Tiểu luận Đặc thù và cơ cấu tổ chức công ty hợp danh

Có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán theo quy định tại chuẩn mực đạo đức; trung thực, liêm khiết, có ý thức chấp hành pháp luật; b) Thành viên hợp danh được cử làm Giám đốc (hoặc Tổng Giám đốc) công ty phải có Chứng chỉ kiểm toán viên và phải có thời gian công tác thực tế về kiểm toán từ 3 năm trở lên kể từ khi được cấp Chứng chỉ kiểm toán viên, phải góp ít nhất là 10% vốn điều lệ; không được cùng lúc tham gia quản lý, điều hành hoặc ký hợp đồng lao động với tổ chức, cơ quan khác. c) Thành viên hợp danh trực tiếp phụ trách dịch vụ kiểm toán phải có Chứng chỉ kiểm toán viên. Trường hợp công ty hợp danh kiểm toán có đăng ký kinh doanh các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề (như dịch vụ kế toán, dịch vụ định giá tài sản.) thì thành viên hợp danh trực tiếp phụ trách các dịch vụ đó phải có chứng chỉ hành nghề phù hợp theo quy định của pháp luật; d) Có tham gia góp vốn vào công ty; đ) Thành viên hợp danh, người thuộc đối tượng phải có chứng chỉ hành nghề theo quy định phải trực tiếp làm việc tại công ty.

pdf17 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/06/2014 | Lượt xem: 1797 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Đặc thù và cơ cấu tổ chức công ty hợp danh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tiểu luận Đặc thù và cơ cấu tổ chức công ty hợp danh Phần I: Khái quát chung về công ty Hợp Danh 1. Khái niệm và phân loại công ty Hợp Danh 1.1 Khái niệm Theo Điều 130 Luật doanh nghiệp (DN) Việt nam 2005 thì công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:  Phải có ít nhất 2 thành viên là chủ sỡ hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (gọi là thành viên hợp danh), ngoài các thành viên có thể có thành viên góp vốn.  Thành viên hợp danh (TVHD) phải là cá nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ công ty.  Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.  Công ty Hợp Danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (ĐKKD).  Trong quá trình hoạt động, - Công ty Hợp Danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. 1.2 Phân loại công ty hợp danh: Nếu căn cứ vào những đặc điểm trên thì CTHD theo Luật DN có thể được chia ra làm 2 loại.  Công ty hợp danh chỉ gồm những thành viên hợp danh.  Công ty hợp danh có cả TVHD và thành viên góp vốn (TVGV). Nhưng 2 “loại” này lại được quy định chung vào với nhau, không tách bạch. Điều này thực sự không hợp lý vì 2 loại này tuy gần như hoàn toàn giống nhau về quy chế pháp lý nhưng trong thực tế sẽ phát sinh những điểm không thỏa đáng, nhất là trong việc giải thể của công ty. Điều này đã chứng tỏ sự cứng nhắc của pháp luật hiện hành. 2. Nguồn gốc công ty Hợp Danh Công ty Hợp Danh (CTHD) là một trong những hình thức công ty ra đời sớm nhất trong lịch sử hình thành công ty. Khái niệm về “hợp danh” bắt đầu xuất hiện và tồn tại từ khi con người bắt đầu hợp tác với nhau. Khái niệm hợp danh xuất hiện từ thời Babylone, Hy Lạp và La Mã cổ đại. Đạo Luật Hammurabi năm 2300 (TCN) cũng đã có chế định về hình thức hợp danh. Khái niệm hợp danh theo Đạo Luật Justinian của đế chế La Mã cổ đại vào thế kỷ VI, xét về bản chất không có sự khác biệt trong pháp luật hiện nay. Sau đó, đến các thời kì Trung đại, đến cuối thế kỉ XVII, rồi ở Thụy Điển, dần dần hình thành hình thức “hợp danh” rõ ràng hơn. đại, đến cuối thế kỉ XVII, rồi ở Thụy Điển, dần dần hình thành hình thức “hợp danh” rõ ràng hơn. Năm 1776, Mỹ giành được độc lập và áp dụng hệ thống luật thông lệ của Anh. Từ đó, luật pháp về Công ty Hợp Danh bắt đầu được áp dụng ở Mỹ. Đến đầu thế kỷ XIX, CTHD trở thành loại hình kinh doanh quan trọng nhất ở Mỹ. Ngày nay, hệ thống pháp luật thông lệ điều chỉnh Năm 1776, Mỹ giành được độc lập và áp dụng hệ thống luật thông lệ của Anh. Từ đó, luật pháp về Công ty Hợp Danh bắt đầu được áp dụng ở Mỹ. Đến đầu thế kỷ XIX, Công ty Hợp Danh trở thành loại hình kinh doanh quan trọng nhất ở Mỹ. Công ty Hợp Danh cũng là một trong những loại hình công ty điển hình được quy định trong bộ luật thương mại của Pháp từ năm 1807. Ngày nay, hệ thống pháp luật thông lệ điều chỉnh, Công ty Hợp Danh được thay thế bằng đạo luật Công ty Hợp Danh hay còn gọi là Luật thống nhất về Công ty Hợp Danh (Uniform Partnership). Thêm nữa Công ty Hợp Danh được hình thành và phát triển từ những nguyên tắc của chế định đại diện (agency) xuất phát từ những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường về liên kết kinh doanh; tập trung và tích tụ tư bản ở những mức độ và dưới những dạng thức khác nhau. Việt Nam thì ngược lại ,loại hình công ty này ra đời muộn do điều kiện kinh tế, lịch sử, xã hội…Vốn là 1 nước trọng về nông nghiệp nên trước kia không coi trọng hoạt động thương mại và sau đó lại trải qua một thời gian dài thực hiện kinh tế tập thể. Cuối thế kỷ XIX, Pháp áp dụng 3 Bộ Luật: Dân Luật Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ vào Việt Nam cho nên xuất hiện các hình thức Doanh Nghiệp tư nhân, công ty Trách nhiệm hữu hạn và hình thức, khái niệm Công ty Hợp Danh đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam với hình thức Hội buôn. Năm 1954, trước Nghị quyết Đại hội lần VI của Đảng, miền Bắc tiến hành công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, thực hiện nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo thì các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh không được thừa nhận. Pháp luật về công ty nói chung và CTHD nói riêng thời kỳ này không tồn tại, Nhà nước cũng chưa có những định hướng về lĩnh vực này. Ở Miền Nam, trước 1975, loại hình CTHD được ghi nhận trong Bộ Luật Thương Mại, cơ bản giống những quy định của Pháp luật Pháp. Đến thời kỳ đổi mới, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần đến Nghị quyết lần VI của Đảng và Nghị quyết Hội nghị lần 2 của BCH TW Đảng công nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế cá thể và tư doanh trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân đã cho ra đời Luật công ty 1990, Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật doanh nghiệp 1999. Từ 4 điều luật cũ kỹ của Luật doanh nghiệp 1999 (ban đầu là 12 điều trong Dự thảo nhưng đã bị loại bỏ gần hết khi đưa ra Quốc hội thông qua, cũng bởi hình thức của nó quá mới mẻ) đến Luật doanh nghiệp 2005 với 11 điều, hi vọng cung cấp cho giới thương nhân thêm một mô hình để lựa chọn cho phù hợp với ý tưởng kinh doanh của họ. 3. Đặc điểm của công ty Hợp Danh 3.1 Đặc điểm về thành viên Theo quy định tại Điều 130 LDN 2005 Công ty Hợp Danh có thể có 2 loại thành viên với tư cách pháp lý khác nhau là thành viên hợp danh và thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh là thành viên bắt buộc phải có trong công ty hợp danh với số lượng tối thiểu là hai thành viên. Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có cùng trình độ chuyên môn, là những người quyết định sự tồn tại và phát triển cuả công ty cả về mặt pháp lý và thực tế, chiu trách nhiệm vô hạn và liên đới trong quá trình hoạt động cuả công ty. Thành viên góp vốn là tổ chức hoặc cá nhân, không bắt buộc phải có trong công ty hợp danh, chịu trách nhiệm về các khoản nợ cuả công ty trong phạm vi góp vốn vào công ty.  Số lượng, phân loại, mối quan hệ giữa các thành viên. Theo quy định tại Điều 130 LDN 2005 Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó: - Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn; Phân loại: - Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; - Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.  Hình thành và chấm dứt tư cách thành viên: - Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (theo quy định tại Khoản 2 Điều 130 LDN 2005). - Theo quy định tại Điều 138 LDN 2005: Tư cách thành viên hợp danh chấm dứt trong các trường hợp sau đây:  Tự nguyện rút vốn khỏi công ty;  Chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết;  Bị Toà án tuyên bố là mất tích, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực hành vi dân sự;  Bị khai trừ khỏi công ty;  Các trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định. Thành viên hợp danh có quyền rút vốn khỏi công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận. Trong trường hợp này, thành viên muốn rút vốn khỏi công ty phải thông báo bằng văn bản yêu cầu rút vốn chậm nhất sáu tháng trước ngày rút vốn; chỉ được rút vốn vào thời điểm kết thúc năm tài chính và báo cáo tài chính của năm tài chính đó đã được thông qua. Thành viên hợp danh bị khai trừ khỏi công ty trong các trường hợp sau đây:  Không có khả năng góp vốn hoặc không góp vốn như đã cam kết sau khi công ty đã có yêu cầu lần thứ hai;  Vi phạm quy định tại Điều 133 của Luật này;  Tiến hành công việc kinh doanh không trung thực, không cẩn trọng hoặc có hành vi không thích hợp khác gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của công ty và các thành viên khác;  Không thực hiện đúng các nghĩa vụ của thành viên hợp danh. Trong trường hợp chấm dứt tư cách thành viên của thành viên bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự thì phần vốn góp của thành viên đó được hoàn trả công bằng và thoả đáng. Trong thời hạn hai năm kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên hợp danh theo quy định tại điểm a và điểm d khoản 1 Điều này thì người đó vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của công ty đã phát sinh trước ngày chấm dứt tư cách thành viên. Sau khi chấm dứt tư cách thành viên, nếu tên của thành viên bị chấm dứt đã được sử dụng làm thành một phần hoặc toàn bộ tên công ty thì người đó hoặc người thừa kế, người đại diện theo pháp luật của họ có quyền yêu cầu công ty chấm dứt việc sử dụng tên đó.  Quyền và nghĩa vụ của thành viên Quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp danh: (Theo quy định tại Điều 134 LDN 2005): -Thành viên hợp danh có các quyền sau đây:  Tham gia họp, thảo luận và biểu quyết về các vấn đề của công ty; mỗi thành viên hợp danh có một phiếu biểu quyết hoặc có số phiếu biểu quyết khác quy định tại Điều lệ công ty;  Nhân danh công ty tiến hành các hoạt động kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh đã đăng ký; đàm phán và ký kết hợp đồng, thoả thuận hoặc giao ước với những điều kiện mà thành viên hợp danh đó cho là có lợi nhất cho công ty;  Sử dụng con dấu, tài sản của công ty để hoạt động kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh đã đăng ký; nếu ứng trước tiền của mình để thực hiện công việc kinh doanh của công ty thì có quyền yêu cầu công ty hoàn trả lại cả số tiền gốc và lãi theo lãi suất thị trường trên số tiền gốc đã ứng trước;  Yêu cầu công ty bù đắp thiệt hại từ hoạt động kinh doanh trong thẩm quyền nếu thiệt hại đó xảy ra không phải do sai sót cá nhân của chính thành viên đó;  Yêu cầu công ty, thành viên hợp danh khác cung cấp thông tin về tình hình kinh doanh của công ty; kiểm tra tài sản, sổ kế toán và các tài liệu khác của công ty bất cứ khi nào nếu xét thấy cần thiết;  Được chia lợi nhuận tương ứng với tỷ lệ vốn góp hoặc theo thoả thuận quy định tại Điều lệ công ty;  Khi công ty giải thể hoặc phá sản, được chia một phần giá trị tài sản còn lại theo tỷ lệ góp vốn vào công ty nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác;  Trường hợp thành viên hợp danh chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết thì người thừa kế của thành viên được hưởng phần giá trị tài sản tại công ty sau khi đã trừ đi phần nợ thuộc trách nhiệm của thành viên đó. Người thừa kế có thể trở thành thành viên hợp danh nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận;  Các quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty. - Thành viên hợp danh có các nghĩa vụ sau đây:  Tiến hành quản lý và thực hiện công việc kinh doanh một cách trung thực, cẩn trọng và tốt nhất bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa cho công ty và tất cả thành viên;  Tiến hành quản lý và hoạt động kinh doanh của công ty theo đúng quy định của pháp luật, Điều lệ công ty và quyết định của Hội đồng thành viên; nếu làm trái quy định tại điểm này, gây thiệt hại cho công ty thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại;  Không được sử dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;  Hoàn trả cho công ty số tiền, tài sản đã nhận và bồi thường thiệt hại gây ra đối với công ty trong trường hợp nhân danh công ty, nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác để nhận tiền hoặc tài sản khác từ hoạt động kinh doanh các ngành, nghề đã đăng ký của công ty mà không đem nộp cho công ty;  Liên đới chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của công ty nếu tài sản của công ty không đủ để trang trải số nợ của công ty;  Chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp vào công ty hoặc theo thoả thuận quy định tại Điều lệ công ty trong trường hợp công ty kinh doanh bị lỗ;  Định kỳ hàng tháng báo cáo trung thực, chính xác bằng văn bản tình hình và kết quả kinh doanh của mình với công ty; cung cấp thông tin về tình hình và kết quả kinh doanh của mình cho thành viên có yêu cầu;  Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005 và Điều lệ công ty.  Quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn (Theo quy định tại Điều 140 LDN 2005): - Quyền của thành viên góp vốn:  Tham gia họp, thảo luận và biểu quyết tại Hội đồng thành viên về việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung các quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn, về tổ chức lại và giải thể công ty và các nội dung khác của Điều lệ công ty có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của họ;  Được chia lợi nhuận hằng năm tương ứng với tỷ lệ vốn góp trong vốn điều lệ công ty;  Được cung cấp báo cáo tài chính hằng năm của công ty; có quyền yêu cầu Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên hợp danh cung cấp đầy đủ và trung thực các thông tin về tình hình và kết quả kinh doanh của công ty; xem xét sổ kế toán, sổ biên bản, hợp đồng, giao dịch, hồ sơ và tài liệu khác của công ty;  Chuyển nhượng phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác;  Nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác tiến hành kinh doanh các ngành, nghề đã đăng ký của công ty;  Định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách để thừa kế, tặng cho, thế chấp, cầm cố và các hình thức khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty; trường hợp chết hoặc bị Toà tuyên bố là đã chết thì người thừa kế thay thế thành viên đã chết trở thành thành viên góp vốn của công ty;  Được chia một phần giá trị tài sản còn lại của công ty tương ứng với tỷ lệ vốn góp trong vốn điều lệ công ty khi công ty giải thể hoặc phá sản;  Các quyền khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty. - Nghĩa vụ của thành viên góp vốn:  Chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp;  Không được tham gia quản lý công ty, không được tiến hành công việc kinh doanh nhân danh công ty;  Tuân thủ Điều lệ, nội quy công ty và quyết định của Hội đồng thành viên;  Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty.  Hạn chế đối với thành viên hợp danh và thành viên góp vốn Hạn chế đối với quyền của thành viên hợp danh (theo quy định tại Điều 133 LDN 2005) - Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại. - Thành viên hợp danh không được quyền nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty đó để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác. - Thành viên hợp danh không được quyền chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác nếu không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại. -Thành viên góp vốn Có thể là chủ DNTN hoặc là TVHD của công ty hợp danh khác.Thành viên góp vốn có quyền như một thành viên trong công ty đối vốn. So sánh giống nhau và khác nhau giữa thành viên hợp danh và thành viên góp vốn: Giống nhau:  Đều là thành viên cuả công ty hợp danh, có thể là cá nhân từ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.  Đều phải góp đủ và đúng hạn số vốn như đã cam kết.  Được chi lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp hoặc theo thoả thuận quy định taị điều lệ công ty, chịu trách nhiệm về các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác cuả công ty.  Có quyền tham gia họp thảo luận, biểu quyết tại hội đồng thành viên về tình hình, các vấn đề liên quan đến quyển lợi và nhiệm vụ của mình.  Được chia một phần giá trị tài sản còn lại tương ứng với tỉ lệ góp vống vào công ty khi công ty giải thể hoặc phá sản.  Đều có quyền yêu cầu công ty cung cấp thông tin về tình hình kinh doanh cuả công ty. Khác nhau: Thành viên hợp danh Thành viên góp vốn 1. Trách nhiệm trong kinh doanh - Trách nhiệm vô hạn - Trách nhiệm hữu hạn 2. Tính chất của thành viên - Nhất thiết phải có khi thành lập - Không nhất thiết 3. Quyền tham gia quản lý công ty - Được tham gia quản lý công ty, được tiến hành hoạt động kinh doanh nhân danh công ty - Không được tham gia quản lý công ty, không được tiến hành hoạt động kinh doanh nhân danh công ty 4. Ràng buộc quyền và nghĩa vụ - Không được làm chủ DNTN hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các TVHD còn lại - Có thể chủ DNTN hoặc là TVHD của công ty hợp danh khác 5. Chuyển nhượng phần vốn góp - Không được quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty - Được chuyển nhượng vốn góp của mình tại công ty cho người cho người khác nếu không được sự chấp thuận của các TVHD còn lại khác 6. Số lượng - Tối thiểu là hai thành viên - Không hạn chế số lượng 7. Trình độ năng lực - Nhất thiết phải có trình độ năng lực, chứng chỉ hành nghề tương ứng với ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp - Không nhất thiết, chỉ cần góp vốn 3.2 Đặc điểm về tư cách pháp nhân Tư cách pháp nhân của công ty hợp danh là một điểm đặc thù của Luật Doanh nghiệp năm 2005. Theo Khoản 2 Điều 130 LDN 2005, công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Pháp luật Việt Nam lại quy định công ty hợp danh có tư cách pháp nhân trong khi các quốc gia trên thế giới hầu hết quy định công ty hợp danh không có tư cách pháp nhân. 3.3 Vốn của công ty Hợp Danh - Vốn góp: Nếu ngành nghề kinh doanh không thuộc danh mục yêu cầu phải có vốn pháp định thì các sáng lập viên có thể tự do thỏa thuận mức vốn điều lệ, phần đóng góp của các bên, thỏa thuận các loại tài sản dùng làm vốn góp, cách thức định giá và chuyển giao chúng cho công ty Hợp Danh. Về nguyên tắc nhiều loại tài sản có thể được dùng làm vốn góp, ví dụ như tiền, vàng, nhà đất… và các loại tài sản khác do các bên tự thoả thuận. Người góp vốn phải chuyển giao sở hữu vốn góp sang cho công ty Hợp Danh, từ khối tài sản đó hình thành nên tài sản riêng của công ti. Đối với nhà đất, bên giao và và bên nhận phải tiến hành thủ tục theo khoản 1 điều 29, khoản 1 điều 132 LDN. Các thành viên công ti phải thực hiện đúng nghĩa vụ góp vốn đủ và đúng hạn. Nếu vi phạm, số vốn chưa góp đủ được coi là khoản nợ của thành viên đối với công ti. Nếu vi phạm đó mà gây thiệt hại cho công ti thì thành viên hợp danh có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho công ti, thành viên góp vốn có thể bị khai trừ khỏi công ti. Chuyển nhượng vốn: thành viên hợp danh không được chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác nếu không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại (quy định tại Điều 133 Luật Doanh nghiệp). Thành viên góp vốn được chuyển nhượng vốn góp của mình tại công ty cho người khác. - Phần vốn góp: Sau khi góp vốn, thành viên mất đi quyền sở hữu đối với tài sản đã góp và nhận lại được quyền lợi từ công ti. Quyền tài sản ấy được coi là phần vốn góp trong công ti, thường được thể hiện bằng một tỉ lệ nhất định. Công ty Hợp Danh có thể cấp giấy chứng nhận phần vốn góp cho các thành viên đã thực hiện nghĩa vụ góp vốn; giấy này có thể được công ti cấp lại theo yêu cầu của thành viên và cần có nội dung tối thiểu theo luật định (khoản 4 điều 131 LDN). -Huy động vốn góp: Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn trong khi Công ty TNHH 2 thành viên được phát hành trái phiếu để huy động vốn. Phần II: Nét đặc thù trong bộ máy tổ chức của công ty Hợp Danh 1. Cơ cấu bộ máy quản lý. 1.1 Hội Đồng Thành Viên Cơ quan quản lý cao nhất trong công ty hợp danh đó chính là Hội đồng thành viên. Cũng như những tổ chức kinh tế khác, công ty hợp danh cũng là một pháp nhân có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có sự phân công và điều hành trong hoạt động kinh doanh. Nhưng đồng thời, do là loại hình công ty đối nhân nênviệc tổ chức nội bộ và quản lý trong công ty hợp danh mang nhiều nét khác biệt và đặc trưng so với các loại hình doanh nghiệp khác. Do tính an toàn pháp lý đối với công chúng rất cao, mặt khác các thành viên thường có quan hệ mật thiết về nhân thân nên việc quản lý công ty hợp danh chịu rất ít sự ràng buộc của pháp luật.Về cơ bản các thành viên có quyền tự thỏa thuận về việc quản lý, điều hành công ty.Tuy nhiên, quyền quản lý công ty hợp danh chỉ thuộc về các thành viên hợp danh, thành viên góp vốn không có quyền quản lý công ty.Cơ cấu tồ chức quản lý công ty hợp danh do các thành viên do các thành viên hợp danh thỏa thuận trong điều lệ công ty. Cơ quan quản lý cao nhất trong công ty hợp danh đó chính là Hội đồng thành viên. Luật Doanh nghiệp 2005 đã có nhiều tiến bộ khi quy định hội đồng thành viên trong công ty hợp danh bao gồm tất cả các thành viên: “ Tất cả thành viên hợp lại thành Hội đồng thành viên” (Khoản 1 Điều 135 Luật Doanh nghiệp 2005), tức là cả thành viên hợp danh và cả thành viên góp vốn, chứ không chỉ có mỗi thành viên hợp danh mới được tham gia vào Hội đồng thành viên như quy định trước đây tại Nghị định 03/2000/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp 1999. Có thể nói, Luật Doanh nghiệp 2005 đã mở rộng hơn cơ cấu của Hội đồng thành viên của công ty hợp danh so với các văn bản trước đó, khi mà ghi nhận cả vai trò của loại thành viên góp vốn trong cơ quan quản lý cao nhất này. Sự khác biệt đặc thù của Hội Đồng Thành Viên Công ty Hợp Danh: -Hội đồng thành viên trong công ty hợp danh không giống với Hội đồng thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn. Các thành viên của Hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn đều có quyền tham gia biểu quyết, thảo luận về các vấn đề quan trọng của công ty. Nhưng ở công ty hợp danh, trong Hội đồng thành viên, chỉ có các thành viên hợp danh mới có quyền quyết định các vấn đề lớn của công ty, còn thành viên góp vốn tuy được tham gia vào Hội đồng thành viên nhưng không có quyền quản lý, điều hành công ty, không được tham gia thảo luận, quyết định các vấn đề quan trọng của công ty. Thành viên góp vốn chỉ được tham gia vào những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của họ, còn những vấn đề chung quan trọng của công ty thì chỉ có thành viên hợp danh mới có quỳên quyết định. Như vậy, có thể thấy pháp luật cho phép thành viên góp vốn được tham gia vào Hội đồng thành viên của công ty hợp danh nhưng thực chất họ không có “ thực quyền”, tức là có mặt trong cơ quan quản lý nhưng lại không có quyền quản lý. 1.2 Chủ tịch hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm Chủ tịch đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc( nếu Điều lệ công ty không có quy định khác). Chủ tịch Hội đồng thành viên, giám đốc hoặc tổng giám đốc có nhiệm vụ quản lý điều hành việc kinh doanh hàng ngày của công ty với tư cách là thành viên hợp danh, phân công phối hợp công việc kinh doanh giữa các thành viên hợp danh. Các nhiệm vụ khác do Điều lệ công ty quy định. Chủ tịch Hội đồng thành viên, giám đốc hoặc tổng giám đốc đại diện cho công ty trong quan hệ với cơ quan nhà nước, đại diện cho công ty với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn trong các vụ kiện, tranh chấp thương mại. Sự khác biệt trong vai trò của người đứng đầu trong công ty Hợp Danh: - Vai trò của người đứng đầu công ty hợp danh cũng có sự khác biệt so với vị trí, vai trò của người đứng đầu công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Nếu Chủ tịch, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có một vị trí quan trọng so với các thành viên khác trong công ty, có quyền thực hiện những công việc kinh doanh của công ty nhân danh chức vụ của bản thân thì Chủ tịch, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong công ty hợp danh là một thành viên hợp danh và không có quyền cao hơn các thành viên hợp danh còn lại, không có quyền tự quyết định một vấn đề gì nếu không có sự thông qua của Hội đồng thành viên. Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty hợp danh chỉ có quyền điều phối các hoạt động kinh doanh của công ty nhưng không được tự quyết định mà phải trên cơ sở sự vạch sẵn, sự thoả thuận và nhất trí của tất cả các thành viên hợp danh. Nói cách khác, người nắm giữ các chức vụ quản lý trong công ty hợp danh đơn giản cũng chỉ là một thành viên hợp danh với những quyền và nghĩa vụ như bao thành viên hợp danh khác. 2. Điều hành kinh doanh của công ty hợp danh Theo quy định tại: Điều 137 Luật doanh nghiệp 2005. Về việc điều hành các công việc kinh doanh của công ty, các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Mọi hạn chế đối với thành viên hợp danh trong thực hiện công việc kinh doanh hằng ngày của công ty chỉ có hiệu lực đối với bên thứ ba khi người đó được biết về hạn chế đó. Trong khi điều hành, các thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhận các chức danh quản lý và kiểm soát công ty. Khi một số hoặc tất cả các thành viên hợp danh cùng thựchiện một số công việc kinh doanh thì quyết định được thông qua theo nguyên tắc đa số. Hoạt động do các thành viên hợp danh thực hiện ngoài phạm vi hoạt động kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh đã đăng ký của công ty đều không thuộc trách nhiệm của công ty, trừ trường hợp hoạt động đó đã được các thành viên còn lại chấp thuận. Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có nhiệm vụ quản lý và điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty với tư cách là thành viên hợp danh; phân công, phối hợp công việc kinh doanh giữa các thành viên hợp danh; đại diện cho công ty trong quan hệ với các cơ quan nhà nước; đại diện cho công ty với tư cách là bị đơn hoặc nguyên đơn trong các vụ kiện, tranh chấp thương mại hoặc các tranh chấp khác.Có thể thấy trong việc điều hành các hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty, vai trò của thành viên góp vốn hầu như cũng không được nhắc đến. 3. Thể thức họp và thông qua quyết định của Hội Đồng Thành Viên Việc tiến hành họp Hội đồng thành viên do Chủ tịch Hội đồng thành viên triệu tập hoặc theo yêu cầu của thành viên hợp danh. Trường hợp chủ tịch hội đồng thành viên không triệu tập họp theo yêu cầu của thành viên hợp danh thì thành viên đó có quyền triệu tập họp hội đồng.(Điều 136 LDN 2005). Cuộc hợp của Hội đồng thành viên phải được ghi vào sổ biên bản của công ty. Hội đồng thành viên có quyền quyết định tất cả các công việc kinh doanh của công ty. Nếu điều lệ công ty không quy định thì khi quyết định những vấn đề quan trọng phải được it nhất 3/4 tổng số thành viên hợp danh chấp thuận( khoản 3 Điều 135 Luật doanh nghiệp 2005), ví dụ:  Phương hướng phát triển công ty;  Sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;  Tiếp nhận thêm thành viên hợp danh mới;  Chấp nhận TVHD rút khỏi công ty hoặc quyết định khai trừ thành viên;  Quyết định dự án đầu tư;  Quyết đinh việc vay và huy động vốn dưới hình thức khác, cho vay với giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% vốn điều lệ của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định một tỷ lệ khác cao hơn;  Quyết định mua, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn vốn điều lệ của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định một tỷ lệ khác cao hơn;  Quyết định thông qua báo cáo tài chính hằng năm, tổng số lợi nhuận được chia và số lợi nhuận chia cho từng thành viên;  Quyết định giải thể công ty. Việc quy định tỉ lệ tối thiểu của thành viên hợp danh trong các quyết định của công ty đã cho thấy vai trò quan trọng của thành viên hợp danh trong hội đồng thành viên nói riêng và trong công ty nói chung, thành viên góp vốn không được nhắc đến trong tỉ lệ đó đồng nghĩa với việc vai trò của họ không được nhắc đến trong việc quản lý công ty, họ có nhất trí hay không đều không quan trọng. Khi tham gia họp, thảo luận các vấn đề của công ty mỗi thành viên hợp danh có một phiếu biểu quyết hoặc có số biểu quyết khác quy định tại Điều lệ công ty. 4. Chế độ trách nhiệm trong công ty hợp danh (quyền và nghĩa vụ) -Đối với thành viên hợp danh: Theo khoản 2 Điều 134 LDN 2005 thì thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ của công ty. -Đối với thành viên góp vốn: Theo khoản 2 Điều 140 LDN 2005 thì thành viên góp vốn Chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp. Theo khoản 3 điều 93 BLDS Việt Nam 2005 thì thành viên của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự cho pháp nhân xác lập, thực hiện. Trong khi đó, theo LDN thì thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ của công ty . Như vậy ở đây, quy định của LDN không phù hợp với quy định của BLDS. Tuy nhiên, chúng ta cũng biết đến một nguyên tắc áp dụng pháp luật là “ưu tiên áp dụng pháp luật chuyên ngành”, cho nên, ở đây, chúng ta vẫn phải áp dụng Luật doanh nghiệp. 5. Điểm giống và khác so với tổ chức bộ máy quản lý của công ty TNHH 2 thành viên.  Giống nhau về bộ máy quản lý:  Đều có cơ quan quản lý là Hội Đồng Thành Viên  Khác nhau: Tiêu chí Công ty Hợp Danh Công Ty TNHH 2 thành viên. Tính cht -Công ty hợp danh mang tính chất đối nhân. (Khi biu quyt, mi thành viên hp danh ch có quyn biu quyt tng ng mt phiu) -Công ty TNHH 2 thành viên mang tính chất đối vốn.(Khi biểu quyết, thành viên công ty có quyn biu quyt tng ng vi s vn góp vào công ty) B máy qun lý -Không có b máy qun lý tp trung, các thành viên hp danh trc tip qun lý điu hành công ty, có quyn ngang nhau khi quyt đnh các vn đ qun lý công ty. -Công ty có b máy qun lý tp trung- giao cho mt ngi có quyn đi din cho công ty, ví d nh Ch tch hi đng qun tr hoc Giám đc hoc Tng giám đc. C cu b máy qun lý Bao gm: -Hi đng thành viên . - Hi đng thành viên bu mt thành viên hp danh làm Ch tch Hi đng thành viên, đng thi kiêm Giám đc hoc Tng giám đc công ty nu Điu l công ty không có quy đnh khác. -Thành viên hp danh phân công nhau đm nhim các chc danh qun lý và kim soát công ty. Gm: - Hi đng thành viên; - Ch tch Hi đng thành viên; - Giám đc hoc Tng giám đc. -Ban Kim Soát (Đi vi Công ty trách nhim hu hn có t mi mt thành viên tr lên ); trng hp có ít hn mi mt thành viên, có th thành lp Ban kim soát phù hp vi yêu cu qun tr công ty Đại diện cho công ty điều hành kinh doanh -Bt kỳ thành viên hp danh nào cũng có quyn đi din cho công ty thc hin các hot đng kinh doanh mang li li ích chung cho công ty. -Ch tch hi đng qun tr hoc Giám đc hoc Tng giám đc làm đi din ca công ty theo quy đnh pháp lut hoc Điu l công ty. Thành viên công ty -Thành viên hp danh phi là cá nhân. -Thành viên góp vn có th là cá nhân, t chc. -Thành viên có thể là tồ chức hoặc cá nhân. Phần III: Thực trạng về hoạt động của các công ty Hợp Danh tại Việt Nam và một số điểm bất cập trong cơ chế pháp lý hiện nay. 1. Tại sao công ty hợp danh lại không được ưa chuộng và phổ biến ở Việt Nam? Công ty hợp danh là một loại hình doanh nghiệp có từ lâu trong lịch sử loài người. Tuy nhiên, loại hình này mới chỉ được ghi nhận trong pháp luật của Việt Nam chưa lâu. Lần đầu tiên loại hình doanh nghiệp này được ghi nhận là ở Luật Doanh nghiệp năm 1999. Những quy định hiện hành về công ty hợp danh tập trung trong Luật Doanh nghiệp năm 2005. Để hiểu rõ về loại hình công ty này chúng ta cùng đi tìm hiểu bên trong . Trên thế giới So với các loại hình công ty đối nhân khác, loại hình này được ưa chuộng hơn cả. Tuy nhiên, theo thống kê doanh nghiệp của Sở Kế hoạch và đầu tư TP Hồ Chí Minh năm 2008 có 9 công ty, Hà Nội chỉ có 17 công ty hợp danh so với 33.327 công ty trách nhiệm hữu hạn, 21.061 công ty cổ phần, 2.921 doanh nghiệp tư nhân, 2.137 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Như vậy, có thể thấy số lượng công ty hợp danh là quá ít ỏi so với số lượng các doanh nghiệp thuộc các loại hình khác. Các công ty hợp danh hiện nay chủ yếu trong lĩnh vực tư vấn pháp luật, dịch vụ kế toán kiểm toán,…. Ưu điểm của công ty hợp danh là kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều người. Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh mà công ty hợp danh dễ dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng, đối tác kinh doanh. Việc điều hành quản lý công ty không quá phức tạp do số lượng các thành viên ít và là những người có uy tín, tuyệt đối tin tưởng nhau. Vậy tại sao công ty hợp danh lại không được ưa chuộng và phổ biến ở Việt Nam? Theo nhóm chúng tôi, lý do công ty hợp danh lại không được ưa chuộng và phổ biến ở Việt Nam: -Chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất cao. Việc quản lí cơ sở kinh doanh có thể gặp khó khăn vì tất cả các các thành viên hợp danh đều có quyền dự họp, thảo luận và biểu quyết, thậm chí mỗi thành viên có thể có một phiếu biểu quyết với cách thức dân chủ có thể so sánh được với các HTX, cơ chế đồng thuận này làm cho việc quyết định kinh doanh đôi khi trở nên mất thời gian - Việc rút lui, bán lại phần vốn góp trong cơ sở kinh doanh không dễ dàng vì cần phải được các thành viên hợp danh còn lại chấp nhận. - Ngoài ra, các quy định về Công ty hợp danh của LDN còn mang tính nguyên tắc, nếu thiếu thỏa thuận chi tiết. xung đột lợi ích giữa các thành viên khó có thể được điều hòa ổn thỏa. Bên cạnh đó, Công ty hợp danh cũng phải chịu thuế những những công ti khác nên mô hình này không mang lại một ưu thế đáng kể nào về thuế đối với người kinh doanh. - Bên cạnh đó cũng do ảnh hưởng xã hội nhìn nhận chưa đúng, chưa sâu sắc bản chất pháp lí của Công ty hợp danh. Thời gian chưa đủ đài để cho các nhà đầu tư lựa chọn mô hình này (mới được quy định trong Luật). - Pháp luật chưa có những quy định cụ thể. Pháp luật kinh tế chưa đồng bộ, chưa tạo ra được môi trường thông thoáng cho các nhà đầu tư. Số lượng các nhóm kinh doanh, hộ kinh doanh đông và được tổ chức gần giống Công ty hợp danh lại ngần ngại chuyển đổi mô hình hoạt động. - Thành viên hợp danh phải có chứng chỉ hành nghề phù hợp với ngành nghề ĐKKD của Công ty hợp danh. Việc xin cấp chứng chỉ hành nghề không đơn giản. 2. Bất cập trong quy định pháp luật về tư cách pháp nhân của công ty hợp danh. -Thứ nhất, việc thừa nhận tư cách pháp nhân mâu thuẫn với Bộ luật Dân sự. Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi hội đủ bốn điều kiện: được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ một cách độc lập. Những quy định về tính độc lập về tài sản của công ty hợp danh là chưa triệt để. Luật Doanh nghiệp năm 2005 tại 132.1 có quy định về việc chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn của thành viên thành tài sản của công ty để khẳng định tính độc lập về tài sản của công ty hợp danh với các thành viên tạo ra nó. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp lại đồng thời quy định chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của thành viên hợp danh đối với các nghĩa vụ của của công ty. Chế độ này được hiểu là thành viên hợp danh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình của mình về các nghĩa vụ của công ty.Như vậy, thành viên hợp danh sẽ phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình, không kể là tài sản đã chuyển quyền sở hữu cho công ty hay tài sản của cá nhân không đưa vào tài sản công ty. - Th hai, hu ht các nc trên th gii đu quy đnh công ty hp danh không có t cách pháp nhân. Tuy nhiên theo một số quan điểm chứng minh cho tính hợp lý của việc thừa nhận tư cách pháp nhân của công ty hợp danh, pháp luật Việt Nam quy định rằng tổ chức tham gia một ngành nghề nào đó phải có tư cách pháp nhân. Vì vậy, việc thừa nhận tư cách pháp nhân của công ty hợp danh cho phép loại hình doanh nghiệp này được quyền tham gia những ngành nghề đó.Và Bộ luật Dân sự là luật chung còn Luật Doanh nghiệp là luật chuyên ngành;việc thừa nhận này có thể coi là một ngoại lệ của Bộ luật Dân sự. 3. Liên hệ minh họa về điều kiện thành lập công ty Hợp Danh Kiểm Toán. Điều kiện thành lập công ty Hợp danh kiểm toán:  Tiêu chuẩn, điều kiện thành lập và hoạt động đối với công ty hợp danh kiểm toán: a) Công ty hợp danh kiểm toán thành lập và hoạt động phải tuân theo quy định tại Điều 20, Điều 23 của Nghị định số 105/2004/NĐ-CP và Điều 1 của Nghị định số 133/2005/NĐ-CP; b) Công ty hợp danh kiểm toán có thành viên hợp danh và thành viên góp vốn. Số lượng thành viên hợp danh ít nhất là hai người. Thành viên hợp danh phải là cá nhân. Thành viên góp vốn có thể là tổ chức hoặc cá nhân. c) Thành viên hợp danh phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật và quy định tại điểm 2 Phần III Thông 60/2006/TT-BTC. d) Khi thành lập và trong quá trình hoạt động, công ty hợp danh kiểm toán phải có ít nhất 3 người có Chứng chỉ kiểm toán viên, trong đó có một thành viên hợp danh là Giám đốc (hoặc Tổng Giám đốc) và ít nhất một thành viên hợp danh khác.  Tiêu chuẩn, điều kiện đối với thành viên hợp danh: a) Có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán theo quy định tại chuẩn mực đạo đức; trung thực, liêm khiết, có ý thức chấp hành pháp luật; b) Thành viên hợp danh được cử làm Giám đốc (hoặc Tổng Giám đốc) công ty phải có Chứng chỉ kiểm toán viên và phải có thời gian công tác thực tế về kiểm toán từ 3 năm trở lên kể từ khi được cấp Chứng chỉ kiểm toán viên, phải góp ít nhất là 10% vốn điều lệ; không được cùng lúc tham gia quản lý, điều hành hoặc ký hợp đồng lao động với tổ chức, cơ quan khác. c) Thành viên hợp danh trực tiếp phụ trách dịch vụ kiểm toán phải có Chứng chỉ kiểm toán viên. Trường hợp công ty hợp danh kiểm toán có đăng ký kinh doanh các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề (như dịch vụ kế toán, dịch vụ định giá tài sản...) thì thành viên hợp danh trực tiếp phụ trách các dịch vụ đó phải có chứng chỉ hành nghề phù hợp theo quy định của pháp luật; d) Có tham gia góp vốn vào công ty; đ) Thành viên hợp danh, người thuộc đối tượng phải có chứng chỉ hành nghề theo quy định phải trực tiếp làm việc tại công ty.  Thành viên hợp danh mới được tiếp nhận vào công ty phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện đối với thành viên hợp danh theo quy định của pháp luật và quy định tại điểm 2 Phần III Thông 60/2006/TT-BTC và được Hội đồng thành viên chấp nhận.  Trường hợp thành viên hợp danh chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của thành viên đó có thể trở thành thành viên hợp danh của công ty nếu có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện đối với thành viên hợp danh theo quy định của pháp luật và quy định tại điểm 2 Phần III Thông 60/2006/TT-BTC và được Hội đồng thành viên chấp thuận. Nếu không có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện quy định cho thành viên hợp danh thì có thể trở thành thành viên góp vốn hoặc yêu cầu công ty hoàn trả số vốn góp theo quy định của pháp luật.  Trường hợp thành viên góp vốn là cá nhân bị chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của thành viên đó là thành viên góp vốn của công ty.  Một thành viên hợp danh sẽ bị khai trừ khỏi công ty, sau khi được sự đồng ý của tất cả các thành viên còn lại; hoặc nếu thành viên đó vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán và bị Bộ Tài chính thu hồi Chứng chỉ kiểm toán viên.  Khi thành viên hợp danh do già yếu hoặc do những nguyên nhân khác không thể tiếp tục hành nghề có thể cho phép người khác tiếp nhận quyền, nghĩa vụ và trở thành thành viên hợp danh nếu người này có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện đối với thành viên hợp danh theo quy định của pháp luật và quy định tại điểm 2 Phần III Thông 60/2006/TT-BTC và được Hội đồng thành viên chấp thuận.  Thành viên hợp danh có thể chuyển thành thành viên góp vốn nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật trong thời gian là thành viên hợp danh. Thành viên góp vốn là cá nhân có thể chuyển thành thành viên hợp danh nếu tự nguyện, đủ các tiêu chuẩn, điều kiện đối với thành viên hợp danh theo quy định của pháp luật và quy định tại điểm 2 Phần III Thông 60/2006/TT- BTC và được Hội đồng thành viên chấp thuận.  Điều lệ công ty phải quy định cụ thể nguyên tắc cử thành viên hợp danh được đại diện cho công ty ký báo cáo kiểm toán (như thành viên hợp danh được bổ nhiệm làm Giám đốc (hoặc Tổng Giám đốc) hoặc người được uỷ quyền) và kiểm toán viên hành nghề thực hiện kiểm toán.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfbai_thuyet_trinh_nhom_5_dac_thu_co_cau_to_chuc_cty_hop_danh_1094.pdf
Luận văn liên quan