Tiểu luận Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế - Một nhiệm vụ trọng tâm của nước ta hiện nay

Bằng những kiến thức thu nhận được qua môn học kinh tế chính trị em đã cố gắng nêu lên những vấn đề cơ bản về toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Tuy nhiên, do những hạn chế về kiến thức và thời gian nghiên cứu nên chắc chắn đề án sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết. Em rất mong nhận được sự chỉ bảo của thầy giáo để bài viết được hoàn chỉnh hơn.

pdf20 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 04/11/2013 | Lượt xem: 4123 | Lượt tải: 21download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế - Một nhiệm vụ trọng tâm của nước ta hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TRƯỜNG …………………. KHOA………………………. -----[\ [\----- TIỂU LUẬN Đề tài: Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế - một nhiệm vụ trọng tâm của nước ta hiện nay Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế - một nhiệm vụ trọng tâm của nước ta hiện nay B NỘI DUNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TOÀN CẤU HOÁ KINH TẾ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. Khái niệm 1.1. Khái niệm về toàn cầu hoá. Trong hơn một thập kỷ trở lại đây xu thế toàn cầu hoá gia tăng ngày càng mạnh mẽ.Và cùng với điều đó là những cách lý giải và thái độ không giống nhauđối với xu thế này. Có quan điểm cho rằng toàn cầu hoá chỉ mới xuất hiện gần đây. Toàn cầu hoá đợc hiểu làchính sách của Mĩ nhằm bành trớng quyền lực,thống trị thế giới theo kiểu Mĩ,thc chất toàn cầu hoá là Mĩ hoá.Quan niệm này đã đẩy tới thái độ phải chống lại quá trình này nhằm đảm bảo cho sự phát triển độc lập,đa dạng của các quốc gia. Loại quan điểm thứ hai là quan điểm thừa nhận tính tất yếu khách quan của quốc tế hoá,toàn cầu hoá.Nhng trong quan điểm này cũng có nhiều ý kiến khác nhau:Có ngời cho rằngtoàn cầu hoá xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ sự ảnh hởng, tác động lẫn nhau phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia các dân tộc trên toàn thế giới ;có ngời lại cho rằng : “Toàn cầu hoá là giai đoạn cao của quá trình phát triển của lực lợng sản xuất trên thế giới,là kết quả tất yếu của phát triển kinh tế thị trờng và khoa học công nghệ” Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về toàn cầu hoá nhng điểm quan trọng mà ta nhận thấy là toàn cầu hoá không chỉ là quá trình phản ánh sự gia tăng của các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau mà nét quan trọng hơn là phản ánh qui mô của các hoạt động liên quốc gia.Từ đó ta có thể đa ra môt khái niệm mang tính chất khái quát về toàn cầu hoá: “Toàn cầu hoá là sự gia tăng mạnh mẽ các mối quan hệ gắn kết,tác động phụ thuộc lẫn nhau,là quá trình mở rộng qui mô và cờng độ hoạt động giữa các khu vực,các quốc gia các dân tộc trên phạm vi toàn cầu trong sự vận động phát triển” Với quan niệm nh vậy thế giới hoá cũng có nghĩa là toàn cầu hoá và quốc tế hoá đợc xem nh giai đoạn trớc đó của toàn cầu hoá. Quốc tế hoá,toàn cầu hoá là một quá trình,và vì vậy nó khác với các vấn đề toàn cầu. Tham gia vào quá trình quốc tế hoá,toàn cầu hoá chính là thực hiện hội nhập quốc tế. Toàn cầu hoá là một xu hớng bao gồm nhiều phơng diện: kinh tế, chính trị,văn hoá,xã hội v.v...Trong các mặt đó thì toàn cầu hoá kinh tế đang là xu thế nổi trội nhất,nó vừa là trung tâm vừa là cơ sở và cũng là động lực thúc đẩy các lĩnh vực khác của xu thế toàn cầu hoá nói chung.Giống nh khái niệm toàn cầu hoá thì cũng có nhiều quan điểm khác nhau về toàn cầu hoá kinh tế.Sau đây là khái niệm phổ biến nhất: “Toàn cầu hoá kinh tế chínhlà sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vựt qua mọi biên giới quốc gia,khu vực,tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động phát triển hớng tới một nền kinh tế thế giới thống nhất.sự gia tăng của xu thế nàyđợc thể hiện ở sự mở rộng mức độ và qui mô mậu dịch thế giới,sự lu chuyển của các dòng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu.” 1.2 Khái niệm khu vực hoá. Cùng với toàn cầu hoá và bổ sung cho toàn cầu hoá là xu thế khu vực hoá. Xu thế khu vc hoá vừa là sự thể hiện vừa là sự phản ứng đối với xu thế toàn cầu hoá.Trong quan hệ với toàn cầu hoá thì xu thế khu vực hoá đợc xem là bớc chuẩn bị để tiến tới toàn cầu hoá,mặt khác khu vực hoá hiện nay phản ánh một thực trạng co cụm nhằm bảo vệ những lợi ích tơng đồng giữa một vài quốc gia trớc những nguy cơ,những tác động tiêu cực do toàn cầu hoá đăt ra. Khu vực hoá phản ánh sự khác biệt,mâu thuẫn về lợi ích giữa các quốc gia khu vực trong một thế giới đa dạng,trong đó sự hợp tác liên kết quốc tế ngày càng tăng lên nhng cuộc đấu tranh vì lợi ích quốc gia,dân tộc,khu vực cũng rất gay gắt quyết liệt. Khu vực hoá có nhiều mức độ khác nhau t một vài nớc và một vài vùng lãnh thổ đến nhiều nớc tham gia vào một tổ chức nhằm hỗ trợ cho nhau trong phát triển, tận dụng nhng u thế của khu vực trong quá trình tham gia nền kinh tế toàn cầu. 1.3. Khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế Các vấn đề kinh tế không chỉ mang các đặc trng kinh tế đơn thuần ma luôn gắn liền với một hệ thôngs chính trị là nền tảng của nó. Về mặt thực tiễn rõ rằng ở quốc gia nào cũng vậy, ngời ta chỉ chấp nhận hội nhập kinh tế quốc tế một khi lợi ích của quốc gia đó cả về kinh tế, chính trị xã hội đợc đảm bảo. Với cách tiếp cận này có thể hiểu hội nhập kính tế quốc tế không chỉ la quá trình tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế mà còn đợc biểu hiện trong bản thân hệ thống chính sách thơng mại, chính sách phát triển kinh tế của mỗi nớc. Nh vậy có thể xác định hội nhập kính tế quốc tế là việc các nớc đi tìm kiếm một số điều kiện nào đó mà họ có thể thống nhất đợc với nhau, kể cả dành cho nhau nhng u đãi, tạo ra nhng điều kiện công bằng, có đi có lại trong quan hệ hợp tác với nhau... nhằm khai thác các khả năng lẫn nhau phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế của mình. Để thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế, các điều kiện chung đợc quy định đối với mỗi quốc gia, là tự do hoá thơng mại và đầu t một cách công khai, rõ ràng. Cụ thể, các tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế hay khu vực nói chung đều hoạt động theo 4 nguyên tắc cơ bản sau: - Công bằng: các nớc dành cho nhau quy chế u đãi cao nhất của mình và chung cho mọi nớc (nghĩa là mọi hàng hoá và dịch vụ của các công ty các nớc đối tác đều đợc hởng một chính sách u đãi chung); đồng thời không phân biệt chính sách thơng mại giữa các công ty: mọi chế độ chính sách liên quan đến thơng mại và đầu t trong mỗi nớc đều phải bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nớc, giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất nội địa. - Tự do hoá thơng mại: các nớc chỉ đợc sử dụng thuế làm công cụ bảo hộ cho nền sản xuất của mình, các biện pháp phi thuế quan nh giấy phép, quota, hạn ngạch xuất nhập khâu... đều không đợc sử dụng, các biểu thuế này đều phải có lộ trình rõ ràng công khai về việc giảm dần đến tự do hoá hoàn toàn (thuế suất bằng 0%). - Làm ăn hay thơng lợng với nhâu phải trên cơ sở có đi có lại: khi nền kinh tế thịt rờng của một nớc thành viên bị bị hàng nhập khâu đe doạ thái quá hoạc bị những biện pháp phận biệt đối xử gây hại, thì nớc đó có quyền khớc từ một nghĩa vụ nào đó hoặc có thể có những hành động khẩn cấp cần thiết, đợc các nớc thành viên khác thừa nhận, đề bảo vệ quyền lợi cua nền kinh tế trong nớc. - Công khai mọi chính sách thơng mại và đầu t. Với các điều kiện và nguyên tắc trên, nớc “ đi sau” nh nớc ta có nhiều thuận lợi, nhất là học hỏi kinh nghiệm của các nớc “đi trớc”, nhng cũng phải chịu rất nhiều khó khăn thách thức, mà quan trọng hàng đầu là bảo hộ nền sản xuất trong nớc và các doanh nghiệp việt nam, nhất là các doanh nghiệp mới “chân ớt chân ráo” bớc vào nền kinh tế thị trờng. Đây khong chỉ đơn thuần là việc bảo hộ thuần tuý cho nền kinh tế, cho từng doanh nghiệp, mà còn là vấn đề của yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn mới việc hội nhập kinh tế quốc tế gắn liền với quá trình tự do hoá. Không thể có hội nhập quốc tế mà không có tự do hoá kinh tế, đây là một đặc điểm mới của xu thế toàn cầi hoá ngày nay. Vấn đề quan trọng trong việc hội nhập kinh tế quốc tế là cần xác định mức độ tiến trình hội nhập và tự do hoá nh thế nào cho phù hợp với trình độ phát triển kinh tế để có thể phát huy đợc các thế mạnh của đất nớc, tận dụng đợc những u thế của hợp tác quốc tế, tạo rá sự phát triển vợt bậc của nền kinh tế quốc gia, nâng cao vị thế của mình trong phân công lao động quốc tế. 2. Các nhân tố thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá kinh tế Nhiều thế kỉ trớc, những tiến bộ trong kỹ thuật hàng hải, công nghệ đóng tàu, khai phá giao thông, những phát triển của thị trờng hàng hoá đã tạo điều kiện mở mang giao lu buôn bán giữa các quốc gia. Trải qua quá trình phát triển lâu dài, quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng trở nên phổ biến, bao quát nhiều lĩnh vực với nhiều hình thức. Đặc biệt vài chục năm gần đây xuất hiện những yếu tố kinh tế kỹ thuật rất mới dẫn đến bớc phát triển nhảy vọt cua toàn cầu hoá các quan hệ kinh tế. Sau đây là 6 yếu tố cơ bản thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá: 2.1. Sự phát triển ngày càng cao của lực lợng sản xuất Thực tiển của nền kinh tế thế giới đang cho thấy bớc quá độ từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, điều này đợc thể hiện rõ ở các quốc gia phát triển. Cùng với nó các quốc gia đang phát triển cũng đã kết hợp bớc chuyển nông nghiệp lên công nghiệp kết hợp những bớc nháy tắt để rút ngắn quá trình xây dựng những cơ sở của nền kinh tế tri thức. Sự phát triển của kinh tế tri thức dự trên các công nghệ có hàm lợng khoa hoc kỹ thuật cao, nhất là công nghệ thông tin đã mở ra điều kiện thuận lợi cho sự đẩy nhanh xu thế toàn cầu hoá, ví dụ nh: các công nghệ mới làm tăng tốc độ giao dịch kinh doanh, rút ngắn khoảng cách về không gian và thời gian. Công nghệ thông tin đồng thời cũng góp phần nâng cao trình độ dân trí, tạo điều kiện cho dân chủ phát triển, thúc đẩy nhu cầu mở của, giao lu hội nhập. Tóm lại, chính sự phát triển nh vũ bảo của khoa học kỹ thuật đã làm phá vỡ hàng rào ngăn cách địa giới trong giao dịch của con ngời trên tất cả các mặt giãu các quốc gia. Điều này đã đẩy quốc tế hoá nền kinh tế lên một thời kỳ mới, thời kỳ toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới. Cac quốc gia dù muốn hay không dều chịu tác động của của quá trình toàn cầu hoá và đơng nhiên để tồn tại và phát triển trong điều kiện hiện nay không thế không tham gia quá trình toàn cầu hoá, tức là hội nhập quốc tế. 2.2. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thi trờng Qua trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá có sự gắn bó chặt chẽ với tiến trình phát triển của kinh tế thi trờng. Kinh tế thị trờng phát triển đã mở ra điều kiện cho sự gia tăng xu thế quốc tế hoá, thể hiện trên hai khía cạnh chính: Thứ nhất, kính tế thị trờng mở ra cơ sở, điều kiện cho sự phát triển của lực lợng sản xuất, làm cho quy mô sản xuất không bó hẹp trong phạm vi cua từng quốc gia mà mang tầm quốc tế, nh vậy cũng có nghĩa là thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế, gắn các quố gia vào sự ràng buộc của sản xuất và tiêu thụ. Thứ hai, nền kinh tế thi trờng phát triển của các quốc gia đa lại cơ chế thống nhất cho sử lý các mối quan hệ, đó là cơ chế thị trờng. Có thể nói, ngày nay nền kinh tế thế giới thống nhất với cơ chế vận hành : cơ chế thi trờng. Kinh tế thi trờngcàng phát triển thì sự giao thoa thâm nhập lẫn nhau giữa các nền kinh tế càng tăng. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trờng không chỉ ở sự mở rộng qui mô về không gian, về sự xâm nhập ràng buộc lẫn nhâu giữa các quốc gia mà còn thể hiện ở sự phát triển theo chiều sâu. Đó là sự bùng nổ phát triển của thi trờng tài chính gắn liền với sự xuất hiện của một loạt công cụ mới trong thanh toán giao dịch. Thi trờng sản phẩm hàng hoá cũng gia tăng mạnh mẽ thể hiện ở qui mô cha từng có của khối luqongj giao dich thơng mại và ở sự phát triển của các dang giao dịch mới nh thơng mại dịch vụ và điện tử. Nh vậy có thể thấy s phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trờng chínhlà cơ sở, điều kiệncho quá trình quốc tế hoá. Nhìn chung các quốc gia trên thế giới ngày nayđèu dựa trên cơ chế thị trờng, sử dụng các phơng tiện và công cụcủa kinh tế thị trờng trong hoạt động kinh doanh, đa lại một không gian rộng lớn, không gian toàn cầu cho các hoạt động sản xuất và lu chuyểncác yếu tố của chính quá trình sản xuất ấy, 2.3 Sự gia tăng của các vấn đề toàn cầu trong bối cảnh thế giới kết thúc chiến tranh lạnh bớc vào thời kì hoà bình hợp tác và phát triển. Trong vài thập niên trở lại đây nền kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ nhng kéo theo đó là những vấn đề mang tính chất toàn cầunh sự phân hoá giàu nghèo, sự ô nhiễm môi trờng, dịch bệnh...Những vấn đề này liên quan đến mọi quốc gia, có tác động trên phạm vi toàn thế giới, nó quyết định sự phát triển tồn vong của toà thể cộng đồng nhân loại. Do đó khi giải quyết các vấn đề mang tính chất toàn cầu phải có sự nỗ lực của mọi quốc gia, sự liên kết sức lực của cả cộng đồng. Bản thân mỗi quốc gia cho dù tiềm lực mạnh đến đâu cũng không thể giải quyết nổi vấn đề liên quan đến toàn thế giới. Đây chính là cơ sở khách quan qui định , thúc đẩy cho việc tiến tới thống nhất những qui phạm chung cho quá trình phát triển kinh tế. 2.4 Sự bành trớng của các công ty xuyên quốc gia Với sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất trong chủ nghĩa t bản tất yếu dẫn đến sự tâp trung sản xuất và dẫn đến độc quyên. Trong lịch sử của nền sản xuất thế giớivào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21 này dới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuậtđã đa lại sự phát triển cha từng có của các công ti xuyên quốc gia. Đến nay có gần khoảng 60000 công ti xuyên quốc gia đang kiểm soát 2/3 nền thong mại thế giới, 4/5 nguồn vốn đầu t trực tiếp ở nớc ngoài và 9/10 kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ thế giới. Với sức mạnh nh vậy các công ti xuyên quốc gia không những có u thế trong phân phối tài nguyên trên phạm vi thế giới giúp cho việc thúc đẩy phân công lao động quốc tếđi vào chi tiết hoá mà còn thông qua việc toàn cầu hoá sản xuất và kinh doanh để đẩy nhanh tiến trình toàn cầu hoá kinh tế. Sự phát triển mạnh mẽ của các công ti xuyên quốc gia trên địa phận toàn cầu đã tạo ra mạng lói liên kết kinh tế quốc tế. Các quốc gia có thể tham gia ngay vào dây chuyền sản xuất quốc tế và cũng vì vậy mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau gia tăng. Các công ty xuyên quốc gia đã đóng vai trò rất lớn trong việc tăng mức xuất khẩu, gia tăng mạnh mẽ vốn đầu t trực tiếp nứoc ngoài vào các nớc đang phát triển đẩy mạnh tiến trinhf hội nhập của nền kinh tế này vào nền kinh tế thế giới nói chung. Nh vậy sự phát triển và xâm nhập ngày càng mạnh của các công ty xuyên quốc gia vào các nền kinh tế dân tộc đã góp phần xoá bỏ sự ngăn cách biệt lập trong phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Các quốc gia dân tộc từng bớc thamm gia, thích ứng với các chuẩn mực của nền kinh tế quốc tế đồng thời nó cũng đem lại nét mới từ những bản sắc riêng, bổ sung vào nền kinh tế toàn cầu làmm gia tăng tính đa dạng của nó. 2.5 Sự hình thành và phát triển của các định chế toàn cầu và khu vực. Các định chế toàn cầu ra đời nhằm đáp ứng đòi hỏi của xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế. Sự tồn tại và hoạt động của các định chế toàn cầu và khu vực lại góp phần thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của xu thế toàn cầu hoá. Trong các tổ chức kinh tế- thơng mại-tài chính toàn cầu và khu vực có ảnh hỏng lớn tới quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá phải kể đến ƯTO, IMF, ƯB và các tổ chức khu vực khác nh EU, NAFTA, APEC...Với các mục tiêu chức năng của mình các tổ chức kinh tế quốc tế đã tham gia và thúc đẩy các hoạt động kinh tế quốc tế, điều phối và quản lí các hoạt động này. Cho dèu tính hiệu quả của các tổ chức này còn đựoc đánh giá khác nhau xuất phát từ quan điểm lợi ích quốc gia, song không ai không thừa nhận sự cần thiết và vai trò của chúng, thậm chí đang đặt ra yêu cầu về hoàn thiệncơ cấu tổ chức, đổi mới nguyên tắc hoạt động của chúng. Tác động của các tổ chức toàn cầu và đặc biệt là các tổ chức khu vực đến xu thế toàn cầu hoá kinh tế thể hiện ở hai điểm chính: -Thứ nhất, việc tham gia vào các tổ chức này cho phép các quốc gia đựoc hỏng những u đãi của hoạt động kinh doanh khu vực; thúc đẩy các quốc gia trong khu vực tiến đến những chuẩn mực chung trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Trên cơ sở các thoã thuận hợp tác song phơng và đa phơngđã làm tăng lên sự gắn bó tuỳ thuộc lân nhau giữa các nền kinh tế, thực chất nó đã thúc đẩy phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc trong nội bộ tổ chức. -Thứ hai hoạt động của các tổ chức này từ thấp đến cao sẽ đẩy đến hình thành một thị trờng thống nhất trong khu vực buộc các quốc gia tham gia phải có lịch trình hội nhập tích cực để hoà đồng vào khu vực. Nói tóm lại các tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực vừa là kết quả vừa là động lực của quá trình toàn cầu hoá kinh tế. 2.6 Vai trò của chính phủ và sự chuyển đổi trong chính sách phát triển. Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu song tốc độ của toàn cầu hoá phụ thuộc rất nhiều vào chính sách của các quốc gia. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất thì việc đóng cửa đất nớc không giao lu thông thơng với nocs ngoài của các quốc gia đã làm cho lu thông quốc tế bị hạn chế nền kinh tế thế giới suy thoái mạnh.Nhng từ sau chiến tranh thế giới thứ haithì các quốc gia phát triển đã nhận thấy vấn đề cần phải tự do háo thơng mại, giảm các hàng rào thuế quan nhằm bành trớng thế lực ra bên ngoài. Và cho đến naythì hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tiến hành cải cách mở cửa, thực hiện t nhân hoá và tự do hoá mở ra không gian mới cho sự gia tăng xu thế toàn cầu hoá. Đặc biệt trong quá trình cải cách nhiều quốc gia đã chuyển hớng phát triển kinh tế từ hớng nội sang hớng ngoại mà cốt lõi là chuyển từ công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu sang công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu. Với chiến lợccôngnghiệp hoá hớng về xuất khẩu buộc các quốc gia phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế không chỉ phải dựa vào nhu cầu bên trong mà phải căn cứ vào nhu cầu thị trờng thế giới, sản xuất sản phẩm và dịch vụ phù hợp với yêu cầu chuẩn mực của thị trờng quốc tế. Muốn vậy đòi hỏi các quốc gia phải mở cửa nền kinh tế, cho nhập các thành tựu công nghệ, thu hút vốn đầu t để xây dựng và phát triển một cơ cấu ngành kinh tế phù hợp. Nh vậy với chiến lợc hớng về xuất khẩu, trên thực tế đã đẩy đến xu thế gắn bó phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, giữa các nền kinh tế thông qua thực hiện phân công lao động quốc tế dựa trên thế mạnh của từng nền kinh tế đân tộc. Ngoài những nhân tố đã nêu trên thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hoá trong những năm gần đây chúng ta còn có thể kể đến một số nhân tố khác xem nh xung lực đẩy mạnh thêm cho xu thế toàn cầu hoá. Đó là sự phát triển về dân chủ, văn hoá... 3. Triển vọng phát triển toàn cầu hoá và hội nhập KTQT 3.1. Toàn cầu hoá không còn là âm mu của các nớc t bản phát triển nhằm thôn tính thế giới Chúng ta đã biết rằng sau chiến tranh lạnh thế giới vận động theo trật tự đa cực với một siêu cờng là Mỹ. Với sức mạnh của mình Mỹ đóng vai trò chi phối bàn cờ thế giới. Suốt những thập kỷ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 Mỹ luôn chiếm 30% GDP thế giới. Và đến khi cờng quốc Xô Viết sụp đổ thì Mỹ thực sự trở thành một siêu cờng duy nhất, Mỹ đã xúc tiến một chiến lợc nhằm đề cao vai trò lãnh đạo của mình. Mu đồ của Mỹ là "không để có một kẻ thách thức nào ở lục địa Âu - Á nổi lên có đủ khả năng thống trị nơi đây và thách thức nớc Mỹ. Mỹ muốn quy tụ toàn thế giới vào vòng ảnh hởng, chịu sự chỉ huy, điều khiển của mình. Trong lĩnh vực kinh tế, Mỹ thao túng các định chế kinh tế toàn cầu, đòi các quốc gia phải mở rộng cửa thị trờng, tham gia hội nhập vào bàn cờ kinh tế quốc tế theo các luật chơi đã đợc định sẵn xuất phát từ nhu cầu, lợi ích và quan niệm chuẩn mực giá trị lối sống Mỹ. Vì vậy không phải ngẫu nhiên mà có ý kiến đã đồng nhất toàn cầu hoá với Mỹ hoá. Nghiên cứu lịch sử phát triển của nền kinh tế t bản ta thấy bản thân các nền kinh tế này cũng đã trải qua thời kì bảo hộ cao chống lại sự xâm naâpj từ bên ngoài. Nhng do sự phát triển mạnh mẽ của lực lợng sản xuất đã đặt ra nhu cầu mở rộng giao tiếp và mở rộng thị trờng ngoài biên giới. Sự phát triển CNTB của Mác đã chỉ ra luôn bị hai giới hạn bởi thị trờng và nguyên liệu, cho nên xu hớng bành trớng tìm kiếm thị trờng và nguyên liệu có nguồn gốc trong kết cấu phát triển của CNTB. Việc tạo ra sự phát triển vợt bậc của lực lợng sản xuất trong CNTB so với các xã hội trớc đó cũng chính là cơ sở, là điều kiện cho quá trình bành trớng ra bên ngoài. Nh vậy xu thế quốc tế hoá toàn cầu hoá xuất hiện gắn liền với sự hình thành và phát triển của CNTB đã lợi dụng những thành tựu của khoa học - kỹ thuật tạo ra sự phát triển sản xuất mạnh mẽ, dẫn đến sự hình thành của những liên minh độc quyền cấu kết với nhau chi phối các quan hệ kinh tế. Ngay trong thời kì đầu tiên này, quá trình quốc tế hoá đã chịu sự chi phối của CNTB. Và khi hệ thống CNXH bị sụp đổ thì các nớc đế quốc mu toan lợi dụng xu thế toàn cầu hoá để nhằm xoá bỏ các nớc XHCN chúng muốn "buộc tất cả các dân tộc phải thực hành phơng thức sản xuất TBCN". Các nớc TBCN cũng nhận thấy những cơ hội kiếm lợi lớn qua toàn cầu hoá nên càng thúc đẩy mạnh mẽ toàn cầu hoá. Họ đòi hỏi các quốc gia đang phát triển phải mở cửa thị trờng, phải chấp nhận các luật chơi đã có do chính họ đặt ra nhằm loại bỏ những u thế, những lợi thế so sánh của các quốc gia đi sau. Đồng thời họ đặt ra hàng loạt điều kiện cho các nớc đang phát triển trong quá trình tiếp xúc thị trờng của chính họ. Trên thực tế họ mong muốn tạo lập một mô hình kinh tế một loạt giá trị chung cho thế giới theo quan điểm của họ. Tuy nhiên sự thống trị, chi phối đó của CNTB mà đứng đầu là Mĩ chỉ là tạm thời. Thừa nhận sự chi phối của CNTB đối với quá trình toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, thừa nhận tính chất chính trị của quá trình toàn cầu hoá không có nghĩa chúng ta tẩy chay, từ chối tham gia toàn cầu hoá kinh tế, mà ngợc lại phải đấu tranh vì sự toàn cầu hoá hớng tới sự tiến bộ và phát triển của nhân loại. Chủ nghĩa t bản đang mu toan phổ biến các giá trị và luật chơi t bản chủ nghĩa trên phạm vi toàn cầu. Song điều đó vấp phải xu hớng vơn tới tự do bình đẳng của cả nhân loại. Vì vậy chính trong toàn cầu hoá chủ nghĩa t bản cũng sẽ phải biến đổi. Tham gia vào quá trình toàn cầu hoá không chỉ có Mỹ và các nớc t bản phát triển mà còn có hàng loạt các quốc gia trên thế giới, trong đó có cả các quốc gia đang trên con đờng đi lên CNXH. Do vậy quá trình toàn cầu hoá không phải đơn giản là sự phổ biến các giá trị, luật chơi của CNTB, mà là quá trình đấu tranh, thoả thuận, sàng lọc, trong đó các giá trị văn minh, nhân đạo của loài ngời sẽ đợc chấp nhận, đó chính là quá trình hội nhập giao thoa của các nền kinh tế, các giá trị văn hoá, chính trị…, và trong quá trình ấy những cái gì là tiến bộ sớm muộn sẽ tất yếu đợc phát triển. Đó là quy luật phát triển của xã hội. Những diễn biến trong tổ chức thơng mại thế giới vừa qua chính là một ví dụ phản ánh xu thế đó. Và cũng vì vậy sẽ là không thoả đáng khi xem toàn cầu hoá hiện nay thuần tuý mang tính chất t bản chủ nghĩa. Sự đan xen của các lợi ích trong quá trình tham gia hội nhập của các chủ thể phản ánh tính phức tạp và đầy mâu thuẫn của chính quá trình này. 3.2. Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng Xu thế toàn cầu hoá từ khi xuất hiện cho đến nay trong quá trình phát triển luôn vấp phải sự chống đối của những ngời có quan niệm sai lệch về toàn cầu hoá. Nhng điều đó không thể thay đổi đợc tính tất yếu của xu thế này. Toàn cầu hoá vẫn diễn ra và diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên tất cả các phơng diện từ kinh tế cho đến chính trị, văn hoá, xã hội. Trong tất cả các mặt đó thì toàn cầu hoá kinh tế phát triển nhất, có tác động đến các lĩnh vực khác của xu thế này. Toàn cầu hóa kinh tế hiện nay đang diễn ra mạnh mẽ gắn liền với xu thế khu vực hoá diễn ra cũng không kém phần nhộn nhịp. Trớc xu thế đó thì hội nhập kinh tế quốc tế đã đang trở thành yêu cầu bức thiết đối với mỗi nớc. Ngày nay số đông các nớc trên thế giới đã nhận thức đợc rằng toàn cầu hoá là sản phẩm văn minh của nhân loại và do đó họ đón nhận, tự nguyện hội nhập và góp sức mình thúc đẩy toàn cầu hoá. Nh vậy hội nhập kinh tế quốc tế cũng đang gia tăng nhanh chóng cùng với xu thế toàn cầu hoá. II. THỰC TRẠNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 1. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Nhìn lại chặng đờng phát triển của dân tộc ta, trên thực tế chúng ta cha bao giờ tách khỏi nền kinh tế thế giới, chúng ta đã đang và sẽ tiếp tục quá trình hội nhập. Giai đoạn từ năm 1945 cho đến khi chúng ta thực hiện đổi mới quan hệ Việt Nam với khu vực bị ngừng trệ. Chúng ta chỉ tiến hành quan hệ với các nớc XHCN mà đáng chú ý là việc tham gia vào hội đồng tơng trợ kinh tế (SEV). Nhng bớc sang giai đoạn đổi mới mà bắt đầu từ đại hội Đảng 6 của Đảng đã mở ra phơng cách mới chúng ta đã tiến hành chuyển sang cơ chế thị trờng. Cùng với những đổi mới bên trong chúng ta thực hiện chuyển nhợng chiến lợc trong kinh tế đối ngoại từng bớc hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực. Tiếp tục tinh thần đại hội VII, đại hội VII, VIII và gần đây nhất là đại hội IX cùng các nghị quyết của hội nghị trung ơng đã tạo nên cơ sở rất quan trọng để triển khai thúc đẩy hội nhập kinh tế. Thực hiện các đờng lối đổi mới trong hơn 10 năm qua chúng ta đã có những bớc đi ban đầu tơng đối bài bản trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới (nếu nh cuối năm 80 kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng trong điều kiện Việt Nam bị bao vây cấm vận ngặt nghèo tởng nh khó đứng vững nổi, nhng với quyết tâm đổi mới mở cửa từng bớc hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực chúng ta đã đợc đợc những thành tích đáng khích lệ. Năm 1993 Việt Nam đã nối lại quan hệ tín dụng với IMF và WB. Và từ đó liên tiếp đợc các tổ chức tài chính quốc tế, các tổ chức viện trợ phát triển (ODA) của Liên hiệp quốc và nhiều tổ chức tài chính khác thờng xuyên viện trợ để giải quyết những vấn đề khó khăn tạo điều kiện cho nhiều ngành kinh tế phát triển. Đến nay chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với trên 160 quốc gia trên thế giới, kí kết các hiệp định thơng mại với hơn 60 nớc. Năm 1995 gia nhập Hiệp hội các nớc Đông Nam Á, tham gia các Hiệp định về khu vực đầu t khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), các chơng trình u đãi thuế quan (CEPT) hành động chung (CAPT). Đây là những bớc hội nhập thực sự vào hành động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội quan trọng nhất trong khu vực. Việt Nam tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác với các nớc ở các khu vực rộng lớn hơn nh Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Bắc Á, Châu Phi, châu Mĩ và nhiều khu vực khác. Từ tháng 11/1998 Việt Nam đã trở thành thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dơng (APEC), chúng ta đã và đang xây dựng, thực hiện các chơng trình hành động quốc gia (IAP), hành động chung (CAP), thúc đẩy nhanh quá trình tự do hoá các dịch vụ, thơng mại, dịch vụ giữa các nớc trong khối (với mục tiêu Việt Nam hoàn toàn mở cửa thị trờng thơng mại và đầu t vào năm 2020). Là thành viên của Hội nghị thợng đỉnh về hợp tác Á - Âu (ASEM) từ tháng 2/1995, Việt Nam đang tích cực, chủ động xúc tiến mở rộng thơng mại đầu t và hợp tác hỗ trợ giữa các doanh nghiệp của các nớc thành viên trong khối (từ tháng 6/1996 tiến hành đàm phán xây dựng Hiệp định thơng mại thế giới WTO vào tháng 1/1995. Và theo quy định của WTO chúng ta đã đang và sẽ chuẩn bị điều kiện nhằm đáp ứng các yêu cầu của WTO để sớm gia nhập tổ chức này trong thời gian gần nhất có thể đợc. Nh vậy nớc ta ngày càng chủ động hơn trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế để hoà mình vào xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ. 2. Những thành tựu của quá trình hội nhập kinh tế và hạn chế cần khắc phục 2.1. Những thành tựu của hơn 1 thập kỷ hội nhập kinh tế quốc tế Trải qua hơn 10 năm hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới nớc ta đã có đợc những kết quả bớc đầu quan trọng. Mở rộng các mối quan hệ kinh tế song phơng, đa phơng với nhiều nơi trên toàn thế giới đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội nớc ta trong thập niên cuối của thế kỷ XX. Nếu nh trớc những năm 90, tốc độ tăng GDP bình quân nớc ta chỉ đạt khoảng 2-3%/năm thì ở thập niên cuối của thể kỷ XX (1991-2000), mức tăng bình quân GDP đạt 6-8%/năm. Sau 10 năm, tổng sản phẩm xã hội (GDP) tăng thêm 13 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu ngời tăng gấp hơn 2 lần. Nhiều mặt hoạt động sản xuất và đời sống xã hội đã có những bớc phát triển tơng đối nhanh. Song song với việc phát triển kinh tế rút ngắn khoảng cách đối với các quốc gia thì nớc ta đã có những thành công trong công cuộc xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ trong bối cảnh hội nhập. Đảng và Nhà nớc ta đã xây dựng đợc đờng lối chính sách kinh tế độc lập tự chủ, chúng ta tự mình lựa chọn định hớng phát triển kinh tế. Bên cạnh đó thì nớc ta cũng đã đạt đợc thực lực kinh tế ở một mức độ tơng đối cao, giá trị sản xuất trong nớc bớc đầu đã đáp ứng đợc nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và có phần tích luỹ cần thiết để thực hiện tái sản xuất mở rộng. Nói tóm lại ta đã xây dựng đợc một nền kinh tế mà không hoặc rất ít bị lệ thuộc, bị các thế lực xấu, thù địch lợi dụng vấn đề kinh tế để lôi kéo khống chế, ép buộc đó là yếu tố để nớc ta đi đúng quĩ đạo của chủ nghĩa xã hội. Đến nay nớc ta thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 160 nớc và tham gia vào nhiều tổ chức và các hiệp định thơng mại trên thế giới nh ASEAN, AFTA, APEC đã phá vỡ thế cô lập tạo ra đợc một môi trờng cùng hợp tác phát triển đối với các đối tác trên thế giới. * Những thành tựu cụ thể trên các mặt - Về ngoại thơng: Trong hơn 160 nớc đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao thì nớc ta kí kết hiệp định thơng mại với hơn 60 nớc. Tốc độ tăng xuất nhập khẩu hàng năm thờng cao gấp 2-3 lần tốc độ tăng GDP. Nếu năm 1991, thị trờng Liên Xô và các nớc Đông Âu bị cắt giảm đột ngột, kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam giảm 15,1% thì ngay sau đó từ 1992 đến 1995 đã vơn lên giữ mức tăng 23-30%/năm. Năm 1980 tăng do khủng hoảng kinh tế châu Á nhng năm 1999 tiếp tục vơn lên, kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 11,5 tỉ USD gấp hơn 5 lần năm 1991. Và đến năm 2002 ớc đạt 16,53 tỉ USD hoàn thành kế hoạch đặt ra. Từ năm 1991 đến nay thì kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam luôn luôn tăng. Từ chỗ chỉ là nớc nhập hàng viện trợ và xuất hàng trả nợ mỗi năm vài trăm triệu USD đến nay chúng ta đã có nhiều mặt hàng xuất khẩu đạt trên 2 tỷ USD/năm. Chẳng hạn, nh mặt hàng thuỷ sản trong năm 2002 đạt kim ngạch xuất khẩu 2,03 tỉ USD tăng 3% so với năm trớc và kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may thì ớc đạt 2,7 tỉ USD năm 2002 tăng 36% so với năm 2001 và đây là mức tăng trởng cao nhất trong 5 năm gần đây. Một số mặt hàng nông sản Việt Nam đã và đang vơn lên thứ hạng cao trên thị trờng thơng mại thế giới: gạo đứng thứ 2, hạt điều ở vị trí thứ 3 và cà phê là thứ 4. Những mặt hàng xuất khẩu Việt Nam vẫn tiếp tục tăng chiếm lĩnh nhiều nơi trên thị trờng quốc tế kể cả các thị trờng khó tính nh Nhật Bản, Tây Âu, Bắc Mỹ. - Trong lĩnh vực thu hút vốn đầu t nớc ngoài chúng ta cũng đã đạt đợc những kết quả đáng khích lệ. Tính đến tháng 9/1999 chúng ta đã thu hút 35,9 tỉ USD của hơn 70 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới, trong đó đàu t vào công nghiệp và xây dựng là gần 51%. Cùng với vốn FDI chúng ta còn tiếp nhận một lợng không nhỏ nguồn vốn qua kênh ODA. Nguồn ODA thực sự có ý nghĩa quan trọng trong phát triển cơ sở hạ tầng, cả phần cứng và phần mềm đối với Việt Nam. Tính ra mức vốn nớc ngoài hiện nay chiếm khoảng 30% tổng vốn đầu t xã hội. Tỷ lệ đóng góp của khu vực có vốn đầu t nớc ngoài GDP đều tăng lên qua các năm. Năm 1993 đạt 3,6%, đến năm 1998 đạt 9%; năm 1999 đạt khoảng 10,5%. Nguồn thu ngân sách từ khu vực có vốn đầu t nớcngoài đạt 370 triệu USD vào năm 1998. Cùng với mở cửa thu hút vốn nớc ngoài, gia tăng xuất khẩu, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã mạnh dạn tham gia đầu t ra nớc ngoài, kể cả vào những nớc phát triển nh Nhật Bản. Tính cho đến nay các doanh nghiệp Việt Nam đã có 27 dự án đầu t nớc ngoài với tổng số khoảng 8 triệu USD, tập trung chủ yếu trong lĩnh vực chế biến thực phẩm, thơng mại, dịch vụ và xây dựng v.v… Đồng thời trong những năm 90 chúng ta đã ký các hợp đồng đa vạn lao động ra nớc ngoài làm việc. 2.2. Những hạn chế cần khắc phục trong quá trình hội nhập. Sau hơn 10 năm đổi mới nền kinh tế, hội nhập kinh tế thì đi kèm với những thành tựu là tồn tại và yếu kém là những vấn đề đặt ra ở cả tầm vĩ mô và vi mô cần suy nghĩ giải quyết để hội nhập ngày càng hiệu quả hơn. Đối với nớc ta niện nay thách thức lớn nhất là năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nớc còn yếu bị thua thejt trên thơng trờng. Cho đến nay hàng xuất của ta chủ yếu vẫn là sản phẩm thô hoặc sản phẩm sơ chế có giá trị gia tăng thấp (do vèe trình độ kỹ thuật công nghệ chế biến thấp mẫu mã chủng loại sản phẩm cha phong phú kém hấp dẫn nên gía trị thấp dẫn đến sức cạnh tranh yếu, hiệu quả kinh tế thấp. Đối với các doanh nghiệp thì thiếu hụt năng lực thu thập và phân tích thông tin để dự báo chiều hớng phát triển của nền kinh tế thế giới và các đối tác cạnh tranh từ đó kém khả nang mở rộng và phát triển thị trờng của mình, cácdn Việt Nam hiện nay vẫn làm ăn theo kiểu chớp giật, thiếu tính chiến lợc ở qui mô vừa và nhỏ. Nớc ta bớc vào hội nhập với xuất phát điểm rất thấp vì vậy dù đã có những bớc phát triển vợt bậc nhng nớc ta vẫn là nớc bị tụt hậu khá xa so với các nớc phát triển cũng nh so với nhiều nức đang phát triển trong khu vực. Nền kinh tế nớc ta ngành nông nghiệp vẫn chiếm một tỉ trọng lớn (20%) GDP), công nghiệp lạc hậu so với thế giới từ 50 - 100 năm; hệ thống thiết bị kỹ thuật ở hầu hết các doanh nghiệp lạc hậu so với mức trung bình của thế giới từ 2 - 3 thế hệ thậm chí là 4 - 5 thế hệ. Đây cũng chính là lí do làm cho năng suất lao động của ta thấp sản phẩm làm ra giá thành cao không có sức cạnh tranh. Một mặt tồn tại nữa ở bộ máy điều hành; khâu quản lý. Trình độ cán bộ quản lí của ta nhất là cán bộ làm công tác hội nhập còn mỏng và yếu; sự kết hợp giữa các ban ngành địa phơng, doanh nghiệp trong quá trình hội nhập cha thực sự chặt chẽ, nhịp nhàng và đồng bộ. Tiếp đó là tình trạng tham nhũng đang trở thành quốc nạn thực sự là vấn đề nan giải, nguy cơ lớn không những đối với thúc đẩy hội nhập nói riêng mà còn đối với sự phát triển kinh tế nói chung. Điểm hạn chế quá trình hội nhập của nớc ta đó là hệ thống luật hệ chính sách. Mặc dù trong những năm gần đây chúng ta đã có rầt nhiều cố gắng trong công tác soạn thảo xây dựng ban hành pháp luật nhng hệ thống luật lệ, chính sách của Việt Nam liên quan, đến hội nhập kinh tế quốc tế vẫn cha hoàn chỉnh còn nhiều bất cập so với các qui chuẩn quốc tế. Chúng ta vẫn còn áp dụng nhiều quy định riêng trong hợp tác kinh tế quốc tế và ngợc lại cũng còn không tí khe hở về pháp luật về các chính sách, quy định để phái đối tác lợi dụng gây thiệt hại cho phía Việt Nam cũng nh thất thoát nguồn thu của nhà nớc. Nhất là mạng lới thuế quan của nớc ta liên tục đợc điều chỉnh bổ sung nhng vẫn còn quá rờm rà và phức tạp. Trong thực tế thì việc áp dụng luật ở nhiều lúc nhiều nơi còn rất tuỳ tiện thiếu tính hiểu biết tôn trọng luật. Hạn chế trong hệ thống luật lệ đã làm ách tắc, làm chậm tiến độ của quá trình hội nhập. Nh vậy bên cạnh những thành tựu đáng kể trong quá trình hội nhập thì tồn tại hạn chế là vấn đề mà toàn Đảng toàn dân ta phải đồng sức hợp lực để thảo gỡ, giải quyết nhằm đẩy nhanh quá trình hội nhập hoàn mình đợc vào xu thế của thời đại. III. CHỦ TRƠNG, NGUYÊN TẮC VÀ CÁC GIẢI PHÁP CẦN THỰC HIỆN TRONG QUÁ TRÌNH HỘI KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM. 1. Chủ trơng và nguyên tắc chỉ đạo. Trong những điều kiện lịch sử mới hội nhập kinh tế quốc tế đợc xem nh một yếu tố quan trọng để tạo động lực phát triển cho từng quốc gia, khu vực cũng nh yêu cầu chung của công đồng quốc tế. Là một trong những nớc nghèo trên thế giớ sau mấy chục năm bị chiến tranh tàn phá. Là một trong những nớc nghèo trên thế giới, sau mấy chục năm liên tiếp bị chiến tranh tàn phá, Việt Nam bắt đầu bớc vào thực hiện chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế kinh tế thịi trờng, trong điều kiện tự nhiên và xã hội có nhiều thử thách khắc nghiệt. Từ một nền kinh tế tự túc, tự cấp nghèo nàn lạc hậu, bắt đầu mở cửa, tiếp xúc trực diện với một thị trờng rộng lớn - nơi có nhiều quan hệ kinh tế quốc tế cạnh tranh khốc liệt. Đang có nhiều quốc gia, tập đoàn kinh tế t bản giàu mạnh luôn gây ra sức ép, muốn hao túng cả nền kinh tế tài chính thế giới. Song đứng trớc xu thé phát triển tất yếu, là một bộ phận của cộng đồng quốc tế Việt Nam không thể khớc từ hội nhập. Và Đảng, nhà nớc ta cũng sớm nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì vậy ngay từ đại hội Đảng lần thứ 6 năm 1986 Đảng ta đã mở ra phơng cách mới chúng ta đã tiến hành đổi mới chuyển sang cơ chế thị trờng và song song với nó là thực hiện chuyển hớng chiến lợc trong kinh tế đối ngoại, từng bớc hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới "Tiếp đó tại đại hội VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1991 đã đề ra đờng lối chiến lợc" thực hiện đa dạng hoa đa phơng hoá quan hệ quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại. Đến Đại hội VIII (1996) Đảng ta tiếp tục chủ trơng chính sáhc đối ngoại độc lập tự chủ mở rộng các quan hệ đối ngoại với tinh thần "muốn làm bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới". Tháng 12/1997 Nghị quyết Trung ơng 4 khoá VIII đề ra nhiệm vụ" giữ vững độc lập, tự chủ đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài, xây dựng một nền kinh tế mở hội nhập với khu vực và thế giới. Và gần đây nhất là tại đại hội Đảng lần 9 năm 2001 đã nêu rõ: "chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tranh thủ mọi thời cơ để phát triển trên nguyên tắc giữa vững độc lập tự chủ và định hớng xã hội chủ nghĩa". Và cụ thể hơn biểu hiện rõ chủ trơng và nguyên tắc chỉ đạo của Đảng và nhà nớc ta ngày 27/11/2001 Bộ chính trị đã ban hành nghị quyết về hội nhập kinh tế quốc tế. Nghị quyết đã chỉ rõ mục tiêu những quan điểm chỉ đạo. Mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế: Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trờng, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hớng xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dana chủ, văn minh, trớc mắt là thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ nêu ra trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội năm 2001 - 2010 và kế hoạch 5 năm 2001 - 2005. Những quan điểm chỉ đạo trong quá trình hội nhập. + Quán triệt chủ trơng đợc xác định tại Đại hội IX là: "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hớng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc; an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trờng. + Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân; trong quá trình hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội, trong đó kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo. + Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khéo, và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tuỳ theo đối tợng, vấn đề, trờng hợp, thời điểm cụ thể; vừa phải đề phòng t tởng trì trệ, thụ động vừa phải chống t tởng giản đơn, nôn nóng. + Nhận thức đầy đủ đặc điểm nền kinh tế nớc ta, từ đó đề ra kế hoạch và lộ trình hợp lý, vừa phù hợp với trình độ phát triển của đất nớc, vừa đáp ứng các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nớc ta tham gia: tranh thủ những u đĩa dành cho các nớc đang phát triển và c ác nớc có nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trờng. + Kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững an ninh, quốc phòng, thông qua hội nhập để tăng cờng sức mạnh tổng hợp của quốc gia, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nớc, cảnh giác với những mu toan thông qua hội nhập để thực hiện ý đồ "diễn biến hoà bình" đối với nớc ta. 2. Một số nhiệm vụ cụ thể trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế: - Tiến hành rộng rãi công tác t tởng tuyên truyền, giải thích trong các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, trong các doanh nghiệp và các tập lớp nhân dân để đạt đợc nhận thức và hành động thống nhất và nhất quán về hội nhập kinh tế quốc tế, coi đó là nhu cầu của nền kinh tế nớc ta, nâng cao niềm tin vào khả năng và quyết tâm của nhân dân ta chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. - Căn cứ vào Nghị quyết của Đại hội IX, chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 cũng nh các quy định của các tổ chức kinh tế quốc mà nớc ta tham gia, xây dựng chiến lợc tổng thể về hội nhập với một lộ trình cụ thể để các ngành, các địa phơng, các doanh nghiệp khẩn trơng sắp xếp lại và nâng cao hiệu quả sản xuất nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh, bảo đảm cho hội nhập có hiệu quả. Trong khi hình thành chiến lợc hội nhập, cần đặc biệt quan tâm bảo đảm sự phát triển của các ngành dịch vụ nh tài chính, ngân hàng, viễn thông… là những lĩnh vực quan trọng mà ta còn yếu kém. - Chủ động và khẩn trơng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ và trình độ quản lý để nâng cao khả năng canh tranh, phát huy tối đa lợi thế so sánh của nớc ta, ra sức phấn đấu không ngừng nâng cao chất lợng, hạ giá thành sản phẩm và dịch vụ, bắp kịp sự thay đổi nhanh chóng trên thị trờng thế giới, tạo ra những ngành, những sản phẩm mũi nhọn để hàng hoá và dịch vụ của ta chiếm lĩnh thị phần ngày càng lớn trong nớc cũng nh trên thế giới, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Tiến hành điều tra, phân loại, đánh giá khả năng cạnh tranh của từng sản phẩm từng dịch vụ, từng doanh nghiệp, từng địa phơng để có biện pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả và tăng cờng khả năng cạnh tranh. Gắn quá trình thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ơng 3 khoá IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nớc với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong quá trình hội nhập cần quan tâm tranh thủ những tiến bộ mới của khoa học, công nghệ, không nhập khẩu những công nghệ không nhập khẩu những công nhệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trờng. Đi đôi với việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ, của các doanh nghiệp, cần ra sức cải thiện môi trờng kinh doanh, khả năng cạnh tranh quốc gia thông qua việc khẩn trơng đổi mới và xây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật phù hợp với đờng lói của Đảng, với thông lệ quốc tế, phát triển mạnh kết cấu hạ tầng; đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính nằm xây dựng bộ máy nhà nớc trong sạch về phẩm chất vững mạnh về chuyên môn. - Tích cực tạo lập đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa; thúc đẩy sự hình thành phát triển và từng bớc hoàn thiện các loại hình thị trờng hàng hoá, dịch vụ, lao động khoa học - công nghệ, vốn, bất động sản… tạo môi trờng kinh doanh thông thoáng, bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế, tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý kinh tế của Nhà nớc đối với nền kinh tế, đặc biệt chú trọng đổi mới và củng cố hệ thống tài chính, ngân hàng. - Có kế hoạch cụ thể đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực vững vàng về chính trị, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, tinh thông nghiệp vụ và ngoại ngữ, có tác phong công nghiệp và tinh thần kỷ luật cao. Trong phát triển nguồn nhân lực theo những tiêu chuẩn chung nói trên, cần chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ, quản lý và kinh doanh hiểu biết sâu về luật phpá quốc tế và nghiệp vụ chuyên môn, nắm bắt nhanh những chuyển biến trên thơng trờng quốc tế để ứng xử kịp thời, nắm đợc kỹ năng thơng thuyết và có trình độ ngoịa ngữ tốt. Bên cạnh đó cần hết sức coi trọng việc đào tạo đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề cao. Cùng với việc đào t ạo nhân lực cần có chính sách thu hút, bảo vệ và sử dụng nhân tài; bố trí, sử udngj cán bộ đúng với ngành nghề đợc đào tạo và với sở trờng năng lực của từng ngời. - Kết hợp chặt chẽ hoạt động chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại. Cũng nh trong lĩnh vực chính trị đối ngoại, trong lĩnh vực kinh tế đối ngoịa và hội nhập kinh tế quốc tế cần giữ vững đờng lối độc lập tự chủ, thực hiện đa phơng hoá, đa dạng hoá thị trờng và đối tác, tham gia rộng rãi các tổ chức quốc tế. Các hoạt động đối ngoại song phơng và đa phơng cần hớng mạnh vào việc phục vụ đắc lực nhiệm vụ mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Tích cực tham gia đấu tranh vì một hệ thống quan hệ kinh tế quốc tế bình đẳng, công bằng, cùng có lợi bảo đảm lợi ích của các nớc đang phát triển và chậm phát triển. Các cơ quan đại diện ngoại giao ở nớc ngoài cần coi việc phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của đất nóc là một nhiệm vụ hàng đầu. - Gắn kết chủ trơng hội nhập kinh tế quốc tế với nhiệm vụ củng cố an ninh quốc phòng ngay từ khâu hình thành kế hoạch, xây dựng lộ trình cũng nh trong quá trình thực hiện, nhằm làm cho hội nhập không ảnh hởng tiêu cực tới nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và an toàn xã hội, mặc khác, các cơ quan quốc phòng và an ninh cần có kế hoạch chủ động hỗ trợ tạo môi trờng thuận lợi cho qúa trình hội nhập. - Tích cực tiến hành đàm phán để gia nhập Tổ chức Thơng mại thế giới (WTO) theo các phơng án và lộ trình hợp lý, phù hợp với hoàn cảnh của nớc ta là một nớc đang phát triển ở trình độ thấp và đang trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế. Gắn kết quá trình đàm phán với quá trình đổi mới mọi mặt hoạt động kinh tế ở trong nớc. Kiện toàn Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế đủ năng lực và thẩm quyền giúp Thủ tớng Chính phru tổ chức chỉ đạo các hoạt động về hội nhập kinh tế quốc tế. C. KẾT LUẬN Quan hệ kinh tế có tính toàn câu là sản phẩm tất yếu, xu thế khách quan khi lực lợng sản xuất đạt trình độ quốc tế hoá rất cao, khoa học - công nghệ tiến bộ vợt bậc, kinh tế thị trờng trở nên phổ cập. Nói cách khác không phải giai cấp này hay thế lực kia có thể tự mình tạo ra toàn cầu hoá theo ý muốn chủ quan mà chính những điều kiện kinh tế kỹ thuật nhất định đã quốc tế hoá các quan hệ kinh tế phát triển đến ddỉnh cao là toàn cầu hoá. Dới tác động của xu thế toàn cầu hoá, xuất hiện nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Thực hiện hội nhập quốc tế đã trở thành nhu cầu cấp thiết của mọi quốc gia nhằm tận dụng các mặt lợi thế của toàn cầu hoá, đồng thời qua hoạt động thực tiễn, mặc nhiên góp phần thúc đẩy làm phong phú nội dung cơ bản của xu thế này. Và Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng ảnh hởng đó. Những gì đã thực hiện đã giành đợc chứng minh rằng: Đảng ta, nhà nớc ta và nhân dân ta có đủ bản lĩnh và khả năng khai thác những gì là lợi thế với nhiều loại thử thách phức tạp. Thực tế vừa qua về cả hai mặt "đợc" và "cha đợc" đều là những kinh nghiệm, bài học bổ ích giúp chúng ta mạnh dạn chuyển qua bớc phát triển mới của hội nhập quốc tế. Bằng những kiến thức thu nhận đợc qua môn học kinh tế chính trị em đã cố gắng nêu lên những vấn đề cơ bản về toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của nớc ta. Tuy nhiên, do những hạn chế về kiến thức và thời gian nghiên cứu nên chắc chắn đề án sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết. Em rất mong nhận đợc sự chỉ bảo của thầy giáo để bài viết đợc hoàn chỉnh hơn. Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn thầy giao Mai Hữu Thực đã tận tình bhớng dẫn em hoàn thành đề án này.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfTiểu luận- Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế - một nhiệm vụ trọng tâm của nước ta hiện nay.pdf
Luận văn liên quan