Tiền lương tối thiểu - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cho khoá luận tốt nghiệp của mình

Thế giới bước sang một thiên niên kỷ mới và đang dần đi hết thập kỷ đầu của thiên kỷ mới. Thế giới đổi thay, đất nước ta cũng có nhiều thay đổi. Xu thế thế giới là hội nhập toàn cầu. Hoà chung xu thế ấy, Việt Nam cũng đang thay đổi, tạo điều kiện để đất nước hội nhập tốt hơn, theo kịp bạn bè năm châu. Thời thế hội nhập tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Nền kinh tế những năm qua không ngừng tăng trưởng nhanh, và rất nhanh, tốc độ tăng trưởng khá cao, vượt chỉ tiêu đề ra rất nhiều. Bên cạnh đó, trình độ khoa học kỹ thuật của đất nước cũng không ngừng tăng nhanh, bắt kịp với khoa học thế giới. Xu thế hội nhập đã tạo nhiều thuận lợi để nước ta phát triển, nhưng bên cạnh những thuận lợi ấy cũng không tránh khỏi nhiều khó khăn mà chúng ta gặp phải, như : Mức sống của người dân còn thấp, chỉ trên 640 USD/ người/ năm. So với thế giới, mức thu nhập là rất thấp. Bên cạnh đó, tình trạng lạm phát vẫn còn tồn tại, mức sống và mức tiêu dùng tối thiểu so với thu nhập thực tế là rất cao. Đó là điều bất lợi với nền kinh tế, kìm hãm rất nhiều cho sự phát triển của kinh tế đất nước. Thêm vào đó, các công ty nước ngoài vào đầu tư tại Việt Nam ngày càng nhiều. Để thu hút lao động có trình độ, họ không ngại đưa ra chính sách tiền lương hấp dẫn. Gây khó khăn không nhỏ cho chính sách lao động của các doanh nghiệp trong nước. Mức thu nhập thấp cũng một là nguyên nhân gây nên vấn đề chảy máu chất xám những năm vừa qua, là vấn đề khá đau đầu với Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trước tình hình ấy, để phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong nước và tình hình chung của thế giới, Đảng và Nhà nước đã không ngừng thay đổi và ban hành mới các quy định về tiền lương tối thiểu. Có thể nói, tiền lương tối thiểu là một trong những vấn đề quan trọng được các ngành, các cấp, đoàn thể,

doc68 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 26/02/2013 | Lượt xem: 8777 | Lượt tải: 43download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiền lương tối thiểu - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cho khoá luận tốt nghiệp của mình, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
o chí, phát thanh và truyền hình nước ngoài. - Văn phòng các dự án, chi nhánh công ty nước ngoài, văn phòng đại diện các tổ chức: kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, khoa học - kỹ thuật văn hoá, giáo dục, y tế, tư vấn pháp luật, của nước ngoài, chi nhánh tổ chức luật sư, nước ngoài dược phép hoạt động tại Việt Nam. - Người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài lưu trú tại Việt Nam có thuê lao động là người Việt Nam. * Thẩm quyền quyết định và công bố mức lương tối thiểu áp dụng cho khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Chính phủ có thẩm quyền quuyết định và công bố mức lương tối thiểu trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài qua hình thức pháp lý là nghị định. Trong trường hợp Chính phủ uỷ quyền thì Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định và mức lương tối thiểu áp dụng cho khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. * Trình tự thủ tục quyết định và công bố mức lương tối thiểu trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cũng tương tự như việc công bố tiền lương tối thiểu chung. Do chiến lược phát triển thu hút đầu tư ở Việt Nam và bảo vệ quyền lợi cho người lao động nên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ngoài việc lấy ý kiến của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, dại diện người sử dụng lao động còn phải lấy thêm ý kiến của Bộ Kế hoạch và đầu tư, sau đó sẽ tổng hợp các ý kiến và trình Chính phủ công bố mức lương tối thiểu áp dụng trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thông qua hình thức pháp lý là nghị định. Trong trường hợp được Chính phủ uỷ quyền thì Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sau khi lấy ý kiến của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, đại diện người sử dụng lao động, Bộ Kế hoạch và đầu tư sẽ ra Quyết định công bố mức lương tối thiểu. * Mức lương tối thiểu hiện nay được áp dụng cho lao động làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 900.000 đến 1.000.000 đồng/tháng tuỳ thuộc vào địa bàn hoạt động của các doanh nghiệp. Cụ thể: - Mức 1.000.000 động/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn các quận thuộc thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh. - Mức 900.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn các huyện thuộc thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh; các quận thuộc thành phố Hải Phòng; thành phố Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh; thành phố Biên Hoà, thị xã Long Khánh, các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, Vĩnh Cửu và Trảng Bom thuộc tỉnh Đồng Nai; thị xã Thủ Dầu Một, các huyện Thuận An, Dĩ An, Bến Cát và Tân Uyên thuộc tỉnh Bình Dương; thành phố Vũng Tàu thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. - Mức 800.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên các địa bàn còn lại. Khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực tế bị giảm sút thì Chính phủ hoặc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ có thẩm quyền điều chỉnh mức lương tối thiểu ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài để bảo đảm tiền lương thực tế. c. Tiền lương tối thiểu vùng Do điều kiện kinh tế - xã hội đất nước và nhu cầu hội nhập, từ ngày 01/01/2008, Việt Nam chính thức áp dụng chính sách tiền lương tối thiểu vùng. Hiện nay ở Việt Nam, văn bản pháp lý đang trực tiếp điều chỉnh tiền lương tối thiểu vùng bao gồm các văn bản điều chỉnh tiền lương tối thiểu chung, ngoài ra còn có: Nghị định số 167/2007/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hơp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tố chức khác của Viêt Nam có thuê mướn lao động. Thông tư số 29/2007/TT-BLĐTBXH ngày 05/12/2007 hướng dẫn thực hiện mức lương tối thiểu chung, mức lương tối thiểu vùng đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ. Thông tư số 30/2007/TT-BLĐTBXH ngày 05/12/2007 hướng dẫn thực hiện mức lương tối thiểu chung, mức lương tối thiểu vùng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động. * Phạm vi và áp dụng tiền lương tối thiểu vùng bao gồm: 1. Công ty được thành lập, tổ chức qủan lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước. 2. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ được tổ chức quản lý và họat động theo Luật Doanh nghiệp. 3. Doanh nghiệp thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (không bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). 4. Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động. Các công ty, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân quy định trên gọi chung là doanh nghiệp. * Thẩm quyền quyết định và công bố mức lương tối thiểu áp dụng cho vùng: Chính phủ có thẩm quyền quuyết định và công bố mức lương tối thiểu vùng qua hình thức pháp lý là nghị định. Trong trường hợp Chính phủ uỷ quyền thì Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định và mức lương tối thiểu áp dụng cho từng vùng. * Trình tự thủ tục quyết định và công bố mức lương tối thiểu vùng cũng tương tự như việc công bố tiền lương tối thiểu chung. Do chiến lược phát triển thu hút lao động ở Việt Nam và bảo vệ quyền lợi cho người lao động nên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội lấy ý kiến của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, đại diện người sử dụng lao động sau đó sẽ tổng hợp các ý kiến và trình Chính phủ công bố mức lương tối thiểu áp dụng cho từng vùng thông qua hình thức pháp lý là nghị định. Trong trường hợp được Chính phủ uỷ quyền thì Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sau khi lấy ý kiến của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, đại diện người sử dụng lao động, sẽ ra Quyết định công bố mức lương tối thiểu. * Mức lương tối thiểu hiện nay được áp dụng cho lao động làm việc theo vùng là 540.000 đến 580.000 đến 620.000 đồng/tháng tuỳ thuộc vào vùng hoạt động của người sử dụng lao động. Cụ thể: - Mức 620.000 đồng/tháng áp dụng đối với các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn các quận thuộc thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. - Mức 580.000 đồng/tháng áp dụng đối với các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn các huyện thuộc thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, các quận thuộc thành phố Hải Phòng, thành phố Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh, thành phố Biên Hòa, thị xã Long Khánh, các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, Vĩnh Cửu và Trảng Bom thuộc tỉnh Đồng Nai, thị xã Thủ Dầu Một, các huyện Dĩ An, Thuận An, Bến Cát và Tân Uyên thuộc tỉnh Bình Dương, thành phố Vũng Tàu thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. - Mức 540.000 đồng/tháng áp dụng đối với các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn các tỉnh còn lại. Khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực tế bị giảm sút thì Chính phủ hoặc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ có thẩm quyền điều chỉnh mức lương tối thiểu ở từng vùng để bảo đảm tiền lương thực tế. * Ngoài các loại tiền lương tối thiểu trên, tại Điều 56 Bộ Luật lao động đã được sửa đổi bổ sung ngày 02/04/2002, cho phép các đơn vị, tổ chức sử dụng lao động được áp dụng mức lương tối thiểu riêng cho đơn vị, tổ chức mình với điều kiện cao hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Đây là quy định có lợi cho người lao động, tuy nhiên, trên thực tế rất ít doanh nghiệp áp dụng mức lương tối thiểu cao hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định bởi vì điều này ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của doanh nghiệp. 2.2.3. Xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về tiền lương tối thiểu Khi tham gia quan hệ lao động, tiền lương là trung tâm thu hút sự quan tâm của người lao động và người sử dụng lao động. Bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích của các bên, đồng thời xác định nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi tham gia quan hệ pháp luật lao động. Trên thực tế, các tranh chấp phát sinh giữa người lao động và người sử dụng lao động phần lớn bắt nguồn từ tiền lương, bởi vì nó là sâu xa của mọi vấn đề khi quyền lợi của các bên bị xâm phạm. Có rất nhiều dạng vi phạm pháp luật về tiền lương, tuy nhiên trong phạm vi khoá luận này chỉ trình bày vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu. a. Xử lý vi phạm Hiện nay ở nước ta, văn bản điều chỉnh vấn đề này là Nghị định số 113/2004/NĐ-CP ngày 16/04/2004 quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động. * Các dạng vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu Hiện nay, các hành vi vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu ngày càng nhiều, tựu trung lại có hai dạng vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu: Thứ nhất, hành vi trả lương cho người lao động thấp hơn tiền lương tối thiểu do nhà nước quy định. Theo Điều 55 Bộ Luật lao động thì: “mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà nước quy định”. Mọi hành vi trả lương cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu về nguyên tắc đều bị coi là vi phạm pháp luật. Vấn đề đặt ra ở đây là phải xác định như thế nào là hành vi “trả lương cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu”. Bởi vì, có những trường hợp trên thực tế mặc dù mức trả lương cho người lao động thấp hơn lương tối thiểu nhưng lại không bị coi là vi phạm pháp luật. Chẳng hạn lao động A được trả lương 350.000 đồng/tháng với công việc là nhân viên trực điện thoại theo giờ (làm việc 2 giờ vào buổi sáng các ngày 2,4,6 trong tuần). Mặc dù mức lương thực tế trả cho A thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định nhưng lại không bị coi là vi phạm pháp luật vì: Mức lương tối thiểu theo quy định của pháp luật được áp dụng trong điều kiện làm việc bình thường (8h một ngày). Trong ví dụ trên, thời gian làm việc của người lao động trong một ngày làm việc thấp hơn thời gian chuẩn nên mức lương người lao động được trả không thấp hơn mức lương tối thiểu, do đó không bị coi là vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu. Như vậy, khi xác định hành vi vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu chúng ta không chỉ nhìn vào mức lương mà người lao động được hưởng mà phải trên cơ sở tính toán, chế độ lao động, định mức lao động, thời giờ làm việc... Thứ hai, hành vi trả lương bằng lương tối thiểu cho người lao động làm công việc yêu cầu trình độ chuyên môn kỹ thuật đã qua đào tạo, hoặc điều kiện lao động không bình thường, hoặc cường độ lao động không nhẹ nhàng nhất. Đây là hành vi vi phạm phổ biến về tiền lương tối thiểu hiện nay, bởi người sử dụng lao động luôn biện minh rằng mình đã trả lương không thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà nước quy định. Với loại hành vi vi phạm này, chỉ cần có một trong các hành vi trên đã bị coi là vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu rồi mà không cần cả ba hành vi trên. * Trách nhiệm pháp lý áp dụng khi vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu. Hiện nay ở Việt Nam có bốn loại chế tài áp dụng cho người có hành vi vi phạm pháp luật lao động là: Chế tài hành chính, dân sự, kỷ luật và hình sự. Tuy nhiên, với hành vi vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu hiện nay chỉ mới áp dụng hai loại chế tài đó là chế tài hành chính và dân sự. Mặc dù theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế, thì hành vi trả lương cho người lao động thấp hơn mức lương lương tối thiểu do Nhà nước quy định phải chịu các biện pháp chế tài, kể cả chế tài hình sự nếu cần thiết và nghiêm trọng. Nhưng trong Bộ Luật hình sự năm 1999 chưa có một điều khoản nào quy định hành vi trả lương cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu là phạm tội. Đây cũng là vấn đề đáng lưu ý trong pháp luật nước ta, bởi có những hành vi vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu nghiêm trọng làm ảnh hưởg tới trật tự trị an xã hội. Như vậy nên chăng có quy định chế tài hình sự cho loại tội phạm mới này. Còn chế tài kỷ luật hiện nay cũng không dược áp dụng trên thực tế bởi vì ở khu vực Nhà nước hầu như không có vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu. Về trách nhiệm hành chính, trước kia được quy định trong Nghị định số 38/CP ngày 25/06/1996 xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động. Theo đó, mức phạt tiền là: 3.000.000 đồng đối với một hành vi vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu đã nêu trên. Nghị định số 38/CP đã tạo ra cơ sở pháp lý để phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu, góp phần ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm. Tuy nhiên, việc quy định mức phạt tiền 3.000.000 đồng chung đối với các hành vi vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu là chưa hợp lý, bởi có nhiều dạng vi phạm khác nhau với tính chất, mức độ không giống nhau. Năm 2002, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật lao động và Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2003 có quy định về xử lý vi phạm trong vấn đề tiền lương. Mặt khác, các hành vi vi phạm pháp luật ngày càng tăng về số lượng và mức độ nghiêm trọng, thậm chí còn xuất hiện các dạng vi phạm mới mà pháp luật trước đó chưa dự liệu điều chỉnh hết. Những quy định của Nghị định số 38/CP trước tình hình mới đã trở nên lỗi thời, nảy sinh nhiều mâu thẫn, đòi hỏi phải có sự thay đổi để phù hợp với tình hình mới. Do đó, ngày 16/04/2004 Chính phủ ra Nghị định số 113/2004/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động để thay thế. Đồng thời năm 2006 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động, đã hoàn thiện hơn các chế tài xử lý khi vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu. Hiện nay mức xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật về lương tối thiểu từ 1.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng tuỳ thuộc vào mức độ vi phạm của người sử dụng lao động. Ngoài ra, nghị định còn quy định biện pháp khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây nên là buộc người sử dụng lao động phải bồi thường những thiệt hại cho người lao động. Ngoài trách nhiệm hành chính, người sử dụng lao động có thể phải bồi thường thiệt hại cho người lao động khi có hành vi vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu. Theo nguyên tắc bồi thường thiệt hại phải đầy đủ, kịp thời, không chỉ với các thiệt hại trực tiếp mà cả thiệt hại gián tiếp. Do đó, người sử dụng lao động, ngoài việc phải bồi hoàn số tiền lương đã trả thiếu cho người lao động mà đáng ra họ được hưởng, còn phải bồi thường thiệt hại do hành vi trả lương thiếu gây ra làm ảnh hưởng tới cuộc sống cả về vật chất lẫn tinh thần của họ. Việc tính toán bồi thường thiệt hại phải trên cơ sở thực tế và tính đúng, tính đủ các thiệt hại trong thực tế. Để đảm bảo người lao động có thể sử dụng tiền bồi thường đó để bù đắp những thiệt hại về vật chất lẫn tinh thần và khắc phục những khó khăn do hành vi vi phạm gây ra. b. Tranh chấp về tiền lương tối thiểu và giải quyết tranh chấp về tiền lương tối thiểu Tranh chấp lao động về tiền lương tối thiểu hiện nay có hai loại, đó là tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp tập thể giữa tập thể người lao động và người sử dụng lao động. Hiện nay ở nước ta, tranh chấp về tiền lương tối thiểu chủ yếu xảy ra bởi những nguyên nhân sau: Một là, người sử dụng lao động trả lương cho người lao động thấp hơn so với mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Hai là, sau khi đấu tranh, người sử dụng lao động đã đồng ý trả lương cho người lao động đủ do với lương tối thiểu do Nhà nước quy định nhưng để làm được điều đó lại cắt giảm các khoản phụ cấp mà trước đó có quy định trong hợp đồng lao động vẫn còn hiệu lực. Ba là, dưới sự tác động của các quy luật của nền kinh tế thị trường, tiền lương thực tế của người lao động bị giảm sút, trong khi đó Nhà nước chưa kịp điều chỉnh tăng tiền lương tối thiểu nên người lao động thường đòi tăng lương để đảm bảo tiền lương thực tế nhưng người sử dụng lao động không đồng ý, gây ra phản ứng từ phía người lao động. Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì trong quá trình giải quyết tranh chấp về tiền lương tối thiểu, các bên có thể tiến hành thương lượng bất cứ lúc nào để giải quyết tranh chấp. Mặc dù đây là thủ tục không mang tính bắt buộc và có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp. Tuỳ thuộc vào loại tranh chấp mà có cách giải quyết theo các thủ tục khác nhau: Thứ nhất, đối với tranh chấp lao động cá nhân về tiền lương tối thiểu, trước hết phải được tiến hành hoà giải ở Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động thông qua phiên họp hoà giải. Nếu hai bên hoà giải thành, thì lập biên bản hoà giải thành và các bên có nghĩa vụ thực hiện. Nếu hoà giải không thành hoặc một bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai theo giấy triệu tập hợp lệ mà không có lý do chính đáng thì mỗi bên có quyền yêu cầu toà án nhân dân giải quyết tranh chấp. Ngoài ra, theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 166 Bộ Luật lao động đã được sửa đổi, bổ sung thì trong trường hợp tranh chấp bồi thường thiệt hại về tiền lương tối thiểu khi chấm dứt hợp đồng lao động thì toà án nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp mà không nhất thiết phải qua hoà giải ở cơ sở. Thứ hai, đối với tranh chấp lao động tập thể về tiền lương tối thiểu được giải quyết như sau: khi có tranh chấp, Hội đồng hoà giải lao động cấp cơ sở hoặc hoà giải viên lao động tiến hành hoà giải thông qua phiên họp hoà giải. Nếu hoà giải thành thì lập biên bản hoà giải thành và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện các thoả thuận ghi trong đó. Trong trường hợp hoà giải không thành thì lập biên bản hoà giải không thành và mỗi bên đều có quyền yêu cầu Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện giải quyết (nếu tranh chấp tập thể về quyền). Trường hợp các bên không đồng ý với cách giải quyết của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện thì tập thể lao động có thể yêu cầu Toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết hoặc đình công. Đối với tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, thì các bên có quyền yêu cầu hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh giải quyết. Trường hợp không đồng ý với phương án hoà giải của hội đồng trọng tài lao động thì tập thể lao động có quyền đình công. Chương 3 Thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tiền lương tối thiểu ở Việt Nam 3.1. Thực tiễn thực hiện tiền lương tối thiểu ở Việt Nam 3.1.1. Hiệu quả đạt được Mức lương tối thiểu hiện nay mà Nhà nước quy định đã cơ bản đáp ứng được mục tiêu đặt ra của tiền lương tối thiểu là nhằm đảm bảo tái sản xuất giản đơn và một phần tái sản xuất sức lao động mở rộng, bảo vệ quyền lợi của người lao động trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là bảo vệ người lao động không có trình độ tay nghề hoặc những lao động trong các ngành, nghề có cung - cầu lao động bất lợi trong thị trường. Các mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định có tác động ổn định mức sống cho người lao động ở mức tối thiểu, là một trong các biện pháp ngăn cản sự nghèo đói dưới mức cho phép. Để đạt được điều đó là do phương pháp xác định mức lương tối thiểu được tiếp cận có căn cứ khoa học và tổng hợp hơn, sát với thực tế đời sống phù hợp với khả năng kinh tế và trên các cơ sở khách quan, toàn diện có tính tới giá trị thực tế của đồng lương. Đối với người lao động, mục đích của việc tham gia vào quan hệ lao động là tiền lương thực tế chứ không phải tiền lương danh nghĩa vì tiền lương thực tế quyết định khả năng tái sản xuất sức lao động và quyết định trực tiếp tới lợi ích của họ. Khi nền kinh tế lạm phát, giá cả hàng hoá tăng làm giảm sút tiền lương thực tế, Nhà nước đã kịp thời trực tiếp can thiệp bằng các chính sách cụ thể để bảo hộ mức lương thực tế cho người lao động bằng cách điều chỉnh mức lương tối thiểu. Cho nên thời gian qua mặc dù giá cả thị trường liên tục leo thang nhưng Nhà nước đã kịp thời can thiệp, điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu để đảm bảo sức mua của đồng lương thực tế. Mức lương tối thiểu do Nhà nước công bố được áp dụng chung cho cả khu vực Nhà nước và ngoài quốc doanh, và khu vực từng vùng, đảm bảo tính thống nhất, tạo môi trường thuận lợi để thu hút lao động, điều chỉnh, cân đối lực lượng lao động, thực hiện chính sách phân phối lao động và thu hút vốn đầu tư. Đồng thời, tạo ra sự bình đẳng cho người lao động giữa khu vực Nhà nước, khu vực ngoài quốc doanh, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, và giữa các vùng với nhau. Việc Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp có thể tuỳ vào khả năng của doanh nghiệp để quy định mức lương tối thiểu riêng miễn là cao hơn mức do Nhà nước quy định là có lợi cho người lao động và trên thực tế có nhiều doanh nghiệp, nhiều ngành làm được điều đó. Việc Nhà nước quy định mức tiền lương tối thiểu riêng áp dụng cho khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã thực sự bảo vệ được người lao động trước sức ép của công việc và tránh khỏi tình trạng bị bóc lột sức lao động. Đặc biệt, ở khu vực này, Nhà nước đã quy định mức lương tối thiểu theo vùng, đã đảm bảo sức mua của mức lương tối thiểu tại các vùng có yếu tố tự nhiên, kinh tế khác nhau, góp phần điều tiết cung- cầu lao động giữa các vùng, nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, tạo ra dòng di chuyển lao động và dân cư hợp lý giữa các vùng, đồng thời tạo ra môi trường thuận lợi để thu hút vốn đầu tư. Nhà nước quy định tiền lương tối thiểu vùng đã đáp ứng được nhu cầu chi tiêu tối thiểu cho người lao động và gia đình họ phù hợp với mức sống tối thiểu ở vùng họ sinh sống. Đó là một chính sách rất thực tế, tạo điều kiện cân đối được kinh tế giữa các vùng, miền khác nhau. Về vấn đề vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu đã có những quy định hợp lý. Đặc biệt là việc quy định cụ thể các mức phạt với mức độ vi phạm khác nhau đã đảm bảo sự công bằng trong đường lối xử lý, góp phần hạn chế bớt vi phạm của người sử dụng lao động trên thực tế. 3.1.2. Những vấn đề còn tồn tại So với mức phát triển của nền kinh tế nước ta hiện nay, có thể thấy, mục tiêu tính đúng, tính đủ lương tối thiểu được đặt ra là khá cao nhưng thực tế đạt được còn thấp. Mức lương tối thiểu do với nhu cầu của người lao động và nhu cầu đặt ra là quá thấp không đủ chi cho nhu cầu cần thiết của bản thân. Hiện nay, lương tối thiểu ở nước ta là 540.000 đồng/tháng nhưng theo tính toán thì tiền lương tối thiểu ở nước ta phải đạt trên 600.000 đồng/tháng thì mới được coi là hợp lý. Việc quy định mức lương tối thiểu chủ yếu phụ thuộc vào khả năng ngân sách Nhà nước, chưa tôn trọng thực tế mức tiền công đã hình thành trên thị trường và các kết quả nghiên cứu khoa học. Vì vậy, lương tối thiểu chưa thực sự là cơ sở hình thành mức tiền công trên thị trường sức lao động, dẫn tới tiền lương thấp hơn nhiều lần so với thu thập thực tế của người lao động. Về việc xác định tiền lương tối thiểu, ngoài trừ hệ thống nhu cầu của người lao động, các căn cứ xác định mức lương tối thiểu chung chỉ được phản ánh trong lý luận nhiều hơn thực tế áp dụng. Chúng ta vẫn áp đặt khả năng cân đối ngân sách với đối tượng hưởng lương và trợ cấp từ ngân sách Nhà nước để xác định là chủ yếu. Bên cạnh đó, không có sự luân chuyển lao động và sự đa dạng hoá các hình thức tổ chức lao động giữa các vùng, ngành, nghề nên tiền lương tối thiểu chung ở nước ta còn có nhiều bất hợp lý, nhất là đối với khu vực sản xuất kinh doanh. Vì vậy mức lương tối thiểu không phát huy được chức năng cân đối cung - cầu giữa các vùng, các ngành, nghề. Việc quy định mức lương tối thiểu chung chỉ có ý nghĩa đối với việc trả lương từ ngân sách Nhà nước, với việc đóng bảo hiểm xã hội, không có tác dụng trong việc hình thành đúng chi phí tiền lương trong sản xuất kinh doanh. Việc áp dụng mức lương tối thiểu theo vùng chỉ có ý nghĩa đối với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, việc áp dụng mức lương tối thiểu vùng tuy đã đáp ứng được phần nào nhu cầu của người lao động nhưng vẫn còn đại khái, chung chung, chủ yếu các tỉnh thành có mức lương tối thiểu cao chỉ nằm ở những khu công nghiệp cũ còn đại đa số các khu công nghiệp vẫn áp dụng mức lương tối thiểu bằng mức lương tối thiểu chung. Bên cạnh đó, trong khu vực sản xuất kinh doanh, do có nhiều mức lương tối thiểu khác nhau theo loại hình doanh nghiệp, chưa tạo điều kiện tốt để hình thành đúng giá tiền công trên thị trường, chưa thúc đẩy tự do hoá của người lao động đi tìm việc làm. Trong khu vực hành chính sự nghiệp, nhất là một số đơn vị sự nghiệp có thu, do áp dụng thống nhất mức tiền lương tối thiểu đã dẫn đến hậu quả làm chậm tiến trình xã hội hoá các hoạt động sự nghiệp mang tính dịch vụ công. Mặc dù theo quy định thì Chính phủ có thẩm quyền quyết định và công bố mức lương tối thiểu ngành, lương tối thiểu vùng, nhưng trên thực tế thì chưa được xây dựng và áp dụng. Trong khi đó ở nước ta, sự khác nhau về yếu tố địa lý, kinh tế, xã hội giữa các vùng và điều kiện lao động, doanh thu giữa các ngành là khá rõ ràng. Cơ sở và phương pháp xây dựng tiền lương tối thiểu chưa được luật hoá một cách rõ ràng. Cải cách chính sách tiền lương chủ yếu dựa trên các đề án của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Cho nên ít người lao động hiểu được tại sao tiền lương tối thiểu lại được quy định như thế, có phù hợp với quyền và nghĩa vụ của mình không. Việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu ở nước ta hiện nay không tuân theo quy luật vốn có của nó khi giá cả thay đổi thì chưa chắc tiền lương tối thiểu đã được thay đổi, mà nếu có thay đổi thì mức lương mới vẫn ở mức thấp so với điều kiện thực tế. Điều này xuất phát từ chỗ việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu tạo ra gánh nặng cho ngân sách Nhà nước. Hễ nói đến tăng tiền lương là nói đến cân đối ngân sách. Quan điểm này dẫn đến việc không thực hiện đúng tiến trình cải cách đã đặt ra, làm cho tiền lương bên cạnh guồng máy sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội, tiền lương không được coi là động lực để phát huy hiệu quả sản xuất, tăng năng suất lao động, dẫn đến duy trì mức lương tối thiểu thấp, không gắn với hiệu quả công việc và không kích thích người lao động gắn bó với nghề nghiệp của mình. Quan điểm “ngân sách” bao trùm cả khu vực kinh doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nước đã biến tiền lương thành yếu tố đơn thuần của phạm trù phân phối, tách rời các căn cứ của nó là trình độ phát triển sản xuất, năng suất lao động, các lợi thế cạnh tranh, làm cản trở tính linh hoạt của tiền lương trong cơ chế thị trường, không khuyến khích việc sử dụng và bố trí lao động hợp lý, tạo sự chia cắt thị trường lao động giữa các khu vực. Mặt khác, pháp luật chưa phân biệt sự khác nhau giữa tiền lương tối thiểu của các doanh nghiệp (yếu tố trong chi phí sản xuất, phân phối lần đầu phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp) với tiền lương tối thiểu của cán bộ, công chức (phân phối lại hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng cân đối ngân sách) nên đã đồng nhất tiền lương tối thiểu của cán bộ, công chức với các đối tượng hưởng lương khác nhau trong các quan hệ lao động theo các cơ chế thị trường. Việc quy định tiền lương tối thiểu trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có lợi và bảo vệ được người lao động trước sức ép về việc làm do cung lớn hơn cầu, trước sự kém hiểu biết của người lao động và kém hiệu quả của tổ chức công đoàn. Tuy nhiên, sự chênh lệnh của các mức lương giữa các khu vực gây ra sự chia cắt thị trường lao động và gây tổn hại cho các khu vực kinh tế khác nhau. Khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực tế của người lao động bị giảm sút. Tuy nhiên, cho đến nay danh mục các hàng hoá tính để xác định mức tăng giá để điều chỉnh lại tiền lương tối thiểu vẫn chưa có. Cơ chế quản lý tiền lương tối thiểu vẫn mang nặng tính hành chính, chưa tạo điều kiện cho các bên có liên quan. Đến nay, ở Việt Nam chỉ có cơ quan ban hành, chưa có bộ máy chức năng để thanh tra, giám sát và điều chỉnh các mức lương tối thiểu, vì vậy các mức lương tối thiểu vừa lỏng lẻo vừa cứng nhắc. Việc chậm chạp trong đổi mới chính sách về tiền lương tối thiểu đã tạo nên sự phản ứng của người lao động để bảo vệ quyền lợi cho mình. Điển hình là cuối năm 2005, đầu 2006 vừa qua, hàng chục nghìn công nhân ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã tiến hành đình công để đòi tăng mức lương tối thiểu sau khi Nghị định số 118/2005/NĐ-CP ra đời tăng mức lương tối thiểu chung. Điều đó đã làm ảnh hưởng tới tình hình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt làm ảnh hưởng tới trật tự xã hội và làm thay đổi lộ trình chính sách tiền lương ở nước ta. Tình trạng vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu ngày càng gia tăng cả về số lượng lẫn mức độ nghiêm trọng và phức tạp. Tuy nhiên, ở nước ta vẫn chưa có một cơ chế hợp lý để điều chỉnh vấn đề này, cho nên các tranh chấp về tiền lương tối thiểu thường tồn tại ở dạng tập thể mà chủ yếu ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Đặc biệt, cơ chế giải quyết tranh chấp ở nước ta còn nhiều hạn chế và chưa bảo vệ được quyền lợi cho người lao động cho nên họ không sử dụng các con cơ chế khác để bảo vệ quyền lợi cho mình mà đã phải sử dụng “vũ khí cuối cùng” để đấu tranh bằng cách tổ chức các cuộc đình công buộc người sử dụng lao động phải nhân nhượng. Trên thực tế, thanh tra lao động hoạt động kém hiệu quả, người lao động thì ở thế yếu nên luôn có suy nghĩ “ thà yếu còn hơn không có,” cho nên vi phạm pháp luật thì nhiều mà không bị phát hiện và xử lý. Chẳng hạn Công ty giày Huê Phong (thành phố Hồ Chí Minh ) có tới 6.000 lao động được trả lương chỉ 400.000 đồng/tháng trong suốt mấy năm qua, nhưng mãi tới ngày 13/02/2006 do phản ứng của lao động ở các doanh nghiệp khác, thì khi Chính phủ ra Nghị định số 03/2006/NĐ-CP, 6000 công nhân này mới tiến hành đình công đòi tăng lương. Trong 10 năm qua, tỷ giá giữa đồng đôla Mỹ (USD) và đồng Việt Nam (VNĐ) liên tục thay đổi. Trong khi đó, ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài căn cứ để tính tiền lương tối thiểu vẫn giữ giá quy đổi VNĐ với USD của năm 1997 (1 USD = 13.900 đồng ) cho nên dẫn tới tình trạng tiền lương tối thiểu bị giảm sút, quyền lợi của người lao động không được đảm bảo. Thực tế ở nước ta là có nhiều doanh nghiệp chưa có công đoàn, nếu doanh nghiệp đã có công đoàn thì thường hoạt động kém hiệu quả, cán bộ công đoàn không đủ năng lực hoặc không dám đấu tranh bảo vệ người lao động, trong một số trường hợp còn vì tư lợi cá nhân mà câu kết với người sử dụng lao động vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu. 3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tiền lương tối thiểu ở Việt Nam 3.2.1. Mục tiêu và yêu cầu của tiền lương tối thiểu trong giai đoạn hiện nay đến năm 2012 Trong giai đoạn từ nay đến năm 2012, tiền lương tối thiểu cần thiết phải đạt được những mục tiêu và yêu cầu sau: Thứ nhất, trong quá trình xây dựng các chính sách để cải cách tiền lương tối thiểu phải tuân thủ triệt để các nguyên tắc: - Thực hiện triệt để nguyên tắc phân phối theo lao động, đồng thời tôn trọng sự tồn tại của các hình thức phân phối khác theo luật pháp cho phép áp dụng đối với người lao động. Phân phối theo lao động được coi là nguyên tắc quan trọng nhất. Trong đó, phân phối tiền lương là một tiêu chuẩn của việc phân phối theo lao động một cách công bằng. Theo nguyên tắc này, thu nhập của người lao động phụ thuộc vào kết quả công việc của họ. Do đó, tiền lương tối thiểu phải được tính toán sao cho vừa đáp ứng các nhu cầu tối thiểu của người lao động vừa phù hợp với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra. ở nước ta đang tồn tại nhiều khu vực kinh tế khác nhau, trong đó sở hữu công cộng là cơ bản. Tất cả các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất cần phải được tham gia vào phân phối, vì vậy sẽ cùng tồn tại nhiều hình thức phân phối, trong đó phân phối theo lao động là cơ bản. Cho nên phải công nhận và tôn trọng sự tồn tại của các hình thức phân phối khác. - Thực hiện nguyên tắc tiền lương theo kinh tế thị trường định hướng XHCN, thể hiện: + Chính sách vĩ mô về tiền lương hướng tới hiệu quả kinh tế và phân phối cân bằng. + Tăng cường tính linh hoạt của tiền lương. + Xây dựng một khung chính sách vĩ mô về tiền lương. - Phân định rõ chính sách tiền lương có mục tiêu là nâng cao hiệu quả của sản xuất nhằm tăng nguồn của cải cho xã hội và thông qua đó tăng khả năng giải quyết các vấn đề của xã hội. Do vậy, phải là nền tảng để cải cách chính sách xã hội chứ không phải là yếu tố gây ra gánh nặng cho ngân sách như hiện nay. - Phân định rõ tiền lương giữa hành chính và sự nghiệp, từng bước gắn chế độ tiền lương với việc xây dựng hoá một số lĩnh vực dịch vụ công như y tế, giáo dục đào tạo, văn hoá nghệ thuật, khoa học, thể dục thể thao. - Gắn cải cách chính sách tiền lương với cải cách hành chính, cải cách tài chính quốc gia. Thứ hai, tiền lương tối thiểu phải được tính đúng, tính đủ để trở thành “lưới an toàn chung” cho người lao động trong xã hội, không phân biệt thành phần và khu vực. Bảo đảm mối quan hệ thực sự giữa mức lương tối thiểu, trung bình và tối đa để chống lại xu hướng gia tăng sự chênh lệnh bất hợp lý giữa các loại lao động vi phạm nguyên tắc phân phối theo lao động bảo đảm mức sống tối thiểu thực tế cho người hưởng mức lương tối thiểu. Thứ ba, tiền lương tối thiểu phải là một căn cứ quan trọng nhất để hình thành mức tiền công trên thị trường lao động, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tính đủ đầu vào và hoạt động có hiệu quả, góp phần điều hoà sự phân bố lao động và đầu tư hợp lý giữa các vùng, ngành. Tạo điều kiện mở rộng môi trường đầu tư và hoà nhập quốc tế. Thứ tư, tăng khả năng cạnh tranh của tiền lương và tăng cường tính hiệu lực của chính sách tiền lương tối thiểu chung. 3.2.2. Các định hướng cơ bản hoàn thiện pháp luật tiền lương tối thiểu Thứ nhất, xác định tiền lương tối thiểu phải đảm bảo sức mua của nó trên cơ sở giá cả tiêu dùng của từng thời kỳ. Thứ hai, xác định các mức lương tối thiểu áp dụng đối với các loại hình doanh nghiệp. Thứ ba, nghiên cứu xoá bỏ việc quy định mức lương tối thiểu cho khu vực có vốn đầu tư nước ngoài để tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của thị trường lao động và sân chơi bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Thứ tư, phải cân đối lại lương tối thiểu vùng làm sao cho giữa các vùng có sự công bằng hơn trong mức thu nhập của người lao động. Thứ năm, xây dựng phương thức để quy định và áp dụng mức lương tối thiểu theo giờ, theo ngày, theo tháng. Thứ sáu, phải kịp thời trong việc điều chỉnh lương tối thiểu cho phù hợp với mức độ trượt giá của thị trường. 3.2.3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tiền lương tối thiểu ở Việt Nam Thứ nhất, về hình thức văn bản pháp luật. Hiện nay, hệ thống các văn bản quy định về tiền lương tối thiểu ở nước ta là khá nhiều, tuy nhiên, các quy định đó còn chung chung, chưa hợp lý thậm chí là chồng chéo, mâu thuẫn với nhau và nằm rải rác ở nhiều vấn đề khác nhau. Thực tế trên yêu cầu cần đến một văn bản quy phạm pháp luật có tính thống nhất cao luật tiền lương tối thiểu điều chỉnh toàn bộ các vấn đề về tiền lương tối thiểu. Luật tiền lương tối thiểu ra đời hứa hạn sẽ giải quyết hợp lý mọi mâu thuẫn đang tồn tại hiện nay trong pháp luật về tiền lương tối thiểu ở Việt Nam. Luật tiền lương tối thiểu phải thiết lập dựa trên các căn cứ, nguyên tắc xác định, điều chỉnh và cơ chế áp dụng mức lương tối thiểu chung cũng như cơ chế hình thành mức lương tối thiểu theo vùng, mức lương tối thiểu theo ngành. Thứ hai, về vấn đề xác định tiền lương tối thiểu. Thực tế ở nước ta tiền lương được tiền tệ hoá ở mức thấp, không đáp ứng được các nhu cầu trong cuộc sống của người lao động và gia đình họ. Cho nên xảy ra tình trạng người lao động đòi hỏi có các khoản thu thập ngoài lương, có lúc các khoản thu thập đó còn lớn hơn lương. Lúc đó tiền lương không đủ mạnh để thực hiện các chức năng của mình. Điều đó kéo theo nhiều tiêu cực trong xã hội. Do đó khi xác định tiền lương tối thiểu yêu cầu phải: - Đánh giá một cách khách quan mức sống thực tế và tối thiểu để có các phương án tiền lương tối thiểu đảm bảo các yêu cầu của đất nước, đảm bảo tiền lương thực sự đáp ứng được các nhu cầu và phản ánh đúng cuộc sống của người lao động tránh tình trạng “lương chỉ là phụ” như hiện nay. - Phải tiến hành điều tra một cách nghiêm túc thực trạng của các cơ sở sản xuất, kinh doanh để có căn cứ xác định mức lương tối thiểu có tính khả thi. Để làm được điều đó phải tiến hành thực hiện cải cách chế độ tài chính doanh nghiệp, áp dụng phương pháp kế toán và tài chính mới để đánh giá đúng tình hình của các doanh nghiệp. - Một thực tế là lao động Việt Nam luôn được trả lương với giá rất thấp so với các nước khác là thấp. Cho nên phải tiến hành điều tra mức lương tối thiểu thực tế áp dụng ở các nước trên thế giới có điều kiện kinh tế-xã hội tương đương với Việt Nam. Trên cơ sở đó sẽ tính toán mức lương tối thiểu ở Việt Nam sao cho bằng với các nước khác. Đảm bảo sự bình đẳng giữa người lao động Việt Nam với lao động các nước trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay. Thứ ba, về vấn đề điều chỉnh lương tối thiểu. Theo quy định của pháp luật thì khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực tế của người lao động bị giảm sút, khi đó Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu để đảm bảo tiền lương thực tế. Nhưng trên thực tế khi chỉ số giá sinh hoạt tăng thì chưa chắc lương tối thiểu đã được tăng, nếu có tăng thì tăng lương như thế nào so với mức tăng giá cũng chưa có quy định nào cụ thể. Bản chất của tiền lương tối thiểu là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động cho nên luôn chịu tác động của các quy luật của nền kinh tế thị trường. Nhưng ở nước ta, tiền lương không được tự điều chỉnh theo thị trường mà có sự can thiệp quá sâu của Nhà nước nên chỉ điều chỉnh lương tối thiểu khi có sức ép của xã hội và cứ nói đến tiền lương là lại nói đến cân đối ngân sách. Thực tế đó đặt ra yêu cầu, phải xây dựng một cơ chế kiểm soát và điều chỉnh lương tối thiểu, sao cho lương tối thiểu được điều chỉnh thường xuyên theo yếu tố thị trường. Đồng thời, Nhà nước không được can thiệp quá sâu mà chỉ ban hành các quy định mang tính định hướng về tiền lương, Nhà nước chỉ quy định lương của khu vực hành chính, còn đơn vị sự nghiệp và khu vực sản xuất kinh doanh thì để các đơn vị tự thoả thuận và trao quyền chủ động đến mức tối đa cho các doanh nghiệp khi xây dựng chế độ tiền lương. Ngoài ra cần có một quy định cụ thể ấn định ngày công bố mức lương tối thiểu hàng năm và có thể được điều chỉnh bất thường khi có các điều kiện nhất định. Việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu không phải quan trọng nhất là tăng lương mà cơ chế trả lương thay đổi đối với từng khu vực. Lương phải đảm bảo nguyên tắc: trả lương công bằng, phải tiến tới xoá bỏ cơ chế trả lương bình quân, công bằng như hiện nay. Thứ tư, về việc thống nhất mức lương tối thiểu. Hiện nay ở nước ta đang song song tồn tại hai loại tiền lương tối thiểu là tiền lương tối thiểu chung và tiền lương tối thiểu áp dụng trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Như vậy, cùng là lao động Việt Nam cùng làm việc trên lãnh thổ Việt Nam nhưng lại có hai mức lương khác nhau, thậm chí ở các tỉnh, thành phố lớn lương tối thiểu ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cao hơn gần 2 lần so với mức lương tối thiểu áp dụng trong khu vực nhà nước và tư nhân. Trước khi, do chính sách thu hút đầu tư cho nên nhà đầu tư nước ngoài được hưởng các ưu đãi đầu tư từ phía Nhà nước. Do đó, lợi nhuận thu được sau một chu trình sản xuất cùng loại với doanh nghiệp trong nước thường cao hơn. Nhưng Luật đầu tư được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2006 đã thống nhất quy địmh các biện pháp khuyến khích đảm bảo đầu tư cho nhà đầu tư trong nước lẫn nước ngoài. Mặt khác, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của nền kinh tế cũng như sự tác động của quy luật cạnh tranh trên thị trường lao động, các doanh nghiệp trong nước cũng đòi hỏi lao động làm việc trong doanh nghiệp có trình độ chuyên môn và cường độ lao động cao hơn trước đây. Như vậy, những lý do tạo nên sự khác nhau giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện nay đang dần mất đi. Do đó, yêu cầu phải tiến tới thống nhất hai mức lương tối thiểu này để xóa bỏ cách biệt, tạo sự công bằng trong trả công lao động. Để làm được điều đó, đòi hỏi tiền lương tối thiểu chung phải được nâng lên từng bước cho ngang tầm với tiền lương tối thiểu áp dụng trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Một thực tế khó lý giải ở Việt Nam là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã có sự phân vùng và quy định mức tiền lương tối thiểu theo vùng. Như ở khu vực trong nước lại chỉ có một mức lương chung áp dụng thống nhất cho tất cả các địa phương. Điều đó yêu cầu phải tiến hành điều tra và phân vùng mức sống để từ đó xây dựng tiền lương tối thiểu theo vùng, đảm bảo sự công bằng và quy định thống nhất hai loại lương tối thiểu. Thư năm, quản lý Nhà nước về tiền lương tối thiểu. Vấn đề quản lý Nhà nước về tiền lương tối thiểu ở nước ta hiện nay hậu như không được quan tâm đến, thanh tra lao động thì hoạt động kém hiệu quả, lỏng lẻo. Cho nên phải tăng cường quản lý Nhà nước về tiền lương tối thiểu bằng cách xây dựng một văn bản vi phạm pháp luật tiền lương tối thiểu quy định rõ thẩm quyền chung, cơ quan chuyên trách và các cơ quan có liên quan. Đồng thời, phải tăng cường năng lực cho các cơ quan hoạch định, nghiên cứu chính sách tiền lương. Thư sáu, vấn đề xử lý vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu. Hiện nay, tình trạng vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu ở nước ta là khá nhiều, không chỉ ảnh hưởng tới quyền lợi của người lao động mà còn gây ảnh hưởng tới các vấn đề xã hội khác. Để hạn chế vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu yêu cầu phải: - Xây dựng các quy định về vấn đề này một cách cụ thể và rõ ràng hơn hiện nay. Không nên chỉ quy định chung chung các hành vi vi phạm mà phải có hướng dẫn cụ thể các dấu hiệu trên thực tế của các dạng vi phạm đó để thuận tiện cho công tác phát triển và xử lý kịp thời. - Trong Nghị định số 113/2004NĐ-CP quy định xử phạt hành chính của hành vi vi phạm pháp luật lao động chỉ quy định hành vi vi phạm của chủ sử dụng lao động mà không có quy định về trách nhiệm của người lao động. Trên thực tế, người lao động bị vi phạm luôn có suy nghĩ lương thà thiếu còn hơn không có cho nên vô hình chung đã tạo điều kiện cho người sử dụng lao động vi phạm. Mà bản chất của tiền lương là giá cả của hàng hoá sức lao động trên cơ sở sự thoả thuận của hai bên. Vậy thì nên chăng có thêm quy định trách nhiệm của người lao động trong vấn đề này, khi có hành vi vi phạm thì người lao động cũng có thể bị xử lý, Quy định đó sẽ ràng buộc trách nhiệm của người lao động, để họ ý thức được rằng việc thực hiện các quy định về tiền lương tối thiểu không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của họ. - Trong thời gian qua việc vi phạm về tiền lương tối thiểu đã kéo theo nhiều vấn đề xã hội khác như phản ứng của người lao động bằng cách tổ chức các cuộc đình công làm ảnh hưởng nghiêm trọng trật tự xã hội. Do đó, tác giả mạnh dạn đề nghị nên có quy định xử lý hình sự đối với dạng vi phạm này nếu việc vi phạm gây ra hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng. - Tăng cường hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp, phải có các quy định đảm bảo quyền lợi cho họ khi đứng ra bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Hiện nay, cán bộ công đoàn chủ yếu là đi lên từ cơ sở cho nên trình độ còn hạn chế do đó yêu cầu phải tăng cường đào tạo đội ngũ này để có thể bảo vệ người lao động một cách có hiệu quả hơn. - Trên thực tế người lao động khi bị vi phạm cũng không biết là mình bị vi phạm nên cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người lao động, để họ có thể tự bảo vệ được cho mình. Kết luận Tiền lương tối thiểu không còn là vấn đề mới lạ, nhưng nó là vấn đề gắn liền với người lao động và luôn được các ngành, các cấp, toàn thể người lao động và người sử dụng lao động quan tâm. Đề tài tiền lương tối thiểu theo quy định pháp luật lao động Việt Nam không phải là một đề tài mới mà đã được nhiều người quan tâm. Tuy nhiên cái mới của khoá luận này chính là những phát hiện mới của tác giả, những tìm tòi, nghiên cứu. Trên cơ sở khoa học và lập luận có logic, tác giả mạnh dạn đưa ra những đánh giá riêng với mong muốn đóng góp ý kiến để hoàn thiện pháp luật về tiền lương tối thiểu của Việt Nam. ở Việt Nam, pháp luật về tiền lương tối thiểu đã có lịch sử 60 năm, cùng với thời gian, chính sách tiền lương tối thiểu luôn được hoàn thiện và phát huy được vai trò của nó. Và hiện nay chính sách tiền lương tối thiểu đang ngày hoàn thiện hơn thể hiện sự đồng bộ, nhất quán, đồng thời phù hợp với thế giới. Muốn vậy, trong quá trình xây dựng, Nhà nước ta cần tham khảo tiếp thu những tiến bộ trong quá trình xây dựng tiền lương tối thiểu của các nước phát triển trên thế giới. Danh mục các tài liệu tham khảo C.Mác- Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 23, NXB Chính trị Quốc gia, 1995. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia 2002. Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Tạp chí cộng sản số 4, 2006. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2, Quốc Hội khoá IX. Sắc lệnh số 10-SL về việc tạm thời áp dụng các văn bản pháp luật của chế độ cũ để lại trong quản lý đất nước. Sắc lệnh số 29-SL ngày 12/03/1947 quy định chế độ lao động trong toàn cõi Việt Nam. Nghị định số 235/HĐBT ngày 18/09/ 1985 của Hội đồng Bộ trưởng về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân, viên chức và các lực lượng vũ trang. Quyết định số 202/HĐBT ngày 28/12/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về tiền lương công nhân, viên chức sản xuất kinh doanh khu vực quốc doanh về công tư hợp doanh. Quyết định số 203/HĐBT ngày 28/12/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về tiền lương công nhân, viên chức hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang và các đối tượng hưởng chính sách xã hội. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, năm 1987. Quyết định số 356/QĐ-LĐTBXH ngày 29/08/1990 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về mức lương tối thiểu của người lao động trong các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Quyết định số 242/QĐ-LĐTBXH ngày 05/05/1992 của Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội về mức lương tối thiểu của người lao động trong các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị định số 25/CP ngày 23/05/1993 của Chính phủ quy định tạm thời chế độ tiền lương mới của công chức, viên chức hành chính, sự nghiệp và lực lượng vũ trang. Nghị định số 26/CP ngày 23/05/1993 của Chính phủ quy định tạm thời chế độ tiền lương mới trong các doanh nghiệp. Bộ luật Lao động đã được sửa đổi bổ sung ngày năm 2002, 2006, 2007. Nghị định số 197/CP ngày 31/12/1994 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật lao động về tiền lương. Thông tư số 11/LĐTBXH-TT ngày 03/05/1995 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn Nghị định số 197/CP. Nghị định số 38/CP ngày 25/06/1996 của Chính phủ về xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động. Nghị định số 06/CP ngày 21/01/1997 của Chính phủ về giải quyết tiền lương và trợ cấp năm 1997 đối với công chức, viên chức hành chính, sự nghiệp, người nghỉ hưu, nghỉ mất sức, lực lượng vũ trang; cán bộ xã, phường và một số đối tượng hưởng chính sách xã hội. Nghị định số 175/1999/NĐ-CP ngày 15/12/1999 của Chính phủ về việc điều chỉnh mức lương tối thiểu, mức trợ cấp sinh hoạt phí đối với các đối tượng hưởng lương, phụ cấp, trợ cấp và sinh hoạt phí từ nguồn kinh phí thuộc nguồn ngân sách Nhà nước. Bộ Luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 04/01/2000. Nghị định số 10/2000/NĐ-CP ngày 27/03/2000 của Chính phủ về việc quy định tiền lương tối thiểu trong các doanh nghiệp. Quyết định số 708/1999/QĐ-BLĐTBXH của Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội quy định mức lương tối thiểu áp dụng cho khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị định số 77/2000/NĐ-CP ngày 15/12/2000 của Chính phủ về việc điều chỉnh mức lương tối thiểu, mức trợ cấp và sinh hoạt phí đối với các đối tượng hưởng lương, phụ cấp và sinh hoạt phí. Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật lao động đã sửa đổi, bổ sung về tiền lương. Nghị định số 03/2003/2003/NĐ-CP ngày 15/01/2003 của Chính phủ về việc điều chỉnh tiền lương, trợ cấp xã hội và đổi mới một bước cơ chế quản lý tiền lương. Thông tư số 14/2003/TT-BLĐTBXH ngày 30/05/2003 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 114/2002/NĐ-CP về tiền lương đối với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế tại Việt Nam. Nghị định số 113/2004/NĐ-CP ngày 16/04/2004 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động. Nghị định số 203/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về việc điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu. Nghị định số 118/2005/NĐ-CP ngày 15/09/2005 của Chính phủ về việc điều chỉnh mức lương tối thiểu. Thông tư số 25/2005/TT-LĐTBXH ngày 04/10/2005 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội hướng dẫn điều chỉnh tiền lương và phụ cấp lương trong doanh nghiệp theo Nghị định số 118/2005/NĐ-CP. Nghị định số 03/2006/NĐ-CP ngày 06/01/2006 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với lao động Việt Nam làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân nước ngoài tại Việt Nam. Luật đầu tư của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 29/12/2005. Nghị định số 94/2006/NĐ-CP ngày 07/09/2006 của Chúnh phủ về điều chỉnh mức lương tối thiểu chung. Nghị định số 166/2007/NĐ-CP ngày 16/11/2007 của Chính phủ về quy định mức lương tối thiểu chung. Nghị định số 167/2007/NĐ-CP ngày 16/11/2007 của Chính phủ về quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động. Nghị định số 168/2007/NĐ-CP ngày 16/11/2007 của Chính phủ về quy định mức lương tối thiểu vùng đối với lao động Việt Nam làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam. Thông tư số 29/2007/TT-BLĐTBXH ngày 05/12/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện mức lương tối thiểu chung, mức lương tối thiểu vùng đối với công ty Nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ. Thông tư số 30/2007/TT-BLĐTBXH ngày 05/12/2007 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện mức lương tối thiểu chung và mức lương tối thiểu vùng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động. Văn bản pháp luật quốc tế Công ước số 26 năm 1930 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về thiết lập những phương pháp ấn định lương tối thiểu. Công ước số 95 năm 1949 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về bảo vệ tiền lương. Công ước số 131 năm 1972 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về ấn định lương tối thiểu đặc biệt đối với các nước đang phát triển.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTiền lương tối thiểu - một số vấn đề lý luận và thực tiễn cho khoá luận tốt nghiệp của mình.DOC