nhằm tìm hiểu thực trạng của vấn đề bỏ học, từ đó đưa ra những suy nghĩ mang tính giải pháp để hạn chế và ngăn chặn vấn đề này. 4. Câu hỏi nghiên cứu Để đạt được mục tiêu như đã nêu trên, nhóm chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm trả lời cho những câu hỏi cụ thể sau: + Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng bỏ học của học sinh trung học cơ sở hiện nay? + Thực trạng bỏ học của học sinh trung học cơ sở hiện nay như thế nào? + Với hiện trạng bỏ học như hiện nay thì sẽ mang lại hậu quả gì cho chính bản thân học sinh, cho gia đình và cho toàn xã hội? + Những biện pháp nào có thể ngăn ngừa, khắc phục tình trạng bỏ học? 5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: vấn đề bỏ học của học sinh trung học cơ sở hiện nay.Khách thể nghiên cứu: Học sinh trung học cơ sở (điển cứu tại quận Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh).Phạm vi nghiên cứu: Chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu tại 3 trường THCS ở quận Thủ Đức, đó là: Trường THCS Linh Trung, Trường THCS Trương Văn Ngư và Trường THCS Tân Phú. 6. Ý nghĩa thực tiễn Chúng tôi - những sinh viên ngành CTXH trong tương lai sẽ trở thành những nhà cán sự xã hội. Thông qua việc thực hiện đề tài, nhóm chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào việc cải thiện tình trạng bỏ học đang trở thành điểm nóng như hiện nay. Giúp cho mọi người hiểu được nguyên nhân, hiện trạng và thấy được hậu quả to lớn của nó đối với chính bản thân học sinh, gia đình và toàn thể xã hội trong giai đoạn hiện tại và tương lai. Ngoài ra, chúng tôi mong rằng sẽ tích lũy được kinh nghiệm để có thể thực hiện tốt vai trò của một nhân viên CTXH, tự trang bị cho mình những kiến thức trong việc truyền thông về vai trò quan trọng của giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng kiến thức để cùng chung tay thực hiện 3 mục tiêu lớn của ngành giáo dục đó là “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”, phấn đấu để Việt Nam hoàn thành mục tiêu phổ cập THCS trong năm 2010 và xa hơn nữa là phổ cập trung học phổ thông. 7. Ý nghĩa khoa học Tuy chỉ được thực hiện trong một thời gian ngắn nhưng đề tài của chúng tôi thực sự có ý nghĩa khoa học. Đề tài được tổng hợp và phân tích từ những nguồn tư liệu đáng tin cậy (thống kê của Sở GD-ĐT Thành phố Hồ Chí Minh về tình trạng bỏ học của học sinh đầu năm học 2007 – 2008 ) sẽ là cơ sở khoa học để các nghiên cứu tiếp theo có thể tham khảo. Ngoài ra, với kết quả nghiên cứu bước đầu, sẽ tạo điều kiện để thực hiện nghiên cứu vấn đề này ở cấp cao hơn.

doc31 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 06/02/2013 | Lượt xem: 29215 | Lượt tải: 89download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực trạng và giải pháp vấn đề bỏ học của học sinh THCS, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ười với đầy đủ năng lực và phẩm chất, thì vấn đề bỏ học của học sinh trung học cũng ngày càng được Đảng, Nhà nước và các tổ chức ban ngành quan tâm. Tuy nhiên, có thể thấy các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này vẫn chưa nhiều và chưa thật sự phản ánh một cách chân thật nhất, khái quát nhất thực trạng vấn đề. Có chăng chỉ là những trang tin đăng tải trên các tờ báo (báo Tuổi trẻ, báo Thanh niên, báo Sài Gòn giải phóng….), trên internet hoặc một số tin ngắn, phóng sự trên các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh các sự kiện liên quan hay một số bài trích ngắn của các tác giả quan tâm đến vấn đề này.     Tập trung giải quyết các “điểm nóng” tại buổi họp báo định kỳ tháng 3 năm 2008 của Bộ GD-ĐT tổ chức ở Hà Nội ngày 12/3/2008, do Phó thủ tướng -Bộ trưởng bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân chủ trì, Bộ GD-ĐT đã dành phần lớn thời gian để nói về vấn đề bỏ học và giải pháp để khắc phục.     Ngày 14 tháng 3 năm 2008, Bộ GD-ĐT có công văn số 2092/BGD&ĐT-VP gửi đến lãnh đạo các Tỉnh, Thành phố trên cả nước giải trình về tình trạng học sinh bỏ học trong học kỳ I năm học 2007-2008.     Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển, Trần Xuân Nhĩ và một số cá nhân quan tâm (Thạc sĩ Nguyễn Kim Nương - Đại học An Giang, ông Lê Văn Lâm – Đường Nguyễn Văn Cừ - quận 1) cũng đã có những ý kiến đóng góp trong việc chỉ ra nguyên nhân và kiến nghị một số biện pháp nhằm ngăn ngừa, khắc phục tình trạng bỏ học của học sinh trung học.     Liên quan đến vấn đề bỏ học và lưu ban của học sinh, đã có một số nghiên cứu nhỏ được tiến hành như :     1.Đề tài: “Khảo sát tình hình lưu ban, bỏ học của học sinh 2 trường vùng ven Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Đặng Văn Minh, Viện Nghiên cứu giáo dục, năm 1992.   Nghiên cứu được tiến hành tại hai trường: Trường THCS Đặng Trần Côn và Trường Cấp II, III Võ Văn Tần (năm học1990 – 1991). Tác giả đã đánh giá thực trạng và chỉ ra những nguyên nhân bỏ học của học sinh tại hai trường này. Đề tài đã đưa ra những nguyên nhân chủ quan, cũng như khách quan khiến học sinh bỏ học, những nguyên nhân từ phía bản thân học sinh, gia đình, nhà trường và xã hội. Từ việc phân tích nguyên nhân, tác giả đã đề xuất những giải pháp hữu hiệu ngăn chặn tình trạng bỏ học, nó thật sự có ý nghĩa đối với ngành giáo dục tại thời điểm đó.       2. Bài trích “Hiện tượng lưu ban, bỏ học :Thực trạng, nguyên nhân, vấn đề và biện pháp / Thái Duy Tuyên // Nghiên cứu giáo dục - 1992 - Số 242 - Tr.4-6”. Tác giả đã phản ánh thực trạng, nguyên nhân của hiện tượng lưu ban, bỏ học và đưa ra những biện pháp cần thiết để ngăn chặn và khắc phục tình trạng trên. Qua đề tài, có thể thấy được tình trạng bỏ học, lưu ban của học sinh ở từng vùng, từng miền là khác nhau: về nguyên nhân, tỷ lệ, hệ quả...  từ đó tác giả đưa ra những biện pháp ngăn chặn, khắc phục phù hợp với từng nơi.       3.Bài trích “Về nguyên nhân và biện pháp chống bỏ học / Phạm Thanh Bình // Nghiên cứu giáo dục - 1992 - Số 242 - Tr.31- 32”. Tác giả đã chỉ ra những nguyên nhân cơ bản nhất khiến học sinh phải bỏ học: nó có thể xuất phát từ phía nhà trường, học sinh, gia đình và toàn xã hội. Bên cạnh việc nêu ra những nguyên nhân, tác giả đã nêu lên được những biện pháp để ngăn chặn và giải quyết vấn đề đang được quan tâm lúc bấy giờ.       4. Bài trích “Vấn đề lưu ban, bỏ học ở Thành phố Hồ Chí Minh / Hồ Thiệu Hùng // Nghiên cứu giáo dục - 1992 - Số 242 - Tr11-12”. Tác giả đã nêu lên được những đặc điểm chủ yếu về điều kiện kinh tế - xã hội - giáo dục ở TP.Hồ Chí Minh và thực trạng lưu ban, bỏ học của học sinh tại thời điểm nghiên cứu. Qua bài trích, tác giả đã chỉ rõ nguyên nhân khiến cho học sinh bị lưu ban, bỏ học tại một thành phố lớn và đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế hiện tượng này.       5. Báo cáo của Ông Mai Phú Thanh – Chuyên viên Sở GD-ĐT về “Thực trạng học sinh lưu ban, bỏ học tại Thành phố Hồ Chí Minh đầu năm học 2007 – 2008” (Báo cáo tại hội thảo “Nguyên nhân và giải pháp thực trạng bỏ học của học sinh hiện nay”, được tổ chức tại Trường Đại học Bán công Tôn Đức Thắng ngày 25/04/2008”. Trong báo cáo của mình, ông Mai Phú Thanh đã trình bày sơ bộ về tình hình học sinh theo học ở các cấp, kết quả xếp loại học lực hàng năm và đặc biệt là đưa ra những con số thống kê về nguyên nhân bỏ học của học sinh hiện nay. Điểm đáng lưu ý của báo cáo là ông đã đưa ra những giải pháp mang tính chiến lược, nêu bật vai trò của các cấp ban ngành cũng như của các đơn vị, tổ chức… có trách nhiệm trong việc hạn chế và ngăn ngừa tình trạng học sinh bỏ học hiện nay.                                 Trong điều kiện giới hạn về thời gian và phương tiện tra cứu, nhóm chúng tôi chỉ có thể sơ lược được một số nghiên cứu nêu trên. Nguồn tư liệu nhóm thu thập được chủ yếu từ một số bài trích của các đề tài nghiên cứu cách đây khá lâu (năm 1992), còn lại một số thông tin liên quan đến vấn đề bỏ học của học sinh THCS hiện nay được lấy từ các bài báo, dữ liệu trên internet và tài liệu tham dự hội thảo “Nguyên nhân và giải pháp thực trạng bỏ học của học sinh hiện nay” (ngày 25/04/2008). Qua đó, cũng có thể nhận định rằng, tình hình nghiên cứu vấn đề bỏ học của học sinh nói chung và học sinh THCS nói riêng còn rất hạn chế. Mục tiêu của đề tài       Hiện nay, tình trạng bỏ học của các em học sinh đang ngày càng gia tăng và trở thành điểm “nóng” được cả xã hội quan tâm. Có khá nhiều hội thảo, cuộc họp báo được tổ chức nhằm tìm ra nguyên nhân, giải pháp của thực trạng trên. Dưới góc độ một cuộc nghiên cứu nhỏ của Sinh viên ngành Công tác xã hội, nhóm chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Thực trạng và giải pháp vấn đề bỏ học của học sinh THCS” nhằm tìm hiểu thực trạng của vấn đề bỏ học, từ đó đưa ra những suy nghĩ mang tính giải pháp để hạn chế và ngăn chặn vấn đề này. Câu hỏi nghiên cứu       Để đạt được mục tiêu như đã nêu trên, nhóm chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm trả lời cho những câu hỏi cụ thể sau: + Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng bỏ học của học sinh trung học cơ sở hiện nay? + Thực trạng bỏ học của học sinh trung học cơ sở hiện nay như thế nào? + Với hiện trạng bỏ học như hiện nay thì sẽ mang lại hậu quả gì cho chính bản thân học sinh, cho gia đình và cho toàn xã hội? + Những biện pháp nào có thể ngăn ngừa, khắc phục tình trạng bỏ học? Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: vấn đề bỏ học của học sinh trung học cơ sở hiện nay. Khách thể nghiên cứu: Học sinh trung học cơ sở (điển cứu tại quận Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh).  Phạm vi nghiên cứu: Chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu tại 3 trường THCS ở quận Thủ Đức, đó là: Trường THCS Linh Trung, Trường THCS Trương Văn Ngư và Trường THCS Tân Phú. Ý nghĩa thực tiễn       Chúng tôi - những sinh viên ngành CTXH trong tương lai sẽ trở thành những nhà cán sự xã hội. Thông qua việc thực hiện đề tài, nhóm chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào việc cải thiện tình trạng bỏ học đang trở thành điểm nóng như hiện nay. Giúp cho mọi người hiểu được nguyên nhân, hiện trạng và thấy được hậu quả to lớn của nó đối với chính bản thân học sinh, gia đình và toàn thể xã hội trong giai đoạn hiện tại và tương lai. Ngoài ra, chúng tôi mong rằng sẽ tích lũy được kinh nghiệm để có thể thực hiện tốt vai trò của một nhân viên CTXH, tự trang bị cho mình những kiến thức trong việc truyền thông về vai trò quan trọng của giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng kiến thức để cùng chung tay thực hiện 3 mục tiêu lớn của ngành giáo dục đó là “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”, phấn đấu để Việt Nam hoàn thành mục tiêu phổ cập THCS trong năm 2010 và xa hơn nữa là phổ cập trung học phổ thông. Ý nghĩa khoa học     Tuy chỉ được thực hiện trong một thời gian ngắn nhưng đề tài của chúng tôi thực sự có ý nghĩa khoa học. Đề tài được tổng hợp và phân tích từ những nguồn tư liệu đáng tin cậy (thống kê của Sở GD-ĐT Thành phố Hồ Chí Minh về tình trạng bỏ học của học sinh đầu năm học 2007 – 2008…) sẽ là cơ sở khoa học để các nghiên cứu tiếp theo có thể tham khảo. Ngoài ra, với kết quả nghiên cứu bước đầu, sẽ tạo điều kiện để thực hiện nghiên cứu vấn đề này ở cấp cao hơn. Phương pháp thu thập thông tin Phương pháp phân tích tư liệu sẵn có dựa vào các nguồn tư liệu nhóm thu thập được, chủ yếu từ một số bài trích của các đề tài nghiên cứu trước đây. Một số thông tin được lấy từ các bài báo, dữ liệu trên internet và tài liệu tham dự hội thảo “Nguyên nhân và giải pháp thực trạng bỏ học của học sinh hiện nay” (ngày 25/04/2008). Phương pháp định tính: sử dụng công cụ phỏng vấn sâu, được thực hiện tại một số Trường trung học cơ sở ở khu vực Thủ Đức, cụ thể: + Cô Nguyễn Thị Quý - Hiệu trưởng Trường THCS Linh Trung. + Thầy Trịnh Đình Vũ Huy - Hiệu trưởng Trường THCS Trương Văn Ngư. + Cô Lê Thị Ngọc Sương - Giáo viên Trường THCS Trương Văn Ngư. + Thầy Nguyễn Văn Quí - Hiệu trưởng Trường THCS Tân Phú. Phương pháp xử lý thông tin      Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã phân tích các thông tin định lượng dựa vào các nguồn tư liệu sẵn có, chủ yếu là các bảng thống kê về nguyên nhân và tình hình bỏ học của học sinh.     Đối với các thông tin định tính được thu thập trong quá trình phân tích tư liệu sẵn có và thực hiện nghiên cứu thực địa thông qua phỏng vấn sâu, được chúng tôi ghi chép, phân ra theo những nhóm chủ đề đã được xác định từ trước và sử dụng trong suốt quá trình viết báo cáo.                  NỘI DUNG Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Tình trạng bỏ học của học sinh THCS trên cả nước       Việt Nam là một nước có nền kinh tế đang phát triển, để hội nhập vào nền kinh tế chung của thế giới thì vấn đề “đào tạo con người” là một trong những yếu tố then chốt,  luôn được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được của ngành giáo dục thì vẫn còn đó không ít vấn đề nan giải đang tìm hướng giải quyết. Một trong số đó là vấn đề bỏ học của học sinh hiện nay.       Theo số liệu thống kê đến hết học kỳ I năm học 2007 – 2008, cả nước có 114.000 học sinh bỏ học ở cấp trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT). Trong những năm gần đây, được sự quan tâm hỗ trợ đặc biệt của Đảng, Nhà nước và các cấp ban ngành, tỉ lệ học sinh bỏ học có giảm về tỷ lệ nhưng về số lượng thì vẫn tăng và thật sự đáng “báo động”. Tính đến tháng 12 năm 2007, số lượng học sinh THCS bỏ học là 63.729 học sinh (chiếm tỷ lệ 1,1% so với số lượng học sinh cùng cấp ) và ở học sinh THPT là 50.309 học sinh (chiếm 1,66 %). Các tỉnh có số lượng học sinh bỏ học nhiều là: An Giang  với 17.000 học sinh, Trà Vinh gần 7000 học sinh; trong đó số học sinh bỏ học ở cấp THCS là 8800 em ở An Giang, 5500 em ở Trà Vinh và tại Kiên Giang là 5000 em. Như vậy, có thể thấy rằng, phần đông số lượng học sinh bỏ học tập trung ở cấp THCS và đó thật sự là những con số khiến chúng ta phải giật mình.       Tình trạng bỏ học của học sinh đã đến mức báo động, nó không chỉ tồn tại ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn mà còn diễn ra ở các tỉnh thành có nền kinh tế phát triển. Từ những năm học trước, ngành giáo dục và đào tạo đã có nhiều giải pháp để ngăn chặn tình trạng bỏ học của học sinh nói chung và học sinh THCS nói riêng nhưng hiệu quả chưa cao.       Ngày 13 tháng 3 năm 2008, “tâm điểm” cuộc giao ban tháng 3 của Bộ giáo dục và Đào tạo, dưới sự chủ trì của Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo Nguyễn Thiện Nhân đã nêu ra: “tâm điểm của giáo dục và đào tạo hiện nay không phải là tuyển sinh, thi tốt nghiệp hay học phí… mà là tình trạng bỏ học của học sinh từ cấp tiểu học lên cấp trung học phổ thông trên toàn quốc”. Mặc dù nhìn vào bảng thống kê số học sinh bỏ học qua từng năm có giảm về tỷ lệ nhưng số lượng bỏ học vẫn ở mức cao, đó là chưa kể trên thực tế số lượng học sinh bỏ học còn cao hơn nhiều so với những số liệu được thống kê. Điều này đã được chứng minh trong quá trình nghiên cứu của chúng tôi. Tại hội thảo về chủ đề “Nguyên nhân và giải pháp thực trạng bỏ học của học sinh hiện nay” chúng tôi đã được nghe ông Mai Phú Thanh – Chuyên viên Sở GD-ĐT Thành phố Hồ Chí Minh trình bày về thực trạng bỏ học của học sinh tại Thành phố. Số liệu ông Thanh đưa ra được lấy từ báo cáo tổng kết của Sở GD-ĐT Thành phố đầu năm học 2007 – 2008, trong bảng thống kê số lượng học sinh THCS bỏ học ở địa bàn quận Thủ Đức là 0 học sinh, trong khi đó tại 4 trường THCS (thuộc quận Thủ Đức) chúng tôi khảo sát thì số lượng bỏ học trung bình của mỗi trường từ 3 – 6 học sinh (trong đó có cả trường đạt chuẩn Quốc gia). Qua đó, một lần nữa có thể khẳng định những con số thống kê trong các báo cáo về tình trạng bỏ học mặc dù đã rất cao nhưng vẫn còn thấp hơn nhiều so với thực tế. Vậy sẽ có những giải pháp gì nhằm hạn chế và ngăn chặn tình trạng trên, để không đưa đến những hậu quả đáng tiếc sau này cho bản thân các em, gia đình và xã hội.       Nhóm chúng tôi thực hiện đề tài này với mong muốn đưa ra được cái nhìn khái quát về tình trạng bỏ học của học sinh trong cả nước cũng như tại Thành phố Hồ Chí Minh mà cụ thể là tại quận Thủ Đức. Tình trạng bỏ học của học sinh tại Thành phố Hồ Chí Minh       Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước. Để đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện của Thành phố, Giáo dục đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực có kiến thức, có tay nghề và trình độ kĩ thuật cao. Trọng trách đó không đơn thuần chỉ từ phía giáo dục Đại học – Cao đẳng, mà nó là của cả ngành Giáo dục, trong đó không kém phần quan trọng là Giáo dục Trung học cơ sở.       Hiện nay, toàn Thành phố có 234 trường THCS và 124 trường THPT được rải đều khắp 24 quận huyện, với 327.652 học sinh THCS và 176.662 học sinh THPT. Mặc dù Tp.Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế phát triển, trình độ phổ cập luôn đạt ở mức cao nhưng trên thực tế vẫn có tình trạng học sinh yếu kém và học sinh bỏ học. Chất lượng đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh những năm gần đây cho thấy: số lượng học sinh khá giỏi hàng năm ổn định từ 46 – 47%, yếu từ 9,4 – 10,3% và kém 0,25 – 0,75%. Số học sinh lưu ban và bỏ học hàng năm khoảng 1,5 – 2,0%. Việc giúp đỡ học sinh yếu kém, hạn chế số học sinh bỏ học từ lâu đã là một chỉ tiêu quan trọng của việc thực hiện nhiệm vụ năm học, nhất là khi hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học năm 2002 và tiến hành phổ cập bậc trung học theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VIII.       Thực tế, tình hình học sinh bỏ học tại Tp. Hồ Chí Minh tuy vẫn thấp hơn so với các khu vực khác trong cả nước nhưng nó cũng là một con số khiến cho Sở GD-ĐT Thành phố quan tâm và luôn tìm cách hạn chế đến mức thấp nhất.       Qua số liệu khảo sát năm 2007 – 2008, số liệu học sinh bỏ học của Thành phố như sau: Học sinh THCS là 694 em trên tổng số 327.652 học sinh đầu năm học( chiếm 0.21%), học sinh THPT là 1.451 trên tổng số 176.662 học sinh THPT đầu năm học (chiếm 0.82%). Nhìn chung, học sinh bỏ học do nhiều nguyên nhân khác nhau như học sinh bị kỷ luật buộc thôi học, do hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp khó khăn, do học lực quá yếu….       Học sinh bỏ học tập trung ở các quận huyện ngoại thành có kinh tế phát triển chậm, đặc biệt là các nơi có tỉ lệ nhập cư cao. Địa phương có biến động dân cư càng lớn thì tỉ lệ học sinh bỏ học càng cao, các địa phương chưa hoàn thành phổ cập giáo dục bậc trung học có tỉ lệ học sinh bỏ học cao hơn các địa phương đã hoàn thành phổ cập. Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, tình hình học sinh bỏ học được xem là một trở ngại lớn đối với việc nâng cao chất lượng công tác phổ cập giáo dục bậc THCS đúng độ tuổi và ảnh hưởng sâu sắc đến việc hoàn thành tiến độ phổ cập giáo dục bậc trung học theo Nghị quyết của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VIII. Chính vì thế Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố đã tập trung công tác chỉ đạo phổ cập giáo dục bậc trung học, tổ chức các cuộc vận động nhằm hạn chế tình trạng bỏ học với các chỉ tiêu toàn diện, cụ thể như sau: Củng cố, duy trì, phát huy kết quả phổ cập giáo dục THCS , phấn đấu đạt chuẩn phổ cập bậc trung học, tăng tỉ lệ huy động và hiệu quả đào tạo, giảm tỉ lệ lưu ban, bỏ học ở cấp THCS và THPT. Huy động ít nhất 70% số học sinh bỏ học năm học trước ở THCS cũng như THPT tái nhập học. Nguyên nhân bỏ học của học sinh THCS hiện nay       Nâng cao chất lượng giáo dục là một nhu cầu cấp thiết của thời đại và là chỉ tiêu phát triển của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, giáo dục luôn được coi là quốc sách hàng đầu. Vì vậy, trước thực trạng bỏ học của học sinh hiện nay đòi hỏi các cấp ban ngành và tổ chức có liên quan phải tìm mọi cách để ngăn chặn và khắc phục. Tuy nhiên, trước hết phải tìm hiểu và xác định được nguyên nhân của tình trạng này là do đâu. Qua quá trình nghiên cứu và thu thập thông tin, nhóm chúng tôi nhận thấy có một số nguyên nhân chính đưa đến tình trạng bỏ học của học sinh THCS như sau:        Thứ nhất, do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, bố mẹ không đủ điều kiện cho con đến trường buộc các em phải bỏ học. Một phần vì bố mẹ phải lo kiếm kế sinh nhai, không có thời gian quan tâm chăm sóc, nhắc nhở các em học hành dẫn đến tình trạng lười học, không muốn đến lớp. Có trường hợp gia đình khó khăn, các em phải bỏ học để ở nhà phụ việc hoặc lao động sớm để phụ bố mẹ trang trải. Tuy nhiên, đây không hẳn là nguyên nhân tuyệt đối vì có những gia đình khó khăn nhưng con em vẫn đến trường và còn học rất giỏi, nó còn phụ thuộc vào thái độ của bố mẹ và cá tính của các em. Điều này giải thích tại sao có những gia đình có điều kiện cho con đi học thậm chí là giàu có nhưng con em của họ vẫn không chịu đến lớp mà chỉ thích đi chơi. Nguyên nhân này cũng đã được cô Lê Thị Ngọc Sương giáo viên trường THCS Trương Văn Ngư nhận định: “Nhiều gia đình khá giả quan tâm đến việc học của con cái nhưng học sinh vẫn nghỉ học, như vậy vấn đề gia đình gặp khó khăn buộc con cái phải nghỉ học theo tôi là không hẳn”.       Thứ hai, do gia đình chuyển nơi ở, đi làm ăn xa nên việc học của các em không được đảm bảo. Đây là một nguyên nhân diễn ra chủ yếu ở các tỉnh lẻ hoặc ở vùng nông thôn vì điều kiện kinh tế ở đây khó khăn nên bố mẹ phải chuyển nơi làm ăn. Trong khi đó con cái đang còn nhỏ, buộc bố mẹ phải cho con đi theo và điều đó làm ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề học tập của học sinh. Nhiều hộ gia đình sau khi chuyển đi cũng tìm cách cho con đi học ở một trường khác nhưng các em vẫn bỏ học vì nhiều lý do: không làm quen được với môi trường mới, không theo kịp bạn bè do việc học bị phân tán trong quá trình gia đình chuyển nơi ở…. Nhưng cũng có nhiều gia đình do hoàn cảnh kinh tế khó khăn và nhiều nguyên nhân khác nên buộc long cho con thôi học: không có hộ khẩu, các em không có giấy tờ tuỳ thân (giấy khai sinh), mất học bạ....        Thứ ba, do chính quyền nhiều nơi chưa thật sự quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và chưa có giải pháp phối hợp nhằm ngăn chặn tình trạng học sinh bỏ học, không có các chính sách khuyến khích học sinh đến trường (như hỗ trợ các gia đình khó khăn). Hoặc có nơi thờ ơ, xem nhẹ vấn đề này. Như chúng tôi đã nói ở trên về vấn đề chênh lệch trong số liệu báo cáo và tình hình thực tế học sinh bỏ học, cụ thể tại quận Thủ Đức, chúng tôi đã trao đổi trực tiếp với ông Mai Phú Thanh và được biết: “Có nhiều nguyên nhân về sự chênh lệch này nhưng chủ yếu do sự chậm trễ của trường hoặc của Phòng Giáo dục quận, khi tiến hành thống kê để báo cáo chúng tôi có đưa ra hạn định và trong thời gian đó nếu quận không báo cáo thì chúng tôi không có số liệu để thống kê và buộc phải để là không có trường hợp bỏ học”. Đây có thể là một minh chứng cho sự thiếu quan tâm từ phía các cấp ban ngành có liên quan, bởi lẽ nếu quan tâm thì sẽ không có tình trạng chậm trễ hay chênh lệch như vậy và một điều dễ nhận thấy là sự thiếu sót này sẽ ảnh hưởng không tốt đến công tác ngăn ngừa và hạn chế tình trạng bỏ học trong học sinh.       Thứ tư, do chương trình giảng dạy nâng cao về kiến thức, sách giáo khoa chưa phù hợp với nhiều nơi nên dẫn tới tình trạng học sinh tiếp thu kém, chán nản và bỏ học. Chương trình học của Bộ giáo dục đưa ra đối với học sinh THCS đang còn “nặng” và chưa phù hợp với những học sinh ở miền núi. Các em không theo kịp chương trình, không tiếp thu được bài vở dẫn đến học lực kém, chán nản và không muốn đi học. Nhiều học sinh dân tộc chưa thành thạo trong việc nói tiếng Kinh nên tiếp thu bài rất chậm, nhiều khi không hiểu khiến cho bản thân học sinh cảm thấy không muốn học.       Thứ năm, ở một số vùng cao trường học còn quá khó khăn chưa đủ điều kiện nâng cao chất lượng dạy học, không phát huy được tinh thần ham học của các em. Nhiều trường THCS ở vùng cao hết sức nghèo nàn (trường lụp xụp, bàn ghế mục nát…), điều kiện dạy và học nhất là các trang thiết bị phục vụ việc tiếp thu bài giảng (dụng cụ thực hành) hầu như không có nên dẫn đến việc các em cảm thấy chán và xem việc học như là gánh nặng nên không muốn đến lớp. Ngoài ra, còn có nguyên nhân là trường ở quá xa, các em phải đi những quãng đường dài để đến lớp (có trường hợp đi đến 1 – 2 giờ đồng hồ), đặc biệt nếu điều kiện thời tiết xấu trong một thời gian dài (bão, lụt, nước dâng…) thì các em buộc phải nghỉ học.       Thứ sáu, cuộc vận động “hai không” của Bộ giáo dục và đào tạo ban hành đã siết chặt kỷ cương trong thi cử, đánh giá, nhất là đối với học sinh có học lực yếu khiến các em bị áp lực, không học nổi và không thi được. Vì vậy, từ tâm trạng chán nản, tự ty và xấu hổ với bạn bè, các em ngại đến lớp và vì thế lại càng không theo kịp chương trình, dẫn đến tình trạng bỏ học.        Thứ bảy, do bản thân các em không có ý chí vươn lên trong học tập, ngại khó, ham chơi… Học sinh không muốn học vì nhiều lý do, lại không được sự quan tâm của gia đình nên các em thường bỏ học để đi chơi hoặc chơi game. Bên cạnh đó sự dụ dỗ lôi kéo của bạn bè đã khiến các em không còn quan tâm đến việc học, chỉ biết chơi suốt ngày và lâu dần trở thành thói quen. Mặt khác, tâm lý của các em đang ở lứa tuổi 12 đến 16, đây là lứa tuổi dễ dao động nhất, nếu như có biện pháp uốn nắn tốt thì các em sẽ đi theo hướng tích cực và ngược lại các em sẽ trở nên hư hỏng. Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với cô Nguyễn Thị Quý - Hiệu trưởng Trường THCS Linh Trung . Cô đã đưa ra quan điểm của mình về vấn đề này: “Các em học sinh bỏ học phần nhiều là do bản thân của các em, gia đình nhiều khi khuyên bảo các em cũng không được, các em thích được đi chơi hoặc thích đi làm vì vậy nhiều gia đình cũng để mặc con cái, không quan tâm đến nữa. Nhiều khi nhà trường xuống động viên cho em tiếp tục đi học hoặc khu dân phố xuống để nói chuyện với gia đình nhưng các em đã quyết là không đi học nữa vì vậy nhà trường cũng chỉ xuống vài lần nếu không thuyết phục được thì đành chịu”.       Thứ tám, đó là một số học sinh trong độ tuổi lao động vừa học vừa làm. Khi các em đã tiếp xúc với đồng tiền thì vấn đề học tập của các em rất khó khăn.       Nhìn chung có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng bỏ học của học sinh trung học cơ sở và ở mỗi vùng miền cũng có sự khác nhau. Tuy nhiên, khái quát lại thì có tám nguyên nhân như đã nói ở trên và từ việc phân tích những nguyên nhân này chúng ta sẽ tìm ra hướng giải quyết hữu hiệu nhất.  Hậu quả của tình trạng bỏ học       Đồng hành cùng gia đình, nhà trường là cái nôi nuôi dưỡng nhân tài, góp phần hình thành và ổn định nhân cách cho các em học sinh. Đối với các em, nhà trường đóng một vai trò hết sức quan trọng, đây là nơi cung cấp kiến thức khoa học nền tảng, là nơi tạo mọi điều kiện để các em có thể phát triển một cách toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Vì vậy, nếu không được đến trường hay nói đúng hơn là bỏ học, thì liệu sẽ đưa đến những hậu quả gì cho bản thân các em, gia đình và xã hội.     Dù nguyên nhân bỏ học của các em là gì đi chăng nữa thì hậu quả mà nó gây ra là rất lớn. Trước tiên bản thân các em sẽ phải gánh chịu, ngay thời điểm hiện tại các em sẽ bị thiếu hụt một nền tảng tri thức cơ bản cần thiết cho sự phát triển của các em, từ sự mặc cảm, tự ty thua kém bạn bè, không có môi trường để rèn luyện đạo đức… dễ dàng đưa các em đến với những thói hư xấu, những hành vi lệch chuẩn. Hoặc trong một tương lai không xa khi các em trưởng thành, xã hội sẽ đón nhận các em như thế nào khi nền kinh tế đang trong xu thế quốc tế hoá, làm sao các em có thể xin được việc làm khi chưa tốt nghiệp THCS. Và lúc đó, các em sẽ thật sự trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Với những em có hoàn cảnh kinh tế khá giả, bố mẹ có thể bao bọc hoặc lo cho một công việc nào đó nhưng còn những em có hoàn cảnh khó khăn thì sao? Khi không có công ăn việc làm, khó khăn sẽ chồng chất khó khăn và nếu không có bản lĩnh các em sẽ trở thành “tay sai” của tệ nạn xã hội (như trộm cướp, bài bạc, mại dâm….).       Có thể nói, hậu quả từ việc bỏ học là rất tệ hại mà chúng ta không thể lường hết được. Nó tác động xấu đến sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của cả nước nói chung và của địa phương có học sinh bỏ học nói riêng. Thậm chí ở những địa phương có tỷ lệ bỏ học đông sẽ xảy ra tình trạng “khủng hoảng cộng đồng”. Vì một số thanh niên ở địa phương không có trí thức kéo theo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, cuộc sống nghèo khó. Không có trí thức rất dễ sinh nhiều con, ảnh hưởng của sự gia tăng dân số. Còn sự nghèo khó nó sẽ dẫn đến con đường tội phạm, làm ăn phi pháp.       Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Vậy các em học sinh - những chủ nhân tương lai của đất nước khi không có trình độ thì đất nước đó sẽ phát triển như thế nào? Hiện trạng bỏ học của học sinh nói chung và học sinh THCS nói riêng không còn là một hiện tượng bình thường để xã hội biết rồi để đó mà phải biến những lời nói thành hành động cụ thể. Cần thiết phải có sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường, xã hội và chính bản thân các em, tìm ra những biện pháp tốt nhất, triệt để nhất nhằm ngăn chặn và hạn chế tình trạng bỏ học, tạo điều kiện cho các em đến trường và học tập với kết quả cao. Phấn đấu đến năm 2010 sẽ hoàn thành phổ cập THPT.  Kết quả nghiên cứu về vấn đề học sinh bỏ học tại các Trường THCS Linh Trung, Trương Văn Ngư, Tân Phú       Hiện nay Thành phố Hồ Chí Minh đang đứng đầu trong cả nước về chất lượng giáo dục. Thành phố phấn đấu đến năm 2008 sẽ hoàn thành xong phổ cập bậc trung học. Tuy nhiên Đảng bộ Thành phố và Sở giáo dục – đào tạo đang nhức nhối về tình trạng bỏ học của học sinh trung học cơ sở. Theo ông Mai Phú Thanh – Chuyên viên phòng giáo dục trung học (Sở GD-ĐT TP.HCM) đã nêu lên vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của Thành phố “TP.HCM muốn phát triển đòi hỏi nguồn nhân lực phải có trí thức, có tay nghề cao và có mối quan hệ xã hội” (Tại buổi Hội thảo về “Nguyên nhân và giải pháp ngăn chặn học sinh bỏ học”, ngày 25 tháng 4 năm 2008 tại Trường Đại học Bán Công Tôn Đức Thắng ).        Do thời gian hạn chế, không đủ để cho chúng tôi tìm hiểu những trường ở xa có tình trạng học sinh bỏ học nhiều. Vì vậy, chúng tôi đã có cuộc khảo sát thực tế tại các Trường THCS Linh Trung, Trương Văn Ngư và Tân Phú (Quận Thủ Đức - TPHCM). Qua tiếp xúc và nói chuyện với Hiệu trưởng của các trường, chúng tôi đã hiểu sâu hơn về vấn đề bỏ học của học sinh từng trường. Kết quả nghiên cứu như sau:       Mặc dù đạt danh hiệu là Trường chuẩn quốc gia giai đoạn 2001 – 2010, Trường THCS Linh Trung vẫn có tình trạng học sinh bỏ học với số lượng là 6 em trên tổng số 1.485 em (chiếm 0,4 % ) (Kết quả thống kê học kỳ I, năm học 2007 – 2008). Từ năm 2005 trở lại đây, tỉ lệ học sinh bỏ học của trường chiếm khoảng 2%, tuy nhiên đến nay trường vẫn chưa tìm ra được biện pháp hiệu quả để hạn chế tình trạng học sinh bỏ học. Từ thực tế này khiến chúng tôi không khỏi suy nghĩ, đối với một trường đạt chuẩn quốc gia mà tình trạng bỏ học vẫn diễn ra như vậy, liệu các trường THCS ở vùng nông thôn, vùng cao miền núi thì tình trạng học sinh bỏ học sẽ như thế nào khi điều kiện học tập tại những nơi đó vô cùng khó khăn?       Nguyên nhân bỏ học của học sinh Trường Linh Trung chủ yếu là các em có học lực yếu kém, không theo kịp bạn bè. Một câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao một trường đạt chuẩn mà lại có những em có học lực yếu kém để rồi đến nỗi bỏ học, phải chăng trường chưa thực sự quan tâm đến từng em học sinh mà đang còn chạy đua theo bệnh thành tích, chỉ quan tâm bồi dưỡng những em học lực khá giỏi, nhằm mang lại thành tích cho trường trong các cuộc thi.       Để tìm hiểu mức độ quan tâm của nhà trường đối với vấn đề này cũng như biết thêm về những biện pháp mà trường đã thực hiện nhằm đưa các em trở lại lớp học, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với Cô Nguyễn Thị Quý và được biết: “Sau khi các em nghỉ học nhà trường cũng rất băn khoăn nên đã đề nghị với ban điều hành khu phố cùng tham gia giải quyết nhưng cũng không có tác dụng. Nhà trường đã đến từng hộ gia đình để động viên các em và khuyến khích gia đình động viên các em trở lại trường”. Nhà trường cũng cố gắng tìm hướng giải quyết đối với các em sau khi vận động mà không quay trở lại trường đó là : “Giới thiệu cho các em đi học phổ cập, học ở trung tâm giáo dục thường xuyên, dạy nghề để kiến thức nhẹ hơn, các em có thể dễ dàng tiếp thu hơn”.       Tại Trường THCS Trương Văn Ngư, chúng tôi đã có dịp trao đổi với Hiệu trưởng của trường là thầy Trịnh Đình Vũ Huy. Thầy đã cho biết số lượng học sinh bỏ học của trường là 3 học sinh trong tổng số 1.138 học sinh. Số lượng học sinh bỏ học của trường rải đều ở 3 khối 6,7,8. Năm học 2005 – 2006, số lượng học sinh bỏ học của trường là 10 học sinh. Nhìn chung số lượng học sinh bỏ học cũng đã giảm so với những năm trước. Cụ thể là tính đến tháng 4 năm 2007 số em bỏ học là 3 em thuộc hai khối 6 ,7. Qua trao đổi với thầy chúng tôi thấy được số học sinh bỏ học của trường là do gia đình chuyển nơi ở, do các em ham chơi và học lực yếu, không theo kịp chương trình nên bỏ học. Nhà trường cũng đã quan tâm động viên gia đình cho các em tới trường nhưng dường như cũng chưa đạt được hiệu quả. Thầy đã chia sẻ về những ảnh hưởng không tốt mà các em phải chịu đó là “các em sẽ không có tương lai, không có trình độ trong bất cứ một công việc gì vì vậy đời sống của các em sẽ gặp nhiều khó khăn”.       Trường thứ ba chúng tôi tìm đến là trường THCS Tân Phú. Tại đây chúng tôi đã gặp được thầy Nguyễn Văn Quí - Hiệu trưởng của trường, Thầy đã trao đổi với chúng tôi về tình trạng học sinh bỏ học của trường. Trong học kỳ I (năm học 2007 – 2008) trường có 5 em học sinh bỏ học và 5 em chuyển trường. Các năm học trước tỉ lệ học sinh bỏ học của trường dưới 1%. Theo lời thầy thì nguyên nhân khiến học sinh ở đây bỏ học là do các em ham chơi game, “nhiều khi các em chơi game và nợ nần phải để gia đình đến trả nợ”. Nhà trường cũng đã có nhiều biện pháp để ngăn chặn tình trạng bỏ học của học sinh như nhà trường kết hợp với phường đến vận động từng gia đình học sinh, nếu do hoàn cảnh khó khăn trường sẽ giảm tiền học phí, tiền sinh hoạt, tiền phụ huynh, giảm những khoản tự thu của nhà trường. Kết hợp giữa nhà trường, gia đình và giám thị quản lý các em về giờ giấc học tập và sinh hoạt. Nhà trường thường xuyên liên lạc với phụ huynh học sinh để trao đổi ý kiến với phụ huynh. Với những biện pháp như vậy nên nhà trưưòng cũng đã giảm số lượng học sinh bỏ học đến mức thấp nhất. Nhà trường cũng đã có nhiều hình thức khuyến khích học sinh như có các phần thưởng cho những em học sinh ngoan học giỏi và ở mỗi lớp đều có các phong trào thi đua để gây hứng thú học tập cho các em…. Theo ý kiến của thầy, nếu các em bỏ học thì sẽ có hậu quả to lớn đối với xã hội là làm cho tệ nạn xã hội ngày càng tăng, các em sẽ tham gia vào những vụ cướp giật và vi phạm pháp luật… Ngoài ra thầy còn cho chúng tôi biết thêm thông tin nếu như trường có tỉ lệ bỏ học trên 1% thì nhà trường sẽ không được đạt chuẩn, điều này đã khiến chúng tôi phải suy nghĩ, liệu rằng nhà trường vẫn đang chạy theo thành tích? Đó là câu hỏi luôn đặt ra cho chúng tôi trong chuyến đi khảo sát này.       Mặc dù trong một thời gian ngắn, chúng tôi không thể đi thực tế ở nhiều trường nhưng hi vọng rằng với số liệu này cũng đủ cho mọi người thấy được vấn đề “cấp thiết” về tình trạng bỏ học của học sinh THCS hiện nay. Qua lần đi thực tế này đã để lại cho chúng tôi nhiều bài học kinh nghiệm trong quá trình làm đề tài.    Suy nghĩ về giải pháp đối với vấn đề bỏ học của học sinh THCS      Xuất phát từ nguyên nhân, thực trạng và những hậu quả của tình trạng bỏ học ở học sinh nói chung và học sinh trung học cơ sở nói riêng, qua quá trình tìm hiểu thực tế kết hợp với ý kiến của một số thầy cô hiệu trưởng ở các trường, chúng tôi xin được nêu lên một số suy nghĩ về giải pháp đối với vấn đề này như sau : Giải pháp tức thời       Thứ nhất, cần có ngay một cuộc vận động “Nói không với hiện tượng học sinh bỏ học vì hoàn cảnh khó khăn”, không thể để cho các em vì nghèo mà thất học. Cần rà soát lại những chính sách ưu tiên, hỗ trợ học sinh nghèo, bổ sung những ưu đãi mới, có những giải pháp vận động nguồn tài chính cho học sinh nghèo, thực hành tiết kiệm để dành tiền cho học sinh nghèo, đẩy mạnh phong trào từ thiện trong các nhà trường, vận động những học sinh khá giả giúp đỡ bạn nghèo. Hiện học sinh nghèo chỉ được giảm ½ học phí, các khoản đóng góp khác thì bình đẳng như những học sinh khác, báo chí cũng đề cập nhiều đến hiện tượng “lạm thu, loạn thu” trong các nhà trường, một trong những nguyên nhân làm học sinh nghèo phải bỏ học. Có không ít trường học không những không có biện pháp nào để giúp đỡ học sinh nghèo mà còn luôn “sáng tạo” ra những khoản thu để “bòn rút” cuả học sinh. Cần có chính sách cho những gia đình nghèo vay vốn cho con học phổ thông, cũng như có các quy định “xử phạt” những trường, địa phương để học sinh phải bỏ học vì nghèo. Đối với những địa phương khó khăn, cần điều tra khảo sát và xin nhà nước hỗ trợ kinh phí.        Thứ hai, nhà trường cần phối hợp với cơ quan công an xã, phường, các tổ chức đoàn thể: Hội phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Ban điều hành tổ dân phố đến từng gia đình học sinh bỏ học hoặc có ý định bỏ học khuyến khích, động viên bản thân các em và gia đình để các em có thể quay lại trường học. Đây cũng là giải pháp mà chúng tôi đã tham khảo được từ các thầy cô ở các trường THCS mà chúng tôi đã khảo sát. Được sự quan tâm của nhà trường, tổ dân phố hay các cơ quan công an, tổ chức đoàn thể cũng như gia đình các em sẽ có những quyết định đúng đắn nhất để có một tương lai tốt đẹp, đồng thời các em cũng thấy được tác hại của việc bỏ học ảnh hưởng như thế nào đến tương lai sau này của mình. Từ đó các em có cách nhìn, cách nghĩ mới và quyết định trở lại trường học.       Thứ ba, để hạn chế học sinh bỏ học, cần có những giải pháp từ các cấp - ban ngành, trong đó ngành giáo dục - đào tạo đóng vai trò quan trọng. Giải pháp căn bản để chống bỏ học đối với học sinh phổ thông là phân luồng học sinh sau trung học cơ sở. Khuyến khích một bộ phận học sinh gồm những em không đủ điều kiện học hết THPT sẽ sang học nghề để sau 3 - 4 năm các em vừa có bằng tốt nghiệp tương đương với bằng tốt nghiệp THPT vừa có tay nghề bậc 3/7.       Thứ tư, mỗi giáo viên chủ nhiệm lớp phải lên danh sách những học sinh có nguy cơ bỏ học (có hoàn cảnh gia đình khó khăn, học kém) phân nhóm để có biện pháp phù hợp giúp đỡ các em. Đối với những học sinh có nguy cơ bỏ học, giáo viên phải siêng tới thăm gia đình các em, trò chuyện với các bậc phụ huynh để hiểu được những suy nghĩ của học sinh, để kịp thời có biện pháp giải quyết. Đối với những học sinh học kém, học sinh ở lại lớp giáo viên cần tìm hiểu nguyên nhân. Nếu do hổng kiến thức của lớp dưới thì tổ chức bồi dưỡng, phụ đạo để các em theo kịp bạn bè. Với những học sinh có điều kiện kinh tế khó khăn đề xuất các chính sách hỗ trợ như miễn giảm học phí, tạo điều kiện để các em tiếp tục việc học.       Thứ năm, với những học sinh ở vùng sâu vùng xa, bỏ học do điều kiện đi lại khó khăn, trường quá xa nơi cư trú thì tổ chức các trường lớp bán trú, nội trú để tiện cho các em và gia đình. Đồng thời đây cũng thường là những địa phương có kinh tế khó khăn nên cần vận động các cá nhân, tổ chức tài trợ học bổng, giúp các em có bảo hiểm y tế, có đầy đủ quần áo, sách vở để đi học.       Thứ sáu, cần có chế tài với những trường hợp buộc học sinh bỏ học. Nhiều gia đình không thực sự khó khăn nhưng bắt buộc con em mình nghỉ học để lao động. Nhà trường nên phối hợp với chính quyền địa phương kiên trì tuyên truyền, lay chuyển nhận thức của phụ huynh học sinh - học chính là con đường thoát khỏi đói nghèo một cách vững chắc nhất. Ở nước ngoài nếu cha mẹ không tạo điều kiện cho con đến trường sẽ bị pháp luật chế tài. Đối với nước ta việc này chưa được thực hiện nghiêm túc nên tình trạng học sinh bỏ học vẫn ở mức báo động. Giải pháp dài hạn       Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “hai không”       Việc học sinh bỏ học do học lực yếu kém không thể không nói đến trách nhiệm của nhà trường. Do áp lực của thành tích, các nhà trường chỉ lo đầu tư vào phong trào “mũi nhọn” như lập ra các lớp chuyên chọn, lo bồi dưỡng học sinh giỏi, luyện thi đại học, mà bỏ qua hoặc xem nhẹ việc phụ đạo, kèm cặp những học sinh yếu. Học sinh giỏi được lập một lớp riêng được các giáo viên giỏi giảng dạy, còn học sinh yếu thì thiệt thòi vì nhà trường ít quan tâm, một số giáo viên cũng giảng dạy thiếu nhiệt tình, không có bạn để hỏi han, giúp đỡ. Đó cũng là một trong những nguyên nhân làm cho những học sinh yếu kém chán học dẫn đến tình trạng học sinh bỏ học ngày càng nhiều. Để khắc phục và hạn chế tình hình này, các nhà trường nên đẩy mạnh cuộc vận động “hai không” nhằm phát hiện ra những học sinh có học lực yếu kém qua các kỳ thi, bài kiểm tra. Từ đó có những biện pháp bồi dưỡng, phụ đạo thêm để các em có một khối kiến thức vững chắc để có thể học tốt hơn ở các lớp trên.       Thứ hai, thay đổi phương pháp giảng dạy và học tập ở các trường nói chung và trường THCS nói riêng.       Hiện nay một số đội ngũ giáo viên có trình độ sư phạm yếu, trong quá trình giảng dạy gây cho học sinh có cảm giác nhàm chán. Chính vì vậy, các trường nên quan tâm đến trình độ sư phạm của đội ngũ giáo viên để biết cách bồi dưỡng, đào tạo thêm về chuyên môn cho họ như cách giảng bài, cách truyền đạt kiến thức ngắn gọn, dễ hiểu và gây đựợc hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em biết tư duy sáng tạo và độc lập trong suy nghĩ. Chúng tôi tin rằng với những thay đổi trong phương pháp truyền đạt kiến thức theo hướng tích cực sẽ giúp các em cảm thấy thú vị, yêu thích việc học tập hơn và nhận thấy rất nhiều điều bổ ích trong việc học. Từ đó, sẽ khắc phục được tình trạng học sinh chán học dẫn đến bỏ học.       Thứ ba, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, chính quyền các cấp trong việc đưa trẻ đến trường, ngăn chặn tình trạng bỏ học.       Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo chặt chẽ của chính quyền các cấp. Đặc biệt là sự nổ lực của Ban Chỉ Đạo phổ cập phường, xã, quận, huyện và sự phối hợp tốt giữa các ban ngành đoàn thể trong việc vận động đưa trẻ đến trường, kiểm tra khảo sát thường xuyên tình hình học tập thực tế của học sinh trên địa bàn dân cư. Tăng cường công tác tuyên truyền và đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao ý thức trách nhiệm của từng người dân và của cộng đồng dân cư trong quá trình triển khai thực hiện công tác phổ cập giáo dục, góp phần hạn chế tình trạng bỏ học của học sinh.       Có chính sách hỗ trợ đặc biệt, đủ mạnh cho các địa phương khó khăn. Các địa phương cần ưu tiên dành kinh phí của mình và các nguồn tài chính vận động được của quỹ khuyến học, các công ty đóng trên địa bàn để cấp học bổng, xe đạp cho các học sinh thuộc diện xoá đói giảm nghèo hoặc các học sinh có điều kiện khó khăn tiếp tục có điều kiện học tập ở các trường THCS và THPT.       Đối với những nơi thuộc vùng sâu, vùng xa, cơ sở hạ tầng thấp kém. Cần đầu tư xây dựng nhiều trường lớp với đầy đủ trang thiết bị phục vụ cho quá trình dạy và học, tạo điều kiện để cho con em dân tộc thiểu số có cơ hội được đến trường, được tiếp thu kiến thức như những em học sinh ở đồng bằng.       Một số giải pháp khác:      Từ những nguyên nhân đã phân tích cho thấy, học sinh bỏ học không hoàn toàn là lỗi ở các em mà ngoài ra còn ở người lớn và chúng tôi cũng nêu thêm một số đề xuất:      - Kết hợp các tổ chức chính quyền ở địa phương, tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức cho các bậc làm cha, làm mẹ về tầm quan trọng của việc học và tạo điều kiện cho các em học tập thật tốt, về việc giáo dục con cái, nhất là cần hiểu tâm lí của con cái. Biện pháp này chỉ có hiệu quả khi người cán bộ quản lý giáo dục cũng như người cán bộ xã phường có đầy đủ trách nhiệm và bản lĩnh trước nhiệm vụ bức thiết này.     - Kết hợp với gia đình để tìm ra những nguyên nhân của từng tình hình cụ thể để có thể giáo dục và ngăn chặn kịp thời tình trạng học sinh bỏ học. Biện pháp này chỉ có kết quả khi giáo viên chủ nhiệm có nhiều thời gian trên lớp và biết áp dụng nhiều biện pháp, hình thức giáo dục và phối hợp với gia đình, nhà trường trong những tình huống xác định.     - Bảo đảm thông tin hai chiều giữa nhà trường và gia đình. Biện pháp này chỉ có hiệu quả khi hai bên cùng thực hiện đúng những quy định chung về sự phát triển toàn diện của học sinh. Sau khi thấy học sinh nghỉ học nhiều lần, nhà trường cần có sự thông tin kịp thời và cần thiết cho gia đình để cùng nhau phối hợp giải quyết.     - Phối hợp với các tổ chức trong và ngoài trường khảo sát, điều tra nắm chắc và kịp thời về tình hình diễn biến của số lượng học sinh bỏ học ở địa phương để có thể ngăn chặn kịp thời và có hiệu quả. Biện pháp này chỉ mang lại hiệu quả nếu nhà trường luôn trung thực về việc báo cáo số lượng học sinh bỏ học, không chạy theo thành tích, để có thể đưa ra những con số chính xác, phối hợp với các tổ chức ban ngành ngăn chặn tình trạng học sinh bỏ học.    - Cải thiện đời sống cán bộ, giáo viên bằng các chế độ chính sách phù hợp với tay nghề, cải thiện môi trường sư phạm ngày càng đạt chất lượng và đạt chuẩn để thu hút học sinh tới trường. Đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ giáo viên ở vùng sâu vùng xa.       Như vậy các phương hướng cơ bản trên vừa nhằm tạo thêm nhiều cơ hội cho các em học sinh nghèo, học sinh là con em các đồng bào dân tộc có cơ hội được đến trường, các em có học lực yếu kém có nguy cơ bỏ học được quan tâm bồi dưỡng phụ đạo thêm để cho các em có thể được trang bị đầy đủ kiến thức để tiếp tục đến trường. Để phương hướng này triển khai được tốt phải có sự lãnh đạo của Bộ giáo dục, sự quan tâm của Đảng, nhà nước, của gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội. Theo chúng tôi những phương hướng , biện pháp này cần được thực hiện đồng bộ, vừa thực hiện các giải pháp ngắn hạn, vừa tiến hành triển khai xen kẽ các biện pháp dài hạn, coi giải pháp ngắn hạn là tiền đề cho việc thực hiện các biện pháp dài hạn đạt kết quả tốt, giúp cho các em học sinh có những điều kiện tốt nhất để tiếp tục được đến trường.                  KẾT LUẬN      “Tình trạng bỏ học của học sinh trung học cơ sở hiện nay” là một vấn đề cấp thiết và đang trở thành điểm “nóng” đối với toàn xã hội. Từ trước đến nay giáo dục được Đảng và Nhà nước ta đặt lên mục tiêu hàng đầu bởi vì một đất nước có trình độ dân trí cao thì nền kinh tế mới phát triển. Đối với đất nước ta hiện nay nền kinh tế đang phát triển theo xu hướng “công nghiệp hoá - hiện đại hoá” nên nó đòi hỏi người lao động phải có trình độ và tay nghề cao. Đó chính là mục tiêu của nền kinh tế nước ta trong giai đoạn mới, nhưng nhìn lại thực tế tình trạng bỏ học của học sinh trung học cơ sở đang còn nhiều và nó diễn ra trên tất cả các tỉnh thành của cả nước. Liệu với tình trạng học sinh bỏ học nhiều thì chúng ta có thể đạt được mục tiêu của ngành giáo dục đề ra đó là: “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế hiện nay không?     Với hơn 140.000 học sinh bỏ học với nhiều nguyên nhân khác nhau buộc các cấp, các ngành có liên quan phải phân tích những nguyên nhân cơ bản để có thể tìm ra biện pháp khắc phục và giải quyết tình trạng bỏ học của học sinh. Việc học sinh trung học cơ sở bỏ học hàng loạt khiến cho các trường nơi các em theo học cũng hết sức hoang mang. Bên cạnh đó tình trạng học sinh bỏ học như hiện nay đã gây ra những hậu quả vô cùng to lớn đối với sự phát triển của xã hội nói chung và của từng địa phương nói riêng. Điều đó đã ảnh hưởng sâu sắc về mặt nhân tố con người, khi con người không có điều kiện phát triển, không có kiến thức thì sẽ dẫn tới tình trạng chậm phát triển về mọi mặt của xã hội. Trước những hậu quả to lớn như vậy, chúng tôi - những sinh viên ngành công tác xã hội mong muốn tìm ra được những giải pháp tích cực nhằm ngăn chặn tình trạng học sinh bỏ học.     Dưới góc độ của sinh viên ngành công tác xã hội, chúng tôi đã tìm và đưa ra một số biện pháp nhằm ngăn chặn tình trạng học sinh trung học cơ sở bỏ học. Hy vọng những biện pháp mà chúng tôi đưa ra có thể làm giảm thiểu một cách tối đa số lượng học sinh bỏ học để cho mục tiêu phổ cập trung học phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo sớm được hoàn thành, xã hội ngày càng phát triển về mọi mặt như kinh tế, văn hoá, ngoại giao….          Điều đáng nói nhất khi chúng tôi thực hiện đề tài này, sau khi thực hiện đề tài chúng tôi đã học tập được rất nhiều điều trong cuộc sống, kinh nghiệm trong quá trình làm đề tài nghiên cứu và những kỹ năng khi tiếp xúc phỏng vấn những đối tượng trong xã hội. Tất cả những kinh nghiệm đó đều đáng quý đối với những sinh viên ngành công tác xã hội và những người cán sự xã hội đang làm những công việc có ích cho đời.       Đối với việc học tập : Chúng tôi đã có những kiến thức để có thể hoàn thành tốt môn học nghiên cứu khoa học. Những kinh nghiệm đó thật quý đối với những sinh viên mới học năm thứ nhất ngành công tác xã hội tiếp thu được. Chúng tôi mong rằng sẽ có nhiều cơ hội để làm đề tài hơn, để tăng thêm những hiểu biết thực tế hơn để có thể hoàn thiện mình và có nhiều kiến thức trong lĩnh vực công tác của mình.  * Chia sẻ về những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài       Khi thực hiện bất kỳ một đề tài khoa học hay một bài báo cáo khoa học thì những sinh viên thực hiện đều phải có những lần đi thực tế để thu thập thông tin làm đề tài. Và mỗi lần đi đó không phải ai cũng được may mắn, cũng được đón tiếp nhiệt tình từ các tổ chức có liên quan mà phải có nhiều lần “long đong, lận đận”, đi đi lại lại mới có thể xin được số liệu và những thông tin cần thiết. Và đối với chúng tôi cũng vậy, những sinh viên đang còn non trẻ trong lĩnh vực công tác xã hội đang thực hiện báo cáo khoa học và cũng đã gặp không ít khó khăn trong quá trình thực hiện. Nhưng bên cạnh đó chúng tôi cũng đã có những thuận lợi nhất định và sau đây chúng tôi xin chia sẻ với tất cả các bạn những khó khăn và thuận lợi để cùng nhau rút ra những bài học kinh nghiệm cho những lần thực hiện sau: Những thuận lợi       Thuận lợi trước tiên mà chúng tôi muốn chia sẻ với các bạn đó là, chúng tôi đã có một giáo viên hướng dẫn đề tài thật nhiệt tình, tâm huyết, luôn tận tâm cùng chúng tôi thực hiện đề tài.       Một thuận lợi nữa đã góp rất nhiều vào sự thành công của đề tài đó là : Khi chúng tôi đến một số trường THCS một số thầy cô hiệu trưởng đã nhiệt tình giúp đỡ như cung cấp số liệu cũng như cho biết về tình hình học tập của các em học sinh ở trường. Đồng thời các thầy các cô còn chỉ ra những nguyên nhân, thực trạng và có những đề xuất về một số giải pháp nhằm khắc phục thực trạng bỏ học của học sinh trong giai đoạn hiện nay (Trường THCS Linh Trung, Tân Phú, Trương Văn Ngư).       Qua một số trang web chúng tôi có thể thu thập được những thông tin cần thiết góp phần làm phong phú thêm cho đề tài. Khó khăn       Bao giờ cũng vậy, thuận lợi luôn đi kèm với khó khăn, trong quá trình thực hiện đề tài bên cạnh những thuận lợi và những mặt đạt được chúng tôi cũng vấp phải không ít khó khăn. Vì là những sinh viên năm nhất nên chúng tôi chưa có kinh nghiệm trong việc thực hiện đề tài (mặc dù đã có người hướng dẫn nhiệt tình), nên khi đi thực tế đến các trường chúng tôi đã gặp phải nhiều khó khăn :       Thứ nhất, đề tài mà chúng tôi thực hiện đó là một đề tài mang tính chất “nhạy cảm” trong xã hội. Một vấn đề mà không phải trường học nào cũng muốn đưa ra số liệu, nhiều trường đã cố tình che dấu như Trường THCS Xuân Trường. Đây là một trường nằm ở gần cầu vượt Linh Xuân - Quận Thủ Đức, chúng tôi đã tới trường nhiều lần nhưng trường luôn tìm cách từ chối bằng cách hẹn ngày sau tới và cứ như vậy chúng tôi đã phải bỏ ra nhiều thời gian để tới trường nhưng kết quả vẫn không thu lại được gì. Qua đây chúng tôi cũng có một suy nghĩ đó là các trường luôn tìm cách để phủ nhận việc học sinh bỏ học, không muốn công khai, như vậy cũng đồng nghĩa với việc trường chưa thực sự đối diện với sự thật để tìm ra hướng giải quyết.       Thứ hai, do điều kiện kinh phí có hạn nên chúng tôi không có được nguồn hỗ trợ từ khoa, vì vậy vấn đề tài chính cũng là khó khăn của chúng tôi. Nhiều khi do không có tài chính kết hợp với thời gian ngắn nên chúng tôi đã không tìm hiểu sâu hơn được về vấn đề nghiên cứu.       Thứ ba, đó là thời gian thực hiện đề tài ngắn, khiến cho chúng tôi phải lên kế hoạch một cách nhanh nhất và phân chia công việc theo từng người. Không có thời gian để tìm hiểu nhiều về tình trạng học sinh bỏ học, vì vậy nhiều khi cũng chưa có cái nhìn toàn diện về vấn đề.       Tóm lại, thuận lợi cũng có mà khó khăn cũng không ít nhưng với sự cố gắng và nỗ lực của nhóm chúng tôi cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn cuối cùng đề tài cũng đã hoàn thành và chúng tôi thật sự thích thú với công việc này vì nó mang cho chúng tôi nhiều kinh nghiệm quý báu.    * TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đặng Văn Minh, “Khảo sát tình hình lưu ban, bỏ học của học sinh 2 trường vùng ven Thành phố Hồ Chí Minh”, Viện Nghiên cứu giáo dục, năm 1992. 2. Thái Duy Tuyên, “Hiện tượng lưu ban, bỏ học :Thực trạng, nguyên nhân, vấn đề và biện pháP”, Viện Nghiên cứu giáo dục, 1992. 3. Phạm Thanh Bình, “Về nguyên nhân và biện pháp chống bỏ học”, Viện Nghiên cứu giáo dục - 1992.  4. Hồ Thiệu Hùng, “Vấn đề lưu ban, bỏ học ở Thành phố Hồ Chí Minh”, Viện Nghiên cứu giáo dục - 1992 .  5. Báo cáo của Ông Mai Phú Thanh – Chuyên viên Sở GD-ĐT về “Thực trạng học sinh lưu ban, bỏ học tại Thành phố Hồ Chí Minh đầu năm học 2007 – 2008” (Báo cáo tại hội thảo “Nguyên nhân và giải pháp thực trạng bỏ học của học sinh hiện nay”, được tổ chức tại Trường Đại học Bán công Tôn Đức Thắng ngày 25/04/2008”.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docThực trạng và giải pháp vấn đề bỏ học của học sinh THCS.doc
Luận văn liên quan