Tiểu luận Chính sách kiểm soát lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trong thời gian qua, Lạm phát của Việt Nam đã trải qua nhiều đợt bùng phát và tưởng chừng như không thể kiểm soát được. Qua việc phân tích những nguyên nhân dẫn tới lạm phát ở Việt Nam và bằng việc điều hành quyết liệt của chính phủ qua các chính sách kiểm soát lạm phát, mà cụ thể là Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và mới đây nhất là Nghị Quyết 01/NQ-CP ngày 03/01/2012 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2012 đã từng bước tác động đến chỉ số lạm phát theo chiều hướng giảm. Tuy nhiên lạm phát tuy có bước được kiềm chế nhưng vẫn ở mức cao, trong khi giá dầu thế giới tăng cao buộc chúng ta phải điều chỉnh theo giá thị trường; lãi suất còn cao, tăng trưởng tín dụng giảm, thanh khoản của một số ngân hàng thương mại khó khăn, việc tiếp cận vốn còn hạn chế; sản xuất công nghiệp tăng chậm, hàng hóa tồn kho lớn, chi phí đầu vào cao, nhiều cơ sở phải thu hẹp quy mô sản xuất kinh doanh (Nghị quyết số 07/NQ -CP).

pdf66 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 24/02/2014 | Lượt xem: 2947 | Lượt tải: 38download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Chính sách kiểm soát lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối báo cáo số dư tiền gửi ngoại tệ của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước  Hiệu quả đạt được Với động thái quản lý mạnh tay của NHNN, thị trường ngoại hối đã ghi nhận nhiều diễn biến tích cực: khoảng cách giữa tỷ giá trên thị trường tự do và thị trường chính thức được thu hẹp lại thậm chí có những ngày tỷ giá trên thị trường tự do giao dịch thấp hơn tỷ giá chính thức, nguồn cung USD tăng đột biến khiến giá USD liên tục giảm, một số người dân đã chuyển từ USD sang VND để nhận lãi suất cao hơn. Diễn biến tỷ giá trong năm đã chịu nhiều áp lực từ tình hình tăng trưởng tín dụng ngoại tệ đột biến trong các tháng đầu năm, từ diễn biến giá vàng và từ chủ trương hạ mức lãi suất đồng nội tệ của Chính phủ trong bối cảnh lạm phát vẫn ở mức cao. Tuy nhiên, việc duy trì được tỷ giá tăng ở mức thấp dưới 1% trong nhiều tháng qua được nhìn nhận mang nhiều ý nghĩa tích cực trong bối cảnh những sức ép của việc giảm lãi suất tiền đồng và diễn biến của giá vàng và giá USD trên thị trường tự do vẫn còn cao. III.1.1.5 Kiểm soát và điều hành thị trường vàng  Diễn biến giá vàng Giá vàng trong nước đã có nhiều biến động trong năm 2011. Trong tháng 8 và đầu tháng 9, giá vàng quốc tế sau khi liên tiếp thiết lập những mức cao kỉ lục đã giảm mạnh từ đỉnh $1.920/oz trong ngày 06/09 về mức $1.624/oz vào cuối ngày 30/09. Theo đó, giá vàng trong nước cũng giảm từ mức đỉnh xấp xỉ 49.000.000 đồng/lượng vào cuối ngày 22/08 về mức 44.220.000 đồng/lượng vào cuối ngày 30/09. Những tháng cuối năm giá vàng giảm dần và dừng quanh mốc 44 triệu đồng/lượng. Trong năm 2011, giá vàng trong nước tăng khoảng 14% trong khi giá vàng thế giới tăng khoảng 11%. Bên cạnh đó, giá vàng trong nước luôn có xu hướng cao hơn từ 1 – 3 triệu đồng/lượng so với giá vàng thế giới đã khiến cho việc đầu cơ vàng cũng như thị trường vàng diễn ra khá phức tạp. Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 43 Biểu đồ biến động giá vàng  Chính sách: Để hạn chế tình trạng đầu cơ để góp phần ổn định thị trường ngoại hối và giảm phương tiện thanh toán bằng vàng trong lưu thông, NHNN đã ban hành Thông tư quy định về chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín dụng. Khi thị trường vàng có dấu hiệu căng thẳng, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng về việc áp dụng các biện pháp cần thiết để bình ổn thị trường, NHNN đã ban hành Thông tư cho phép một số NHTM được bán một lượng vàng huy động và giữ hộ tồn quỹ (vàng tồn quỹ) ra thị trường, đồng thời được mở tài khoản vàng ở nước ngoài để bảo hiểm rủi ro biến động giá vàng. Để hạn chế khả năng dùng đòn bẩy tài chính để đầu cơ vàng gây rối loạn thị trường như hiện tượng tổ chức, cá nhân vay vốn mua vàng hoặc thế chấp, cầm cố vàng để vay vốn tại tổ chức tín dụng, NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện các biện pháp để kiểm tra chặt chẽ việc vay vốn của khách hàng có cầm cố, thế chấp bằng vàng và ban hành quy định hệ số rủi ro là 250% đối với các khoản cho vay được bảo đảm bằng vàng.  Hiệu quả đạt được Sau khi thực hiện việc bán vàng can thiệp, với lượng cung vàng lớn từ Công ty SJC và 5 NHTM, cơ chế bán vàng tồn quỹ can thiệp đã thu được những kết quả khả quan. Mức chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới đã được thu hẹp đáng kể. Tỷ giá đô la Mỹ trên thị trường tự do đã giảm do mức chênh lệch thấp giữa giá vàng Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 44 trong nước và giá vàng thế giới, khiến cho nhu cầu thu gom đô la Mỹ để nhập khẩu vàng lậu giảm mạnh. Giới đầu cơ vàng đã co lại và không thể thao túng giá vàng trên thị trường trong nước. Hiện tượng nhập khẩu lậu vàng gần như chấm dứt. Nhu cầu mua vàng của người dân đã được đáp ứng với mức giá hợp lý so với giá vàng thế giới. III.1.2. Chính sách tài khóa Chính sách tài khóa là chính sách của chính phủ thông qua các khoản thu và chi của ngân sách nhà nước để kiểm soát mức độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát của một quốc gia. Chính sách tài khóa cùng với chính sách tiền tệ là hai chính sách vĩ mô quan trọng nhất để kiểm soát tình hình tăng trưởng kinh tế cũng như tình hình lạm phát. Thông thường, để thúc đẩy tình hình sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế, chính phủ thường nới lỏng chính sách tài khóa, giảm thu thuế, tăng đầu tư và chi tiêu công. Tuy nhiên, khi cần kiểm soát tình hình lạm phát, ổn định kinh tế, chính phủ các nước thường áp dụng biện pháp thắt chặt chính sách tài khóa, tăng các khoản thuế, giảm đầu tư và chi tiêu công. Trong giai đoạn hiện nay, chính phủ Việt Nam thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, mục tiêu chính là ổn định kinh tế vĩ mô, giảm lạm phát. Theo nghị quyết 11/NQ-CP, Chính phủ chỉ đạo: - Phấn đấu tăng thu ngân sách nhà nước 7-8% so với dự toán ngân sách năm 2011 đã được Quốc hội thông qua. Tăng cường kiểm tra, giám sát trong quản lý thu thuế, chống thất thu thuế; tập trung xử lý các khoản nợ đọng thuế; triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng và hạn chế phát sinh số nợ thuế mới - Không ứng trước vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ năm 2012 cho các dự án, trừ các dự án phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai cấp bách. - Không kéo dài thời gian thực hiện các khoản vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ kế hoạch năm 2011, thu hồi về ngân sách Trung ương các khoản này để bổ sung vốn cho các công trình, dự án hoàn thành trong năm 2011. - Thành lập các đoàn kiểm tra, rà soát toàn bộ các công trình, dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ đã được bố trí vốn năm 2011, xác định cụ thể các công trình, dự án cần ngừng, đình hoãn, giãn tiến độ thực hiện trong năm Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 45 2011; thu hồi hoặc điều chuyển các khoản đã bố trí nhưng chưa cấp bách, không đúng mục tiêu, báo cáo và đề xuất với Thủ tướng Chính phủ biện pháp xử lý trong tháng 3 năm 2011. - Kiểm tra, rà soát lại đầu tư của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ các biện pháp xử lý, loại bỏ các dự án đầu tư kém hiệu quả, đầu tư dàn trải, kể cả các dự án đầu tư ra nước ngoài. - Ngân hàng Phát triển Việt Nam giảm tối thiểu 10% kế hoạch tín dụng đầu tư từ nguồn vốn tín dụng nhà nước. - Chưa khởi công các công trình, dự án mới sử dụng vốn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ, trừ các dự án phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai cấp bách và các dự án trọng điểm quốc gia và các dự án được đầu tư từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Rà soát, cắt giảm, sắp xếp lại để điều chuyển vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ năm 2011 trong phạm vi quản lý để tập trung vốn đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án quan trọng, cấp bách, hoàn thành trong năm 2011. - Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước rà soát, cắt giảm, sắp xếp lại các dự án đầu tư, tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính. - Các Bộ, cơ quan, địa phương chủ động sắp xếp lại các nhiệm vụ chi để tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên của 9 tháng còn lại trong dự toán năm - Tạm dừng trang bị mới xe ô-tô, điều hòa nhiệt độ, thiết bị văn phòng; giảm tối đa chi phí điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, xăng dầu,...; không bố trí kinh phí cho các việc chưa thật sự cấp bách. Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương, tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước chịu trách nhiệm tiết giảm tối đa chi phí hội nghị, hội thảo, tổng kết, sơ kết, đi công tác trong và ngoài nước... Không bổ sung ngân sách ngoài dự toán, trừ các trường hợp thực hiện theo chính sách, chế độ, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Xử lý nghiêm, kịp thời, công khai những sai phạm.  Hiệu quả đạt được Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 46 Bội chi NSNN năm 2011 Quốc hội quyết định là 120.600 tỷ đồng, bằng 5,3% GDP. Ước cả năm, trên cơ sở đánh giá kết quả thu, chi và dự kiến sử dụng tăng thu NSNN báo cáo trên, giảm bội chi NSNN năm 2011 xuống 4,9%GDP. Số bội chi tuyệt đối là 111.500 tỷ đồng, giảm 9.100 tỷ đồng so với Quốc hội quyết định. Bội chi ngân sách nhà nước (Nguồn: Bộ tài chính) Số bội chi ngân sách nhà nước tăng rất nhỏ, chỉ tăng khoảng 0,27% so với năm 2010 và tỷ lệ bội chi so với GDP năm 2011 đạt 4,9% thấp nhất trong vài năm trở lại đây, đạt chỉ tiêu phấn đấu giảm bội chi ngân sách nhà nước năm 2011 thấp hơn mức 5% đề ra tại nghị quyết 11 Tỷ lệ bội chi so với GDP (Nguồn: Bộ tài chính) Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 47 Tuy nhiên, ta thấy rằng số bội chi ngân sách tăng thấp không phải nhờ các biện pháp cắt giảm chi tiêu của chính phủ đề ra trong nghị quyết 11, chi thường xuyên năm 2011 tăng tới 17.5%, tăng mạnh nhất trong những năm gần đây. Bội chi ngân sách nhà nước tăng chậm nhờ các khoản thu ngân sách tăng, hầu hết, các khoản thuế đều tăng vượt dự toán, thêm vào đó, khoản thu từ dầu thô tăng 44,6% so với năm 2010 do giá dầu thô thế giới đang biến động mạnh. Chủ trương của chính phủ về chính sách tài khóa trong giai đoạn hiện nay nhìn chung là hi sinh tốc độ tăng trưởng kinh tế để đảm bảo xây dựng nền kinh tế ổn định và bền vững. Do đó, chính phủ đang từng bước thắt chặt đầu tư công để giảm chi đầu tư phát triển, tuy nhiên, cần chú trọng hơn nữa về chi thường xuyên, đây là khoản chi lớn nhất trong chi ngân sách nhà nước. Theo nghiên cứu cho thấy, trong năm 2011, chi thường xuyên vẫn chưa được quản lý hiệu quả, các biện pháp đề ra trong nghị quyết 11 vẫn chưa thật sự kiểm soát được nguồn chi này. III.1.3 CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG, SẢN XUẤT III.1.3.1 Thúc đẩy sản xuất kinh doanh Thực hiện các biện pháp hỗ trợ, khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn, tăng xuất khẩu, tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, bảo đảm an ninh lương thực. Đẩy mạnh cổ phần hóa, tái cơ cấu, kiểm soát chặt chẽ chi phí sản xuất, đổi mới quản trị doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, bảo đảm giá sản phẩm hàng hóa, dịch vụ ở mức hợp lý; tập trung vốn cho ngành nghề sản xuất kinh doanh chính. Tăng cường kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện các quy định về tiết kiệm, chống lãng phí; xây dựng và thực hiện chương trình tiết kiệm điện, phấn đấu tiết kiệm sử dụng điện 10% theo Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ; đồng thời, áp dụng các biện pháp cần thiết và phù hợp để khuyến khích, khuyến cáo các doanh nghiệp, nhân dân sử dụng tiết kiệm năng lượng (điện, xăng dầu), sử dụng các công nghệ cao, công nghệ xanh, sạch, công nghệ tiết kiệm điện. Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 48 III.1.3.2 Quản lý giá cả các mặt hàng thiết yếu Ban hành và thực hiện quy định về điều tiết cân đối cung - cầu đối với từng mặt hàng thiết yếu, bảo đảm kết hợp hợp lý, gắn sản xuất trong nước với điều hành xuất nhập khẩu; tiếp tục chỉ đạo, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong sản xuất, kinh doanh để đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ; chỉ đạo điều hành xuất khẩu gạo bảo đảm hiệu quả, ổn định giá lương thực trong nước, phối hợp với Bộ Tài chính trong việc điều hành dự trữ quốc gia để bảo đảm an ninh lương thực; thường xuyên theo dõi sát diễn biến thị trường trong nước và quốc tế để kịp thời có biện pháp điều tiết, bình ổn thị trường, nhất là các mặt hàng thiết yếu. Chủ động có biện pháp chống đầu cơ, nâng giá. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nhất là thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ tình hình sản xuất, tiêu dùng tại địa phương, chỉ đạo sản xuất, dự trữ, lưu thông, phân phối hàng hóa thông suốt, trước hết là các hàng hóa thiết yếu như lương thực, thực phẩm, xăng dầu,...; tăng cường quản lý giá, bình ổn giá trên địa bàn. III.1.3.3 Quản lý cán cân thương mại Các biện pháp của lý cán cân thương mại của chính phủ qua nghị quyết 11: - Chủ động áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý về thuế, phí để điều tiết lợi nhuận do kinh doanh xuất khẩu một số mặt hàng như thép, xi măng… thu được từ việc được sử dụng một số yếu tố đầu vào giá hiện còn thấp hơn giá thị trường. - Xem xét, miễn, giảm thuế, gia hạn thời gian nộp thuế nguyên liệu đầu vào nhập khẩu phục vụ sản xuất xuất khẩu đối với những ngành hàng trong nước còn thiếu nguyên liệu như dệt may, da giầy, thuỷ sản, hạt điều, gỗ, dược phẩm,…; tiếp tục thực hiện tạm hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa thực xuất khẩu trong năm 2011. - Kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc kê khai, áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo cam kết tại các thoả thuận thương mại tự do, các chính sách ưu đãi về thuế tại các khu phi thuế quan theo đúng quy định. Rà soát để giảm thuế đối với các mặt hàng là nguyên liệu đầu vào của sản xuất mà trong nước chưa sản xuất được; nghiên cứu tăng Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 49 thuế xuất khẩu lên mức phù hợp đối với các mặt hàng không khuyến khích xuất khẩu, tài nguyên, nguyên liệu thô. - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bảo đảm ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa thiết yếu mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng; hạn chế cho vay nhập khẩu hàng hóa thuộc diện không khuyến khích nhập khẩu theo danh mục do Bộ Công Thương ban hành. Nhìn chung, các biện pháp này đều tạo khuyến khích ưu đãi cho các mặt hàng còn thiếu nguyên liệu cho các ngành sản xuất hoặc các ngành mà sản xuất trong nước chưa sản xuất ra được và không khuyến khích xuất khẩu tài nguyên, nguyên liệu thô. Nhập siêu hàng hóa năm 2011 ước tính 9,5 tỷ USD, bằng 9,9% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu. Mức nhập siêu của năm 2011 là mức thấp nhất trong vòng 5 năm qua và là năm có tỷ lệ nhập siêu so với kim ngạch xuất khẩu thấp nhất kể từ năm 2002. Nhập siêu hàng hóa qua các năm (Nguồn: Tổng cục thống kê) Theo một số nhận định, năm 2011, xuất khẩu là điểm sáng của nền kinh tế, cùng với các biện pháp hạn chế nhập khẩu, nhiều mặt hàng có khối lượng nhập khẩu giảm so với năm 2010. Tuy nhiên, đằng sau đó vẫn còn nhiều bất cập: các ngành công nghiệp hỗ trợ dẫm chân tại chỗ, hàng nông, lâm, thuỷ sản số lượng nhiều, chủng loại phong phú nhưng chất lượng vẫn còn thấp, thực thu từ xuất khẩu thấp ... Vào cuối năm 2011, chính phủ đã ký quyết định phê duyệt ”chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030”, trong đó, định hướng phát triển Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 50 là giảm dần xuất khẩu khóang sản thô, phát triển sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao. Tuy nhiên, với tình hình thắt chặt chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, hạn chế đầu tư công thì việc thực hiện chiến lược này thật sự là bài toán khó trong giai đoạn hiện nay. III.1.3.4 Thực hiện các chính sách về an sinh xã hội - Huy động tối đa công suất các nhà máy điện để đáp ứng nhu cầu phụ tải điện trong mùa khô, ưu tiên bảo đảm điện cho sản xuất; đồng thời, tuyên truyền, chỉ đạo việc sử dụng điện tiết kiệm, phân bổ hợp lý để bảo đảm đáp ứng cho các nhu cầu thiết yếu của sản xuất và đời sống. - Tiếp tục thực hiện lộ trình điều hành giá xăng dầu, điện theo cơ chế thị trường. - Bộ Tài chính chủ động điều hành linh hoạt giá xăng dầu theo đúng quy định tại Nghị định số 84/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu, bảo đảm giá xăng dầu trong nước bám sát giá xăng dầu thế giới. - Trong năm 2011 thực hiện điều chỉnh một bước giá điện, nhà nước có chính sách hỗ trợ hộ nghèo sau khi điều chỉnh giá điện - Thực hiện đồng bộ các chính sách an sinh xã hội theo các chương trình, dự án, kế hoạch đã được phê duyệt; đẩy mạnh thực hiện các giải pháp bảo đảm an sinh xã hội theo Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ. - Tập trung chỉ đạo hỗ trợ giảm nghèo tại các địa phương, nhất là tại các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; hỗ trợ các hộ nghèo, địa phương nghèo xuất khẩu lao động; Chỉ đạo các cơ quan, địa phương triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng các quy định hỗ trợ đối tượng chính sách, người có công, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (già yếu cô đơn, không nơi nương tựa,...),... III.2 Chính sách kiểm soát lạm phát của Việt Nam trong năm 2012 Năm 2012, sức ép lạm phát đối với Việt Nam sẽ đến cả từ các nhân tố truyền thống và phi truyền thống, bên trong lẫn bên ngoài, khách quan và chủ quan, cụ thể là: Việc nước ta tiếp tục triển khai sâu rộng các cam kết trong Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN và ASEAN+, tạo ra những cơ hội to lớn cho thu hút đầu tư và phát triển xuất khẩu, nhưng cũng đặt ra những thách thức gay Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 51 gắt đối với sức cạnh tranh của nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi và khả năng phản ứng chính sách, phản ứng thị trường trước những diễn biến phức tạp của thị trường. Kinh tế nước ta tiếp tục chịu ảnh hưởng tiêu cực từ sự có thể đột biến, kéo dài và nặng nề hơn cuộc khủng hoảng nợ công và suy giảm kinh tế toàn cầu, cũng như các đột biến tiền tệ và chính trị ở nhiều nước trên thế giới. Giá lương thực, thực phẩm, giá dầu thô, giá một số nguyên vật liệu trên thị trường quốc tế và lạm phát có thể tăng cao tại nhiều quốc gia, cả phát triển, cũng như đang phát triển và mới nổi; khả năng tiếp tục đậm hơn xu hướng bảo hộ kỹ thuật các thị trường xuất khẩu quốc tế quan trọng của Việt Nam... Mặt khác, nền kinh tế Việt Nam phát triển còn thiếu bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp; kinh tế vĩ mô chưa vững chắc. Những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường chậm được khắc phục; nợ xấu của hệ thống ngân hàng tăng, thanh khoản của một số ngân hàng thương mại khó khăn; nhập siêu còn lớn, cán cân thanh toán quốc tế thâm hụt, dự trữ ngoại hối khó cải thiện căn bản, gây áp lực lên thị trường tiền tệ và tỷ giá; giá vàng trên thị trường có nhiều khả năng vẫn biến động bất thường. Sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô có thể trở thành thách thức lớn hơn nếu không có giải pháp quyết liệt, hiệu quả. Tham nhũng, lãng phí và sự chi phối của lợi ích nhóm chưa được đẩy lùi; hệ số tín nhiệm quốc gia thấp và chỉ số cạnh tranh tụt bậc liên tiếp nhiều năm. III.2.1 Chính sách tiền tệ - Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng linh hoạt III.2.1.1 Lãi suất Theo nghị quyết 01/NQ-CP, Ngân hàng nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp các Bộ, cơ quan địa phương cần điều chỉnh chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trong, linh hoạt, phối hợp hài hòa giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiểm soát lạm phát theo mục tiêu 9% đề ra. Điều hành chủ động và linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ, nhất là chính sách lãi suất, cho vay tái cấp vốn và nghiệp vụ thị trường mở, kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng cả năm 2012 khoảng 15% - 17%, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 14% - 16%, bảo đảm thanh khoản của các tổ chức tín dụng, giảm mặt bằng lãi suất ở mức hợp lý phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô. Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 52 III.2.1.2 Quản lý tín dụng ngân hàng Đối với việc quản lý tín dụng ngân hàng, chính phủ cũng đã chú trọng thực hiện các giải pháp khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức tín dụng ưu tiên vốn tín dụng phục vụ các lĩnh vực: nông nghiệp, nông thôn, sản xuất hàng suất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, sử dụng nhiều lao động, các dự án hiệu quả, kiểm soát tỷ trọng dư nợ cho vay các lĩnh vực không khuyến khích ở mức hợp lý. Đảm bảo tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng dư nợ tín dụng hàng năm không vượt quá mức khoảng 15%. III.2.1.3 Điều hành tỷ giá Cũng trong nghị quyết này việc điều hành tỷ giá phải đi đôi với điều biến thị trường ngoại hối linh hoạt, theo đúng định hướng đã đề ra là tương đối ổn định nhưng không cố định, phù hợp với diễn biến thị trường và tình hình cung – cầu ngoại tệ, góp phần khuyến khích xuất khẩu, giảm nhập siêu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trự ngoại hối nhà nước. Tiếp tục chủ động điều hành tỷ giá linh hoạt theo thị trường, không để chênh lệch 2 giá cao, kéo dài. III.2.1.4 Dự trữ ngoại hối, kiểm soát và điều hành thị trường vàng và ngoại hối Thực hiện các biện pháp đồng bộ, hiệu quả để kiểm soát thị trường ngoại tệ và thị trường vàng, phối hợp với Bộ Công an, các cơ quan chức năng địa phương tăng cường công tác kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hoạt động kinh doanh vàng, thu đổi ngoại tệ trái pháp luật. Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng; thực hiện tốt công tác dự báo và công khai, minh bạch thông tin thị trường tiến tệ, tín dụng, ngoại tệ, vàng; có giải pháp phù hợp để quản lý, kiểm soát được luân chuyển vốn, tín dụng giữa các thị trường này. Tạo điều kiện để nguồn ngoại tệ tập trung vào hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện đáp ứng các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp, hợp lý của người dân và doanh nghiệp. Cố gắng giảm tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế, hạn chế tình trạng đầu cơ để góp phần ổn định thị trường ngoại hối và giảm phương tiện thanh toán bằng vàng trong lưu thông. III.2.2 Chính sách tài khóa – thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ hiệu quả III.2.2.1 Thuế và các khoản thu ngân sách của chính phủ Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 53 Bộ tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan địa phương thực hiện các biện pháp thích hợp để tiết kiệm chi, tăng thu ngân sách nhà nước, phấn đấu giảm bội chi ngân sách nhà nước năm 2012 xuống dưới 4.8% GDP. Phối hợp chặt chẽ chính sách tài khóa với chính sách tiền tệ và các chính sách khác để kiềm chế lạm phát, ổn định mô hình kinh tế vĩ mô và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Tăng cường quản lý thu ngân sách nhà nước, chống thất thu, thu hồi số tiền nợ đọng thuế, nhất là các khoản thu liên quan đến đất đai, tài nguyên, hàng hóa nhập khẩu, chuyển giá. Đẩy mạnh và đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, hỗ trợ tư vấn pháp luật về thuế cho cộng đồng xã hội. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc kê khai nộp thuế. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra thuế, chống chuyển giá. Rà soát hoàn thiện cơ chế và cơ sở pháp lý để bảo đảm kiểm soát của Nhà Nước đối với các hoạt động đặt cược, trò chơi có thưởng. Phấn đầu tăng thu ngân sách nhà nước để ưu tiên giảm bội chi và giành cho tài trợ. III.2.2.2 Các khoản chi của chính phủ Giảm sâu hơn bội chi ngân sách; tăng cường tiết kiệm chi thường xuyên NSNN các cấp và áp khóan, lượng hóa bắt buộc tiết kiệm chi phí quản lý, kinh doanh đối với khu vực DNNN, giảm tối đa chi phí điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, xăng dầu, chi phí lễ hội, khánh tiết, hội nghị, hội thảo, đi công tác trong và ngoài nước. Trong nghị định này, chính phủ yêu cầu các cơ quan, các bộ ban ngành tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra các khoản chi trong cân đối ngân sách nhà nước, các khoản chi được quản lý qua ngân sách nhà nước, vay về cho vay lại; bảo lãnh vay của Chính phủ; các khoản chi từ các quỹ tài chính Nhà nước, các khoản vay, tạm ứng của các Bộ, địa phương. Tiếp tục rà soát, bổ xung hoàn thiện các chế tài xử lý các vi phạm pháp luật về sử dụng ngân sách nhà nước, bảo đảm thực thi luật pháp nghiêm minh. Thực hiện minh bạch hóa chi tiêu của ngân sách nhà nước và đầu tư công. Sắp xếp lại danh mục đầu tư công, nâng cao hiệu quả đầu tư, kinh doanh từ NSNN và của doanh nghiệp nhà nước theo tiêu chí rõ ràng được luật hóa; bảo đảm nợ công trong giới hạn an toàn; đổi mới cơ chế phân bổ vốn đầu tư; kiên quyết tập trung vốn cho các công trình dự án cấp thiết, sớm hoàn thành, nhanh đưa vào sử dụng để phát huy hiệu quả. Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 54 Ưu tiên bố trí vốn cho các công trình đã hoàn thành và đã đưa vào sử dụng, các công trình cần thiết phải hoàn thành trong năm 2012 và vốn đối ứng cho các dự án ODA. III.2.3 Các biện pháp hỗ trợ, ổn định đời sống và sản xuất III.2.3.1 Thúc đẩy sản xuất kinh doanh Theo nghị quyết trên, chính phủ chỉ đạo đẩy mạnh phát triển thương mại trong nước, triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả Quy hoạch tổng thể phát triển thương mại Việt Nam đến nằm 2020, chú trọng phát triển thương mại nông thôn nhất là hệ thống các chợ, hợp tác xã thương mại – dịch vụ, hộ kinh doanh. Nghiên cứu xây dựng và áp dụng các cơ chế phù hợp khuyến khích phát triển thương mại điện tử. Thực hiện các chính sách và áp dụng các biện pháp thích hợp tạo lập mối liên kết giữa nhà sản xuất với tổ chức phân phối và người tiêu dung để hình thành những kênh lưu thông hàng hóa ổn định, gắn với quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi bổ sung cơ chế, chính sách, đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “ Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, kích cầu trong nền kinh tế theo hướng kiểm soát lạm phát. III.2.3.2 Quản lý giá cả các mặt hàng thiết yếu Theo chủ trương của thông tư, Bộ Công Thương chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, cơ quan, địa phương để tăng cường nâng cao hiệu quả công tác phân tích dự báo theo dõi chặt chẹ diễn biến thị trương trong và ngoài nước, kịp thời áp dụng các biện pháp điều tiết cung – cầu, bình ổn thị trường nhất là những mặt hàng thuộc diện bình ổn giá, những mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và đời sống, không để xảy ra thiếu hàng, sốt giá. Phối hợp chặt chẽ với các Bộ, cơ quan, địa phương chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm đủ các mặt hàng thiết yếu và các mặt hàng thuộc diện bình ổn giá. Tăng cường công tác thông tin về giá, kiểm tra, kiểm toán giá, đồng thời đề cao trách nhiệm, sự chủ động và minh bạch về giá của doanh nghiệp; tăng cường công tác quản lý thị trường, trừng phạt các hoạt động quảng cáo quá mức; kiểm soát hoạt động của các hệ thống đại lý phân phối, nhất là phân phối độc quyền nhằm giảm thiểu tình trạng tăng giá độc quyền, đầu cơ và nhiễu loạn giá, phi thị trường; đấu tranh phòng ngừa hiệu quả với các hiện tượng chuyển giá, làm giá, gian lận về giá và các gian lận thương mại Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 55 khác; hoàn thiện các quy định pháp lý cần thiết theo hướng thiết thực, công bằng, dân chủ và có tính pháp quyền cao nhằm nâng cao hiệu quả công tác bình ổn giá và bảo đảm an sinh xã hội. Xử lý nghiêm khắc các hành vi tăng giá bất hợp lý, nhất là đối với các nguyên vật liệu quan trọng và các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu; tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về các chủ trương, biện pháp điều hành giá cả của Chính phủ, không gây hoang mang, tạo tâm lý tăng giá và kỳ vọng đầu cơ. Tóm lại, nghị quyết đầu năm 2012 của Chính Phú đã chỉ đạo cho tất cả các bộ ban ngành sử dụng quyền tài phán và các công cụ của mình để kiểm soát giá cả một cách hợp lý, không gây biến đông quá lớn và có thông tin kịp thời trước những dự báo xấu về giá cả, từ đó tìm phương thức giải quyết, mục tiêu cuối cùng cũng là để kiểm soát mức lạm phát chỉ tiêu cho phép là tứ 5% - 7%. III.2.3.3 Quản lý cán cân thương mại Để ổn định lạm phát trong năm 2012, không còn cách nào khác là phải khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu và hạn chế nhập siêu. Trên cơ sở đó, nghị quyết đã nêu rõ Bộ Công thương cần phối hợp với các ban ngành có liên quan chủ động điều chỉnh bổ sung hoặc trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh bổ sung: các cơ chế, chính sách, biện pháp hỗ trợ đối với các sản phẩm, ngành xuất khẩu có chủ lực, có lợi thế và khả năng cạnh tranh, quy hoạch phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại, tăng cường kiểm định chất lượng hàng xuất khẩu. Tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện việc tiết kiệm năng lượng, vật tư, chi phí đầu vào, ứng dụng công nghệ mới để nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu. Nâng cao hiệu quả công tác dự báo thị trường, phổ biến kịp thời thông tin thị trường thế giới nhất là đối với các thị trường và mặt hàng xuất khẩu trọng điểm, thay đổi chính sách áp dụng các biện pháp bảo hộ, nghiên cứu áp dụng các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thương vụ, xúc tiến thương mại tại nước ngoài, tăng cường bảo vệ thương hiệu xuất khẩu của Việt Nam tại nước ngoài… ngăn ngừa các nguy cơ mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam bị bán phá giá. Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 56 Tiếp tục tổ chức kế hoạch tổng thể đàm phán hiệp định thương mại tự do (FTA), phổ biến hướng dẫn, có giải pháp phù hợp hỗ trợ, tạo điều kiện để các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả tại thị trường đã có FTA; chủ động tích cực trong đàm pháp FTA nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu. Rà soát sửa đổi bổ xung cơ chế, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các dự án sản xuất, bảo đảm chất lượng và khả năng cạnh tranh, sản phẩm có giá trị gia tăng cao đáp ứng nhu cầu trong nước sớm đi vào sản xuất và đưa sản phẩm ra thị trường. Thúc đẩy việc ký kết thỏa thuận công nhận lẫn nhau với các thị trường xuất khẩu lớn, tiềm năng; có giải pháp giảm thiểu, khắc phục các rào cản kỹ thuật, giảm chi phí cho hàng xuất khẩu, nhất là các mặt hàng nông lâm thủy sản. Ngoài ra, cũng trong nghị quyết này, tiến hành rà soát, sửa đổi bổ xung hoàn thiện các quy định của pháp luật về phòng chóng gian lận thương mại, hay gian lận giá nhập khẩu… Chính phủ còn chỉ đạo Bộ Kế hoạch đầu tư rà soát, bổ xung chính sách để thu hút đẩy nhanh tiến độ giải ngân, các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI). Một cách chung nhất trong giai đoạn hiện nay, chính phủ đã tạo điều kiện để tăng xuất khẩu và giảm nhập siêu, nhầm kiềm chế lạm phát ở mức mong muốn. III.2.3.4 Nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tăng cường công tác phòng chống tham nhũng; tăng cường cơ chế bảo vệ lợi ích quốc gia và đổi mới công tác cán bộ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; chú trọng cải cách thể chế và thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và nhân dân; đề cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước; nâng cao chất lượng công tác tham mưu, công tác thông tin, dự báo và phản biện chính sách xã hội, tăng cường tham vấn nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp và các chuyên gia khi xây dựng chính sách và hoàn thiện thể chế. III.3 Đề xuất một số chính sách kiểm soát lạm phát cho Việt Nam trong thời gian sắp tới Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 57 Kinh tế nước ta đang phải nỗ lực giải “bài toán kép”: Vừa ưu tiên kiềm chế lạm phát năm 2012 xuống một con số, vừa bảo đảm an sinh xã hội; vừa từng bước thực hiện để đến hết năm 2013, bảo đảm chuyển sang giá thị trường các mặt hàng điện, xăng dầu, than và một số dịch vụ công. Vì vậy, kiềm chế lạm phát cần có sự nỗ lực phối hợp đồng bộ. Thực tế đang cho thấy, khả năng hiện thực hóa mục tiêu vừa ưu tiên kiềm chế lạm phát năm 2012 xuống một con số, vừa bảo đảm an sinh xã hội được xác lập do những nhân tố tích cực, như nhận thức và quyết tâm chính trị mới từ cấp cao nhất; sự nhất quán chính sách tài chính-tiền tệ linh hoạt và thận trọng, chủ động, theo hướng tiếp tục thắt chặt, giảm bớt khối lượng và nâng cao hiệu quả đầu tư công; xúc tiến đổi mới mô hình và cơ chế phát triển; sự dồi dào của các nguồn hàng hóa và lao động; sự năng động và bản lĩnh thương trường của đội ngũ doanh nghiệp; vị thế quốc tế và lòng tin của thế giới đối với tiềm năng phát triển trung và dài hạn của Việt Nam ngày càng được củng cố. Tuy nhiên, bên cạnh đó, sức ép lạm phát đối với Việt Nam vẫn đến cả từ các nhân tố truyền thống và phi truyền thống, bên trong lẫn bên ngoài, khách quan và chủ quan. Trong đó, nổi lên những áp lực như: nước ta tiếp tục chịu ảnh hưởng tiêu cực từ hệ quả cuộc khủng hoảng nợ công và suy giảm kinh tế toàn cầu, trực tiếp làm giảm động lực tăng trưởng từ xuất khẩu, cũng như tô đậm hơn xu hướng bảo hộ kỹ thuật từ 3 thị trường xuất khẩu lớn nhất của mình là Mỹ, EU và Nhật Bản. Nền kinh tế Việt Nam phát triển còn thiếu bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp, một số loại hàng hóa tăng giá... khiến cho mục tiêu kiềm chế CPI xuống mức một con số trong năm 2012, vì thế, cũng trở nên khó khăn hơn. Vì vậy, việc thực hiện nhiệm vụ kiềm chế lạm phát, trước mắt trong năm 2012, cần các nỗ lực và sự phối hợp đồng bộ từ nhiều phía và nhiều loại công cụ, giải pháp. Cụ thể là: Tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ thắt chặt: Nghiên cứu cho thấy trong ngắn hạn tốc độ tăng CPI chịu ảnh hưởng rất lớn bởi kỳ vọng lạm phát của công chúng, điều này cũng hàm ý rằng mọi động thái điều chỉnh chính sách tiền tệ - tài khóa của Chính phủ hiện tại đều tác động đến kỳ vọng lạm phát Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 58 của công chúng trong tương lai. Do đó, việc tạo niềm tin trong công chúng về nỗ lực kiểm soát lạm phát của Chính phủ thông qua việc phát đi các thông điệp về chính sách tài khóa - tiền tệ là vô cùng quan trọng trong thời kỳ lạm phát cao.  Chính sách tiền tệ: Tiếp tục điều hành theo hướng thắt chặt, thận trọng và linh hoạt theo tín hiệu thị trường; bảo đảm tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng dư nợ tín dụng hàng năm không vượt quá mức khoảng 15%; giảm dần mặt bằng lãi suất hợp lý; tiếp tục chủ động điều hành tỷ giá linh hoạt theo thị trường, không để chênh lệch 2 giá cao, kéo dài; bảo đảm và giảm chi phí vốn cho sản xuất; kiểm soát chặt cho vay bất động sản và kinh doanh chứng khóan; kiểm soát nợ xấu; phối hợp tốt các cơ quan, tổ chức có liên quan nhằm giữ vững và đảm bảo cao nhất sự ổn định các thị trường tài chính- tiền tệ và thị trường bất động sản.  Nghiên cứu và xây dựng mô hình định lượng về cơ chế truyền dẫn tiền tệ phục vụ công tác phân tích và hoạch định chính sách tiền tệ tại NHNN. Việc xây dựng và nghiên cứu mô hình phân tích cơ chế truyền dẫn tiền tệ cho phép NHNN xác định và đánh giá các tác động của các cú sốc (shock) từ bên trong cũng như bên ngoài tới nền kinh tế nói chung và khu vực tiền tệ - ngân hàng nói riêng cũng như hiệu quả trong công tác điều hành chính sách tiền tệ thông qua các kênh truyền dẫn.  Từng bước xây dựng và triển khai mô hình kinh tế lượng vĩ mô (Macroeconometric model) trong việc dự báo lạm phát và xây dựng chương trình tiền tệ trong khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ theo đuổi lạm phát mục tiêu.  Việc điều hành chính sách tiền tệ phải tạo tín hiệu cho người dân nhận thức rõ Chính phủ sẽ quyết tâm duy trì một tốc độ lạm phát ổn định, qua đó làm giảm lạm phát kỳ vọng của dân chúng, cũng như lạm phát thực tế. Vì vậy,chính sách tiền tệ theo hướng áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu, để đảm bảo nhiệm vụ ổn định giá cả. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước nên cam kết duy trì tốc độ lạm phát ở một mức độ nhất định. Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 59  Thị trường mở: Cần có các giải pháp hoàn thiện thị trường mở để mau chóng đưa công cụ này vào hoạt động nhằm điều tiết khối lượng tiền tệ trong lưu thông. Trước hết việc vận dụng công cụ thị trường mở đòi hỏi trước mắt không chỉ đối với tín phiếu kho bạc mà ngay cả với trái phiếu kho bạc và các chứng chỉ đầu tư của nhà nước (trái phiếu công trình), cần phải phát hành theo phương thức đấu thầu thông qua hoạt động của NHNNTW và án NHTM trong đó tăng cường vai trò của NHNNTW trong việc phát hành tiền để mua trái phiếu chính phủ và sau đó thực hiện mua bán lại trái phiếu chính phủ với các NHTM, với các tổ chức kinh tế theo tín hiệu thị trường Dựa trên tình hình dư thừa tiền tại các NHTM lớn, NHNN có thể phát hành tín phiếu với lãi suất hấp dẫn hơn lợi tức trái phiếu chính phủ sắp đáo hạn giao dịch trên thị trường thứ cấp để hút tiền dư từ các NHTM lớn. Các NHTM này thay vì đẩy mạnh cho khách hàng vay hoặc cho vay liên ngân hàng với lãi suất thấp thì có thể “tự nguyện” mua tín phiếu của NHNN nhờ mức lãi suất hấp dẫn này. Lượng tiền mà NHNN hút được sau khi các NHTM mua tín phiếu có thể được NHNN điều hoà trở lại cho các NHTM nhỏ thiếu thanh khoản qua biện pháp tái cấp vốn. Điều này sẽ giúp cho các NHTM nhỏ không phải huy động bằng mọi giá đồng thời cũng không phải vay trên thị trường liên ngân hàng. Mặt bằng lãi suất huy động do vậy sẽ được duy trì ở mức thấp hơn và công cụ trần 13% sẽ có tác dụng dẫn dắt lãi suất trong toàn bộ hệ thống NHTM. Như vậy, công cụ phát hành tín phiếu trong trường hợp này có ý nghĩa như là công cụ điều hòa thanh khoản hệ thống ngân hàng để giúp mặt bằng lãi suất giảm mà không phải nới lỏng cung tiền. Mặt bằng giá cả trong nền kinh tế sẽ không bị tác động nhiều khi lãi suất huy động hạ. Ở đây, NHNN đứng ra làm cầu nối trung gian trong việc dịch chuyển dòng vốn giữa các NHTM thông qua kênh tín phiếu và tái cấp vốn. Cung tiền cơ sở không tăng, mà chỉ chuyển từ NHTM thừa vốn sang NHTM thiếu vốn. NHNN vẫn đảm bảo mục tiêu kiềm chế lạm phát bằng chính sách cung tiền thắt chặt theo chỉ đạo của Chính phủ. Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 60  Chính sách tài khóa: giảm sâu hơn bội chi ngân sách; tăng cường tiết kiệm chi thường xuyên NSNN các cấp và áp khóan, lượng hóa bắt buộc tiết kiệm chi phí quản lý, kinh doanh đối với khu vực DNNN; sắp xếp lại danh mục đầu tư công, nâng cao hiệu quả đầu tư, kinh doanh từ NSNN và của doanh nghiệp nhà nước theo tiêu chí rõ ràng được luật hóa; bảo đảm nợ công trong giới hạn an toàn; đổi mới cơ chế phân bổ vốn đầu tư; kiên quyết tập trung vốn cho các công trình dự án cấp thiết, sớm hoàn thành, nhanh đưa vào sử dụng để phát huy hiệu quả. Ưu tiên bố trí vốn cho các công trình đã hoàn thành và đã đưa vào sử dụng, các công trình cần thiết phải hoàn thành trong năm 2012 và vốn đối ứng cho các dự án ODA.  Lập dự toán ngân sách nhà nước: Trong bối cảnh lạm phát thì việc lập dự toán NSNN theo giá trị danh nghĩa sẽ gián tiếp tác động gây nguy cơ tăng khối lượng tiền tệ tín dụng và từ đó làm tăng mức giá. Để cải thiện hiệu quả lập dự toán NSNN và hạn chế tác động tiêu cực đến lạm phát cần lưu ý:  Xem xét đến sự thay đổi mức giá của cả một giai đoạn khi lập dự báo NSNN. Có thể sử dụng số liệu so sánh theo kỳ gốc sau đó điều chỉnh theo chỉ số giảm phát GDP khi lập dự toán NSNN. Về dài hạn, cần xem xét việc lập dự toán NSNN cho cả ngắn hạn và trung hạn nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của các yếu tố danh nghĩa. Hiện nay, Bộ Tài chính đã bắt đầu thử nghiệm áp dụng việc lập và thực hiện NSNN theo kế hoạch chi tiêu trung hạn nhằm tiến tới áp dụng mô hình khuôn khổ chi tiêu trung hạn (Medium Term Expenditure Framework - MTEF). Đây là một hướng đi đúng cần được đánh giá đầy đủ nhằm triển khai rộng rãi hơn.  Cần có đánh giá đầy đủ về tác động của việc vay nợ qua phát hành trái phiếu chính phủ đến lạm phát nhằm điều chỉnh lượng phát hành trái phiếu phù hợp với tình hình kinh tế vĩ mô. Cũng cần xem xét các giải pháp kỹ thuật từ phía Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước để xác định lãi suất trái phiếu chính phủ phù hợp nhằm hạn chế tác động tiêu cực của TPCP tới cung cầu vốn trên thị trường tài chính. Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 61  Giảm dần mức độ thâm hụt NSNN cả về tỷ lệ trong GDP và cả về tốc độ tăng bội chi theo số tuyệt đối. Kinh nghiệm thế giới cũng chỉ ra rằng, nếu quy mô chi ngân sách vượt quá 30 % GDP thì sẽ trở nên kém hiệu quả với tăng trưởng kinh tế (Tanzi và Schuknecht, 1997).  Giảm chi tiêu chính phủ: chi tiêu Chính phủ có tác động rất lớn tới việc gia tăng chỉ số CPI, do đó, trong thời kỳ lạm phát cao, Chính phủ phải luôn coi trọng việc phối hợp giữa chính sách tài khóa và tiền tệ một cách hiệu quả. Hiện tại, tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam vẫn lệ thuộc nhiều vào vốn đầu tư. Do đó, để có thể kiểm soát lạm phát hiệu quả trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từng bước từ chiều rộng sang chiều sâu, đòi hỏi các chính sách tài khóa - tiền tệ của Chính phủ phải phản ứng nhanh, linh hoạt trước các tín hiệu về lạm phát xuất hiện, tránh trường hợp khi lạm phát tăng cao mới phản ứng chính sách. Khi đó, thời gian để đưa lạm phát xuống thấp sẽ kéo dài và gây tổn thất lớn đối với nền kinh tế, đặc biệt đối với khu vực sản xuất. Hiệu quả quản lý nhà nước  Tăng cường quản lý nhà nước về giá: thực hiện đúng quy luật và trình tự quy trình kinh tế thị trường. Chỉ cho phép doanh nghiệp thực hiện giá thị trường khi có cạnh tranh thị trường đầy đủ, lành mạnh trong lĩnh vực đó; tăng cường công tác thông tin về giá, kiểm tra, kiểm toán giá, đồng thời đề cao trách nhiệm, sự chủ động và minh bạch về giá của doanh nghiệp; tăng cường công tác quản lý thị trường, trừng phạt các hoạt động quảng cáo quá mức; kiểm soát hoạt động của các hệ thống đại lý phân phối, nhất là phân phối độc quyền nhằm giảm thiểu tình trạng tăng giá độc quyền, đầu cơ và nhiễu loạn giá, phi thị trường; đấu tranh phòng ngừa hiệu quả với các hiện tượng chuyển giá, làm giá, gian lận về giá và các gian lận thương mại khác; hoàn thiện các quy định pháp lý cần thiết theo hướng thiết thực, công bằng, dân chủ và có tính pháp quyền cao nhằm nâng cao hiệu quả công tác bình ổn giá và bảo đảm an sinh xã hội. Xử lý nghiêm khắc các hành vi tăng giá bất hợp lý, nhất là đối với các nguyên vật liệu quan trọng và các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu; tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về các chủ trương, biện pháp Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 62 điều hành giá cả của Chính phủ, không gây hoang mang, tạo tâm lý tăng giá và kỳ vọng đầu cơ. Đặc biệt, cần thay việc đăng ký giá bằng tăng cường kiểm soát, kiểm tra giá. Thực tế cho thấy, đăng ký giá là một động thái quản lý nhà nước về giá mang tính hình thức cao, ít có giá trị quản lý thực sự, thậm chí còn tạo điều kiện “hợp pháp hóa giá cả độc quyền”. Nghĩa là, doanh nghiệp chỉ việc đăng ký giá bán (theo mức tự mình định ra) và tìm cách giải trình lý do khi muốn tăng giá sao cho hợp lý (kể cả khi việc tăng giá này không phải do tăng giá nhập, mà do cả các yếu tố khác như tăng chi phí vận chuyển, tăng mức chiết khấu và lợi nhuận) là có thể hợp pháp bán hàng theo giá đăng ký đó, mà rất ít khi bị “tuýt còi”. Hơn nữa, giá đăng ký chỉ áp dụng được tại các đại lý trực thuộc hệ thống của doanh nghiệp, còn các đại lý tư nhân thì không thể kiểm soát được (do luật cho phép được lấy hàng từ 3 doanh nghiệp khác nhau). Bên cạnh đó, các mặt hàng tăng giá theo giá thị trường nhưng phải cạnh tranh, vì các mặt hàng đồng loạt tăng giá năm nay đều là mặt hàng thiết yếu do Nhà nước quản lý giá. Nếu không tự do hóa cạnh tranh, áp lực tăng giá sẽ nhiều hơn vì sẽ lại có những đợt tăng giá mới do giá độc quyền không bao giờ đủ.  Nâng cao hiệu quả đầu tư công: tăng cường phân cấp và kiểm soát kỹ đầu tư công, kể cả vốn ngân sách, vốn trái phiếu Chính phủ và tín dụng nhà nước. Thực hiện cam kết chi đầu tư trong phân bổ vốn đầu tư nhà nước hàng năm nhằm tránh tình trạng phân tán, kéo dài, kém hiệu quả trong các dự án đầu tư. Nâng cao hiệu quả sử dụng và minh bạch hóa Ngân sách Nhà nước.  Tái cấu trúc nền kinh tế: thúc đẩy trên thực tế quá trình tái cấu trúc nền kinh tế theo một chương trình tổng thể, đồng thời, chủ động giảm thiểu các tác động mặt trái của quá trinh này  Thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô, vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững. Thực hiện các chính sách tái cấu trúc nền kinh tế để xử lý những yếu kém cố hữu, hạn chế hiệu quả thực hiện các chính sách tổng cầu và tổng cung, đồng thời nâng cao Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 63 năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tạo nền tảng cho việc chuyển dịch mô hình tăng trưởng kinh tế nêu trên.  Thực hiện quyết liệt tái cơ cấu sâu rộng và tổng thể toàn bộ khu vực doanh nghiệp nhà nước, bao gồm cổ phần hóa đi kèm với việc đổi mới và nâng cao chất lượng quản trị trong doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện nhanh việc cổ phần hóa các tập đoàn kinh tế có lợi thế thị trường nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đối với khu vực doanh nghiệp.  Đảm bảo cân đối cung cầu hàng hóa. Hiện nay, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào nguyên liệu nhập khẩu đầu vào, do đó chi phí sản xuất và giá trong nước cũng biến động theo giá thế giới và tỷ giá hối đoái. Do đó, cần điều chỉnh cơ cấu sản xuất, chuyển đổi mô hình tăng trưởng nhằm hạn chế sự phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên vật liệu sản xuất.  Tiếp tục khuyến khích thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn ODA và FDI trong các lĩnh vực mục tiêu (đặc biệt trong phát triển cơ sở hạ tầng, công nghiệp phụ trợ và nông nghiệp); tăng cường quản lý các dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII); tạo điều kiện thuận lợi để tăng khách du lịch quốc tế và nguồn kiều hối. Kiên quyết thực hiện thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần chi phối và thoái vốn đã đầu tư vào các hoạt động ngoài ngành kinh doanh chính.  Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền gắn với nâng cao ý thức trách nhiệm, vì cộng đồng của doanh nghiệp và người dân, khắc phục triệt để nguyên nhân lạm phát do yếu tố tâm lý. Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 64 KẾT LUẬN Trong thời gian qua, Lạm phát của Việt Nam đã trải qua nhiều đợt bùng phát và tưởng chừng như không thể kiểm soát được. Qua việc phân tích những nguyên nhân dẫn tới lạm phát ở Việt Nam và bằng việc điều hành quyết liệt của chính phủ qua các chính sách kiểm soát lạm phát, mà cụ thể là Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và mới đây nhất là Nghị Quyết 01/NQ-CP ngày 03/01/2012 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2012 đã từng bước tác động đến chỉ số lạm phát theo chiều hướng giảm. Tuy nhiên lạm phát tuy có bước được kiềm chế nhưng vẫn ở mức cao, trong khi giá dầu thế giới tăng cao buộc chúng ta phải điều chỉnh theo giá thị trường; lãi suất còn cao, tăng trưởng tín dụng giảm, thanh khoản của một số ngân hàng thương mại khó khăn, việc tiếp cận vốn còn hạn chế; sản xuất công nghiệp tăng chậm, hàng hóa tồn kho lớn, chi phí đầu vào cao, nhiều cơ sở phải thu hẹp quy mô sản xuất kinh doanh (Nghị quyết số 07/NQ-CP). Đây là thực tế khó khăn đòi hỏi chính phủ cũng như các thành phần kinh tế và tất cả người dân phải quyết tâm và nỗ lực thì mới có thể đạt kết quả như mong muốn (giảm lạm phát năm 2012 xuống 12% và các năm sau từ 6 % đến 7%). Tình hình kinh tế thế giới hiện nay rất khó dự đoán, phần nào ảnh hưởng đến tình hình kinh tế trong nước, vì vậy vấn đề nay đòi hỏi việc điều hành kinh tế phải theo sát diễn biến thị trường và có những chính sách thay đổi linh hoạt, kịp thời. Về tình hình trong nước đòi hỏi phải ổn định được chỉ số giá tiêu dùng, giữ ổn định giá cả các mặt hàng thiết yếu, bản thân các thành phần kinh tế cũng phải nhận thức được bản chất của vấn đề và tham gia vào việc kiểm soát lạm phát với chính phủ, thể hiện qua những hành động cụ thể như tiết kiệm chi phí để không tăng giá các mặt hàng hay tăng giá có kế hoạch. Về bản thân các Ngân hàng phải cùng với chính phủ trong công tác điều hành kiểm soát lạm phát, đảm bảo hoạt động ổn định, tránh tăng trưởng tín dụng quá nhanh Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 65 không phù hợp với năng lực và chú trọng công tác phòng chống, quản lý rủi ro tín dụng; Sáp nhập các ngân hàng yếu kém, không thể hoạt động được nữa, nhằm tránh gây ra sự mất ổn định thị trường tiền tệ cũng là việc góp phần vào công cuộc chống lạm phát đầy gian nan. Cuối cùng, một lần nữa chúng em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến TS Diệp Gia Luật đã tận tình hướng dẫn nhóm thực hiện tiểu luận này. Tiểu Luận Môn Học Giảng viên: TS. Diệp Gia Luật Lớp CHKT Ngày 3 - Nhóm 2 Trang 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Nghị quyết số 11/NP-CP ngày 24/02/2011 của chính phủ vềvề những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh xã hội. [2] Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2012 của chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2012 [3] Cổng thông tin điện tử bộ Kế Hoạch và Đầu Tư: [4] Trang điện tử Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn: [5] Trang điện tử báo Tiền Phong: [6] Sử Đình Thành và Vũ Thị Minh Hằng (2008), Nhập môn Tài chính - tiền tệ, NXB Lao động xã hội. [7] Trang điện tử Ngân hàng nhà nước Việt Nam: [8] Trang điện tử Tổng cục thống kê: [9] Trang điện tử khác. [10]Một số Nghị quyết, nghị định của chính phủ, thông tư của các bộ, ngành. [11]PGS.TS.Trần Hoàng Ngân và Ths. Võ Thị Tuyết Anh: Lạm phát – Nguyên nhân và giải pháp [12]Global advanced Business Master Administration: Nguyên lý kinh tế học – Chương 15: Lạm phát [13]Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW: Điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh lạm phát cao ở Việt Nam

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftieu_luan_lt_tctt_lop_ngay_3_nhom_2_0837.pdf
Luận văn liên quan