Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản

Nhìn tổng quát, từ đặc thù về đất đai thuộc sở hữu toàn dân của Việt Nam, các sắc thuế liên quan đến tài sản hiện nay của nước ta có nhiều điểm chưa rõ nét, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, trong một số trường hợp, có sự lẫn lộn giữa thuế và lệ phí. Nguồn thu từ các khoản thuế liên quan đến tài sản chỉ chiếm khoảng 3-4% tổng số thuế của NSNN và chưa chiếm vị trí quan trọng trong ngân sách địa phương như hầu hết ở các nước khác Đó là những điểm cơ bản cần lưu ý khi xây dựng thuế tài sản ở Việt Nam trong những năm sắp tới. Tại các nước phát triển, thuế tài sản là nguồn thu chính chiếm 40 - 50% tổng số thu thuế tại các đô thị như Mexico, Brazil, Ấn Độ, Indonesia và nó thường chiếm từ 15% - 40% trong thu ngân sách địa phương. Tuy nhiên, ở Việt Nam, loại thuế này mới chỉ chiếm khoảng 0,7% tổng thu ngân sách địa phương. Chủ yếu thu từ nhà đất.

pdf26 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 08/09/2014 | Lượt xem: 1760 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 1 THUẾ ĐÁNH VÀO HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VÀ TÀI SẢN 1. THUẾ VÀ VẤN ĐỀ CHẤP NHẬN RỦI RO - Thuế là nguồn thu chính của một quốc gia, thuế không chỉ ảnh hưởng đến tổng số của cải của con người tích lũy mà còn ảnh hưởng đến lựa chọn các hình thức nắm giữ của cải. Cá nhân không chỉ quyết định tiết kiệm bao nhiêu mà còn tiết kiệm dưới dạng nào? Có nên nắm giữ trái phiếu chính phủ - vốn rất an toàn nhưng sinh lợi trung bình thấp, hay bằng cách nắm giữ cổ phiếu doanh nghiệp, nhiều rủi ro song lợi nhuận bình quân cao hơn? - Cá nhân không chỉ bị đánh thuế với thu nhập từ tiết kiệm trong mỗi khoảng thời gian mà còn bị đánh thuế đối với của cải được tích lũy từ tiết kiệm trong quá khứ. Thuế này gồm có 2 dạng: Dạng thứ nhất: bao gồm thuế chuyển giao, (thuế chuyển giao là thuế đánh vào quà một bên tặng bên kia) gồm cả thuế di sản. Dạng thứ hai là thuế tài sản (như thuế nhà cửa) - Chúng ta hàng ngày đều phải đối mặt với rất nhiều rủi ro: có thể là rủi ro khách quan bất khả kháng ví dụ như tai nạn giao thông, bệnh tật, cháy nổ, bão lũ hạn hán hay các tổn hại khác) và chúng ta phải cố gắng để bảo hiểm trước những rủi ro này. Tuy nhiên cũng có rủi ro mang tính cân bằng so với lợi ích thu được như rủi ro đầu tư tài chính: liệu một thương vụ có thể thành công hay thất bại, liệu một danh mục chứng khoán sẽ lên hay xuống, quyết định có nên đầu tư tài chính hay không có thể bị ảnh hưởng bởi thuế. - Một số ý kiến cho rằng giảm thuế sẽ khuyến khích người ta nắm giữ tài sản có rủi ro cao hơn vì nếu tăng phần thưởng cho sự thành công, sẽ đồng nghĩa với tăng nguy cơ chấp nhận rủi ro. Theo mô hình Tobin người ta quyết định đầu tư hay không dựa vào hai đặc tính là lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro. Nếu các yếu tố khác không đổi, nhà đầu tư sẽ hướng vào những tài sản được kỳ vọng có thu nhập cao. Đồng thời nhà đầu tư cũng được giả định là không thích rủi ro, vậy nhà đầu tư thích tài sản an toàn hơn. 1.1 Mô hình đầu tư tài chính cơ bản 1.1.1 Nội dung mô hình Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 2 - Mô hình cơ bản về thuế và chấp nhận rủi ro trong khuôn khổ rủi ro đầu tư tài chính được Domar và Musgrave phát triển năm 1944 chỉ ra: Một tài sản an toàn tạo ra tiền lời thực với mức chắc chắn Một tài sản có rủi ro tạo ra tỷ suất sinh lời r với mức không chắc chắn. - Cá nhân sẽ lựa chọn đầu tư vào tài sản an toàn với lợi nhuận thực bằng 0 và đầu tư vào tài sản rủi ro với tỷ suất lợi nhuận dương trong một số trường hợp. - Chính phủ sẽ đánh thuế khi lợi nhuận từ tài sản rủi ro dương và cho phép chuyển vào thu nhập chịu thuế tất cả các khoản lỗ khi đầu tư. Khi đó việc đánh thuế vào thu nhập nhận được từ tài sản rủi ro sẽ làm tăng việc chấp nhận rủi ro bởi bất cứ thuế nào đánh vào lợi nhuận hoàn toàn có thể tránh được bằng cách chấp nhận rủi ro nhiều hơn. 1.1.2 Minh họa Ví dụ: Sam đầu tư 100 USD vào một thương vụ mạo hiểm với 50% cơ hội tăng giá trị lên 120 USD (anh ta được lợi 20 USD) và 50% cơ hội giảm giá trị xuống 80 USD (anh ta mất 20 USD). Bảng 1: Đánh thuế và mức chấp nhận rủi ro Đầu tư Nhận được nếu lãi Nhận được nếu lỗ Thuế suất nếu lãi Thuế giảm trừ nếu lỗ Lãi sau thuế Lỗ sau thuế 100 20 -20 0 0 20 -20 100 20 -20 50% 50% 10 -10 200 40 -40 50% 50% 20 -20 200 40 -40 50% 0 20 -40 200 40 -40 75% 50% 15 -20 - Dòng thứ 1 thể hiện : Trường hợp không có thuế Sam đầu tư 100 USD vào một thương vụ mạo hiểm nhỏ với xác suất 50% kiếm lãi 20 USD và xác suất 50% bị lỗ 20 USD  Lợi nhuận kỳ vọng bằng zero đô la: 20 x 50% + -$20 x 50% = 0 Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 3  Chính phủ chưa đánh thuế nên lãi trước thuế bằng với lãi sau thuế - Dòng thứ 2 thể hiện : Chính phủ tuyên bố đánh thuế 50% thu nhập đầu tư và cho phép chuyển lỗ vào thu nhập chịu thuế Trường hợp đầu tư có lãi: Sam giữ lại 10 USD (50% kết quả) và trả thuế 10 USD (50% kết quả còn lại) do tất cả lợi nhuận đầu tư đều bị đánh thuế Trường hợp đầu tư lỗ: Sam chỉ chỉ chịu 50% lỗ nên Sam chỉ lỗ 10 USD bởi vì tất cả lỗ đầu tư đều được trừ vào thu nhập chịu thuế nên. → Lợi nhuận kỳ vọng bằng zero đô la, Sam chịu ít rủi ro hơn so với đầu tư ban đầu - Dòng thứ 3 thể hiện : Sam tăng mức đầu tư lên 200 USD, kết quả giống hệt như đầu tư ban đầu 100USD khi chưa có thuế nhưng thuế đã làm tăng mức chấp nhận rủi ro → Lợi nhuận kỳ vọng bằng zero đô la: 20 x 50% + -$20 x 50% = 0 - Dòng thứ 4 và thứ 5 thể hiện : Chính phủ tuyên bố đánh thuế 50% thu nhập đầu tư và không cho phép chuyển lỗ vào thu nhập chịu thuế như dòng 4 hoặc bị đánh thuế lũy tiến như ở dòng 5 thì Sam không thể tránh được tác động của Chính phủ Kết luận - Sam có thể hoàn toàn không chịu tác động của chính sách thuế nếu tăng tiền vào đầu tư rủi ro (dòng thứ 3). - Nếu chủ thể kinh tế có thể tránh được sự tác động của chính phủ để quay trở lại điểm cân bằng ban đầu (dòng thứ 1) thì họ sẽ làm như vậy. - Để tăng đầu tư rủi ro chủ thể kinh tế phải giảm đầu tư không rủi ro. - Tài sản không rủi ro không sinh lợi nên không ảnh hưởng đến lợi nhuận kỳ vọng. - Đánh thuế vào đầu tư rủi ro, trong trường hợp này, làm tăng việc chấp nhận rủi ro. 1.1.3 Kết luận mô hình Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 4 - Chính phủ sẽ đánh thuế vào tiền lời từ đầu tư tài sản rủi ro và cho phép giảm trừ các khoản lỗ khi đầu tư. - Việc đánh thuế như vậy sẽ làm gia tăng chấp nhận rủi ro. 1.2 Tính phức tạp trong thực tế 1.2.1 Chỉ một phần thay vì toàn bộ khoản lỗ được chuyển vào thu nhập chịu thuế khi tính thuế. - Trong mô hình này, cá nhân có thể chuyển toàn bộ khoản lỗ vào thu nhập chịu thuế khi tính thuế. Khi Sam lỗ trong cuộc chơi, anh ta sẽ đưa toàn bộ số lỗ này vào thu nhập chịu thuế, cũng như khi anh ta thắng, toàn bộ thu nhập này sẽ đưa vào thu nhập chịu thuế. Tuy nhiên trên thực tế phần lớn các hệ thống thuế chỉ cho phép cá nhân chuyển một phần lỗ vào thu nhập chịu thuế khi tính thuế. Số lỗ được chuyển gọi là : “chuyển lỗ khi tính thuế: tax loss offset” Ở Mỹ cá nhân có thể chuyển 3000 đô la lỗ do đầu tư trong một năm tính thuế từ thu nhập chịu thuế khác. Điều luật này nhằm ngăn chặn việc thực hiện đầu tư với kết quả chắc chắn lỗ nhằm giảm thu nhập chịu thuế. Hàm ý người trả thuế không thể đơn giản tránh thuế bằng việc tăng rủi ro đầu tư bởi vì lỗ từ đầu tư không hoàn toàn được giảm trừ hết khi tính thuế. 1.2.1.1 Minh họa - Giả định chính phủ không cho phép cá nhân giảm trừ bất cứ khoản lỗ nào khi tính thuế với thuế suất 50% (bảng 1- dòng 4) - Trong trường hợp này, Sam không thể đơn giản tránh thuế bằng việc tăng đầu tư lên 200 đô la. 50% cơ hội anh ta nhận được 40 đô la trước thuế hay 20 đô la sau thuế, 50% cơ hội còn lại anh ta sẽ lỗ 40 đô la, số lỗ này không được tính giảm trừ thu nhập chịu thuế, do vậy phần lỗ sau thuế vẫn là 40 đô la. - Với việc không được chuyển lỗ khi tính thu nhập chịu thuế, Sam không thể đơn giản bù đắp việc phải chịu thuế bằng cách tăng đầu tư, bởi vì đầu tư sẽ làm cho anh ta bị lỗ, với 50% cơ hội có lãi 20 đô la sau thuế và 50% cơ hội còn lại lỗ 40 đô la sau thuế. Lợi nhuận sau thuế kỳ vọng là 20 đô la x 50% + (-40 đô la)x 50% = -10 đô la. Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 5 - Bởi vì Sam không đơn giản tránh được chính sách thuế của chính phủ bằng việc chấp nhận nhiều rủi ro hơn, do vậy anh ta không nhất thiết phải tăng rủi ro để phản ứng lại với chính sách thuế. 1.2.1.2 Kết luận - Không thể dự đoán một cách chắc chắn về giới hạn bù lỗ và việc chấp nhận rủi ro, nhưng việc chỉ một phần chứ không phải toàn bộ thuế được bù đắp rõ ràng là hạn chế trong áp dụng của mô hình Domar – Musgrave đơn giản. 1.2.2 Thuế tái phân phối - Trên thực tế, hệ thống thuế điển hình mang tính lũy tiến, với thuế suất biên cao hơn khi thu nhập đầu tư tăng. - Với hệ thống như vậy, nếu nhà đầu tư thắng lớn, họ tự đặt mình vào mức thuế cao hơn (thuế suất biên cao hơn); nếu họ thua lớn, họ sẽ tự đặt mình vào mức thuế thấp hơn. Cho nên thắng trong trò chơi mạo hiểm sẽ bị thuế cao hốn với mức thuế sẽ áp dụng đối với thu nhập sau khi đã chuyển lỗ nếu thua. - Nếu việc chuyển lỗ có giới hạn, điều này sẽ khiến nhà đầu tư giảm việc chấp nhận rủi ro. 1.2.2.1 Minh họa - Giả định rằng Chính phủ áp đặt thuế suất 50% với thu nhập đến 20 đô la và 75% với thu nhập trên mức 20 đô la, toàn bộ số lỗ sẽ được chuyển và được dùng để làm giảm thu nhập chịu thuế với thuế suất 50% (bảng 1- dòng 5) - Trường hợp này, Sam một lần nữa lại không tránh được tác động của thuế trên thu nhập anh ta tăng đầu tư lên 200 đô la Nếu kết quả đầu tư là thuận lợi thì anh ta chỉ nhận được 15 đô la sau thuế: 50% của 20 đô la đầu tiên và 25% của 20 đô la tiếp theo. Nếu kết quả đầu tư là bất lợi thì anh ta lỗ 20 đô la. - Một lần nữa, Sam không thể tránh được tác động của thuế khi anh ta tăng tiền đầu tư, bởi vì điều này làm cho anh ta rơi vào thế bị lỗ với 50% cơ hội có được 15 đô la sau thuế và 50% cơ hội còn lại lỗ 20 đô la sau thuế → Lợi nhuận kỳ vọng là 15 đô la x 0,5 + (-20 đô la)x 0,5 = -2,5 đô la. Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 6 1.2.2.2 Kết luận - Thắng một ván lớn có thể bị đánh thuế suất cao, trong khi thua một ván lớn thì thuế suất lại thấp 1.3 Vận dụng vào thị trường lao động - Đầu tư tài chính không phải là trường hợp đầu tư rủi ro duy nhất mà cá nhân chấp nhận, họ cũng có thể đầu tư vào nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo nghề. Đầu tư vào vốn và nhân lực cũng rủi ro bởi vì người ta đã hy sinh bằng việc trả trước cho kỳ vọng có được thu nhập cao hơn trong tương lai. Nhưng việc đầu tư vào nguồn nhân lực có dẫn đến hu nhập cao hơn hay không lại là điều không chắc chắn. 1.3.1 Minh họa - Xét quyết định đi học một năm tại trường đại học, việc đi học sẽ phải tồn tại hai loại chi phí: chi phí học tập và thu nhập bị bỏ qua trong năm đó vì phải đi học thay vì đi làm. Lợi ích là viễn cảnh thu nhập cao hơn do được đào tạo nhiều hơn. - Giả sử thu nhập trung bình sẽ tăng 7% cho mỗi năm đi học. Nhưng điều này chỉ là ước tính và đối với một người nào đó lợi ích của việc học có thể cao hoặc thấp hơn. Thuế thu nhập sẽ quyết định tích lũy vốn và nhân lực như thế nào. - Lợi ích ròng của việc đầu tư vào nguồn nhân lực chính là sự tăng lên của tiền lương trừ đi chi phí đào tạo trực tiếp và chi phí cơ hội đã bỏ qua. - Giả định rằng chỉ có một thuế suất duy nhất và các chi phí tài chính của việc tích lũy vốn hay nhân lực được chuyển hoàn toàn vào thu nhập chịu thuế. - Bởi vì thuế thu nhập chỉ dựa trên thu nhập kiếm được chuyển vào để giảm thuế - đi học đồng nghĩa với không kiếm được thu nhập. Trong trường hợp này, cũng như đầu tư tài chính thuế cao hơn sẽ đơn giản làm tăng sự đầu tư vào nguồn nhân lực do đó người ta có thể đảm bảo thu nhập ròng kỳ vọng từ đầu tư. 1.3.2 Trong thực tế - Trong thực tế phức tạp hơn nhiều và hầu hết có sự phân biệt chi phí đầu tư cho các bậc học trong chính sách thuế. Chẳng hạn chi phí của bậc tiểu học và trung học không được chuyển làm giảm thu nhập khi tính thuế Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 7 Chi phí học ở mức cao hơn được trợ cấp từ thuế. - Ngoài ra, hệ thống thuế lũy tiến hiện hành ở nhiều quốc gia cho thấy rằng thu nhập nhận được từ thành công trong đầu tư vào nguồn nhân lực sẽ bị đánh với thuế suất cao hơn so với thuế suất trong trường hợp lựa chọn làm việc thay vì đi học. - Nếu bạn không đi học mà lựa chọn làm việc ở một nơi nào đó, bạn mất cơ hội có tiền lương cao hơn, nhưng tối thiểu bạn sẽ nộp thuế thấp hơn. Nếu bạn hy sinh việc làm ở cửa hàng thức ăn nhanh để đi học, lợi ích từ việc đi học sẽ bị đánh thuế với thuế suất cao hơn. Điều này khiến cho đầu tư vào nguồn nhân lực kém hấp dẫn. Do đó giống như đầu tư tài chính, tác động ròng của thuế đối với đầu tư nguồn nhân lực vẫn rất mơ hồ. 2. ĐÁNH THUẾ CHUYỂN NHƯỢNG VỐN - Nhiều tài sản sinh lời nhưng không phải dựa vào lãi suất mà là khoản lời vốn. - Một khoản lời vốn là chênh lệch giữa giá mua và giá bán tài sản. - Đây là nguồn gốc cơ bản của tiền lời của chính sách đầu tư như là chủ sở hữu nhà và doanh nghiệp. 2.1 Đánh thuế chuyển nhượng vốn- Chính sách thuế hiện hành của Mỹ - Thuế xử lý tiền lời vốn khác nhau từ thu nhập tiền lãi, tùy thuộc vào thời gian phát sinh tiền lời vốn. - Đánh thuế trên số tiền dồn tích: là thuế phải nộp tính theo thời gian số tiền lời kiếm được của tài sản đó, bao gồm thu nhập tiền lãi hoặc cổ tức. - Đánh thuế trên cơ sở phát sinh : là số thuế phải nộp trên tiền lời khi tài sản bán được. - Để minh chứng trợ cấp thuế từ trì hoãn nộp thuế trên tài sản, lưu ý $1 được đầu tư hôm nay dẫn đến một khoản sinh lời : = (1- t)(1+r) T – 1 - Trong đó t là thuế suất, r là tỷ suất sinh lời, T là khoản thời gian đầu tư. Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 8 - Sự đầu tư này chỉ bị đánh thuế khi tiền lời vốn được thực hiện tại thời điểm T. - Nói cách khác, đầu tư $1 hiện tại dẫn đến sinh lời: = (1+(1-t)r) T – 1 - Khi tiền lời đầu tư bị đánh thuế mỗi năm, đánh thuế tiền lời đầu tư nghĩa là có ít tiền dùng để đầu tư theo thời gian. - Ví dụ, hãy hình dung mua 1 bức tranh $100: gia tăng 10% mỗi năm trong 7 năm. Nếu như thuế chỉ phải nộp cho đến khi bán, đầu tư có trị giá $195 sau 7 năm và đánh thuế 20% thì chỉ nộp $95 tiền lời, tiền lời thuần còn lại $76. Nếu như đánh thuế dồn tích, tiền lời thực tế không phải là 10%, mà chỉ có 8%, đầu tư có trị giá $171 sau 7 năm, tiền lời thuần $71. → Đây là sự trợ cấp ngầm định đối với tiết kiệm trong hình thức tài sản tạo ra khoản lời vốn. - Trợ cấp được hiện thân trong thuế đánh vào khoản lời vốn, khó mà bốc tách ra khỏi hàng hóa “vốn” bởi vì: Không có khả năng để đo lường sự dồn tích đối với nhiều tài sản như là nhà ở. - Điểm xuất phát là giá mua tài sản quyết định tiền lời vốn. Đối với những tài sản được chuyển sang cho người thừa kế, điểm cơ bản này được tiến gần đến giá thị trường cho đến khi qua đời. Ví dụ, nếu như Betty mua một bức tranh $100, nắm giữ 55 năm, và bán nó trước khi cô ta qua đời $10,000, thì cô ta nợ thuế trên tiền lời là $9,900. Nếu như cô ta để bức tranh cho con cô ta, và chúng bán bức tranh này thì không có nộp thuế trên tiền lời vốn. - Luật thuế truyền thống đề cao loại trừ thuế đánh vào tiền lời vốn đối với nhà ở. Nhiều năm, sự loại trừ này cho phép các cá nhân không phải nộp thuế nếu như họ đưa tiền lời đó vào mua một nhà mới. Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 9 Thêm vào đó, có sự giảm trừ đối với khoản tiền lời $125,000 đối với những người có độ tuổi trên 55. Từ 1997 trở đi, tiền lời vốn lên đến $500,000 trừ bán nhà ở ban đầu là được miễn thuế. - Tiền lời vốn theo truyền thống gánh chịu thuế thấp so với các hình thức thu nhập khác. Điều này cho thấy thông qua các năm: Từ năm 1978 đến 1986, các cá nhân chỉ đánh thuế 40% của tiền lời vốn của họ trên tài sản nắm giữ hơn 6 tháng. Đạo luật cải cách thuế năm 1986 chấm dứt trợ cấp này và xử lý tiền lời vốn như những hình thức thu nhập khác với thuế suất tối thiểu 28%. Đạo luật cải cách thuế năm 1993 gia tăng thuế đánh vào thu nhập khác lên 39%, nhưng vẫn giữ mức thuế suất trần đánh vào tiền chuyển nhượng vốn 28%. Luật hỗ trợ người trả thuế năm 1997 giảm thuế suất trần đánh vào tiền chuyển nhượng vốn dài hạn xuống còn 20%, Đạo luật 2003 của Jobs và Growth giảm thuế suất trần xuống còn 15%. - Chính sách thuế về thu nhập vốn có khác nhau ở nhiều nước minh chứng qua bảng sau: THUẾ THU NHẬP VỐN CỦA CÁC NƯỚC TRONG NĂM 2000 Mỹ Canada Pháp Đức Italy Nhật Tây Ban Nha Vương Quốc Anh Thuế suất tối đa đối với thu nhập từ vốn Lãi từ tiền gửi ngân hàng 46,8% 48,6% 25,0% 53,8% 27,0% 20,0% 48,0% 40,0% Cổ tức 46,8% 48,6% 61,2% 53,8% 12,5% 50,0% 48,0% 40,0% Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 10 Chuyển nhượng vốn 20,0% 48,6% 26,0% 0 12,5% 26,0% 20,0% 40,0% 2.2 Đánh thuế vào chuyển nhượng vốn: những tranh luận về trợ cấp chuyển nhượng vốn - Tranh luận về trợ cấp chuyển nhượng vốn thường tập trung vào vấn đề gì? Bảo trợ chống lại lạm phát. Tính hiệu quả của giao dịch vốn. Vấn đề khuyến khích hoạt động của các chủ doanh nghiệp. 2.2.1 Do lạm phát, chính sách thuế hiện hành cường điệu hóa mức độ tiền lời vốn. - Thuế phải nộp tính trên tiền lời danh nghĩa, chứ không phải tiền lời vốn thực. Mức sinh lời danh nghĩa 10%, lạm phát 10% thì sinh lời thực là 0%. Nếu như một cá nhân nợ thuế tính trên tiền lời vốn 10%, nghĩa là thực tế anh ta trở nên bị thiệt đi. - Vấn đề lạm phát nó ảnh hưởng đến các hoạt động đầu tư khác. 2.2.2 Vấn đề thứ hai là tính hiệu quả của thị trường vốn. - Hiệu ứng khóa trong xảy ra khi các cá nhân trì hoãn bán tài sản vốn để tối thiểu hiện giá về thanh toán thuế đánh vào tiền lời vốn. - Hiệu ứng khóa trong nghĩa là các nhà đầu tư không triển khai tài sản của họ. 2.2.3 Cuối cùng, vấn đề khuyến khích hoạt động của các chủ doanh nghiệp, nhiều chủ doanh nghiệp mới bắt đầu kinh doanh có được sự giàu có không phải bắt nguồn từ thu nhập được tích trước khi tiến hành kinh doanh, mà là từ gia tăng giá trị công ty cơ bản. - Thuế suất đánh trên tiền lời vốn càng cao hơn thì làm nãn lòng chủ doanh nghiệp. Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 11 - Có 3 tranh luận đối lập nhau về vấn đề không khuyến khích các chủ doanh nghiệp: Lý thuyết cón mơ hồ liệu thuế suất cao khuyến khích hay không khuyến khích chấp nhận rủi ro. Chỉ có phần nhỏ tiền lời vốn đi vào chủ doanh nghiệp. Hạ thấp thuế suất đánh vào tiền lời vốn có ảnh hưởng cận biên( đối với doanh nghiệp đã thành lập) so với ảnh hưởng biên ( đối với doanh nghiệp mới) - Vấn đề này nhấn mạnh : cắt giảm thuế suất đánh vào tiền lời vốn => khuyến khích các doanh nghiệp phát triển kinh doanh. - Sự giảm thuế đánh vào tiền lời vốn tương lai => ấp dụng trong trường hợp đầu tư được thực hiện từ hôm nay trở đi. Không áp dụng ưu đãi thuế đối với đoanh nghiệp đã được thành lập => đối nghịch vói nền tảng cân bằng chiều ngang. - Minh chứng thực nghiệm cho thấy: Hạ thấp thuế suất đẫn đến:  Khuyến khích các chủ doanh nghiệp  Kkhoản tiền lời quá khứ được giải phóng ( unlock). Nếu như có sự ảnh hưởng “unlocking”, hạ thấp thuế suất đánh vào tiền lời vốn khuyến khích người ta bán tài sản ngay bây giờ hơn là không bán chúng, như thế một sự giảm thuế suất có thể gia tăng nguồn thu thuế. Thuế suất càng nhỏ dẫn đến cơ sở tiền lời vốn càng lớn. 2.3 Liên hệ thuế đánh vào hoạt động đầu tư vốn và chuyển nhượng vốn tại Việt Nam - Tại Việt Nam thuế đánh vào hoạt động đầu tư vốn và chuyển nhượng vốn đối với cá nhân được quy định tại sắc thuế thu nhập cá nhân. Đối với doanh nghiệp được quy định tại sắc thuế thu nhập doanh nghiệp. + Văn bản hiện hành: Luật thuế thu nhập cá nhân 04/2007/QH12, luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12. Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 12 +Thu nhập từ đầu tư vốn và chuyển nhượnng vốn của cá nhân - Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân các khoản thu nhập chịu thuế thu nhập về đầu tư vốn và chuyển nhượng vốn cá nhân bao gồm:  Thu nhập từ đầu tư vốn, bao gồm: - Thu nhập từ đầu tư vốn là khoản thu nhập cá nhân nhận được dưới các hình thức: a) Tiền lãi cho vay; b) Lợi tức cổ phần; c) Thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác, trừ thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ.  Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bao gồm: a) Thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn trong các tổ chức kinh tế; b) Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán; c) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn dưới các hình thức khác.  Cách tính thuế Số thuế thu nhập cá nhân phải nộp = Thu nhập tính thuế × Thuế suất Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 13 - Điều 23. Biểu thuế toàn phần Thu nhập tính thuế Thuế suất (%) a) Thu nhập từ đầu tư vốn 5 b) Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại 5 c) Thu nhập từ trúng thưởng 10 d) Thu nhập từ thừa kế, quà tặng 10 đ) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn quy định tại khoản 1 Điều 13 của Luật này Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán quy định tại khoản 2 Điều 13 của Luật này 20 0,1 e) Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản quy định tại khoản 2 Điều 14 của Luật này 25 2  Thực tiễn áp dụng thuế chuyển nhượng chứng khoán, thuế đánh trên cổ tức tại Việt Nam  Thuế đánh trên chuyển nhượng chứng khoán - Hiện nay, khuôn khổ pháp lý về thuế trong lĩnh vực chứng khoán được áp dụng các văn bản sau : Đối với tổ chức được điều chỉnh bởi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp TNDN) số 14/2002/QH12 ngày 3/6/2008, Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 3/6/2008 và các văn bản hướng dẫn. Thông tư 186/2010/TT-BTC ngày 18/11/2010 hướng dẫn chuyển lợi nhuận ra nước ngoài của các tổ chức, cá nhân nước ngoài có lợi nhuận từ việc đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo quy định của Luật Đầu tư. Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 14 Đối với cá nhân được điều chỉnh bởi Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007; Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế TNCN; Thông tư 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 hướng dẫn thi hành môt số điều Luật Thuế TNCN và Nghị định 100/2008/NĐ-CP; - Luật hiện hành quy định thuế chuyển nhượng chứng khoán tại Việt Nam được áp dụng như sau : Đối với doanh nghiệp: doanh nghiệp Việt Nam áp thuế 25% thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán, được xác định bằng chênh lệch mua bán chứng khoán (giá bán trừ giá mua trừ chi phí chuyển nhượng); doanh nghiệp nước ngoài mức áp là 0,1% tổng doanh thu bán chứng khoán tại thời điểm chuyển nhượng trừ giao dịch trái phiếu được miễn thuế. Đối với cá nhân: cá nhân cư trú được áp mức 20% đối với thu nhập ròng (trong trường hợp đăng ký nộp thuế theo biểu thuế toàn phần) hoặc 0,1% trên giá trị chuyển nhượng từng lần. Mọi trường hợp chuyển nhượng chứng khoán đều phải khấu trừ thuế trước khi thanh toán cho người chuyển nhượng; Cá nhân không cư trú thì mức áp thuế là 0,1% giá trị bán chứng khoán. Tuy nhiên, bất cập hiện nay đối với giao dịch mà chủ thể là nhà đầu tư cá nhân, nếu nhà đầu tư chọn cách nộp thuế với thuế suất 20% thì phải đăng ký với cơ quan thuế trước ngày 31/12 của năm liền trước, phải lập và hoàn thiện chứng từ về những chi phí hợp lý, hợp lệ với cơ quan thuế. Bên cạnh đó, nhà đầu tư vẫn phải tạm nộp 0,1% trên tổng giá trị mỗi lần chuyển nhượng chứng khoán và cuối năm mới thực hiện quyết toán thuế. Chính sự phức tạp và rất khó để thực hiện của cách nộp thuế này đã khiến phần lớn nhà đầu tư đều chọn cách nộp thuế tính 0,1% trên tổng giá trị mỗi lần chuyển nhượng.  Thuế đánh trên cổ tức Hầu hết các nhà đầu tư (NĐT) đều cho rằng việc đánh thuế trên cổ tức là “thuế chồng thuế”. Chưa nói tới mức thuế suất 5%, nhiều ý kiến đã cho rằng đánh Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 15 thuế cổ tức là có sự chồng chéo trong chính sách thuế, đánh thuế hai lần và đây là sự tận thu chưa công bằng. Khi NĐT nắm giữ cổ phiếu của một doanh nghiệp, đồng nghĩa với việc họ là cổ đông hay là một chủ sở hữu của doanh nghiệp đó. Vì vậy, khi doanh nghiệp chịu thuế TNDN cũng có nghĩa là NĐT phải chịu. Doanh nghiệp trả cổ tức nghĩa là doanh nghiệp trích một phần trong tổng thu nhập của mình để trả cho những người có tên trong danh sách cổ đông, như vậy thì cổ tức đã phải chịu một lần thuế TNDN. Cổ đông nhận cổ tức và phải chịu thêm mức thuế 5% sẽ bị thuế chồng lên thuế và không đúng với thuế TNCN. Việc phải chịu thuế tính trên cổ tức gây tâm lý bất bình cho các NĐT hơn là chi phí thuế mà họ phải gánh chịu. Bên cạnh đó, nếu đánh thuế TNDN chính là đã đánh thuế vào chủ sở hữu của DN hay chính là cổ đông của công ty – các NĐT. Vì vậy không nên phân biệt rạch ròi giữa hai chủ thể là DN và cổ đông trong trường hợp này. Tuy nhiên, để đạt được sự thống nhất của đối tượng chịu thuế với cơ quan quản lý cũng như các chuyên gia về vấn đề này là không đơn giản. Vì vậy có thể đưa ra giải pháp nếu đánh thuế cổ tức thì có thể giảm thuế thu nhập doanh nghiệp xuống, nhất là trong giai đoạn TTCK đang cần những yếu tố tích cực để khuyến khích phát triển và trở thành một trong những kênh dẫn vốn quan trọng, minh bạch cho nền kinh tế. Khi TTCK phát triển đến một quy mô lớn hơn thì có thể xem xét tăng thuế để tăng nguồn thu cho ngân sách. Một bất cập nữa trong việc đánh thuế cổ tức là việc thu thuế TNCN của các NĐT chủ yếu ở các doanh nghiệp niêm yết, trong khi giao dịch tự do, mua bán trao tay và chủ yếu bằng tiền mặt thì không ai kiểm soát và cũng không phải đóng thuế nên nếu đánh thuế rất dễ dẫn đến việc NĐT sẽ không tham gia thị trường giao dịch chính thức, làm chậm tiến độ cổ phần hóa, hạn chế các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán. Ngoài ra, việc tính thuế không công bằng, không hợp lý sẽ làm cho thị trường không phát triển mà còn có khả năng bị suy thoái như một số nước trước đây đã vấp phải. Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 16 Phản hồi lại các ý kiến trái chiều là các ý kiến của những người trong ngành, và có kinh nghiệm lâu năm. Các ý kiến được đưa ra nêu rõ, đây là việc đóng thuế của hai chủ thể khác nhau, doanh nghiệp thì đóng thuế TNDN còn cá nhân thì đóng thuế TNCN. Điều này cũng giống như người mua hàng vẫn phải chịu thuế VAT hoặc thuế tiêu thụ đặc biệt. Các sắc thuế này khác nhau nên không thể coi là đánh thuế trùng thuế. Nếu xét trên khía cạnh kinh tế với cách nhìn nhận đơn giản, tách bạch, cắt khúc quá trình kinh tế hay các chu kỳ sản xuất, kinh doanh của DN, thì quả thật là phần cổ tức được chia cho các cổ đông chính là một phần thu nhập của công ty và đã được xác định trong tổng thu nhập chịu thuế của công ty khi tính thuế và nộp thuế thu nhập DN. Tức là phần thu nhập này thực tế đã bị đánh thuế. Tuy nhiên, quá trình kinh tế của doanh nghiệp là sự liên tục của những chu kỳ sản xuất kinh doanh, và nếu quan niệm như theo kiểu cắt khúc nói trên thì còn có thể suy ra nhiều khoản thu nhập hay nguồn vốn khác cũng bị đánh thuế hai lần, thậm chí là rất nhiều lần. Trên thực tế áp dụng Luật Thuế thu nhập cá nhân đối với đầu tư chứng khoán đã bộc lộc một số điểm bất hợp lý, nên Bộ Tài chính đang nghiên cứu để tìm biện pháp khắc phục.  Một số bất cập và kiến nghị Để thị trường ổn định và phát triển, cần phải cân nhắc việc áp thuế chuyển nhượng chứng khoán như thế nào nhằm mục tiêu công bằng và hiệu quả cho tất cả các bên tham gia thị trường. Khi tính toán mức thuế cần phải cân nhắc đến chi phí và lợi ích cũng như khả năng áp dụng thuế chuyển nhượng chứng khoán trên thị trường. Cần phải có tính toán mức áp thuế và so sánh với những tổn thất do việc thực hiện thuế mang lại và đặc điểm phát triển của từng thời kỳ phát triển của TTCK. Xét về bản chất của loại thuế này là tính thuế trên thu nhập ròng, do đó trong quá trình xác định thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng chứng khoán phải xác định được phần doanh thu thu được từ việc chuyển nhượng chứng khoán và phần chi phí hợp lý, hợp lệ (trong đó có chi phí mua vào) của loại chứng khoán đó. Phần thu nhập sau khi đã trừ đi chi phí nói trên sẽ bị đánh thuế. Tuy nhiên, thu nhập từ chuyển nhượng của nhà đầu tư chứng khoán không phải chỉ một chiều là có lãi Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 17 do hoạt động kinh doanh chứng khoán có đặc thù về giá cả chứng khoán lên xuống hàng ngày, hàng giờ - nhà đầu tư không chớp đúng cơ hội sẽ chịu lỗ. Như vậy, trường hợp bị lỗ thì có được trừ vào thu nhập từ hoạt động kinh doanh để tính thuế hay chỉ cộng phần thu nhập có lãi vào thu nhập chịu thuế? Theo cách thu này thì phần thu nhập âm từ chênh lệch mua bán chứng khoán phải được cộng vào thu nhập khác để tính thuế TNDN, tức là đã tính đến việc phải bù lỗ. Việc xác định thu nhập chịu thuế có chính xác hay không còn phụ thuộc vào việc xác định giá mua, giá bán chứng khoán có chính xác hay không. Đối với các loại chứng khoán giao dịch trên SGDCK, thị trường UPCOM thì việc xác định giá mua, giá bán chứng khoán rất dễ vì chỉ cần căn cứ vào kết quả khớp lệnh chứng khoán tại SGDCK, thị trường UPCOM. Tuy nhiên, đối với các chứng khoán khác chưa niêm yết để giao dịch trên SGDCK, chưa đăng ký giao dịch trên thị trường UPCOM thì việc xác định giá mua, giá bán chứng khoán lại rất khó chính xác. Đối với các loại chứng khoán này, thông thường người mua và người bán có thể thỏa thuận miệng với nhau và theo nguyên tắc thuận mua vừa bán, sau đó doanh nghiệp có chứng khoán phát hành sẽ làm thủ tục chuyển nhượng từ người bán sang người mua mà không có bất kỳ hợp đồng có giá trị về mặt pháp lý nào để chứng minh giá mua giá bán thực tế. Việc người bán muốn khai giảm giá bán và người mua muốn khai tăng giá mua để giảm thu nhập tính thuế là điều khó tránh khỏi và khó có giải pháp để giải quyết triệt để. Bên cạnh đó, các chi phí phát sinh trong quá trình chuyển nhượng chứng khoán cũng là một vấn đề cần xem xét do phải xác định và quy định rõ đâu là chi phí hợp lý, hợp lệ được trừ ra khi tính thu nhập chịu thuế. Các chi phí phát sinh khi đàm phán hợp đồng, các chi phí hoa hồng môi giới... có được tính trừ vào thu nhập tính thuế hay không? Một thực tế là các chi phí này thực sự phát sinh nhưng thường không giống nhau và không có một quy chuẩn nào để xác định xem mức độ chi phí thế nào mới là hợp lý, hợp lệ. Do đó, rất khó có thể đưa các chi phí này vào khi tính thu nhập chịu thuế. Việc xác định chi phí hợp lý, hợp lệ thông thường chỉ bao gồm các loại phí phải nộp như chi phí để làm các thủ tục pháp lý cần thiết cho việc chuyển nhượng; các khoản phí và lệ phí phải nộp khi làm thủ tục chuyển nhượng; các chi phí giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng chuyển nhượng… Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 18 3. ĐÁNH THUẾ VÀO CHUYỂN GIAO TÀI SẢN 3.1 Khái niệm - Thuế chuyển giao tài sản là loại thuế phát sinh khi tài sản được chuyển từ cá nhân này sang cá nhân khác. 3.2 Phân loại - Thuế chuyển giao ở Mỹ chủ yếu có 2 dạng: Thuế quà tặng: là khoản thuế phải nộp khi bạn tặng cho ai đó món quà có giá trị trên một mức giá trị quy định nào đó Thuế di sản: là khoản thuế người thừa kế phải nộp khi nhận tài sản thừa kế do người thân qua đời để lại 3.3 Phân biệt giữa thuế quà tặng và thuế di sản - Thuế quà tặng là khoản thuế người tặng phải nộp dựa trên giá trị tài sản cho, tặng. Trong khi đó, thuế di sản là khoản thuế do người nhận phải nộp dựa trên giá trị toàn bộ di sản nhận được. - Thuế suất được áp vào giá trị sau thuế đối với quà tặng nhưng lại là giá trị trước thuế đối với di sản. - Ví dụ: 1 cặp vợ chồng muốn để lại cho con 15.000 đô. Cách 1: Họ có thể tặng ngay bây giờ cho con họ một món quà trị giá 10.000 đô và chịu 50% thuế, tức 5.000 đô. Cách 2: Họ để lại di sản cho con sau khi qua đời tổng số 15.000 đô, và tổng số tiền này chịu thuế 50%, tức 7500 đô, và con họ chỉ nhận được 7.500 đô. - Rõ ràng, con cái họ nhận được lợi ích nhiều hơn trong cách 1. - Tuy cách 1 có lợi thế hơn, nhưng những người giàu có cũng không tận dụng loại thuế quà tặng này bởi họ muốn giữ tài sản theo cách thức đảm bảo con cái họ hành xử sao cho có đạo lý nếu không muốn mất quyền thừa kế. 3.4 Ưu điểm và các quan điểm đối lập về thuế di sản Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 19 3.4.1 Ưu điểm của thuế di sản - Đây là phương tiện làm tăng nguồn thu mang tính lũy tiến. 3.4.2 Tuy nhiên, có 4 ý kiến khác đối lập về thuế di sản - Thứ nhất : Đánh thuế vào người chết là không đạo đức. Ý kiến thứ nhất dựa trên khía cạnh đạo đức, sẽ không hợp lý khi đánh thuế một cá nhận trên cái chết của người đó. - Thứ hai : thuế di sản chính là việc đánh thuế trùng. Khi một người còn sống, họ đã đóng các loại thuế thu nhập, thuế tài sản, nhưng đến khi họ mất, con cái họ lại phải chịu thuế trên khoản tài sản mà họ để lại. Điều này làm bóp méo quyết định tiết kiệm và giảm ý định để dành cho con cái. Nhưng có một số ý kiến khác đối lập với ý kiến thứ 2 này: thứ nhất hiện tượng đánh thuế trùng vốn là bình thường, ví dụ bạn dùng thu nhập sau thuế để mua một sản phẩm và phải nộp một khoản thuế chẳng hạn như thuế GTGT thì tức là bạn đã bị đánh thuế 2 lần. Ý kiến thứ 2: đánh thuế trùng không nhất thiết làm giảm động lực tiết kiệm, đôi khi ngược lại, sẽ là động lực để họ phấn đấu nhiều hơn nếu họ muốn để lại tài sản nhiều hơn cho con cái. - Thứ ba : Những khó khăn trong quản lý. Một vấn đề khó khăn phát sinh đó là thuế di sản có thể buộc người thừa kế phải bán đi tài sản thừa kế thì mới có tiền nộp thuế. Tuy nhiên, vấn đề này được khắc phục bằng cách giãn thời hạn nộp thuế hoặc miễn trừ đối với các tài sản đang tham gia sản xuất ra khỏi diện chịu thuế. - Thứ tư : Sự tuân thủ và công bằng. Ý kiến này cho rằng sẽ có những biện pháp để tránh không phải nộp thuế di sản thông qua các hợp đồng ủy thác. Ví dụ: cha , mẹ có thể ủy thác cho con cái của họ nhận tiền bảo hiểm mà không phải nộp thuế trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Từ đó, một số người cho rằng nếu thuế này không được tuần thủ nghiêm ngặt và không công bằng thì không nên thực hiện. Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 20 3.5 Liên hệ với Việt Nam - Hiện tại, ở Việt Nam, không tồn tại thuế chuyển giao tài sản dưới dạng thuế quà tặng hay thuế di sản, mà khi thực hiện chuyển giao tài sản chỉ phát sinh lệ phí trước bạ sang tên đối với các loại tài sản như nhà, đất, phương tiện vận tải, súng săn, súng thể thao. 4. THUẾ TÀI SẢN 4.1 Khái niệm - Thuế tài sản là tên gọi để chỉ sắc thuế lấy tài sản làm đối tượng đánh thuế. Đây là một loại thuế trực thu đánh vào tài sản của người sở hữu tài sản. Theo cách phân loại theo đối tượng đánh thuế thì thuế tài sản nằm trong một hệ thống thuế gồm 3 loại thuế: thuế đánh vào thu nhập; thuế đánh vào tiêu dùng (sử dụng thu nhập) và thuế đánh vào tài sản (thu nhập là được tích luỹ và vật chất hoá dưới dạng tài sản). - Việc phân biệt rõ đối tượng đánh thuế tài sản, đối tượng đánh thuế thu nhập và thuế tiêu dùng là hết sức quan trọng để không đánh thuế chồng chéo vào những thu nhập có cùng tính chất. Từ đó xác định chính xác thời điểm cũng như cơ sở đánh thuế thu nhập, thuế tiêu dùng và thuế tài sản. - Thuế tài sản là loại thuế được ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại với hình thức đầu tiên là thuế đất được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các xã hội cổ đại, vì lúc ấy, đất đai hầu như là tài sản duy nhất thật sự có giá trị và nhà nước có điều kiện thuận lợi để nắm chắc, quản lý và đánh thuế. Khi nền kinh tế-xã hội của các quốc gia ngày càng phát triển, trên thế giới dần xuất hiện nhiều loại của cải khác thuộc đối tượng đánh thuế tài sản. Thông thường, việc đánh thuế vào tài sản không tính đến nguồn gốc thu nhập tạo ra tài sản có từ đâu, lúc nào… mà chỉ quan tâm đến trị giá tài sản của chủ thể có quyền sở hữu (hoặc quyền sử dụng) vào thời điểm nhất định. 4.2 Phạm vi tác động Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 21 - Phạm vi tác động của thuế tài sản là nguồn gốc của những tranh luận dai dẳng giữa những nhà kinh tế chuyên tài chính công ít nhất vì hai lý do. Thứ nhất thuế tài sản là nguồn sử dụng để tài trợ cho chi tiêu của chính quyền địa phương – chi tiêu này là giá trị đối với người chủ sở hữu tài sản. Do vậy, thuế tài sản trên giác độ nào đó là giá mà mỗi địa phương đưa ra để tài trợ cho việc cung cấp hàng hóa công ở mức tối ưu. Ví dụ, một địa phương tại đó tất cả dân cư đều định giá của hàng hóa công chính là số thuế mà họ phải nộp. Cho nên sẽ không có gánh nặng đối với thuế tài sản; đây đơn giản chỉ là giá cả mà dân cư tự nguyện trả cho hàng hóa công. Nhưng những hộ gia đình không đánh giá giá trị của hàng hóa công bằng tổng số thuế mà họ phải trả có thể gánh chịu gáng nặng thuế tài sản. Lý do thứ hai cho những tranh luận về thuế tài sản chính là thuế này đánh trên đất và tất cả tài sản trên đất. Sự phân biệt như vậy là quan trọng bởi vì mặc dù cung về đất đai là hoàn toàn không co dãn nhưng các tài sản trên đất là dạng của đầu tư dài hạn (trong dài hạn thì cung co dãn). Như trường hợp đánh thuế vào vốn của doanh nghiệp, thuế đánh vào tài sản trên đất trong dài hạn sẽ đặt gánh nặng trên một số người như nhân công xây dựng các công trình trên đất hay nhà đầu tư trong khu vực xây dựng. Thực tế, nhiều quan điểm phân tích cho rằng thuế tài sản nhìn chung cũng là thuế vốn, và gánh nặng của thuế này sẽ chia sẻ cho tất cả những người sở hữu vốn. - Như vậy, kết luận cuối cùng về phạm vi tác động của thuế tài sản là không rõ ràng. Tối thiểu thì gánh nặng thuế cũng đặt lên hai nhóm có thu nhập cao: người sở hữu đất và người sở hữu vốn. Kết quả này hàm ý rằng thuế tài sản cần phải lũy tiến hơn là mức mà người trả hóa đơn thuế cảm nhận được. 4.3 Các loại thuế tài sản - Thuế tài sản không nhất thiết phải bằng nhau đối với tất cả các loại tài sản. Trên thực tế, có hai sự phân biệt quan trọn phải được đặt ra khi đánh thuế tài sản. 4.3.1 Nhà ở và tài sản kinh doanh Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 22 - Sự phân biệt thứ nhất khi thiết kế thuế tài sản là phân biệt giữa nhà để ở và tài sản để kinh doanh. Một số ý kiến cho rằng để khuyến khích phát triển kinh tế thì thuế đánh vào tài sản dùng để kinh doanh cần thấp hơn thuế đánh vào nhà ở. Nhưng điều này không chắc sẽ mang lại lợi ích cho những người kinh doanh nhà đủ bằng số thuế mà chính quyền địa phương sẽ mất đi. - Mặc dù, giảm thuế để hấp dẫn hoạt động kinh doanh là một ý tưởng tốt ở cấp địa phương, nhưng trên giác độ tổng thể một quốc gia thì đây là một chính sách tồi. Với quốc gia thì điều tốt hơn là doanh nghiệp sẽ đặt vị trí ở đâu cho hiệu quả nhất chứ không phải ở chỗ nào mà doanh nghiệp được giảm thuế ở mức tối đa. Hơn nữa, chính sách giảm thuế tài sản có thể dẫn đến “cuộc đua xuống đáy” vì khi một chính quyền địa phương giảm thuế tài sản để thu hút hoạt động kinh doanh thì kéo theo các chính quyền địa phương khác hành động tương tự. Quá trình này dẫn đến vòng xoáy tự thất bại trong việc cắt giảm thuế. Vòng xoáy này không có tác dụng đến việc quyết định địa điểm hoạt động nhưng lại làm nguồn thu thuế tài sản giảm đi đáng kể. 4.3.2 Đất và tài sản trên đất - Sự phân biệt thứ hai phải được đặt ra khi xây đựng chính sách thuế tài sản là sự phân biệt giữa đánh thuế đất và đánh thuế đối với tài sản trên đất như nhà ở, tòa nhà văn phòng hay trung tâm mua sắm … việc phân biệt này được Hanry Geogre – một nhà tư tưởng của thế kỷ XIX, cho rằng thu nhập nhận được từ lao động và vốn phản ánh năng suất hoạt động của các yếu tố này, nhưng thu nhập nhận được từ sở hữu đất đai thì không. Người sở hữu đất đai phải chịu thuế một mình bởi vì ông ta sở hữu đất chứ không phải bởi vì các nỗ lực đưa đất đai vào sản xuất. Do vậy, Geogre đưa ra một kiến nghị mang tính căn bản: giảm thiểu thuế đánh vào lao động và vốn, thay vào đó đơn giảm đánh thuế vào các tài sản trên đất. Geogre không đề xuất việc đánh thuế vào các tài sản trên đất vì sẽ làm xói mòn tài sản của người sở hữu. 4.4 Ưu nhược điểm của thuế tài sản 4.4.1 Ưu điểm Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 23 - Khó trốn thuế một cách hợp pháp. Tài sản thể hiện rõ ràng và tương đối cố định, do vậy không thể dễ dàng che đậy hoặc di dời trong ngắn hạn sang một địa điểm khác nhằm trốn thuế. - Có hiệu quả về kinh tế. Tính cố định của tài sản giảm thiểu sự can thiệp vào quá trình phân bổ nguồn lực. Là nguồn thu tiềm năng. Với độ co giãn cao theo thu nhập của sở hữu tài sản tại các nước phát triển, thuế tài sản có thể là một công cụ tạo nguồn thu rất lớn cho ngân sách. - Tương đối ổn định. Thuế tài sản ít chịu ảnh hưởng khi có điều chỉnh nhỏ và thay đổi thuế suất, do vậy giảm sự căng thẳng thuế (tax tension) và nâng cao khả năng dự báo trước về nguồn thu. - Có tính cưỡng chế cao. Tài sản có thể bị tịch thu và bán để bù đắp cho số tiền nợ thuế. - Hỗ trợ tính tự chủ của địa phương. Thuế tài sản nâng cao mức độ hưởng ứng đối với những ưu tiên của địa phương, và trợ giúp trong công tác dự thảo ngân sách khi gắn các khoản chi tiêu tăng thêm với chi phí thuế của chúng. - Thay thế cho thuế thu nhập địa phương. Mối quan hệ gần gũi giữa giá trị tài sản với mức thu nhập dài hạn của các căn nhà do chủ hộ cư trú [không cho thuê: ND] cho phép thuế tài sản thay cho thuế địa phương đánh vào thu nhập trung bình trong nhiều năm. - Có mối tương quan với lợi ích nhận được. Khi sử dụng thuế tài sản để tài trợ cho hàng hóa công trên địa bàn thì sắc thuế này phần nào tương ứng với mức độ tiêu dùng hàng hóa công đó. - Nhìn chung có tính lũy tiến. Với việc phân bổ sở hữu vốn và đất đai theo nhóm thu nhập, gánh nặng thuế có tính lũy tiến là chủ yếu, trừ các tác động tiêu thụ đặc biệt do chênh lệch mức thuế suất giữa các địa phương khác nhau, và các trường hợp mà người chủ sở hữu vốn không phải là người tiêu dùng dịch vụ chịu thuế. 4.4.2 Nhược điểm Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 24 - Có nhiều người phải nộp thuế theo luật định. Mặc dù cơ sở thuế rộng sẽ nâng cao tính công bằng và hiệu quả phân bổ nhưng nó cũng làm tăng tác động chính trị và sự chống đối của dân chúng khi tăng thuế cho dù rất ít. - Tính hiển hiện cao. Cơ chế nộp thuế chủ động (thay vì giữ lại giống như thuế thu nhập trên bảng lương) và tiền nộp thuế lớn (thay vì trả theo các khoản tăng không đáng kể giống như thuế doanh thu) làm tăng nhận thức và tâm lý thù ghét đối với gánh nặng thuế tài sản. - Cơ sở định giá tài sản không khách quan. Các ước tính về giá trị tiền thuê thường được cho là tuỳ tiện và không đáng tin cậy, và công tác quản lý thuế kém thường dẫn đến tình trạng bất bình đẳng theo chiều ngang. - Không có mối quan hệ trực tiếp với khả năng chi trả. Sự không tương ứng giữa thu nhập với tình trạng giàu có thể hiện bằng bất động sản có thể dẫn đến việc người nộp thuế giàu có về tài sản nhưng lại nghèo tiền mặt. - Khả năng làm trầm trọng sự chênh lệch về của cải giữa các vùng. Tại các nước mà địa phương có thẩm quyền quyết định mức thuế suất và chi tiêu thì những địa phương vốn giàu thường trở nên giàu hơn trong khi địa phương đã nghèo thì càng nghèo hơn. - Nguy cơ đe dọa đến tính thiêng liêng của sở hữu tài sản tư nhân. Người ta thường coi chính sự tồn tại của thuế tài sản là một mối đe dọa đối với khoản đầu tư vốn quan trọng cả đời của một gia đình, do vậy gây nên những phản ứng thù nghịch bản năng vượt hơn độ lớn của chính thuế tài sản. 4.5 Kết luận - Vấn đề cơ bản của hệ thống thuế khi phân biệt giá trị đất và giá trị của các tài sản trên đất là giá trị thị trường không được sử dụng khi đánh thuế vì: giá trị thị trường bao gồm cả giá trị của đất công và giá trị của các tài sản trên đất - Do bản chất của thuế tài sản là bổ sung cho thuế thu nhập nên cần được phân tích, xem xét thận trọng, trong mối quan hệ với các loại thuế trực thu để khắc phục được tình trạng đánh thuế trùng lặp, chồng chéo, không kìm hãm phát triển Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 25 sản xuất kinh doanh, không làm nhạt ý chí làm giàu chính đáng của các tầng lớp dân cư. Về mặt quản lý, thuế tài sản cũng có những đặc điểm phức tạp riêng do khả năng che giấu tài sản (trừ nhà, đất), đặc biệt là trốn tránh khai báo chuẩn xác giá trị tài sản vốn là căn cứ tính thuế cơ bản của sắc thuế này, tạo nên tình trạng thực hiện thiếu công bằng. Vì vậy, cần phải tính toán, xây dựng các biện pháp quản lý, thu thuế sát đúng, mang tính khả thi, hạn chế thất thu đến mức thấp nhất. 4.6 Liên hệ Việt Nam - Ở nước ta tuy chưa có sắc thuế nào có tên là thuế tài sản, nhưng đối chiếu với cơ sở lý luận về tài sản và thuế tài sản ở một số nước thì có một số sắc thuế và lệ phí hiện hành mang tính chất của thuế tài sản như thuế sử dụng đất nông nghiệp đánh vào tổ chức hoặc cá nhân được Nhà nước giao quyền sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp; thuế đất đánh vào tổ chức hoặc cá nhân được Nhà nước giao quyền sử dụng đất để xây dựng nhà ở, công trình. Hai sắc thuế trên đều thuộc loại thu hàng năm, nhằm động viên một phần thu nhập của tổ chức, cá nhân được giao quyền sử dụng đất thuộc sở hữu quốc gia vào các mục đích khác nhau. Tương tự như vậy, lệ phí trước bạ là khoản thu một lần đánh vào tổ chức, cá nhân có tài sản thuộc diện Nhà nước quản lý khi thực hiện thủ tục để công nhận tính pháp lý về quyền sử dụng hay quyền sở hữu tài sản đó. Đây là một khoản thu nhằm động viên sự đóng góp của chủ tài sản và mang rõ nét tính chất của thuế tài sản. Ngoài ra, còn có một số khoản thuế hoặc thu khác có liên quan đến đất đai, tài sản nhưng không mang tính chất của thuế tài sản như: tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là khoản thu mang tính chất của tiền thuê đất trong một thời gian nhất định đối với tổ chức, cá nhân cần dùng một số diện tích đất để xây dựng nhà ở, xây dựng công trình hoặc hoạt động kinh doanh; Thuế chuyển quyền sử dụng đất là khoản thu mang tính chất của thuế thu nhập đánh vào tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng đất khi thực hiện việc chuyển nhượng quyền đó cho người khác; Thuế tài nguyên là khoản mang tính chất chuyển nhượng tài nguyên thiên nhiên của quốc gia do Nhà nước quản lý sang tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên, giống như các cơ sở sản xuất, kinh doanh bán các loại nguyên nhiên vật liệu để sản xuất, kinh doanh. Thuế đánh vào hoạt động đầu tư và tài sản Nhóm 6 – NH Đêm 4 K22 Trang 26 - Nhìn tổng quát, từ đặc thù về đất đai thuộc sở hữu toàn dân của Việt Nam, các sắc thuế liên quan đến tài sản hiện nay của nước ta có nhiều điểm chưa rõ nét, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, trong một số trường hợp, có sự lẫn lộn giữa thuế và lệ phí. Nguồn thu từ các khoản thuế liên quan đến tài sản chỉ chiếm khoảng 3-4% tổng số thuế của NSNN và chưa chiếm vị trí quan trọng trong ngân sách địa phương như hầu hết ở các nước khác… Đó là những điểm cơ bản cần lưu ý khi xây dựng thuế tài sản ở Việt Nam trong những năm sắp tới. Tại các nước phát triển, thuế tài sản là nguồn thu chính chiếm 40 - 50% tổng số thu thuế tại các đô thị như Mexico, Brazil, Ấn Độ, Indonesia… và nó thường chiếm từ 15% - 40% trong thu ngân sách địa phương. Tuy nhiên, ở Việt Nam, loại thuế này mới chỉ chiếm khoảng 0,7% tổng thu ngân sách địa phương. Chủ yếu thu từ nhà đất. - Cùng với thành tựu trên 20 năm đổi mới của đất nước, thu nhập, đời sống tuyệt đại bộ phận nhân dân ngày càng tăng lên nhanh chóng. Việc xây dựng nhà cửa khang trang, mua sắm tài sản có giá trị lớn đang phát triển mạnh từ thành thị đến nông thôn. Theo đó, chênh lệch giàu nghèo cũng ngày càng gia tăng. Do vậy, cần có chính sách thuế liên quan đến tài sản phù hợp tình hình mới, vừa khai thác thêm nguồn thu cho NSNN, vừa đảm bảo mục tiêu công bằng xã hội trong chính sách động viên. Mặt khác, thực hiện các cam kết trong quá trình hội nhập, nguồn thu về thuế nhập khẩu của nước ta giảm nhiều; các sắc thuế nội địa, trong đó có các sắc thuế liên quan đến tài sản cần được cải cách để bù đắp khoản thu bị giảm sút, đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng, bảo đảm mối quan hệ hữu cơ trong hệ thống chính sách thuế mới. Trước thực tế các quan hệ tài sản, nhà, đất đang biến động khá phức tạp, đa dạng cả trong phạm vi quốc gia và quốc tế, chính sách thuế liên quan đến tài sản cần phải có những chế tài rõ ràng hơn để góp phần tích cực vào yêu cầu kiểm kê, kiểm soát vừa phù hợp cơ chế thị trường định hướng XHCN và vừa phù hợp với thông lệ quốc tế.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnoi_dung_fi_0203.pdf
Luận văn liên quan