Tiểu luận Các mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khả năng ứng dụng ở Việt Nam

Tiểu luận kinh tế phát triển: LỜI MỞ ĐẦU Hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức lớn. Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng cường sức ép cạnh tranh và tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, Đảng và nhà nước ta đã khẳng định cần phải chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế và khu vực, bảo vệ lợi ích dân tộc và an ninh quốc gia. Đồng hành với việc hội nhập kinh tế thì việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý cũng là một trong những vấn đề hết sức quan trọng. Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng cơ cấu kinh tế nước ta đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển nhanh và chiếm tỷ trọng lớn. Những chuyển biến đó đã góp phần tạo đà cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định. Nhận thức được tầm quan trọng của việc chuyển dịch kinh tế đối với sự phát triển của quốc gia, em đã chọn đề tài “Các mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Khả năng ứng dụng ở Việt Nam. Phân tích hệ thống các chính sách tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam” Trong giới hạn bài viết này nhóm em đi vào nghiên cứu xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam hiện nay cũng như những giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực thời gian tới. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 2 1.1. Cơ cấu kinh tế. 2 1.1.1. Khái niệm và phân loại:. 2 1.1.2. Tính chất. 3 1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế. 4 1.2.1. Khái niệm và phân loại:. 4 1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế:. 6 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở NƯỚC TA 9 2.1. Những thành tựu đạt được:. 9 2.2. Những hạn chế:. 13 2.3. Một số giải pháp tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực. 15 CHƯƠNG 3: CÁC CHÍNH SÁCH TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở VIỆT NAM 17 3.1. Chính sách đầu tư:. 17 3.2. Chính sách tài chính tiền tệ:. 18 3.3. Chính sách về cơ cầu lao động ở Việt Nam:. 20 KẾT LUẬN 22 TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

doc24 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 04/05/2013 | Lượt xem: 2143 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Các mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khả năng ứng dụng ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức lớn. Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng cường sức ép cạnh tranh và tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, Đảng và nhà nước ta đã khẳng định cần phải chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế và khu vực, bảo vệ lợi ích dân tộc và an ninh quốc gia. Đồng hành với việc hội nhập kinh tế thì việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý cũng là một trong những vấn đề hết sức quan trọng. Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng cơ cấu kinh tế nước ta đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển nhanh và chiếm tỷ trọng lớn. Những chuyển biến đó đã góp phần tạo đà cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định. Nhận thức được tầm quan trọng của việc chuyển dịch kinh tế đối với sự phát triển của quốc gia, em đã chọn đề tài “Các mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Khả năng ứng dụng ở Việt Nam. Phân tích hệ thống các chính sách tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam” Trong giới hạn bài viết này nhóm em đi vào nghiên cứu xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam hiện nay cũng như những giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực thời gian tới. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1.1. Cơ cấu kinh tế 1.1.1. Khái niệm và phân loại: Cơ cấu kinh tế là tương quan giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các ngành với nhau. Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể. Theo quan điểm này, cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế, là nền tảng của cơ cấu xã hội và chế độ xã hội. Cơ cấu kinh tế hợp lý là cơ cấu có khả năng tạo ra quá trình tái sản xuất mở rộng, đáp ứng các điều kiện: phù hợp với các điều kiện khách quan, phản ánh được khả năng khai thác sử dụng nguồn lực kinh tế trong nước và đáp ứng được yêu cầu hội nhập với quốc tế và khu vực, nhằm tạo ra sự cân đối, phát triển bền vững. Đồng thời cơ cấu kinh tế hợp lý là phải phù hợp với xu thế kinh tế, chính trị của khu vực và thế giới. Khi phân tích cơ cấu kinh tế, ta xét trên hai phương diện: - Phương diện thứ nhất, về mặt vật chất kỹ thuật, cơ cấu kinh tế bao gồm: * Cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực kinh tế phản ánh số lượng, vị trí, tỷ trọng các ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu thành nền kinh tế. * Cơ cấu theo quy mô, trình độ kỹ thuật, công nghệ của các loại hình tổ chức sản xuất phản ánh chất lượng các ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu thành nền kinh tế. * Cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ, phản ánh khả năng kết hợp, khai thác tài nguyên, tiềm lực kinh tế- xã hội của các vùng phục vụ cho mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân thống nhất. - Phương diện thứ hai, xét cơ cấu kinh tế theo các mặt kinh tế xã hội, bao gồm: * Cơ cấu theo các thành phần kinh tế, phản ánh khả năng khai thác năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh của mọi thành viên xã hội. * Cơ cấu kinh tế theo trình độ phát triển của quan hệ hàng hóa tiền tệ. Nó phản ánh khả năng giải quyết mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa các ngành, lĩnh vực và các bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân thống nhất. 1.1.2. Tính chất. - Tính chất khách quan: nền kinh tế có sự phân công lao động, có các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế và sự phát triển của lực lượng sản xuất nhất định sẽ hình thành một cơ cấu kinh tế với tỉ lệ cân đối tương ứng với các bộ phận, tỉ lệ đó được thay đổi thường xuyên và tự giác theo quá trình diễn biến khách quan của nhu cầu xã hội và khả năng đáp ứng nhu cầu đó. Cơ cấu kinh tế là biểu hiện tóm tắt, cô đọng nội dung chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của từng giai đoạn phát triển nhất định. Nhưng không vì thế mà áp đặt chủ quan, tự đặt cho các ngành những tỷ lệ và vị trí trái ngược với yêu cầu và xu thế phát triển của xã hội. Mọi sự áp đặt chủ quan, nóng vội nhằm tạo ra một cơ cấu kinh tế theo ý muốn, thường dẫn tới tai họa không nhỏ, bởi sai lầm về cơ cấu kinh tế là sai lầm chiến lược, khó khắc phục, hậu quả lâu dài. - Tính chất lịch sử xã hội: Sự biến đổi của cơ cấu kinh tế luôn gắn liền với sự thay đổi không ngừng của lực lượng sản xuất, nhu cầu tiêu dùng và đặc điểm chính trị, xã hội của từng thời kỳ. Cơ cấu kinh tế được hình thành khi quan hệ ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế được xác lập một cách cân đối và sự phân công lao động diễn ra một cách hợp lý. Sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất là xu hướng phổ biến của mọi quốc gia. Song mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên trong quá trình tái sản xuất mở rộng ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia lại có sự khác nhau. Sự khác nhau đó bị chi phối bởi quan hệ sản xuất, bởi các đặc trưng văn hóa xã hội, bởi các yếu tố lịch sử của mỗi dân tộc. Các nước có hình thái kinh tế- xã hội giống nhau, song có sự khác nhau trong hình thành cơ cấu kinh tế, vì điều kiện kinh tế, xã hội và quan điểm chiến lược mỗi nước khác nhau. 1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế. 1.2.1. Khái niệm và phân loại: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của các bộ phận cấu thành nền kinh tế. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế xảy ra khi có sự phát triển không đồng đều về quy mô, tốc độ giữa các ngành, vùng. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện mặt chất kinh tế trong quá trình phát triển. Căn cứ vào các loại hình cơ cấu kinh tế, ta có thể phân ra các hình thức chuyển dịch như sau: * Chuyển dịch cơ cấu ngành: là quá trình phát triển của các ngành kinh tế, dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành kinh tế và làm thay đổi mối quan hệ tương quan giữa chúng so với một thời điểm trước đó. Quá trình thay đổi cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển. Chuyển dịch cơ cấu ngành không chỉ là sự thay đổi về số lượng các ngành, tỷ trọng của mỗi ngành mà còn bao gồm sự thay đổi về vị trí, tính chất của mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu ngành. Việc chuyển dịch cơ cấu ngành phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có và nội dung của sự chuyển dịch là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hòan thiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ mới hiện đại và phù hợp hơn. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phản ánh mặt chất về kinh tế của quá trình phát triển. Đây là một quá trình diễn ra liên tục,gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và được xem là kết quả của quá trình công nghiệp hóa đối với các nước đang phát triển. Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu ngành với sự phát triển chung của nền kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng vì gắn với nó là cả một động thái về phân bố các nguồn lực hạn hẹp của một quốc gia trong những thời điểm nhất định vào những hoạt động sản xuất riêng. Chuyển dịch cơ cấu ngành là một quá trình mang tính khách quan, dưới sự tác động của các yếu tố phát triển: lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội, thị trường, quan hệ cung- cầu hàng hóa. * Chuyển dịch cơ cấu vùng: Là quá trình phát triển của các khu vực vùng lãnh thổ dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành và làm thay đổi mối quan hệ tương quan giữa chúng và với tổng thể nền kinh tế so với một thời điểm trước đó. Chuyển dịch cơ cấu vùng, một mặt phụ thuộc vào các nhân tố địa lý- chính trị, tài nguyên thiên nhiên…mặt khác, còn phụ thuộc vào sự tác động chủ quan của con người. Tác động của chuyển dịch cơ cấu vùng hầu như là mặt tích cực, sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng giảm đi nhanh chóng, nhất là ở những nước đang phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật ở các vùng cải thiện đáng kể, dẫn đến cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Tuy nhiên quá trình này diễn ra cần một thời gian dài, mới có thể khắc phục được đối với các vùng đặc biệt khó khăn, xa xôi, miền núi, phương tiện giao thông khó khăn. * Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế: Là quá trình phát triển thành phần kinh tế dẫn đến sự tăng trưởng kinh tế khác nhau giữa các thành phần và làm thay đổi mối quan hệ tương quan giữa chúng và với tổng thể nền kinh tế so với thời điểm trước đó. Nếu sự chuyển dịch về cơ cấu thành phần kinh tế đi đúng hướng, sẽ hình thành nên một nền kinh tế nhiều thành phần sôi động, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Ngược lại, sẽ dẫn đến sự yếu kém trong cạnh tranh, giảm sự hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài. 1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế: * Nhân tố thị trường và nhu cầu tiêu dùng của xã hội: Nhân tố thị trường và nhu cầu xã hội là người đặt hàng cho tất cả các ngành, lĩnh vực, bộ phận trong tòan bộ nền kinh tế. Nếu như xã hội không có nhu cầu nào thì tất nhiên sẽ không có bất kỳ một quá trình sản xuất nào. Cũng như vậy, không có thị trường tiêu dùng thì không có kinh tế hàng hóa. Thị trường và nhu cầu xã hội còn quy định chất lượng sản phẩm và dịch vụ, nên tác động trực tiếp đến quy mô, trình độ phát triển của các cơ sở kinh tế, đến xu hướng phát triển và phân công lao động xã hội, đến vị trí, tỷ trọng các ngành, lĩnh vực trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân. * Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: Lực lượng sản xuất là động lực phát triển của xã hội. Nhu cầu xã hội là vô tận và mỗi ngày một cao. Muốn đáp ứng đầy đủ nhu cầu xã hội thì trước hết phải phát triển lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu lao động và con người có khả năng sử dụng tư liệu lao động để tác động vào đối tượng lao đọng, tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, đáp ứng nhu cầu xã hội. Sự phát triển của lực lượng sản xuất sẽ làm thay đổi quy mô sản xuất, thay đổi công nghê, thiết bị, hình thành các ngành nghề mới, biến đổi lao động giản đơn thành lao động phức tạp, từ ngành này sang ngành khác. Sự phát triển đó phá vỡ cân đối cũ, hình thành một cơ cấu kinh tế với một vị trí, tỉ trọng các ngành và lĩnh vực phù hợp hơn, thích ứng được yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, đáp ứng nhu cầu xã hội. Quá trình đó diễn ra một cách khách quan và từng bước tạo ra sự cân đối hợp lý hơn, có khả năn khai thác nguồn lực trong nước và nước ngoài. Sự phát triển của lực lượng sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành cơ cấu kinh tế. Lực lượng sản xuất phát triển không ngừng, nên cơ cấu kinh tế luôn luôn thay đổi, song sự biến đổi của cơ cấu kinh tế diễn ra chậm chạp, không mang tính đột biến như chính sách, cơ chế quản lý. * Quan điểm chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước trong mỗi giai đoạn nhất định: Cơ cấu kinh tế là biểu hiện tóm tắt những nội dung, mục tiêu định hướng của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Mặc dù cơ cấu kinh tế mang tính chất khách quan và lịch sử xã hội, nhưng các tính chất đó cảu cơ cấu kinh tế lại có sự tác động, chi phối của nhà nước. Nhà nước tuy không trực tiếp sắp đặt các ngành nghề, quy định các tỉ lệ của cơ cấu kinh tế, nhưng vẫn có sự tác động gián tiếp bằng cách định hướng phát triển, để thực hiện mục tiêu đáp ứng nhu cầu xã hội. Định hướng phát triển của nhà nước không chỉ nhằm khuyến khích mọi lực lượng sản xuất xã hội đạt mục tiêu đề ra, mà còn đưa ra các dự án để thu hút mọi thành phần kinh tế tham gia, nếu không đạt được thì nhà nước phải trực tiếp tổ chức sản xuất, đảm bảo sự cân đối giữa các sản phẩm, các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế. Mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế- xã hội là định hướng chung cho mọi thành phần, mọi nhà doanh nghiệp trong cả nước, phấn đầu thực hiện dưới sự điều tiết của nhà nước thông qua hệ thống luật pháp và các quy định, thể chế chính sách của nhà nước. Sự điều tiết của nhà nước gián tiếp dẫn dắt các ngành, lĩnh vực và thành phâầ kinh tế phát triển, đảm bảo tính cân đối, đồng bộ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế. * Cơ chế quản lý ảnh hưởng đến quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Mọi sự hoạt động của nền kinh tế đều có sự điều tiết của nhà nước, song không phải nhà nước can thiệp trực tiếp vào qúa trình sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế. Nhà nước điều hành thông qua hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế. Những sản phẩm nào, ngành nào cần khuyến khích thì nhà nước giảm thuế, hoặc quy định thuế suất thấp để người sản xuất có lợi nhuận cao, còn đối với những ngành hàng cần hạn chế thì đánh thuế cao, người sản xuất thu được ít lợi nhuận, tất nhiên họ sẽ hạn chế đầu tư phát triển. Những ngành hàng hoặc lĩnh vực không ai muốn đầu tư sản xuất, nhưng sản phẩm của nó lại rất cần cho xã hội thì nhà nước tự đầu tư, tự tổ chức sản xuất. Nhà nước cũng có thể khuyến khích lao động chuyển đến các nơi có tài nguyên, có nhu cầu lao động thông qua các chính sách kinh tế, xã hội; ngược lại, muốn hạt chế di dân thì phải đầu tư phát triển các thị xã, thị trấn, thị tứ để có điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần tương đương như các đô thị lớn. Sự tác động của cơ chế quản lý sẽ thực hiện được cơ cấy sản xuất, cơ cấu dân cư, tạo ra sự cân đối lực lượng lao động và thu nhập giữa các vùng và giảm bớt khoảng cách thành thị và nông thôn. * Xu thế chính trị, xã hội trong khu vực và thế giới ảnh hưởng đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Sự biến động về chính trị, xã hội của một nước hay một số nước, nhất là nước lớn, sẽ tác động mạnh đến các hoạt động ngoại thương, thu hút vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ…của các nước khác trên thế giới và khu vực. Do đó, thị trường và nguồn lực nước ngoài cũng thay đổi, buộc các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế nước mình ổn định và phát triển. * Xu thế toàn cầu hoá kinh tế, quốc tế hoá lực lượng sản xuất: Các thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ, sự bùng nổ thông tin, tạo điều kiện cho các nhà sản xuất-kinh doanh nắm bắt thông tin, hiểu thị trường và hiểu đối tác mà mình muốn hợp tác. Từ đó giúp họ định hướng sản xuất, kinh doanh, thay đổi cơ cấu sản xuất, kinh doanh phù hợp với xu thế hợp tác đan xen vào nhau, khai thác thế mạnh của nhau, cùng nhau phân chia lợi nhuận. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở NƯỚC TA 2.1. Những thành tựu đạt được: Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hóa chính là con đường tất yếu để Việt Nam nhanh chóng thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển để trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại. Nội dung và yêu cầu cơ bản của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta theo hướng này, chính là tăng nhanh tỷ trọng trong GDP của các ngành công nghiệp, xây dựng (gọi chung là công nghiệp) và thương mại- dịch vụ (gọi chung là thương mại), đồng thời giảm dần tương đối tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp (gọi chung là nông nghiệp). Và điều tất yếu là đi cùng với quá trình chuyển dịch của cơ cấu kinh tế sẽ dẫn đến những biến đổi kinh tế và xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cơ cấu các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế, các lực lượng lao động xã hội, cơ cấu kinh tế đối nội, cơ cấu kinh tế đối ngoại....Sau hơn 20 năm theo định hướng cơ bản trên, chúng ta đã đạt được những kết quả nổi bật sau đây: * Về cơ cấu ngành kinh tế: cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn định của GDP, cơ cấu ngành kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực. Bảng 2.1. Cơ cấu ngành kinh tế từ năm 1990- 2010: Năm 1990 1995 2000 2005 2008 2009 2010 Nông nghiệp 38,1 27,2 24,5 20,9 22.1 20.91 20.3 Công nghiệp 22,7 28,8 36,7 41 39.7 40.24 41.1 Dịch vụ 38,6 44 38,7 38,1 38.2 38.85 38.6 Nguồn: Tổng cục thống kê Thông qua bảng số liệu ta có biểu đồ thể hiện cơ cấu ngành kinh tế từ năm 1990 – 2010: Hình 2.1: Biểu đồ cơ cấu ngành kinh tế từ năm 1990 – 2010: Nguồn: Tổng cục thống kê Theo bảng số liệu 2.1 ta thấy, tỷ trọng trong GDP của ngành nông nghiệp đã giảm nhanh từ 38,1% năm 1990 xuống 27,2% năm 1995; 24,5% năm 2000; 20,9% năm 2005, và đến năm 2008 tuy tỷ trọng này tăng lên đến 22,1% nhưng mà sang đến 2009 thì chỉ còn 20,91%, còn đến năm 2010 thì tiếp tục giảm xuống còn 20,3%. Tỷ trọng công nghiệp trong GDP đã tăng nhanh, năm 1990 là 22,7%; năm 1995 tăng lên 28,8%; năm 2000: 36,7%; năm 2005: 41% và đến năm 2010 là 41,1%. Tỷ trọng dịch vụ trong GDP chưa biến động nhiều, năm 1990 là 38,6%; năm 1995: 44,0%; năm 2000: 38,7%; năm 2005: 38,1%; năm 2010 là 38,6%. Nhìn vào tỷ trọng đóng góp của các ngành trong GDP ta đã thấy được sự chuyển dịch mạnh mẽ trong cơ cấu ngành kinh tế, từ một nước chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp giờ nước ta đã và đang trở thành một nước có nền kinh tế công nghiệp. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Số lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên, trong khi số lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm đi. Bảng 2.2. Sự thay đổi cơ cấu ngành và cơ cấu lao động từ 1990- 2008(%) Năm 1990 1995 2000 2005 2008 2009 2010 GDP 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 KV I 38.7 27.2 24.5 21.0 22.1 20.91 20.3 KV II 22.7 28.8 36.7 41.0 39.7 40.24 41.1 KV III 38.6 44.1 38.7 38.0 38.2 38,85 38,6 Lao động 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 KV I 73.0 71.3 65.1 57.1 52.6 52.0 50 KV II 11.2 11.4 13.1 18.2 20.8 22.3 25.6 KV III 15.7 17.4 21.8 24.7 26.6 25.7 24.4 Nguồn: Tổng cục thống kê * Về cơ cấu các thành phần kinh tế: Kinh tế tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Từ những định hướng đó, khung pháp lý ngày càng được đổi mới, tạo thuận lợi cho việc chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường, nhằm giải phóng sức sản xuất, huy động và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế. * Về cơ cấu vùng kinh tế: Trong những năm vừa qua cũng đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế. Trên bình diện quốc gia, đã hình thành 6 vùng kinh tế: vùng trung du miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, có 3 vùng kinh tế trọng điểm là vùng động lực cho tăng trưởng kinh tế cả nước. Các địa phương cũng đẩy mạnh việc phát triển sản xuất trên cơ sở xây dựng các khu công nghiệp tập trung, hình thành các vùng chuyên canh cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chế biến, nuôi trồng thuỷ sản, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của từng vùng. Điều này tạo thuận lợi cho phát triển công nghiệp chế biến, góp phần tạo nên xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng sản xuất hàng hoá, hướng về xuất khẩu. * Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng mở cửa, hội nhập kinh tế toàn cầu. Điều đó thể hiện ở chỗ, tỷ lệ xuất khẩu/GDP (XK/GDP) ngày càng tăng, nghĩa là hệ số mở cửa ngày càng lớn, từ 34,7% năm 1992 lên 47% năm 2001, và đến năm 2005 là trên 50%. Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm 2001 – 2005 đã đạt 111 tỉ USD, tăng bình quân 17,5%/năm (kế hoạch là 16%/năm), khiến cho năm 2005, bình quân kim ngạch xuất khẩu/người đã đạt 390 USD/năm, gấp đôi năm 2000. Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu tiếp tục đạt mức cao – 40 tỉ USD, tăng 24% so với năm 2005; năm 2007 đạt gần 50 tỉ USD, tăng 21,5% so với năm 2006; năm 2008 tăng 29,5% so với năm 2007, đưa tỷ lệ XK/GDP đạt khoảng 70%. Năm 2009, tỷ lệ này là 75,6% và đến năm 2010 là 85,9%. Nhiều sản phẩm của Việt Nam như gạo, cao su, may mặc, giày dép, hải sản… đã có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới. Các hoạt động kinh tế đối ngoại khác như đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) và viện trợ phát triển chính thức (ODA) cũng đều tăng trưởng khả quan, đặc biệt là vốn FDI đã có bước phát triển tích cực, tăng mạnh từ năm 2004 đến nay. Năm 2001, vốn FDI vào Việt Nam là 3,2 tỉ USD; tiếp theo, năm 2002: 3,0 tỉ USD; 2003: 3,2 tỉ USD; 2004: 4,5 tỉ USD; 2005: 6,8 tỉ USD; 2006: 10,2 tỉ USD; và năm 2007 vừa qua đã là năm thứ hai nước ta liên tục nhận được các nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) đạt con số kỷ lục: 20,3 tỉ USD, tăng gấp đôi so với năm 2006, bằng tổng mức thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của cả giai đoạn 5 năm 2001-2005, chiếm 1/4 tổng vốn FDI vào Việt Nam trong suốt hơn 20 năm vừa qua. Năm 2008 này, tuy kinh tế toàn cầu có nhiều khó khăn lớn trong xu thế suy thoái, song đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký tại Việt Nam đạt 64,011 tỉ USD, tăng gấp đôi năm 2007. Tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam năm 2008 diễn ra đầu tháng 12, tại Hà Nội, tổng cam kết từ các nhà tài trợ lên tới 5,014 tỉ USD (thấp hơn 1 chút so với năm 2007: 5,4 tỉ USD). Giải ngân vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (ODA) được 2,2 tỉ USD, vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra và cao hơn mức năm 2007 (2,176 tỉ USD). Có thể nói rằng, kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế sau hơn 20 năm đổi mới là một trong những nguyên nhân quan trọng và cơ bản nhất đưa đến các kết quả, thành tựu tăng trưởng kinh tế khả quan, tạo ra những tiền đề vật chất trực tiếp để chúng ta giữ được các cân đối vĩ mô của nền kinh tế như thu chi ngân sách, vốn tích luỹ, cán cân thanh toán quốc tế…, góp phần bảo đảm ổn định và phát triển kinh tế – xã hội theo hướng bền vững. Các chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo, chương trình về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội cho các vùng khó khăn, các chương trình tín dụng cho người nghèo và chính sách hỗ trợ trực tiếp đã mang lại kết quả rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 17,2% năm 2006 xuống còn 14,7% năm 2007, và năm 2008 còn 13,1%. Chỉ số phát triển con người (HDI) đã không ngừng tăng, được lên hạng 4 bậc, từ thứ 109 lên 105 trong tổng số 177 nước. 2.2. Những hạn chế: So với yêu cầu đặt ra, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm và chất lượng chưa cao. Ngành công nghiệp tuy có tốc độ tăng trưởng cao, nhưng yếu tố hiện đại trong toàn ngành chưa được quan tâm đúng mức, trình độ kỹ thuật công nghệ nhìn chung, vẫn ở mức trung bình. Công nghiệp chế biến, đặc biệt là những ngành công nghệ cao chưa phát triển. Tỷ trọng dịch vụ trong GDP giảm liên tục trong những năm gần đây. Những ngành dịch vụ có hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng cao như dịch vụ tài chính - tín dụng, dịch vụ tư vấn chậm phát triển. Theo nghiên cứu thì có 4 yếu tố dẫn đến sự chuyển dịch chậm chạp của ngành dịch vụ đó là: a. Dịch vụ vẫn chưa được xem là phương tiện nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Kinh tế dịch vụ vẫn còn mới ở VN và chưa được nhận thức đầy đủ từ các thành phần kinh tế, nhà hoạch định chính sách. b. Chính sách công nghệ tập trung nhiều vào các ngành công nghiệp sản xuất, chế tạo và chưa quan tâm đến vấn đề sử dụng công nghệ trong khu vực dịch vụ. Trong khi kinh nghiệm của các nước cho thấy việc sử dụng công nghệ trong khu vực dịch vụ có vai trò tái cấu trúc nhiều ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ. c. Chính sách cho khu vực dịch vụ còn ít và triển khai chậm nên chưa có kết quả đáng kể trong quá khứ. d. Thiếu các công cụ, chỉ số để đánh giá mức độ quan trọng của các ngành kinh tế dịch vụ. Do đó mà tình trạng độc quyền, dẫn tới giá cả dịch vụ cao, chất lượng dịch vụ thấp còn tồn tại ở nhiều ngành như điện lực, viễn thông, đường sắt. Một số ngành có tính chất động lực như giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, tính chất xã hội hoá còn thấp, chủ yếu dựa vào nguồn vốn của Nhà nước. Mới đây, tháng 9-2008, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa ra đánh giá tổng quan về tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội trong 3 năm qua (2006-2008) và dự báo khả năng thực hiện 52 chỉ tiêu chủ yếu đã được Đại hội X của Đảng đề ra trong kế hoạch kinh tế - xã hội giai đoạn 2006-2010, trong đó có các chỉ tiêu liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa ra cảnh báo, mặc dù đã có sự chuyển dịch đúng hướng, song tiến độ thực hiện còn chậm so với mục tiêu kế hoạch; trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái hiện nay mà dự báo là sẽ còn rất nan giải, chí ít là trong vài ba năm tới, nếu không có các giải pháp chính sách thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa trong phát triển công nghiệp và dịch vụ theo hướng nâng cao sản lượng và chất lượng tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế cùng với chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ… thì khó có thể thực hiện được mục tiêu đã đề ra. Có cảnh báo đó là vì, theo ước tính, đến hết năm 2008, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP vẫn còn 20,6-20,7%, giá trị công nghiệp năm 2008 mới đạt 40,6-40,7% GDP, tỷ trọng thương mại - dịch vụ năm 2008 ước tính có thể đạt 38,7-38,8% GDP. 2.3. Một số giải pháp tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực Trong Báo cáo của Chính phủ trình bày tại kỳ họp thứ tư, Quốc hội khoá XII (tháng 10-11-2008) đã nêu rõ có nhiều nguyên nhân khiến cho kinh tế nước ta lâm vào tình trạng lạm phát và suy giảm tăng trưởng từ đầu năm 2008 đến nay, trong đó có một nguyên nhân cơ bản là chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) còn chậm. Vì thế đẩy nhanh chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH vẫn được coi là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu để phát triển bền vững. Cụ thể, để phấn đấu đạt được mục tiêu kế hoạch chuyển dịch CCKT đến năm 2010 như Đại hội X đã đề ra, cần thực hiện tốt hơn nữa những vấn đề sau đây: - Tăng mạnh hơn nữa tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH ở nước ta trước hết chính là quá trình phát triển mạnh các ngành nghề phi nông nghiệp, thông qua đó giảm bớt lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, tăng khả năng tích luỹ cho dân cư. Đây lại chính là điều kiện để tái đầu tư, áp dụng các phương pháp sản xuất, công nghệ tiên tiến hiện đại vào sản xuất, trong đó có cả sản xuất nông nghiệp. Kết quả là, tất cả các ngành kinh tế đều phát triển, nhưng ngành công nghiệp và dịch vụ cần phát triển nhanh hơn, biểu hiện là tăng tỷ trọng của sản phẩm công nghiệp và dịch vụ trong GDP. - Hình thành các vùng kinh tế dựa trên tiềm năng, lợi thế của vùng, gắn với nhu cầu của thị trường. Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH là quá trình chuyển biến căn bản về phân công lao động xã hội theo lãnh thổ. Xoá bỏ tình trạng chia cắt về thị trường giữa các vùng; xoá bỏ tình trạng tự cung tự cấp, đặc biệt là tự cung, tự cấp về lương thực của từng vùng, từng địa phương. Mỗi địa phương cần đặt mình trong một thị trường thống nhất, không chỉ là thị trường cả nước mà còn là thị trường quốc tế, trên cơ sở đó xác định những khả năng, thế mạnh của mình để tập trung phát triển, tham gia vào quá trình phân công và hợp tác lao động có hiệu quả. - Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH gắn với quá trình hình thành các trung tâm kinh tế thương mại, gắn liền với quá trình đô thị hoá. Mặt khác, việc quy hoạch xây dựng các khu đô thị, trung tâm kinh tế, thương mại có ảnh hưởng trực tiếp trở lại tới quá trình chuyển dịch CCKT. - Giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số lao động xã hội. Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH là quá trình phân công lao động xã hội, là quá trình chuyển dịch lao động từ ngành nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ. Đây là giải pháp vừa cấp bách, vừa triệt để để giải quyết tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn hiện nay, đồng thời là hệ quả tất yếu của quá trình chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH. - Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH phải theo định hướng dẫn đến phát triển bền vững không chỉ vì mục tiêu tăng trưởng kinh tế đơn thuần mà phải vì mục tiêu phát triển kinh tế mà bao trùm lên cả là vì mục tiêu phát triển bền vững, trong đó có một cấu thành bộ phận rất quan trọng và không thể thiếu là bảo vệ môi trường. Từ đó cho thấy, các nhà lãnh đạo, nhà quản lý cho đến các doanh nghiệp, các địa phương, cơ sở… cần phải hết sức chú ý thực hiện tốt vấn đề này, tránh tình trạng vì lợi nhuận kinh tế trước mắt dẫn đến phá huỷ nghiêm trọng môi trường sinh thái tự nhiên như vừa qua và hiện nay công luận vẫn đang tiếp tục lên án về không ít các trường hợp doanh nghiệp đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật bảo vệ môi trường. CHƯƠNG 3: CÁC CHÍNH SÁCH TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở VIỆT NAM 3.1. Chính sách đầu tư: Đầu tư quyết định quá trình chuyển dịch kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế. Bên cạnh đó đầu tư còn có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ. Những năm gần đây thế giới đã biết Việt Nam như một nước đang thực hiện thành công công cuộc đổi mới. Để đạt được những thành công này Đảng và chính phủ đã có những chính sách cải cách và mở cửa hết sức đúng đắn. Chính phủ đã có một số chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư vào các khu công nghiệp, khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề, khuyến khích phát triển xuất khẩu, chăn nuôi, sản xuất giống thuỷ sản, phát triển vùng nguyên liệu. Để không ngừng tạo sức hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư theo hướng có lợi cho nhà đầu tư nhưng phù hợp với quy định hiện hành của luật pháp Việt Nam cùng với quan điểm: không hạn chế về quy mô, ngành nghề, lĩnh vực và địa bàn, trên cơ sở Luật đầu tư và Luật Doanh nghiệp, hệ thống chính sách ngày càng được hoàn thiện theo hướng ưu đãi và tạo thuận lợi nhất đối với các nhà đầu tư. Những cơ chế, chính sách chủ yếu tập trung vào giải phóng mặt bằng, giá thuê đất, đầu tư hạ tầng, sử dụng lao động, phát triển vùng nguyên liệu và cải cách thủ tục hành chính. Tuỳ theo quy mô, tính chất của từng dự án, trên cơ sở xem xét đề nghị của nhà đầu tư thì cơ chế chính sách sẽ có sự ưu đãi đặc biệt để khuyến khích thu hút đầu tư. Chính sách này giúp cho nhà đầu tư sẽ được quan tâm hơn trong việc phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ triển khai thực hiện các dự án. Đối với các dự án đặc biệt góp phần chuyển dịch cơ cầu kinh tế và tạo bước đột phá trong việc phát triển kinh tế thì nhà nước sẽ có cơ chế chính sách đặc biệt ưu đãi riêng. Trong việc thực hiện các thủ tục hành chính nhà nước thực hiện chức năng “ một đầu mối” ( nhà đầu tư chỉ cần đến một cơ quan duy nhất) từ khâu hướng dẫn khảo sát ban đầu đến khi hình thành dự án, thẩm định và cấp giấy chứng nhận đầu tư. Ngoài ra các nhà đầu tư có thể liên hệ trực tiếp với các sở quản lý chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật để được thông tin và hướng dẫn trong những lĩnh vực chuyên ngành cụ thể. Thời gian cấp giấy chứng nhận đầu tư: + Đối với những dự án thuộc diện đăng ký đầu tư: tối đa 10 ngày làm việc. + Đối với dự án thuộc diện thẩm định: tối đa 14 ngày làm việc. Có thể thấy được rằng việc đơn giản hóa các thủ tục hành chính, thời gian cấp giấy chứng nhận đầu tư đã được giảm xuống đáng kể là một trong những yếu tố khuyến khích các nhà đầu tư mạnh dạn hơn khi đầu tư ở Việt Nam. Chính điều này đã mang lại những tác động tích cực trong việc thu hút vốn đầu tư để phát triển nền kinh tế vốn còn chậm phát triển của Việt Nam, hướng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo con đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Đồng thời đó là việc tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế. 3.2. Chính sách tài chính tiền tệ: Với sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu trong những năm gần đây đã tác động mạnh đến nền kinh tế nước ta. Lĩnh vực chịu ảnh hưởng nhiều là xuất khẩu, du lịch, thị trường chứng khoán, bất động sản và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Trước tình hình trên, chính phủ đã tập trung xác định và triển khai nhanh chóng những giải pháp kinh tế cấp bách trước mặt, thực hiện đồng bộ các cơ chế chính sách về tài chính tiền tệ nên đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế đất nước. Bên cạnh đó còn phải tiếp tục tăng trưởng, ngăn chặn và hạn chế được đà suy giảm kinh tế, chủ động phòng ngừa lạm phát, đảm bảo an ninh xã hội, tiếp tục giữ vững ổn định chính trị. Về mặt quản lý vĩ mô, chính sách tài chính tiền tệ trong thời gian qua đã tác động trực tiếp đối với các thành phần kinh tê, các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân. Thông qua các cơ chế hỗ trợ lãi suất vay tín dụng ngân hàng, miễn, giảm hoặc giãn thuế… đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân tiếp tục duy trì sản xuất kinh doanh, tồn tại và phát triển trong điều kiện khó khăn. Điều đó được thể hiện cụ thể thông qua việc miễn giảm thuế, hoàn thuế cùng với việc điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu đối với một số nhóm hàng là nguyên liệu đầu vào của sản xuất. Ngoài ra chính phủ cón thực hiện chính sách điều chỉnh tăng thuế một số mặt hàng trong khuôn khổ cam kết WTO nhằm tạo điều kiện cho phát triển sản xuất trong nước. Thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng ngân hàng cùng với đó là việc gắn liền với việc thực hiện chính sách tiền tệ cẩn trọng và hiệu quả ( điều chỉnh giảm dự trữ bắt buộc, giảm lãi suất cơ bản…) đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp, khách hàng tiếp cận vốn tín dụng thuận lợi hơn và tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp, tăng khả năng duy trì năng lực sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Về mặt định lượng, tác động này phản ánh trên 3 mặt đó là: Duy trì sản xuất kinh doanh, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý trong điều kiện khủng hoảng. Việc duy trì này đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội, duy trì mức sống cho nhân dân thành phố trong điều kiện khó khăn. Qua việc đảm bảo an sinh xã hội, chính phủ tạo thêm được việc làm và thu nhập cho người lao động và hạn chế được mất việc làm do suy giảm kinh tế. Việc thực hiện các biện pháp kích cầu chống suy giảm kinh tế trong thời gian qua đã giúp các doanh nghiệp vượt qua được sự khó khăn và phát triển sản xuất. Để duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế như mục tiêu để ra thì chính sách tiền tệ cần phải có sự gắn bó mật thiết với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, tăng nhanh hàm lượng công nghệ cao, tập trung vào các ngành có giá trị gia tăng cao. Chính phủ tạo mọi điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tham gia các chương trình kích cầu để đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng sức cạnh tranh và chuyển dịch cơ cấu nội bộ từng doanh nghiệp, các ngành và lĩnh vực kinh tế. 3.3. Chính sách về cơ cầu lao động ở Việt Nam: Về cơ cấu lao động ở nước ta hiện nay ngành chiếm nhiều lao động nhất là ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản với gần 23 triệu lao động ( năm 2008) Trong tương lai việc làm trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có chiều hướng giảm và sẽ ở mức 21,1 triệu lao đông vào năm 2020. Người lao động có trình độ và kỹ năng cao hơn sẽ là chất xúc tác cho quá trình này. Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế trong giai đoạn 2007 – 2009, Việt Nam gặp nhiều thách thức do tác động của nền kinh tế toàn cầu bị suy giảm với những ảnh hưởng rõ rệt đến thị trường lao động. Tỷ trọng việc làm dễ bị tổn thương giảm xuống 4,3% do sự gia tăng tỷ trọng lao động làm công ăn lương (2,9%) và gia tăng lao động tự làm (8,2%). Bên cạnh đó sự gia tăng tỷ trọng lao động gia đình không được trả công (4.0%) đi ngược lại với xu thế trên. Việt Nam cũng là nước có tỷ lệ việc làm tính trên dân số tương đối cao, ứng với gần 75% dân số từ 15 tuổi trở lên. Tuy nhiên, do ảnh hưởng bất ổn của khủng hoảng tài chính toàn cầu, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở Việt Nam đã giảm trong giai đoạn 2007-2009. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động tăng đối với nam giới và nữ giới trong độ tuổi 15-19 (từ 37,1% năm 2007 lên 43,8% năm 2009) cho thấy đã có một lực lượng lớn thanh thiếu niên rời bỏ nhà trường để tìm việc kiếm sống và hỗ trợ gia đình. Để tạo việc làm bền vững trong giai đoạn tiếp theo cần chú trọng phát triển các mô hình, biện pháp tạo việc làm; chuyển dịch cơ cấu, tăng năng suất lao động; giải quyết mất cân đối cung cầu cục bộ tập trung ở những nơi nhiều lao động; nâng cao chất lượng việc làm, giảm việc làm kém hiệu quả, thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp hợp lý. KẾT LUẬN Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được Đảng và nhà nước ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển thành quốc gia văn minh hiện đại. Trong thời gian qua mặc dù gặp không ít khó khăn thử thách nhưng cơ cấu ngành kinh tế đã có những bước chuyển biến tích cực theo chiều hướng mở cửa hội nhập vào kinh tế toàn cầu góp phần quan trọng vào việc tăng trưởng kinh tế và thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, tạo ra những tiền để vật chất trực tiếp. Dựa vào các số liệu tổng hợp và phân tích ở trên thì chúng ta có thể thấy được thực trạng của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta trong thời kỳ hội nhập kinh tế. Để đưa đất nước ta đi lên sánh vai với các cường quốc kinh tế trên thế giới và trong khu vực đòi hỏi chúng ta phải có đường lối cũng như những giải pháp phù hợp thúc đẩy phát triển kinh tế. Vì vậy vấn đề đặt ra cho Đảng, nhà nước và nhân dân ta là phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đồng bộ các giải pháp điều chỉnh đầu tư, tiết kiệm chi tiêu, thắt chặt tài chính và kiểm soát chặt chẽ thị trường, hỗ trợ phát triển sản xuất. Tiểu luận này vẫn còn nhiều thiếu sót, nhóm em rất mong được sự góp ý của thầy để tiểu luận hoàn chỉnh hơn. Nhóm em xin chân thành cảm ơn! TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình Kinh Tế Phát Triển, ĐH Kinh Tế Quốc Dân, NXB Lao Động – Xã Hội, 2005 2. Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), lần thứ IX (2001) và lần thứ X (2006), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1987, 2001 và 2006. 3. Các văn kiện nghị quyết Trung ương ( khoá IX, X) có liên quan từ năm 2001 đến nay. 4. Các báo cáo của Quốc hội và Chính phủ về những vấn đề liên quan đã công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng khác từ năm 2006 đến nay. 5. www.gso.gov.vn 6. thongtinphapluatdansu.wordpress.com MỤC LỤC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCác mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Khả năng ứng dụng ở Việt Nam Phân tích hệ thống các chính sách tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt N.doc
Luận văn liên quan