Tiểu luận Cơ sở hệ thống quản lý chất thải rắn

Mở đầu Nền kinh tế đất nước ngày một phát triển không ngừng. Cùng với đó là sự tăng thêm các cơ sở sản xuất, các khu tập trung dân cư ngày càng nhiều, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm vật chất cũng ngày càng lớn, những điều đó tạo điều kiện kích thích các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ mở rộng và phát triển nhanh chóng, nâng cao mức sống chung của xã hội; mặt khác cũng tạo ra một số lượng lớn chất thải bao gồm: Chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng . Chính vì vậy mà yêu cầu đối với hệ thống quản lý của Nhà nước đối với chất thải nói chung và chất thải rắn nói riêng là phải làm sao đáp ứng được với xu thế đó. Nhằm mục đích tìm hiểu kỹ hơn về hệ thống này để có cái nhìn tổng quát hơn về cách thức quản lý đối với chất thải hiện nay. Đó là lý do nhóm chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này. ------------------------------------------------- ------------------------------------------------- MỤC LỤC Mở đầu 6 1. Thách thức trong quản lý chất thải rắn ở việt nam 7 1.1. Sức ép dân số dân số và quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam 7 1.2. Thành phần của chất thải rắn ngày càng đa dạng và phức tạp 11 1.2. Khó khăn về nguồn nhân lực 12 1.4. Tỉ lệ thu gom chất thải rắn chưa được triệt để 15 1.5. Khó khăn trong phân loại rác tại nguồn 18 1.6. Các thách thức khác 19 2 . Thực trạng quản lý chất thải rắn ở việt nam 21 3. Tiếp cận quản lý tổng hợp chất thải rắn 22 3.1 Quản lý tổng hợp chất thải rắn theo hướng bền vững 22 3.2 Những vấn đề đặt ra trong áp dụng quản lý tổng hợp chất thải rắn và các giải pháp chính sách thực hiện trong điều kiện của Việt Nam 27 3.3 Các giải pháp về chính sách trong quản lý chất thải rắn ở Việt Nam 28 4. Hệ thống kỹ thuật quản lý chất thải rắn 32 4.1 Cơ cấu và sơ đồ tổ chức quản lý chất thải rắn đô thị 32 4.1.1. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn ở đô thị 33 4.1.2. Hệ thống thu gom chất thải rắn ở đô thị 34 4.1.3 Lưu trữ chất thải rắn tại nguồn 38 4.1.4.Hiện trạng xử lý chất thải rắn đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh 41 4.2. Quản lý, phân loại, lưu trữ và xử lý chất thải rắn tại nguồn 41 4.2.1 Quản lý, phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại các hộ Gia Đình 42 4.2.2 Quản lý, phân loại chất thải rắn tại các khu thương mại và các cơ sở sản xuất công nghiệp khu thương mại 47 4.2.3 Lưu trữ chất thải rắn Tại nguồn 47 4.2.4 Xử lý chất thải rắn tại hộ gia Đình 50 4.2.5 Xử lý chất thải tại các khu thương mại 52 4.2.6. Dự án phân loại chất thải rắn tại nguồn, tp. Hồ chí minh 52 4.2.6.1 Phương án 1 53 4.2.6.2 Phương án 2 57 4.3 Kinh nghiệm thực hiện chương trình phân loại rác tại nguồn của các nước trên thế giới 62 5. Một số biện pháp cải thiện hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 63 5. 1. Về các hình thức tổ chức thu gom rác 65 5. 2. Về cơ chế quản lý 67 5. 4. Cần xác định rõ trách nhiệm của toàn xã hội trong việc thu gom rác thải 69 5. 3. Về các chính sách hỗ trợ cho các tổ chức thu gom rác hoạt động 70 6. Hệ thống quản lý chất thải rắn của Singapore 71 Tài liệu tham khảo 72 (Tiểu luận dài 72 trang)

doc74 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 12/01/2013 | Lượt xem: 2866 | Lượt tải: 14download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Cơ sở hệ thống quản lý chất thải rắn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TIỂU LUẬN QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN VÀ CHẤT THẢI NGUY HẠI CƠ SỞ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN  TP HCM tháng 05 năm 2011 NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN …………………………………………………………………………………………….... ……………………………………………………………………………………………....……………………………………………………………………………………………....……………………………………………………………………………………………....……………………………………………………………………………………………....……………………………………………………………………………………………....……………………………………………………………………………………………....……………………………………………………………………………………………....……………………………………………………………………………………………....……………………………………………………………………………………………....……………………………………………………………………………………………....……………………………………………………………………………………………....……………………………………………………………………………………………....……………………………………………………………………………………………....……………………………………………………………………………………………....……………………………………………………………………………………………....……………………………………………………………………………………………....……………………………………………………………………………………………....……………………………………………………………………………………………....……………………………………………………………………………………………....……………………………………………………………………………………………....……………………………………………………………………………………………....……………………………………………………………………………………………....…………………………………………………………………………………………….... MỤC LỤC Mở đầu 6 Thách thức trong quản lý chất thải rắn ở việt nam 7 Sức ép dân số dân số và quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam 7 1.2. Thành phần của chất thải rắn ngày càng đa dạng và phức tạp 11 Khó khăn về nguồn nhân lực 12 1.4. Tỉ lệ thu gom chất thải rắn chưa được triệt để 15 1.5. Khó khăn trong phân loại rác tại nguồn 18 1.6. Các thách thức khác 19 2 . Thực trạng quản lý chất thải rắn ở việt nam 21 3. Tiếp cận quản lý tổng hợp chất thải rắn 22 3.1 Quản lý tổng hợp chất thải rắn theo hướng bền vững 22 3.2 Những vấn đề đặt ra trong áp dụng quản lý tổng hợp chất thải rắn và các giải pháp chính sách thực hiện trong điều kiện của Việt Nam 27 3.3 Các giải pháp về chính sách trong quản lý chất thải rắn ở Việt Nam 28 4. Hệ thống kỹ thuật quản lý chất thải rắn 32 4.1 Cơ cấu và sơ đồ tổ chức quản lý chất thải rắn đô thị 32 4.1.1. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn ở đô thị 33 4.1.2. Hệ thống thu gom chất thải rắn ở đô thị 34 4.1.3 Lưu trữ chất thải rắn tại nguồn 38 4.1.4.Hiện trạng xử lý chất thải rắn đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh 41 4.2. Quản lý, phân loại, lưu trữ và xử lý chất thải rắn tại nguồn 41 4.2.1 Quản lý, phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại các hộ Gia Đình 42 4.2.2 Quản lý, phân loại chất thải rắn tại các khu thương mại và các cơ sở sản xuất công nghiệp khu thương mại 47 4.2.3 Lưu trữ chất thải rắn Tại nguồn 47 4.2.4 Xử lý chất thải rắn tại hộ gia Đình 50 4.2.5 Xử lý chất thải tại các khu thương mại 52 4.2.6. Dự án phân loại chất thải rắn tại nguồn, tp. Hồ chí minh 52 4.2.6.1 Phương án 1 53 4.2.6.2 Phương án 2 57 4.3 Kinh nghiệm thực hiện chương trình phân loại rác tại nguồn của các nước trên thế giới 62 5. Một số biện pháp cải thiện hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 63 5. 1. Về các hình thức tổ chức thu gom rác 65 5. 2. Về cơ chế quản lý 67 5. 4. Cần xác định rõ trách nhiệm của toàn xã hội trong việc thu gom rác thải 69 5. 3. Về các chính sách hỗ trợ cho các tổ chức thu gom rác hoạt động 70 6. Hệ thống quản lý chất thải rắn của Singapore 71 Tài liệu tham khảo 72 Mở đầu Nền kinh tế đất nước ngày một phát triển không ngừng. Cùng với đó là sự tăng thêm các cơ sở sản xuất, các khu tập trung dân cư ngày càng nhiều, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm vật chất cũng ngày càng lớn, những điều đó tạo điều kiện kích thích các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ mở rộng và phát triển nhanh chóng, nâng cao mức sống chung của xã hội; mặt khác cũng tạo ra một số lượng lớn chất thải bao gồm: Chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng... Chính vì vậy mà yêu cầu đối với hệ thống quản lý của Nhà nước đối với chất thải nói chung và chất thải rắn nói riêng là phải làm sao đáp ứng được với xu thế đó. Nhằm mục đích tìm hiểu kỹ hơn về hệ thống này để có cái nhìn tổng quát hơn về cách thức quản lý đối với chất thải hiện nay. Đó là lý do nhóm chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này. THÁCH THỨC TRONG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Ở VIỆT NAM Bảo vệ môi trường ngày nay đã trở thành một vẫn đề vô cùng bức bách và trọng yếu của mọi quốc gia, vì nó liên quan đến vấn đề sống còn của nhân loại. Cùng với sự phát triển khoa học và công nghệ, cùng với phát kiến về thế giới xung quanh và động cơ làm giàu một cách vị kỷ, nhiều quốc gia, nhiều công ty, tập đoàn xuyên quốc gia đã tàn phá môi trường - cái nôi nuôi dưỡng chính họ, và con người đã bước đầu nhận thức ra được nguy cơ này. Tổ chức môi trường của Liên Hợp Quốc và của nhiều quốc gia đã thường xuyên ban hành các quy ước quốc tế về môi trường , các quyết định nghiêm cấm tức thời và lâu dài v.v… Nhân loại đã thấy rằng, vấn đề môi trường là vấn đề của toàn cầu. Ý thức được tầm quan trọng của vấn đề này, nước ta đã chính thức tham gia các công ước quốc tế về môi trường. Nhu cầu về quản lí chất thải rắn ở Việt Nam là rất lớn nếu xét tương quan với năng lực hiện có và tốc độ tăng trưởng các đô thị và phát triển công nghiệp. trong công tác quản lý chất thải rắn ở việt nam không tránh khỏi những khó khăn và thách thức sau: 1.1. Sức ép dân số dân số và quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam Trong 20 năm qua, Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể về phát triển kinh tế - xã hội. Từ năm 2005 đến nay, GDP liên tục tăng, bình quân đạt trên 7%/năm. Năm 2005, tốc độ này đạt 8,43%, là mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 9 năm qua. Đến cuối năm 2005, dân số Việt Nam là 83.119.900 người. Từ năm 2000 - 2005, dân số Việt Nam tăng 5,48 triệu người, trong đó tỉ lệ dân số thành thị tăng từ 24,18% năm 2000 - 26,97% năm 2005, tương ứng tỉ lệ dân số nông thôn giảm từ 75,82% xuống 73,93%. Dự báo đến năm 2010, dân số thành thị lên tới 30,4 triệu người, chiếm 33% dân số và đến năm 2020 là 46 triệu người, chiếm 45% dân số cả nước. Năm 1990, Việt Nam có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ. Tính đến tháng 6/2007 có tổng cộng 729 đô thị các loại, trong đó có 2 đô thị loại đặc biệt (Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh), 4 đô thị loại I (thành phố), 13 đô thị loại II (thành phố), 43 đô thị loại III (thành phố), 36 đô thị loại IV (thị xã), 631 đô thị loại V (thị trấn và thị tứ). Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa diễn ra rất nhanh đã trở thành nhân tố tích cực đối với phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về kinh tế - xã hội, đô thị hóa quá nhanh đã tạo ra sức ép về nhiều mặt, dẫn đến suy giảm chất lượng môi trường và phát triển không bền vững. Lượng chất thải rắn phát sinh tại các đô thị và khu công nghiệp ngày càng nhiều với thành phần phức tạp. Lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10%. Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%), Cao Lãnh (12,5%)... Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh CTRSH tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%). Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu. Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các cơ sở y tế. Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại ở các đô thị tuy chiếm tỷ lệ ít nhưng chưa được xử lý triệt để vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với CTRSH đô thị. Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, lượng CTRSH đô thị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Tuy chỉ có 2 đô thị nhưng tổng lượng CTRSH phát sinh tới 8.000 tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng CTRSH phát sinh từ tất cả các đô thị (hình 1 và bảng 1).   Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị vùng Đông Nam bộ có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245 tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh CTRSH đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%). Các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc bộ có lượng phát sinh CTRSH đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh CTRSH đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%) (Hình 2.2). Đô thị có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất là TP. Hồ Chí Minh (5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng CTRSH phát sinh ít nhất là Bắc Kạn - 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng 20 tấn/ngày; TP. Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; TP Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã Hà Giang 37,1 tấn/ngày. Tỷ lệ phát sinh CTRSH đôthị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc biệt và đô thị loại I tương đối cao (0,84 – 0,96kg/người/ngày); đô thị loại II và loại III có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là tương đương nhau (0,72 - 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày. Tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thị phát triển du lịch như TP. Hạ Long 1,38kg/người/ngày; TP. Hội An 1,08kg/người/ngày; TP. Đà Lạt 1,06kg/người/ngày; TP. Ninh Bình 1,30kg/người/ngày. Các đô thị có tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân đầu người thấp nhất là TP. Đồng Hới (Tỉnh Quảng Bình) chỉ 0,31kg/người/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 0,35kg/người/ngày; Thị xã Kon Tum 0,35kg/người/ngày; Thị xã Cao Bằng 0,38kg/người/ngày. Trong khi đó tỷ lệ phát sinh bình quân đầu người tính trung bình cho các đô thị trên phạm vi cả nước là 0,73kg/người/ngày (bảng 2).  Với kết quả điều tra thống kê chưa đầy đủ như trên cho thấy, tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị ở nước ta ngày càng gia tăng với tỷ lệ tương đối cao (10%/năm) so với các nước phát triển trên thế giới. Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV lên khoảng 6,5 triệu tấn/năm (năm 2004: tổng lượng chất thải sinh hoạt của tất cả các đô thị Việt Nam là 6,4 triệu tấn/năm). Dự báo tổng lượng CTRSH đô thị đến năm 2010 vào khoảng hơn 12 triệu tấn/năm và đến năm 2020 khoảng gần 22 triệu tấn/năm. Để quản lý tốt nguồn chất thải này, đòi hỏi các cơ quan hữu quan cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến các khâu giảm thiểu tại nguồn, tăng cường tái chế, tái sử dụng, đầu tư công nghệ xử lý, tiêu hủy thích hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do CTRSH gây ra. 1.2. Thành phần của chất thải rắn ngày càng đa dạng và phức tạp Thành phần của chất thải rắn rất đa dạng và đặc trưng theo từng loại đô thị (thói quen, mức độ văn minh, tốc độ phát triển). Các đặc trưng điển hình của chất thải rắn như sau: - Hợp phần có nguồn gốc hữu cơ cao (50,27 - 62,22%) - Chứa nhiều đất cát, sỏi đá vụn, gạch vỡ - Độ ẩm cao, nhiệt trị thấp (900 kcal/kg). Việc phân tích thành phần chất thải rắn đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn công nghệ xử lý. Thành phần chất thải rắn của một số đô thị Việt Nam theo các số liệu nghiên cứu năm 1998 được trình bày ở bảng 2.7. Bảng 2.7. Thành phần chất thải rắn ở một số đô thị năm 1998 (theo % trọng lượng) STT  Thành phần  Tại Hà Nội  Tại Hải Phòng  Tại TP Hạ Long  Tại Đà Nẵng  Tại TP HCM   1  Chất hữu cơ  51,10  50,58  40,1 - 44,7  31,50  41,25   2  Cao su, nhựa  5,50  4,52  2,7 - 4,5  22,50  8,78   3  Giấy, catton, giẻ vụn  4,20  7,52  5,5 - 5,7  6,81  24,83   4  Kim loại  2,50  0,22  0,3 - 0,5  1,40  1,55   5  Thủy tinh, sứ, gốm  1,80  0,63  3,9 - 8,5  1,80  5,59   6  Đất, đá,cát, gạch vụn  35,90  36,53  47,5 - 36,1  36,00  18,00   Độ ẩm Độ tro Tỷ trọng - tấn/m3  47,7 15,9 0,42  45 - 48 16,62 0,45  40 - 46 11,0 0,57 - 0,65  39,05 40,25 0,38  27,18 58,75 0,412   Nguồn: số liệu quan trắc - CEETIA Diễn biến về thành phần rác thải sinh hoạt tại Hà Nội từ năm 1995 đến 1998 được thể hiện ở bảng 2.8 Bảng 2.8. Diễn biến về thành phần rác thải sinh hoạt tại Hà Nội từ năm 1995 đến 1999 Nguồn : số liệu quan trắc CEETIA Thành phần  1995  1996  1997  1998   Giấy vụn Lá cây, rác hữu cơ Túi nilon, đồ nhựa Kim loại, vỏ đồ hộp Thủy tinh, sành , gốm Đất, cát và các chất khác Tổng cộng Độ ẩm của rác thải Độ tro Tỷ trọng trung bình-T/m3  2,20 45,90 1,70 1,20 1,40 47,60 100 52,0 12,0 0,432  2,90 50,40 3,20 1,80 2,60 39,10 100 47,6 10,5 0,416  2,30 53,00 4,10 5,50 3,80 31,30 100 50,0 21,4 0,420  4,20 50,10 5,50 2,50 1,80 35,90 100 47,70 15,90 0,420   1.3. Khó khăn về nguồn nhân lực Lực lượng thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại TPHCM Hiện nay trên địa bàn TPHCM đang tồn tại song song 2 hệ thống tổ chức thu gom rác sinh hoạt: hệ thống thu gom công lập và hệ thống thu gom dân lập.  Hệ thống công lập gồm 22 Công ty Dịch vụ công ích của các Quận. Hệ thống này đảm nhận toàn bộ việc quét dọn vệ sinh đường phố, thu gom rác chợ, rác cơ quan và các công trình công cộng, đồng thời thực hiện dịch vụ thu gom rác sinh hoạt cho khoảng 30% số hộ dân trên địa bàn, sau đó đưa về trạm trung chuyển hoặc đưa thẳng tới bãi rác. Một số đơn vị ký hợp đồng với Công ty Môi trường Đô thị để vận chuyển rác trên địa bàn.  Hệ thống thu gom dân lập bao gồm các cá nhân thu gom rác, các nghiệp đoàn thu gom và các Hợp tác xã vệ sinh môi trường. Lực lượng thu gom dân lập chủ yếu thu gom rác hộ dân (thông qua hình thức thỏa thuận hợp đồng dưới sự quản lý của UBND Phường), trên 70% hộ dân trên địa bàn và các công ty gia đình (Nguồn: Điều tra chỉ số hài lòng về dịch vụ thu gom 2008, Cục Thống kê và Viện Nghiên cứu Phát triển). Rác dân lập chịu trách nhiệm quét dọn rác trong các ngỏ hẻm, sau đó tập kết rác đến các điểm hẹn dọc đường hoặc bô rác trung chuyển và chuyển giao rác cho các đơn vị vận chuyển rác. Số lượng lao động thu gom công lập và dân lập tại các quận/huyện được thống kê tại bảng sau. Bảng: Số lượng lao động thu gom chất thải rắn đô thị tại các quận/huyện của thành phố Hồ Chí Minh (năm 2006) STT  Quận/Huyện  Lao động thu công (người)     Công lập  Dân lập   1  Quận 1  270  73   2  Quận 2  30  50   3  Quận 3  131  370   4  Quận 4  68  130   5  Quận 5  140  200   6  Quận 6  158  185   7  Quận 7  86  120   8  Quận 8  150  125   9  Quận 9  33  160   10  Quận 10  136  140   11  Quận 11  100  250   12  Quận 12  32  110   13  Quận Phú Nhuận  96  288   14  Quận Bình Thạnh  236  220   15  Quận Tân Bình  325  464   16  Quận Tân Phú  96  130   17  Quận Thủ Đức  32  115   18  Quận Bình Tân  120  95   19  Quận Gò Vấp  74  165   20  Huyện Hóc Môn  23  40   21  Huyện Nhà Bè  30  85   22  Huyện Bình Chánh  96  215   23  Huyện Củ Chi  60  50   24  Huyện Cần Giờ  19  -   Tổng cộng  2.541  3.780   Nguồn: Tổng hợp của các quận, huyện, thống kê từ Sở Tài nguyên và Môi trường, 2006. Từ bảng trên cho thấy lực lượng thu gom dân lập chiếm gần 60% lực lượng thu gom của toàn Thành phố, là lực lượng thu gom chủ yếu trong các đường nhỏ, đường hẻm mà xe cơ giới không vào được. Mặc dù còn nhiều mặt hạn chế trong công tác thu gom nhưng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của lực lượng rác dân lập trong công tác bảo vệ môi trường cho Thành phố. Đối với hệ thống thu gom rác công lập thì vấn đề tổ chức thu gom đã đi vào nề nếp, từng bước ổn định. Đây là lực lượng nòng cốt có trách nhiệm duy trì các hoạt động thu gom rác khu vực công cộng, quét dọn đường phố. Còn với lực lượng thu gom rác dân lập do được hình thành một cách tự phát từ rất lâu nên lực lượng này thường làm việc một cách độc lập và thường không ký hợp đồng thu gom bằng văn bản với các hộ dân. Chính quyền địa phương hầu như không thể quản lý được lực lượng này, vì thế đã gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý chung của Thành phố. 1.4. Tỉ lệ thu gom chất thải rắn chưa được triệt để Theo thống kê của Bộ Xây dựng, tỉ lệ thu hồi các chất thải rắn tính chung toàn quốc mới đạt khoảng 70%. Riêng ở Hà Nội chỉ đạt 92%, trung bình ở các đô thị loại III 72.8%, loại IV – 66,5%. Tỷ lệ thu hồi các chất có khả năng tái chế và tái sử dụng chỉ khoảng 25%, chủ yếu là tự phát, manh mún, không được quản lý; việc xử lý chất thải rắn ở các đô thị cho đến nay vẫn chủ yếu vẫn thải và đổ vào các bãi rác lộ thiên, không có sự kiểm soát kỹ thuật, mùi hôi và nước rác là nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Theo số liệu thống kê của Sở Tài nguyên & Môi trường TPHCM, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt thu gom được trên địa bàn nhìn chung có sự gia tăng nhanh chóng trong khoảng thời gian 1992 – 2007, mặc dù trong một số thời điểm nhất định (các năm 1997, 1998, 2005), lượng chất thải rắn sinh hoạt có xu hướng giảm đi, nhưng sau đó lại tiếp tục gia tăng trở lại. Trong khoảng thời gian 1992 – 2007, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt thu gom được đã tăng gấp 4,6 lần, từ 424.807 tấn/năm (năm 1992) lên đến 1.954.236 tấn/năm (năm 2007), tương ứng với khối lượng chất thải rắn sinh hoạt bình quân mỗi ngày tăng từ 1.164 tấn/ngày (1992) lên đến 5.354 tấn/ngày (năm 2007). Bảng 1: Tỷ lệ gia tăng chất thải rắn sinh hoạt từ năm 1992 - 2007 Năm  Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh  Tỷ lệ gia tăng chất thải hàng năm (%)    (tấn/năm)  (tấn/ngày)    1992            424.807         1.164      1993            562.227         1.540  32,35   1994            719.889         1.972  28,04   1995            978.084         2.680  35,87   1996         1.058.488         2.900  8,22   1997            983.811         2.695  -7,06   1998            939.943         2.575  -4,46   1999         1.066.272         2.921  13,44   2000         1.172.958         3.214  10,01   2001         1.369.358         3.752  16,74   2002         1.568.477         4.297  14,54   2003         1.662.849         4.556  6,02   2004         1.763.866         4.833  6,07   2005         1.744.976         4.781  -1,07   2006  1.888.199  5.173  8,21   2007  1.954.236  5.354  3,50   (Nguồn: tổng hợp từ số liệu của Sở tài nguyên & Môi trường) Khối lượng CTRSH thu gom được của Thành phố gia tăng rất nhanh trong thời kỳ 1992 – 1996 (tương ứng với mức gia tăng bình quân mỗi năm là 26,12%), sau đó giảm xuống trong các năm 1997 (giảm 7,06%) và năm 1998 (giảm 4,46%) và tiếp tục gia tăng trở lại từ năm 1999. Trong giai đoạn 2000 – 2004, tốc độ gia tăng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt của Thành phố bình quân ở mức 10,7%/năm, sau đó giảm xuống trong năm 2005 (giảm 1,07% so với năm 2004) và tiếp tục tăng trở lại vào năm 2006 và 2007. Sự gia tăng khối lượng của chất thải rắn sinh hoạt trên Thành phố trong thời gian qua phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: -         Dân số thành phố liên tục gia tăng; -         Tốc độ xây dựng tăng nhanh; -         Tốc độ công nghiệp hóa tăng cao; -         Sự phát triển chung của nền kinh tế Thành phố; -         Mức sống của người dân Thành phố ngày một tăng lên,… Sự tụt giảm khối lượng tuyệt đối của chất thải rắn sinh hoạt trên Thành phố một số năm (1997, 1998, 2005) có thể là do: -         Tình trạng khủng hoảng kinh tế chung ở khu vực Đông Nam Á trong khoảng thời gian 1997 – 1998 làm ảnh hưởng đến mức tiêu dùng của người dân Thành phố. -         Hệ thống thu gom chất thải rắn sinh hoạt của Thành phố không đáp ứng đủ nhu cầu thu gom toàn bộ lượng chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn; -         Một nguyên nhân nữa cũng ảnh hưởng tới sự sụt giảm tỉ lệ thu gom và khối lượng chất thải rắn là trong năm 2005 là giai đoạn thành phố cơ cấu lại tổ chức của bộ máy thu gom (quản lý lại lượng lượng thu gom rác dân lập và thực hiện khoán thu gom, vận chuyển chất thải rắn đô thị năm 2005). Tỉ lệ chất thải rắn không thu gom được ước tính chiếm khoảng 10% khối lượng chất thải rắn của năm đó. Cần lưu ý rằng, các số liệu về chất thải rắn sinh hoạt được trích dẫn sử dụng ở trên là tính trên lượng chất thải rắn thu gom được (khoảng 90%). Ngoài lượng chất thải rắn sinh hoạt thu gom được, còn có một lượng đáng kể chất thải rắn được đổ xuống kênh, mương (vùng ven), thậm chí đổ rác cả vào trong các hố ga thoát nước dọc các đường phố, đổ rác nhờ nhà hàng xóm, đổ vào thùng rác công cộng (một số hộ dân ở Quận 4)… Phân tích mối quan hệ giữa khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh với dân số trên địa bàn cho thấy rằng tốc độ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bình quân đầu người cũng biến động một cách tương tự như sự biến động khối lượng của CTRSH thu gom được. Bảng 2: Tốc độ phát sinh CTRSH bình quân đầu người ở TP.HCM từ 1995 - 2007 Năm  Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh  Dân số  Tốc độ phát sinh chất thải rắn bình quân đầu người (kg/người/ ngày)  Tốc độ gia tăng lượng CTR bình quân đầu người năm (%)    (tấn/năm)  (tấn/ngày)      1995            978.084         2.680      4.640.117  0,58      1996         1.058.488         2.900      4.748.596  0,61  5,17   1997            983.811         2.695      4.852.590  0,56  -8,20   1998            939.943         2.575      4.957.856  0,52  -7,14   1999         1.066.272         2.921      5.063.871  0,58  11,54   2000         1.172.958         3.214      5.248.702  0,61  5,17   2001         1.369.358         3.752      5.449.203  0,69  13,11   2002         1.568.477         4.297      5.658.997  0,76  10,14   2003         1.662.849         4.556      5.867.496  0,78  2,63   2004         1.763.866         4.833      6.062.993  0,80  2,56   2005         1.744.976         4.781      6.239.938  0,77  -3,75   2006          1.888.199  5.173      6.424.519  0,81  5,19   2007  1.954.236  5.354  6.650.942  0,81  0   Nguồn: tổng hợp từ nguồn số liệu của Sở Tài nguyên & Môi trường) 1.5. Khó khăn trong phân loại rác tại nguồn Theo thống kê của Sở Tài nguyên môi trường TP. HCM, mỗi ngày toàn thành phố thải ra khoảng 6.000 tấn rác. Tuy nhiên lâu nay do không thực hiện được khâu phân loại rác nên tất cả rác là chất thải rắn, chất thải hữu cơ đều được thực hiện chung một biện pháp xử lý duy nhất là đem chôn tất cả xuống đất. Theo thông tin từ Phòng quản lý chất thải rắn thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, vừa qua TP. HCM đã đưa ra dự án phân loại rác thải tại nguồn. Thời gian đầu tiên, chương trình sẽ được triển khai ở một số quận huyện nội thành như quận 1, 4, 5, 6, 10 và huyện Củ Chi. Từ ngày 11/3/2006, quận 6 chính thức tổ chức phát động chương trình phân loại rác tại nhà dân. Đến nay, quận 6 đã triển khai phân loại chất thải rắn tại nguồn ở 7/14 phường của quận. Từ năm 2007, chương trình phân rác tại nguồn sẽ tiếp tục triển khai ở các quận còn lại. Từ năm 2008, chương trình sẽ được triển khai rộng ở tất cả các quận, huyện trên toàn thành phố. Để thực hiện việc phân loại chất thải rắn tại nguồn đạt kết quả cao, rất cần sự phối hợp từ người dân đến lực lượng thu gom rác. Tại quận 6, các hộ gia đình sẽ được hỗ trợ dụng cụ phân loại rác trong thời gian 6 tháng gồm: 2 túi ni lông/ngày và 2 thùng rác với 2 màu xám và xanh, trong đó thùng màu xám sẽ đựng các loại rác có thể tái chế lại được như chai lọ nhựa, thuỷ tinh, nhôm... Thùng màu xanh đựng các loại rác hữu cơ như thức ăn thừa, thực phẩm sống, xác côn trùng... Đối với hệ thống thu gom rác, UBND quận 6 đã hợp đồng với các nghiệp đoàn thu gom rác dân lập trên địa bàn cải tiến lại toàn bộ hệ thống xe vận chuyển rác. Mỗi xe ngăn thành 2 hộc riêng biệt. Sau khi thu gom rác từ nhà dân, rác được tập trung về các trạm rác. Tại đây rác được tiếp tục phân loại, phần chất thải rắn có thế tái chế được sẽ bán cho các cơ sở tái chế; những loại rác khác được chuyển về bãi chôn lấp và bán cho các nhà máy sản xuất phân bón hữu cơ. Phía quận 6 cũng đã thực hiện các buổi tập huấn cho các lực lượng chủ lực của phường như tổ trưởng tổ dân phố, và người dân ở từng khu phố. Tuy nhiên, qua một thời gian triển khai, theo đánh giá của UBND quận 6 thì ý thức tự giác của người dân chưa cao. Chương trình đã được triển khai ở 7 phường gồm: 1, 2, 3, 4, 5, 7 và phường 8, song chỉ có phường 8 là có tỉ lệ tuân thủ theo quy trình phân loại rác đạt cao nhất. Do đó, công tác nâng cao ý thức của người dân trong việc phân loại rác là rất quan trọng. Theo nhận xét của Sở Tài nguyên và Môi trường Tp. HCM, nếu chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn được thực hiện được tốt thì thời gian tới lượng rác của TP. HCM cần chôn lấp sẽ giảm đi rất nhiều. Điều đó không chỉ góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường nói chung mà còn mang lại lợi ích thiết thực cho chính cuộc sống của người dân thành phố. 1.6. Các thách thức khác - Sự hạn chế về văn hoá và nhận thức xã hội, khi người dân thiếu ý thức bảo vệ môi trường sống sẽ làm gia tăng chất thải và chi phí của xã hội cho việc thu gom rác thải. Mặc dù vấn đề quản lý chất thải đã được xã hội quan tâm, nhưng việc đưa ra các quyết định hợp lý, nghĩa là việc tìm ra các phương pháp rẻ nhất để quản lý chất thải trong cộng đồng, cũng như đưa ra các quyết định có tính công bằng vẫn là một thách thức đối với các quốc gia. - Mức thu nhập tăng sẽ tác động tới hai khía cạnh: 1) Nhu cầu cao hơn đòi hỏi tiêu dùng tăng lên làm gia tăng chất thải; 2) Sự thay đổi thành phần chất thải (thu nhập thấp thì tiêu dùng ở trình độ thấp làm tăng chất thải hữu cơ, thu nhập cao, trình độ tiêu dùng xã hội cao làm tăng chất thải vô cơ). Thách thức đối với xã hội phát triển là sự gia tăng nhanh chóng của lượng chất thải vô cơ đòi hỏi rất nhiều chi phí để xử lý. - Công nghệ sản xuất lạc hậu sẽ tiêu tốn nhiều năng lượng và vật liêu, làm phát sinh nhiều chất thải; công nghệ xử lý chất thải hạn chế (đốt, xử lý vi sinh, ép rác thải, chôn lấp chất thải) thì mức độ xử lý và chất lượng tái chế chất thải càng thấp. - Chính sách của chính phủ và khả năng kiểm soát của chính phủ thông qua pháp luật, các quy định về quản lý chất thải, quy chế về bao bì, các công cụ kinh tế không chặt chẽ thì lượng chất thải ra môi trường càng nhiều, hậu quả càng nghiêm trọng. Hiện nay ở nước ta hệ thống luật pháp liên quan đến môi trường và chất thải chưa đầy đủ, chưa có các qui định chặt chẽ về tiêu chuẩn chất thải và các định chế liên quan đến khía cạnh kinh tế của vấn đề quản lý chất thải, do đó, những hành vi gây ô nhiễm môi trường chưa được ngăn chặn đúng mức và xử phạt thích đáng. - Cơ chế thị trường chưa hoàn chỉnh làm cho sức mạnh thị trường để điều tiết, quản lý chất thải gặp nhiều trở ngại, điều này đồng nghĩa với hệ quả khó tránh khỏi là sự gia tăng chất thải. - Khả năng tái sử dụng và tái chế chất thải với một tỷ lệ thấp sẽ làm gia tăng lượng phát thải ra môi trường. Ở Nhật Bản, công nghệ tiên tiến trong tái sử dụng và tái chế là biểu tượng mới của sản xuất, rất được khuyến khích từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XX. - Sự hạn chế thông tin về sự phát sinh và loại bỏ chất thải. Hầu hết các nước đều thiếu một cơ sở dữ liệu toàn quốc, toàn diện và cập nhật. Có rất ít quốc gia hình thành các cơ quan chịu trách nhiệm chung về hệ thống tổ chức để giải quyết từ khâu quy hoạch đến quản lý chất thải, đồng thời cũng thiếu hiểu biết về mặt phân tích chi phí - lợi ích kinh tế của các giải pháp. Ngay cả khi có thu thập và phân tích dữ liệu, sự quản lý chất thải hữu hiệu vẫn bị trở ngại do khó khăn về thị trường. Nhiều chính phủ đã thất bại trong việc định giá dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn. Việc định giá quá thấp các dịch vụ về chất thải rắn, không phản ánh hết toàn bộ chi phí xã hội của việc thu gom và xử lý chất thải dẫn đến khối lượng chất thải rắn tích luỹ quá lớn, trong khi lại sử dụng quá ít các biện pháp tái chế hoặc giảm thải tại nguồn. Thành phố Hồ Chí Minh hiện thải ra hơn 7.000 tấn rác mỗi ngày. Chỉ 77% trong số đó được thu gom, cũn lại đổ xuống cống thoát nước và kênh rạch. Hệ thống thu gom và công nghệ xử lý cũn thủ cụng, cỏc bói rỏc đều quá tải. Dự báo, chất thải rắn sẽ tăng đến 13.000 tấn/ngày vào năm 2010. Xã hội tiêu thụ - vứt bỏ xuất phát từ những kích thích lệch lạc của thị trường làm ảnh hưởng đến hành vi của cả người tiêu dùng lẫn người sản xuất. Một số nhà phân tích cho rằng các quyết định về việc thiết kế sản phẩm và loại bỏ chất thải dựa quá nhiều vào việc tăng cường sử dụng tài nguyên. Chất thải được tạo ra quá nhiều, và hơn nữa vẫn chưa tìm thấy được tổ hợp tối ưu các sản phẩm có chi phí tác động thuần vào môi trường thấp nhất. Điều này làm phức tạp thêm các vấn đề giảm thải tại nguồn, tái chế, xử lý, chôn lấp... 2 . Thực trạng quản lý chất thải rắn ở việt nam Quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động: phòng ngừa và giảm thiểu phát sinh CTR; phân loại tại nguồn; thu gom, vận chuyển; tăng cường tái sử dụng, tái chế; xử lý và tiêu huỷ. Công tác quản lý chất thải rắn ở Việt Nam hiện nay còn chưa tiếp cận được với phương thức quản lý tổng hợp trên quy mô lớn, chưa áp dụng đồng bộ các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế (3R) để giảm tỷ lệ chất thải phải chôn lấp. Hoạt động giảm thiểu phát sinh CTR, một trong những giải pháp quan trọng và hiệu quả nhất trong quản lý chất thải, còn chưa được chú trọng. Chưa có các hoạt động giảm thiểu CTR sinh hoạt. Ở quy mô công nghiệp, số cơ sở áp dụng sản xuất còn rất ít, khoảng 300/400.000 doanh nghiệp. Hoạt động phân loại tại nguồn chưa được áp dụng rộng rãi, chỉ mới được thí điểm trên qui mô nhỏ ở một số thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh. Tỷ lệ thu gom chất thải ở các vùng đô thị trung bình đạt khoảng 80-82%, thấp nhất là đô thị loại IV (65%), ở Hà Nội cao hơn (90%); ở các điểm dân cư nông thôn ~ 40-55%. Khoảng 60% khu vực ở nông thôn chưa có dịch vụ thu gom chất thải, chủ yêu dựa vào tư nhân hoặc cộng đồng địa phương. Tỷ lệ thu gom, vận chuyển CTR tuy đã tăng dần song vẫn còn ở mức thấp, chủ yếu phục vụ cho các khu vực đô thị, chưa vươn tới các khu vực nông thôn. Xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển CTR tuy đã được phát triển nhưng chưa rộng và chưa sâu, chủ yếu được hình thành ở các đô thị lớn. Năng lực trang thiết bị thu gom, vận chuyển còn thiếu và yếu, dẫn tới tình trạng tại một số đô thị đã thực hiện phân loại CTR tại nguồn nhưng khi thu gom, vận chuyển lại đem đổ chung làm giảm hiệu quả của việc phân loại. Tái sử dụng và tái chế chất thải mới chỉ được thực hiện một cách phi chính thức, ở qui mô tiểu thủ công nghiệp, phát triển một cách tự phát, không đồng bộ, thiếu định hướng và chủ yếu là do khu vực tư nhân kiểm soát. Công nghệ xử lý CTR chủ yếu vẫn là chôn lấp ở các bãi lộ thiên không đạt tiêu chuẩn môi trường với 82/98 bãi chôn lấp trên toàn quốc không hợp vệ sinh. Các lò đốt rác chủ yếu dành cho ngành y tế và chỉ đáp ứng được 50% tổng lượng chất thải y tế nguy hại. Việc phục hồi môi trường đối với các cơ sở xử lý CTR còn nhiều hạn chế. Tình trạng đổ chất thải không đúng nơi quy định còn xảy ra, gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khoẻ của cộng đồng. 3. Tiếp cận quản lý tổng hợp chất thải rắn Quản lý tổng hợp chất thải là một cách tiếp cận mới trong quản lý chất thải và đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Ở nước ta, quản lý chất thải nói chung và chất thải rắn nói riêng theo hướng bền vững là một trong 7 chương trình ưu tiên cao nhất được xác định trong Chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia 2001 -  2010 và Định hướng đến năm 2020 và cũng là một nội dung thuộc lĩnh vực ưu tiên trong chính sách phát triển của Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21) của Việt Nam. Gần đây nhất, ngày 17/12/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 2149/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 (dưới đây gọi tắt là Chiến lược quốc gia về chất thải rắn) trong đó xác định quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp cơ bản cho việc thực hiện. 3.1 Quản lý tổng hợp chất thải rắn theo hướng bền vững Trong thực tế quản lý chất thải ở các nước trên thế giới có các loại tiếp cận được áp dụng sau: - Quản lý chất thải ở cuối công đoạn sản xuất mà trong quản lý môi trường được gọi là cách tiếp cận “cuối đường ống”. Cách tiếp cận này, theo kinh nghiệm quốc tế, tuy đòi hỏi chi phí lớn nhưng vẫn phải áp dụng đối với các cơ sở sản xuất không có khả năng đổi mới toàn bộ quá trình sản xuất và công nghệ. - Quản lý chất thải trong suốt quá trình sản xuất mà trong quản lý môi trường được gọi là cách tiếp cận “theo đường ống”. Cách tiếp cận này đòi hỏi quản lý chất thải trong suốt quá trình sản xuất, bao gồm giảm thiểu cũng như tái sử dụng, tái chế và thu hồi chất thải ở mọi khâu, mọi công đoạn của quá trình sản xuất. - Quản lý chất thải nhấn mạnh vào khâu tiêu dùng. Triết lý của cách tiếp cận này là tập trung vào nâng cao nhận thức của người tiêu dùng để họ lựa chọn và đòi hỏi, tạo sức ép đối với các sản phẩm được sản xuất ra phải đạt tiêu chuẩn môi trường, phải thân thiện với môi trường (như đạt tiêu chuẩn ISO 14000...) và bản thân người tiêu dùng cũng hành động thân thiện với môi trường trong tiêu dùng sản phẩm. Người tiêu dùng ở đây được hiểu theo nghĩa rộng của lý thuyết kinh tế, bao gồm người tiêu dùng sản xuất (các nhà sản xuất) và người tiêu dùng cuối cùng. - Quản lý tổng hợp chất thải: Trong các tài liệu về quản lý chất thải thì quản lý tổng hợp chất thải được giới thiệu như là một phương thức quản lý thích hợp nhất đối với các nước có thu nhập trung bình và các nước có nền kinh tế chuyển đổi1. Quản lý tổng hợp chất thải cung cấp một cách nghĩ và cách xem xét phi truyền thống về quản lý chất thải, từ bỏ cách tiếp cận tập trung vào công nghệ xử lý (chôn lấp, tái chế, tái sử dụng...) một cách riêng rẽ, đơn lẻ. Quản lý tổng hợp chất thải xem xét một cách tổng thể các khía cạnh cần thiết nhất liên quan tới quản lý chất thải là môi trường tự nhiên, xã hội, kinh tế, thể chế với sự tham gia của các bên liên quan vào các thành phần của hệ thống quản lý chất thải (phòng ngừa, thu gom, tái sử dụng, tái chế, chôn lấp). Theo tài liệu hướng dẫn về quản lý tổng hợp chất thải thì thuật ngữ “tổng hợp” có nghĩa là nối kết hay phối hợp với nhau. Quản lý tổng hợp chất thải bao gồm ít nhất ba loại phối kết hợp sau: - Phối kết hợp các chiến lược quản lý chất thải. - Phối kết hợp các khía cạnh xã hội, kinh tế, luật pháp, thể chế, môi trường và công nghệ trong quản lý chất thải. - Phối kết hợp ý kiến ưu tiên và năng lực cung cấp dịch vụ của các bên liên quan. Sơ đồ quản lý tổng hợp chất thải Phối kết hợp các chiến lược quản lý chất thải bao gồm các giải pháp mang tính chiến lược giảm nguồn thải, tái sử dụng, tái chế, làm phân hữu cơ, thu gom, thu hồi năng lượng và chôn lấp. Cách quản lý này khác biệt với cách truyền thống là chỉ thu gom chất thải rồi đem chôn lấp, ở đây còn có một loạt các giải pháp nhằm giảm thiểu lượng chất thải đem chôn lấp, là giảm nguồn thải, tái sử dụng, tái chế, làm phân hữu cơ, thu gom, thu hồi năng lượng. Nguyên tắc chung cho mọi cách tiếp cận trong quản lý chất thải là sử dụng hiệu quả và tối ưu các tính năng hữu dụng của chất thải trước khi trả lại cho môi trường. Trong tiếp cận quản lý tổng hợp chất thải thì phòng ngừa là nguyên tắc hàng đầu. Phòng ngừa là ngăn chặn sự phát thải hoặc tránh tạo ra chất thải. Giảm thiểu là việc làm để sao cho sự phát thải là ít nhất. Khi sự phát thải được giảm tới mức bằng 0 thì đó là sự phòng ngừa tuyệt đối. Phòng ngừa được coi là phương thức tốt nhất để giảm thiểu chất thải ngay từ nguồn phát sinh. Phòng ngừa và giảm thiểu là hai nấc thang đầu tiên trong thang bậc quản lý chất thải.Trong kinh tế chất thải bản chất của phòng ngừa là ngăn chặn, tối đa sự phát sinh chất thải trong mọi hành động kinh tế (sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng). Tái sử dụng và tái chế là hai nấc thang tiếp theo Như vậy, quản lý tổng hợp chất thải xét theo cách tiếp cận phối kết hợp các chiến lược quản lý chất thải bao gồm các giải pháp mang tính chiến lược giảm nguồn thải, tái sử dụng, tái chế, làm phân hữu cơ, thu gom, thu hồi năng lượng và chôn lấp. Mối quan hệ, liên kết giữa các giải pháp này đặt trong tổng thể quản lý quá trình sản xuất và tiêu dùng có thể khái quát hóa dưới dạng sơ đồ (Sơ đồ 3). Sơ đồ trên cho thấy rằng một chiến lược quản lý tổng hợp chất thải cần được chú ý trước tiên vào các biện pháp giảm thiểu, nghĩa là theo nguyên tắc phòng ngừa. Trong quá trình sản xuất và tiêu dùng càng giảm thiểu được phát thải thì càng giảm được các chi phí cho các khâu tiếp theo để xử lý chất thải (tái sử dụng, tái chế, thu hồi, chôn lấp...). Còn một khi phát sinh chất thải trong sản xuất và tiêu dùng thì cần cố gắng tái sử dụng và tái chế tối đa trước khi đem chôn lấp, trả chúng về môi trường. Cách tiếp cận tổng hợp như vậy cũng đã được xác định và khẳng định trong quản lý chất thải thời gian tới ở nước ta. Chiến lược quốc gia về chất thải rắn cũng xác định quản lý tổng hợp chất thải rắn là một ưu tiên trong công tác bảo vệ môi trường. Đây là điểm khác biệt quan trọng so với Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2020 được ban hành 10 năm trước đây (tại Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 152/1999/QĐ-TTg ngày 10/7/1999) với nội dung chưa phải là dựa trên cách tiếp cận tổng hợp. 3.2 Những vấn đề đặt ra trong áp dụng quản lý tổng hợp chất thải rắn và các giải pháp chính sách thực hiện trong điều kiện của Việt Nam Những vấn đề đặt ra Tính chất tổng hợp, như đã nói ở trên, là nối kết hay phối hợp với nhau. Quản lý tổng hợp chất thải rắn có nghĩa là phải phối hợp tất cả các khâu, các hoạt động, các chủ thể liên quan tới chu trình vận động của chất thải từ khi phát sinh cho tới khi trả lại chúng về môi trường sau khi đã cố gắng tận dụng các tính năng hữu dụng của chất thải trong quá trình vận động ấy. Vấn đề đặt ra đầu tiên là sự nối kết, phối hợp các khâu, các hoạt động, các chủ thể có liên quan với nhau. Đây là điểm yếu nhất và cũng là khó khăn nhất đối với việc áp dụng phương thức quản lý này ở nước ta hiện nay (và có lẽ cũng ở nhiều nước đang phát triển khác). Sự tùy tiện, chia cắt trong hoạt động quản lý nói chung và quản lý chất thải rắn nói riêng là những biểu hiện cụ thể của sự thiếu phối hợp trong quản lý. Các biểu hiện này không chỉ là giữa các địa phương, các khu vực, các vùng với nhau mà còn cả giữa các khâu (phát thải, thu gom, phân loại, vận chuyển, xử lý, chôn lấp), các chủ thể liên quan tới chất thải (thường gọi là các bên liên quan như dân cư, hộ gia đình, doanh nghiệp, cơ quan quản lý). Vấn đề thứ hai nằm ở cố gắng tận dụng các tính năng hữu dụng của chất thải trong quá trình vận động của chất thải. Quản lý tổng hợp chất thải rắn chỉ có thể thành công nếu như các cố gắng đạt được trong tất cả các khâu, các hoạt động, các chủ thể có liên quan tới quá trình vận động này. Điều này liên quan tới không chỉ nguồn lực (vốn, công nghệ...) mà còn cả ý thức, nhận thức của các chủ thể. Công tác quản lý môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn nói riêng ở nước ta hiện đang có những hạn chế, khó khăn lớn về nguồn lực nhưng hạn chế, khó khăn về nhận thức còn lớn hơn, thậm chí có thể làm cản trở, triệt tiêu nguồn lực huy động được. Sự ít thành công, thậm chí cả thất bại trong thực hiện chiến lược 3R (giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế) chất thải sinh hoạt ở một số đô thị lớn (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng...) thời gian qua đã cho thấy đây thực sự là một vấn đề quan trọng đặt ra cần được chú ý, ưu tiên giải quyết như là điều kiện tiên quyết cho việc áp dụng thành công phương thức quản lý tổng hợp chất thải rắn ở nước ta trong thời gian tới. Sơ đồ : mối quan hệ liên kết trong các biện pháp giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải Vấn đề thứ ba: liên quan tới hệ thống và mạng lưới quản lý chất thải, trong đó đáng chú ý là năng lực còn yếu của các cơ quan quản lý chất thải với vai trò là người nhạc trưởng điều phối, kết nối các hoạt động có liên quan. Đã có nhiều cố gắng nhằm nâng cao năng lực này và cũng đã có những tiến bộ nhất định. Tuy vậy, điều đáng lưu ý ở đây là để thực hiện phương thức quản lý tổng hợp chất thải rắn cần có những “kịch bản” quản lý phối hợp cụ thể. Chiến lược quốc gia về chất thải rắn cần được cụ thể hóa bằng kịch bản hay phương án tổ chức thực hiện. Chiến lược đã có sự phân công tổ chức thực hiện cho các bộ ngành và UNND tỉnh, thành phố (tại Điều 2). Nếu dựa theo những nguyên lý của quản lý tổng hợp chất thải rắn thì có 2 điều lưu ý sau: Một là, sự phân công trách nhiệm tổ chức thực hiện cho các Bộ, ngành và UNND tỉnh, thành phố là rõ, nhưng phương án phối hợp các hoạt động mang tính chất “kịch bản” chung thì chưa có và cũng chưa rõ cơ quan nào đảm nhận xây dựng “kịch bản” như vậy. Hai là, sự phân công trách nhiệm tổ chức thực hiện nêu trong Chiến lược mới chỉ đối với các bộ ngành và UNND tỉnh, thành phố, nhưng còn các chủ thể có liên quan khác, như người phát thải (doanh nghiệp, dân cư, hộ gia đình...), người cung cấp dịch vụ môi trường (doanh nghiệp, HTX, tổ đội...) thì chưa được đề cập đến. Vấn đề thứ tư: liên quan tới các nguồn lực, đặc biệt là nguồn thông tin, mạng lưới thông tin cho hoạt động quản lý chất thải theo phương thức tổng hợp. Sự thiếu hụt về nguồn lực trong quản lý môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn nói riêng đã rõ, nhưng đáng chú ý là sự thiếu hụt này ngày càng có khoảng cách xa không chỉ so với yêu cầu mà quan trọng hơn là cả so với tốc độ gia tăng của chất thải rắn trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ cùng với sự cải thiện đáng kể về thu nhập của dân cư đô thị. Ngoài ra, có những nguồn lực cho việc cải thiện hoạt động quản lý chất thải rắn có thể nhanh chóng được tăng cường và ít lệ thuộc hơn vào khả năng tài chính là nguồn thông tin cho quản lý chất thải rắn theo phương thức tổng hợp. Việc quản lý theo phương thức tổng hợp cũng đã hàm chứa tính chất hệ thống và điều kiện tiên quyết, quan trọng hàng đầu đối với hoạt động của hệ thống là thông tin và trao đổi thông tin (thuận và ngược hay phản hồi). Trong quản lý chất thải hiện nay ở nước ta còn đang thiếu điều kiện quan trọng này. Sự thiếu hụt này thể hiện ở chỗ chưa có cơ sở dữ liệu thống kê đầy đủ về nguồn thải, lượng thải, thành phần chất thải cũng như các thông tin về công nghệ xử lý chất thải... đáp ứng yêu cầu và nhu cầu cho quản lý chất thải rắn theo phương thức tổng hợp. 3.3 Các giải pháp về chính sách trong quản lý chất thải rắn ở Việt Nam Các vấn đề nêu trên chắc chắn chưa phải là tất cả các vấn đề của quản lý chất thải rắn theo phương thức tổng hợp nhưng theo chúng tôi, đó là những vấn đề quan trọng, thiết yếu nhất cần sớm được quan tâm, ưu tiên giải quyết để tạo điều kiện nhất định, ban đầu cho việc triển khai thực hiện phương thức quản lý mới và hiệu quả này. Các giải pháp chính sách nêu dưới đây cũng nhằm vào các vấn đề đã nêu như là gợi ý để các nhà hoạch định chính sách và quản lý tham khảo. Đối với vấn đề chia cắt, thiếu phối kết hợp trong quản lý chất thải rắn hiện nay: đã có nhiều cố gắng nhằm khắc phục vấn đề này, từ các biện pháp kinh tế (như hợp đồng kinh tế, ưu đãi tài chính...), biện pháp giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho tới các biện pháp hành chính (thanh tra, phạt hành chính...) nhưng kết quả, tiến bộ đem lại còn ít và chưa tương xứng với các cố gắng, nỗ lực đã bỏ ra. Có nhiều nguyên nhân của tình trạng này, nhưng nguyên nhân cơ bản, quan trọng nhất là thiếu “sức hút”, “chất kết dính” cho các yếu tố, các bên liên quan. Sự thờ ơ, ít quan tâm của các bên liên quan, thậm chí lẩn tránh, trốn tránh trách nhiệm, nghĩa vụ của người phát thải là chỉ báo thể hiện sự thiếu phối kết hợp như vậy. Muốn khắc phục tình trạng thờ ơ, ít quan tâm cần tạo sức hút mạnh tham gia vào “chuỗi” quản lý chất thải rắn. Có thể tham khảo bài học kinh nghiệm tạo sức hút từ các cải cách, đổi mới quản lý kinh tế, cụ thể là thu hút sự tham gia vào “chuỗi giá trị” sản phẩm. Trong khoa học quản lý kinh tế, “chuỗi giá trị” sản phẩm là một phạm trù mới, thể hiện sự phân công lao động xã hội trong việc sản xuất ra sản phẩm hàng hóa hoàn chỉnh mà theo đó các doanh nghiệp tuỳ thuộc vào khả năng, năng lực sản xuất của mình cố gắng tham gia tạo ra (đúng hơn là làm gia tăng thêm) giá trị của sản phẩm bán trên thị trường (quốc gia, khu vực, toàn cầu), từ khâu cung ứng nguyên liệu, vật liệu, phụ kiện, phụ gia cho tới chỉnh trang sản phẩm để đưa ra thị trường. Thực chất của “chuỗi giá trị” này là nếu nằm ngoài “chuỗi giá trị” này thì doanh nghiệp hoặc sẽ không hoặc rất khó khăn khi bán sản phẩm do mình sản xuất ra. Nói cách khác về ý tưởng, điều này có nghĩa là “chuỗi giá trị” tạo ra một khuôn khổ chung cho việc tham gia với sự chi tiết hóa tối đa nhằm tạo điều kiện cho mọi tác nhân đều có thể hưởng lợi từ sự tham gia. Trong hội nhập kinh tế quốc tế, một khuôn khổ với sự chi tiết hóa tối đa như vậy đã giúp cho các quốc gia kém phát triển cũng có thể cùng với các quốc gia phát triển tham gia sản xuất sản phẩm hàng hóa cho thị trường toàn cầu như trường hợp các doanh nghiệp may mặc của Việt Nam sản xuất hàng hóa bán trên thị trường thế giới với các vật liệu, phụ kiện cần thiết (vải, chỉ, khuy, mẫu mã...) mua của các nước khác. Vận dụng ý tưởng này cho quản lý tổng hợp chất thải rắn, có thể và cần thiết tạo dựng một chuỗi giá trị đối với sản phẩm hàng hóa là chất thải. Chất thải là hàng hóa - một ý tưởng đã thành hiện thực thành công ở nhiều nước Tổ chức JICA của Nhật Bản đang giúp thực hiện Chiến lược 3R cho một số nước, trong đó có Việt Nam với phương châm “Chất thải được thu gom là tài nguyên quý giá”. Phương châm này đã được phổ thành bài hát tiếng Việt để tuyên truyền và đã phát nhiều lần trên truyền hình Hà Nội năm 2009. Quan niệm này khác hẳn với quan niệm cho rằng, chất thải là thứ bỏ đi, mà cho rằng là tài nguyên, nguyên vật liệu, đầu vào cho quá trình sản xuất ra sản phẩm hàng hóa. Quan niệm về chất thải như vậy có thể là cơ sở lý luận cho việc áp dụng và thiết kế xây dựng “chuỗi giá trị” cho hàng hóa chất thải và có thể cũng là một bước đi cụ thể hóa chủ trương của Ban cán sự Đảng Bộ TN&MT về đẩy mạnh kinh tế hóa ngành TN&MT trong quản lý chất thải rắn. Các nhà kinh tế học và kinh tế môi trường có thể đóng góp cho việc thiết kế chuỗi giá trị cho hàng hóa chất thải. Một khi chuỗi giá trị này được thiết kế và đưa vào thực hiện như là các hàng hóa khác thì có thể hy vọng sẽ tạo được lực hút, sức hút, kết nối tham gia của các chủ thể liên quan. Đối với vấn đề tận dụng các tính năng hữu dụng của chất thải trong quá trình vận động của chất thải: một khi đã hình thành và vận hành chuỗi giá trị cho hàng hóa chất thải như đã nói ở trên thì cần tới các giải pháp chính sách hỗ trợ, tạo đà cho sự hội nhập, tham gia vào các khâu của chuỗi. Các giải pháp chính sách này có thể bao gồm các hỗ trợ, ưu đãi, khuyến khích có liên quan. Hiện tại, nhà nước đã ban hành một số cơ chế, chính sách về hỗ trợ, ưu đãi, khuyến khích đối với TN&MT, nhưng còn chưa phải là một hệ thống cơ chế, chính sách về hỗ trợ, ưu đãi, khuyến khích đối với chất thải như là hàng hóa theo ý tưởng như đã nêu ở trên. Một Chiến lược quốc gia về giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải rắn (3R) đang được Bộ TN&MT soạn thảo cũng được tiếp cận theo ý tưởng coi chất thải là tài nguyên cần được thu gom lại để tăng cường, nâng cao hiệu quả tận dụng các tính năng hữu dụng của chất thải trong tất cả các khả năng có thể tái sử dụng và tái chế chất thải rắn. Chiến lược này cũng tính tới các giải pháp chính sách sao cho lượng chất thải bỏ trở lại môi trường là ít nhất, nghĩa là trong suốt quá trình vận động của chất thải ngay từ lúc khai thác đã phải tính đến 3R. Sơ đồ dưới đây cho thấy, giảm thiểu chất thải ở tất cả các khâu sẽ giúp cho quản lý chất thải dễ dàng hơn, nhẹ nhàng hơn so với cách tiếp cận quản lý cuối đường ống, tức là chỉ quan tâm tới xử lý chất thải ở khâu cuối cùng. Nếu chỉ xét trên phương diện quá trình chu chuyển của dòng vật chất trong nền kinh tế thì đối với cách tiếp cận quản lý tổng hợp chất thải, sản xuất sạch hơn là giải pháp kinh tế - kỹ thuật tổng hợp tối ưu nhằm kết hợp, liên kết các giải pháp về phòng ngừa, bao gồm cả giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải, đem lại lợi ích to lớn cả về kinh tế, cả về xã hội cũng như về môi trường. Sản xuất sạch hơn, theo định nghĩa của Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), là “áp dụng liên tục chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường trong các quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch vụ nhằm nâng cao hiệu quả sinh thái và giảm thiểu rủi ro đến con người và môi trường”. Các lợi ích về kinh tế của sản xuất sạch hơn là giúp giảm nguyên vật liệu đầu vào thông qua thu hồi sử dụng lại nguyên vật liệu (như thu hồi nước làm mát từ các máy nhuộm để tuần hoàn tái sử dụng) hoặc sử dụng tiết kiệm nguyên liệu đầu vào. Việc giảm chi phí sản xuất từ sản xuất sạch hơn còn bao gồm cả giảm các chi phí phát sinh cho xử lý chất thải thải bỏ trong quá trình sản xuất. Do vậy sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Các lợi ích về môi trường từ áp dụng sản xuất sạch hơn là trên cơ sở phân tích các nhân tố phát thải cũng như các hành vi lãng phí nguyên vật liệu, năng lượng giúp làm giảm lượng chất thải (rắn, lỏng, khí) thải vào môi trường, giảm tác nhân gây ô nhiễm môi trường, đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững của doanh nghiệp. Các lợi ích về xã hội bao gồm những tác động của sản xuất sạch hơn trong việc cải thiện điều kiện lao động, tăng cường sự nhiệt tình, tích cực lao động của người lao động, sự gắn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCơ sở hệ thống quản lý chất thải rắn.doc
Luận văn liên quan