Tiểu luận Kỹ năng của luật sư trong các vụ án tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Qua những điều kiện đã phân tích ở trên có thể thấy người bị kiện không chỉ là người thứ ba chiếm hữu tài sản không ngay tình hoặc không qua giao dịch dân sự có đền bù; người có được tài sản từ sự tước đoạt quyền sở hữu từ chủ sở hữu; cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có lỗi để người thứ ba có được tài sản mà còn có thể là chính người chiếm hữu có căn cứ pháp luật dựa trên sự chuyển giao của chủ sở hữu. Với những ví dụ và điều kiện đã nêu, trong trường hợp không thể xác định được người đang thực tế chiếm hữu tài sản hoặc người đang thực tế chiếm hữu tài sản là người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền sở hữu hoặc vật bị kiện đã bị tiêu huỷ, không còn nguyên trạng hoặc ngay cả trong trường hợp xác định được người thứ ba và người này có thể bị kiện, chủ sở hữu cũng có thể kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại với người đã được mình chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản.

pdf27 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/06/2014 | Lượt xem: 1863 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Kỹ năng của luật sư trong các vụ án tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ờng. Người gây thiệt phải chứng minh được là mình hồn tồn khơng cĩ lỗi, mà lỗi hồn tồn thuộc về phía người bị gây thiệt hại. Mối quan hệ nhân qủa giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra luơn luơn xác định được trong một thiệt hại cụ thể. Nhưng trách nhiệm pháp lý cĩ phát sinh ở người cĩ hành vi gây thiệt hại hay khơng cịn tùy thuộc vào sự kiện xảy ra hồn tịan hay khơng hồn tồn do lỗi của người bị thiệt hại để cĩ cơ sở quy trách nhiệm dân sự cho người cĩ hành vi gây thiệt hại. Nếu người gây thiệt hại, thì mỗi bên phải chịu trách nhiệm dân sự tương ứng với mức độ lỗi của mình. Thứ hai, trong BLDS năm 1995 của nước CHXHCN Việt Nam khong cĩ điều luật nào qui định về mức độ lỗi, àm chỉ qui định tại Điều 309 về hai hình thức lỗi cố ý và lỗi vơ ý. Việc áp dụng hai hình thức lỗi cố ý và lỗi vơ ý. Việc áp dụng Điều 621 BLDS trong việc giải quyết trách nhiệm dân sự hỗn hợp được dựa trên mức độ lỗi như thế nào. Lỗi khơng tự nĩ cĩ vị trí độc lập với các yếu tố khác trong việc xác định trách nhiệm dân sự ngồi hợp đồng. Hình thức lỗi cũng khơng phải là khơng thể xác định. Theo nguyên tắc chung của trách nhiệm dân sự ngồi hợp đồng, thì hình thức lỗi nếu xét về người cĩ hành vi trái pháp luật gây thiệt hại khơng ảnh hưởng tới mức độ và trách nhiệm bồi thường của người đĩ. Người gây thiệt hại dù cĩ lỗi cố ý hay cĩ lỗi vơ ý khi gây thiệt hại cho người khác thì người đĩ cũng phải bồi thường tồn bộ thiệt hại do hành vi cĩ lỗi của mình gây ra. Khơng vì người gây thiệt hại cĩ lỗi vơ ý hoặc cố ý trong khi gây thiệt hại mà mức bồi thường tăng hay giảm tương ứng. Tuy nhiên, trong những trường hợp cá biệt cĩ điều kiện luật định, thì người gây thiệt hại ngồi hợp đồng cĩ thể được miễn giảm mức bồi thường (do Tịa án xem xét quyết định). Những trường hợp phổ biến trong việc miễn giảm mức bồi thường cho người gây thiệt hại thường phát sinh trong các trường hợp sau đây: - Người gây thiệt hại cĩ lỗi vơ ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình (Khoản 2 điều 610); - Người gây thiệt hại và người bị thiệt hại thỏa thuận với nhau về mắc bồi thường thấp hơn thiệt hại. Trường hợp thứ nhất, pháp luật qui định người gây tiệt hại bồi thường thấp hơn thiệt 7 hại do hành vi vơ ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với điều kiện bồi thường của người gây thiệt hại. Qui định này đã loại trừ người gây thiệt hại cĩ lỗi cố ý và pháp luật khơng qui định xem xét để giảm mức bồi thường. Tuy nhiên trong trường hợp người gây thiệt hại cĩ lỗi cố ý nhưng cĩ sự thỏa thuận với người bị thiệt hại về mức bồi thường thấp hơn thiệt hại, nếu thỏa thuận đĩ khơng trái pháp luật và đạo đức xã hội và được Tịa án thừa nhận, thì người gây thiệt hại do lỗi cố ý được miễn giảm phần bồi thường thiệt hại do mình gây ra, thuộc về trường hợp thứ hai. Thứ ba, Điều 621 BLDS qui định về trách nhiệm hỗn hợp trong trường hợp người bị thiệt hại cũng cĩ lỗi trong việc gây thiệt hại, thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường tương ứng với mức độ lỗi của mình. Trong BLDS của nước CHXHCN Việt nam khơng cĩ qui định về mức độ lỗi, di vậy việc xác định trách nhiệm hỗn hợp trong trường hợp cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều cĩ lỗi gây ra thiệt hại thì mỗi bên phải chịu trách nhiệm dân sự tương ứng với mức độ lỗi của mình. Mức độ lỗi trong trường hợp này được xác định dựa trên những cơ sở lý luận pháp luật hình sự trong việc phân biệt mức độ lỗi vơ ý vì quá cẩu thả, vơ ý vì quá tự tin của một người mà gây ra thiệt hại thì tương ứng với nĩ mức bồi thường thiệt hại cĩ khác nhau. Như cách đặt vấn đề ở phần đầu bài viết này, thì lỗi phản ánh yếu tố tâm lý của con người, cĩ tác động trực tiếp đến hành vi của người đĩ và thiệt hại xảy ra do hành vi vơ ý vì cẩu thả, vơ ý vì quá tự tin mà gây ra thiệt hại đã phản ánh yếu tố tâm lý chủ quan của người đĩ. Việc xác định trách nhiệm hỗn hợp căn cứ vào mức độ lỗi của mỗi bên đã cĩ tính thuyết phục, bởi tính hợp lý của cách xác định đĩ. Qua phânt ích trên, chúng tơi đã loại trừ trường hợp cả người bị thiệt hại và người gây thiệt hại đều cĩ lỗi cố ý trong việc gây thiệt hại, mong muốn thiệt hại xảy ra cho nhau và cho chính bản thân mình. Khi phân tích yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thương thiệt hại ngồi hợp đồng cần thiết phải hiểu rõ quy định tại Điều 621 BLDS: "Nếu thiệt hại xảy ra hồn tồn do lỗi của người bị thiệt hại, thì người gây thiệt hại khơng phải bồi thường". Hiểu như thế nào về trường hợp người bị thiệt hồn tịan cĩ lỗi, và lỗi đĩ là lỗi vơ ý hay cố ý. Mối liên hệ giữa lỗi vơ ý của người gây thiệt hại và lỗi cố ý của người bị thiệt hại cĩ ảnh hưởng như thế nào đến việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các bên? Giải đáp những vấn đề nêu ra ở trên, cần tuân theo những nguyên tắc sau đây: 8 a. Nếu thiệt hại xảy ra hồn tồn do lỗi của người bị thiệt hại cho dù lỗi đĩ là vơ ý hay cố ý, mà người gây thiệt hại hồn tồn khơng cĩ lỗi thì người gây thiệt hại khơng phải bồi thường. Trường hợp này phù hợp với việc gây tiệt hại trong tình thuống bát ngờ. b. Người gây thiệt hại cĩ lỗi vơ ý và người bị thiệt hại cũng cĩ lỗi vơ ý trong việc gây ra thiệt hại thì trách nhiệm này là trách nhiệm hỗn hợp. c. Người gây thiệt hại cĩ lỗi vơ ý, người bị thiệt hại cĩ lơi cố ý thì người gây thiệt hại khơng phải bồi thường. Như vậy, thiệt hại xảy ra hồn tồn do lỗi của người bị thiệt hại cho dù lỗi đĩ cĩ ở hình thức này hay hình thức khác, ở mức độ này hay mức độ khác thì người gây thiệt hại khơng cĩ trách nhiệm bồi thường. 3. Trách nhiệm bồi thường: Từ cơ sở lý luận, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng phải thỏa mãn bốn điều kiện: Cĩ thiệt hại xảy ra; cĩ hành vi trái pháp luật; cĩ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại; người gây thiệt hại cĩ lỗi. Khi nhận thức về lỗi, cĩ nhiều quan điểm khác nhau, cĩ quan điểm cho rằng lỗi trong trách nhiệm dân sự ngồi hợp đồng phải do pháp luât qui định về hình thức và mức độ. Nhưng cũng cĩ quan điểm lại cho rằng; lỗi trong trách nhiệm dân sự ngồi hợp đồng cịn do suy đốn. Tuy nhiên, hai quan điểm khác nhau trong việc nhận thức về lỗi vẫn tồn tại, chúng tơi thấy cần thiết phải làm rõ vấn đề này để cĩ sự thống nhất trong việc nhận thức về lỗi và do pháp luật qui định trước hay do suy đốn mà cĩ? Điều 309 BLDS xác định rất rõ về lỗi và hình thức lỗi trong trách nhiệm dân sự. Khoản 1 Điều 309 qui định: "Người khơng thực hiện hoặc thực hiện khơng đúng nghĩa vụ dân sự, thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi cĩ lỗi cố ý hoặc lỗi vơ ý, trừ trường hợp cĩ thỏa thuận khác hoặc pháp luật cĩ qui định khác." Như vậy, trong trách nhiệm dân sự nĩi chung, điều kiện lỗi khơng thể thiếu được 9 trong việc xác định trách nhiệm dân sự. Hơn nữa, tại khoản 2 điều 309 BLDS đã qui định rất rõ về hình thức lỗi, nĩ vừa cĩ ý nghĩa làm rõ khoản 1, đồng thời nội dung của nĩ cũng giải thích làm rõ lỗi là gì. cơ sở để xác định lỗi, hình thức lỗi, theo chúng tơi đều do pháp luật qui định trước, mà khơng thể do suy đốn. Bởi vì, lỗi "cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vấn thực hiện và mong muốn hoặc khơng mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra". Và lỗi "vơ ý gây thiệt hại là trường hợp một người khơng thấy trước hành vi của mình cĩ khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc cĩ thể trước hành vi của mình cĩ khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ khơng xảy ra hoặc cĩ thể ngăn chặn được". Như vậy, đã quá rõ ràng rằng lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng do pháp luật qui định cả về cơ sở xác định lỗi, cả về hình thức lỗi. Từ những cơ sở pháp lý trên, cĩ thể nhận định lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng khơng phải là do suy đốn, mà do pháp luật qui định trước. Khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợpđồng, cần phải xác định yếu tố lỗi để cĩ căn cứ qui trách nhiệm cho người cĩ hành vi trái pháp luật - người cĩ hành vi cĩ lỗi phải bồi thường thiệt hại. Bên cạnh đĩ, cũng cần phải phân biệt những trách nhiệm dân sự liên quan đến những quan hệ dân sự và những chủ thể nhất định của quan hệ dân sự đĩ và trách nhiệm dân sự của chủ thể, Như vậy, khơng cần thiết phải đưa ra quan điểm trong việc nhận thức về lỗi trong trách nhiệm dân sự ngồi hợp đồng là do suy đốn. Nhận thức như trên khơng chuẩn xác về mặt khoa học, bởi vì lỗi, hình thức lỗi đã được qui định rất rõ và đầy đủ tại Điều 309 BLDS. Những suy diễn ngồi nội dung Điều 309 BLDS, do vậy khơng cần thiết và cũng khơng đúng. 10 4.Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng: Bồi thường thiệt hại được thực hiện theo nguyên tắc: bồi thường “tồn bộ” và “kịp thời”. Bồi thường “tồn bộ” thể hiện triết lý rằng, khơng ai được lợi từ việc bị thiệt hại và khơng ai phải bồi thường vượt quá phần thiệt hại mà mình đã gây ra. Nguyên tắc này đảm bảo cho các chủ thể cần cĩ biện pháp phịng ngừa hợp lý, tránh tình trạng tạo dựng những tình huống gây ra thiệt hại để kiếm lời. Tuy nhiên, pháp luật ở một số nước lại cho phép bồi thường gấp ba lần thiệt hại thực tế xảy ra, thậm chí, trong nhiều trường hợp, pháp luật cịn buộc người cĩ hành vi vi phạm phải bồi thường gấp rất nhiều lần đối với một số loại hành vi vi phạm nhất định (chẳng hạn vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng) với lý do “răn đe người cĩ hành vi gây thiệt hại” và “khuyến khích người bị thiệt hại khởi kiện”. 1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi cĩ đủ các điều kiện sau đây: a) Cĩ thiệt hại xảy ra b) Cĩ hành vi trái pháp luật c) Cĩ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra d) Người gây thiệt hại cĩ lỗi cố ý hoặc vơ ý 2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp khơng cĩ lỗi thì áp dụng quy định đĩ. Đây là một sự khẳng định về mặt pháp lý đối với căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng. Tuy nhiên, theo chúng tơi, quy định nh khoản 2 là chưa đủ để luận giải vì sao cha mẹ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho con vị thành niên, vì sao pháp nhân phải bồi thường do người của tổ chức mình gây ra và nhiều trường hợp tương tự khác. 11 5.Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân : - Người từ đủ mời tám tuổi trở lên gây thiệt hại, thì phải tự bồi thường. - Khi người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà cĩ cá nhân, tổ chức giám hộ, thì cá nhân, tổ chức đĩ được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ khơng cĩ tài sản hoặc khơng đủ tài sản để bồi thường, thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình khơng cĩ lỗi trong việc giám hộ, thì khơng phải lấy tài sản của mình để bồi thường”. Về mặt kỹ thuật lập pháp, quy định nêu trên cha thống nhất, vì khoản 1 đã khẳng định rằng “(mọi) người từ đủ 18 tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường”, trong khi đĩ, khoản 3 lại quy định trường hợp bồi thường đối với người mất năng lực hành vi dân sự (bất kể ở độ tuổi nào, tức là bao gồm cả độ tuổi thành niên). Do đĩ, khoản 1 Điều 595 cần bổ sung nh sau: “người từ đủ 18 tuổi trở lên và khơng bị mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại thì phải tự bồi thường. 6.Bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp đặc biệt: a.Điều 598 Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm: -Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại khơng ổn định và khơng thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại; - Khoản tiền cấp dỡng cho những người mà người bị thiệt hại cĩ nghĩa vụ cấp dưỡng,nếu cĩ. Như chúng ta đã biết, một người khi thực hiện cấp dưỡng cho những người mình cĩ nghĩa vụ cấp dưỡng thì mức cấp dưỡng khơng thể vượt quá khả năng thu nhập của họ. Vì vậy, điểm b khoản 1 đã xác định, khoản thiệt hại cần phải bồi thường là phần thu nhập bị mất của người bị thiệt hại, trong khi, điểm d lại quy định người gây thiệt hại phải cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại cĩ nghĩa vụ cấp dỡng. Cĩ hai vấn đề cần xem xét: 12 Thứ nhất, cách xác định thiệt hại như trên đã vơ tình buộc người gây thiệt hại phải bồi thường đến hai lần cho một thiệt hại xảy ra,đĩ là: thu nhập bị mất và khoản tiền mà người đĩ phải cấp dỡng cho người khác, trong khi, thu nhập mà người bị thiệt hại mất đi trên thực tế đã bao gồm cả nghĩa vụ cấp dỡng của người đĩ (nếu cĩ). Quy định này rõ ràng là trái với nguyên tắc bồi thường tồn bộ tại Điều 595 của Dự thảo. Thứ hai, quy định tại điểm b khoản 1 cũng chưa hợp lý, nhất là trong trường hợp thiệt hại xảy ra đối với những người mà tại thời điểm bị gây thiệt hại, họ cha cĩ thu nhập thực tế nhng hồn tồn cĩ khả năng tạo thu nhập trong tơng lai nh: học sinh, sinh viên, người chờ việc…, cách xác định thiệt hại trên sẽ khơng bảo vệ được quyền lợi chính đáng của họ. Điểm d chỉ quy định nghĩa vụ cấp dỡng của người gây thiệt hại đối với những người mà người bị thiệt hại cĩ nghĩa vụ cấp dưỡng chứ việc cấp dỡng cho chính bản thân người bị thiệt hại thì luật lại khơng quy định. b.Điều 599 của Dự thảo quy định về bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm: Theo đĩ người gây thiệt hại ngồi việc phải bồi thường thiệt hại về vật chất cịn phải bồi thường một khoản tiền tối đa khơng quá sáu mươi (60) tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của nạn nhân. Điều 600 của Dự thảo quy định về bồi thường do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, theo đĩ người gây thiệt hại ngồi việc phải bồi thường thiệt hại về vật chất, bị buộc phải chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi cải chính cơng khai người bị thiệt hại, cịn phải bồi thường một khoản tiền tối đa khơng quá mời (10) tháng lương tối thiểu do nhà nước quy định để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị xâm phạm. Nh vậy Dự thảo quy định theo hớng xác định mức trần khoản tiền bồi thường để bù đắp tổn thất về tinh thần. Chúng tơi cho rằng, nên quy định để cho các bên đơng sự tự thỏa thuận mức bồi thường, nếu khơng thỏa thuận được thì Tịa án quyết định trên cơ sở mức tối thiểu (mức sàn) do Bộ luật Dân sự quy định. Chúng tơi khơng đồng tình với quy định mức trần vì trên thực tế đương sự cĩ thể thỏa thuận với nhau và chấp nhận bồi thường khoản tiền lớn hơn mức pháp luật quy định rất nhiều. Vì vậy, pháp luật chỉ nên quy định mức sàn làm cơ sở cho Tịa án áp dụng đối với từng vụ việc cụ thể. 13 c.Điều 602 và Điều 603 Dự thảo Điều 602 quy định: Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phịng vệ chính đáng. 1 Người gây thiệt hại trong trường hợp phịng vệ chính đáng khơng phải bồi thường cho người bị thiệt hại. 2 Người gây thiệt hại do vợt quá giới hạn phịng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Như vậy, Khoản 2, Điều 602 mới chỉ quy định trách nhiệm bồi thường chung mà cha xác định rõ mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp vợt quá giới hạn phịng vệ chính đáng là bồi thường tồn bộ hay được giảm một phần thích hợp. Chúng tơi cho rằng, việc quy định người vợt quá giới hạn phịng vệ chính đáng gây thiệt hại phải bồi thường tồn bộ thiệt hại xảy ra từ hành vi đĩ khơng phải là cách quy định hợp lý, bởi quy định như vậy sẽ khơng khuyến khích được các chủ thể thực hiện hành vi phịng vệ chính đáng để bảo vệ quyền lợi cho mình. Do đĩ, nên quy định người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại do hành vi vượt quá của mình gây ra sau khi đã trừ đi phần thiệt hại mà trong trường hợp phịng vệ chính đáng gây ra. Tương tự như vậy, để khuyến khích người ở trong tình thế cấp thiết cĩ những hành động, lối ứng xử phù hợp, kịp thời nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tập thể và các cá nhân khác, khoản 2, Điều 603 cần xác định rõ mức bồi thường trong trường hợp vợt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết là bồi thường phần vượt quá chứ khơng phải là bồi thường tồn bộ thiệt hại thực tế xảy ra. d.Điều 610 của Dự thảo quy định: Bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian ở trường học, bệnh viện, các tổ chức khác trực tiếp quản lý: 1.Người dưới mười lăm tuổi trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra; 2. Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, các tổ chức khác trực tiếp quản lý, thì bệnh viện, các tổ chức khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra; 14 3.Trong các trường hợp trên, nếu trường học, bệnh viện, các tổ chức khác chứng minh được mình khơng cĩ lỗi, thì cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường. Chúng tơi cho rằng cách quy định tại Khoản 1 là chưa hợp lý. Đối với trường hợp này, cha mẹ và trường học cần phải chịu trách nhiệm liên đới vì trong thực tế, hầu hết các hành vi gây thiệt hại của các trẻ em trong thời gian học tập tại trường khơng đơn thuần là kết quả của quá trình giáo dục của riêng nhà trường, mà là sản phẩm của quá trình giáo dục của cả nhà trường và cha mẹ, trong đĩ, vai trị của cha mẹ rất quan trọng. Vì vậy, để tránh tình trạng phĩ thác việc giáo dục học sinh cho một bên, nên quy định nghĩa vụ liên đới của cha mẹ và nhà trường trừ các trường giáo dưỡng vì tính đặc thù về học viên trong loại hình trường này. Trên cơ sở đĩ, khoản 1, Điều 610 nên quy định theo hướng: Người dưới 15 tuổi trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại thì cha mẹ và trường học cĩ trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại xảy ra, trừ trường hợp pháp luật cĩ quy định khác. e.Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (Điều 623 BLDS): Xác định nguồn nguy hiểm cao độ: - Khi cĩ phương tiện giao thơng, cơng trình, vật, chất hoặc loại thú nào đĩ gây ra thiệt hại để cĩ căn cứ áp dụng các khoản 2, 3 và 4 Điều 623 BLDS xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, thì phải xác định nguồn gây ra thiệt hại cĩ phải là nguồn nguy hiểm cao độ hay khơng. - Để xác định nguồn nguy hiểm cao độ cần phải căn cứ vào khoản 1 Điều 623 BLDS và văn bản quy phạm pháp luật khác cĩ liên quan hoặc quy định của cơ quan nhà nước cĩ thẩm quyền về lĩnh vực cụ thể đĩ. Ví dụ: Để xác định phương tiện giao thơng cơ giới đường bộ thì phải căn cứ vào Luật giao thơng đường bộ. Theo quy định tại điểm 13 Điều 3 Luật giao thơng đường bộ thì phương tiện giao thơng cơ giới đường bộ gồm xe ơ tơ, máy kéo, xe mơ tơ hai bánh, xe mơ tơ ba bánh, xe gắn máy và các loại xe tương tự, kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật. Hiện tại chưa cĩ một quy định nào xác định thế nào là thú dữ, danh mục xếp loại. Tuy nhiên căn cứ vào định nghĩa về thú dữ của các từ điển tiếng Việt thì : "Thú dữ" là động vật bậc cao, cĩ lơng mao, cĩ tuyến vú, nuơi con bằng sữa, lớn, rất dữ, cĩ thể làm hại người..." Súc vật: vật nuơi trong nhà; mở rộng thêm là chỉ những giống vật đã được con người thuần chuẩn hĩa, chứ như thiểu số thì khơng được ( vd nuơi hổ trong nhà chẳng hạn). 15 II. KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGỒI HỢP ĐỒNG: 1. Soạn thảo đơn kiện: Khi soạn thảo, kiểm tra đơn khởi kiện cho khách hàng cần lưu ý nghiên cứu kỹ nội dung vụ kiện, xem xét các dấu hiệu pháp lý nhằm xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng. Căn cứ theo yêu cầu của khách hàng và bản chất pháp lý của yêu cầu để xác định quan hệ pháp luật tranh chấp thuộc yêu cầu bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng nào: - Bồi thường thiệt hại về tài sản do hành vi xây dựng trái pháp luật gây ra; - Bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín; - Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; - Bồi thường thiệt hại do người của Pháp nhân gây ra; - Bồi thường thiệt hại do xúc vật gây ra… Luật sư cần cĩ sự phân biệt quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng với quan hệ thực hiện cơng việc khơng cĩ ủy quyền và yêu cầu bồi thường thiệt hại trong hợp đồng (đặc biệt là loại hợp đồng dịch vụ), để tiến hành tư vấn và hướng dẫn cho khách hàng những cách thức tiến hành khởi kiện một cách thuận lợi. Luật sư tư vấn khách hàng các giấy tờ cần thiết cần phải nộp để chứng minh cho yêu cầu của mình trong loại vụ án này là: Các giấy tờ chứng minh tư cách chủ thể kiện; các chứng cứ chứng minh thiệt hại; các văn bản, tài liệu giải quyết của các cơ quan chức năng (nếu cĩ)… Xuất phát từ đặc trưng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng khơng phải lúc nào người gây thiệt hại cũng là người phải trực tiếp bồi thường, khi tiến hành soạn thảo đơn khởi kiện, Luật sư cần hướng dẫn cho khách hàng là nguyên đơn khởi kiện đúng đối tượng trong những trường hợp người gây thiệt hại là vị thành niên và trong những trường hợp người cĩ trách nhiệm bồi thường khơng phải là người trực tiếp gây thiệt hại (trường hợp thiệt hại do người của pháp nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước gây ra hoặc do tài sản của chủ sở hữu gây ra…). 16 2. Xác định khách hàng là nguyên đơn hay bị đơn: Khi Luật sư nhận yêu cầu của khách hàng thì phải xác định được tư cách chủ thể kiện của khách hàng, cần đặc biệt lưu ý xác định tư cách chủ thể khởi kiện, xác đinh người đại diện cho đương sự tham gia tố tụng, các trường hợp ủy quyền và ủy quyền lại; Nhiều trường hợp, khách hàng yêu cầu Luật sư tham gia vào vụ án bồi thường thiệt hại được chuyển đến Tịa án từ cơ quan điều tra hình sự. Trong những trường hợp này, Luật sư cần phải tư vấn cho khách hàng làm đơn khởi kiện theo đúng quy định của BLTTDS. 3. Xác định thẩm quyền của Tồ án thụ lý: Về thẩm quyền giải quyết, trong vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng, Luật sư tư vấn cho khách hàng cĩ quyền lựa chọn Tịa án giải quyết theo quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 36 BLTTDS: Tịa án nơi nguyên đơn cư trú; Tịa án nơi nguyên đơn làm việc; Tịa án nơi nguyên đơn cĩ trụ sở; Tịa án nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết. Sau khi soạn thảo đơn khởi kiện và nộp vào tồ án, Luật sư phải giải thích cho khách hàng biết là chỉ cĩ một Tịa án trong các Tịa án được điều luật quy định mới cĩ thẩm quyền giải quyết vụ án để họ lựa chọn. 4. Thời hiệu khởi kiện: Khi Luật sư nhận yêu cầu của khách hàng về khởi kiện bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng, trước tiên Luật sư phải xác định ngày tổ chức, cá nhân cĩ quyền và lợi ích hợp pháp bị vi phạm theo quy định tại Điều 159 BLTTDS trong các trường hợp cụ thể. Trong trường hợp ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm trước ngày 01/01/2006 thì thời hiệu khởi kiện được xác định căn cứ theo quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 159 BLTTDS và hướng dẫn tại mục 2.1. mục IV Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004. Trường hợp ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm kể từ ngày 1/1/2006 áp dụng quy định tại Điều 607 BLDS năm 2005 thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại được xác định là 02 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm. Ngồi ra, Luật sư cần tư vấn cho khách hàng khi cĩ yêu cầu khởi kiện thì nên xem xét vụ án được giải quyết bằng bản án hay chưa, quyết định đã cĩ hiệu lực pháp luật của Tịa án hoặc cơ quan Nhà nước cĩ thẩm quyền khác hay chưa. Tuy nhiên, một số vụ án bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng mặc dù đã được Tịa án giải quyết và đang 17 thi hành thì Luật sư tư vấn cho khách hàng vẫn được quyền khởi kiện lại cho rằng mức bồi thường đang thi hành khơng cịn phù hợp nữa. Vụ án yêu cầu địi bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe thì Luật sư hướng dẫn cho khách hàng khơng phải nộp tạm ứng án phí (Điều 13 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 về án phí và lệ phí Tịa án. 5. Trong việc khởi kiện vụ án dân sự: - Khi nhận được yêu cầu bảo vệ quyền lợi của đương sự thì luật sư cần yêu cầu đương sự cho biết rõ nguyên nhân, nội dung việc tranh chấp và nguyện vọng của họ. Do những nguyên nhân khác nhau, các đương sự cĩ thể giấu diếm. Vì vậy, để xác định được đúng phương hướng tham gia tố tụng, làm trịn được nhiệm vụ của mình luật sư phải động viên, thuyết phục đương sự nĩi hết sự thật với mình và luật sư cĩ trách nhiệm giữ bí mật cho họ. - Trên cơ sở yêu cầu của đương sự, các chứng cứ, tài liệu ban đầu đương sự cung cấp, các qui định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng luật sư xác minh tìm hiểu thêm để bước đầu xác định yêu cầu địi bồi thường thiệt hại của người bị thiệt hại cĩ đúng khơng, trách nhiệm bồi thường thuộc về ai.Trường hợp bảo vệ quyền lợi cho người gây thiệt hại mà thấy yêu cầu của người bị thiệt hại là đúng thì luật sư cần phân tích cho người gây thiệt hại biết trách nhiệm bồi thường của họ để họ bồi thường cho người bị thiệt hại, tránh việc kiện tụng tại Tồ án. Nếu yêu cầu của người bị hại chỉ đúng một phần thì luật sư cũng chỉ rõ cho người gây thiệt hại biết và cĩ thể giúp đỡ họ thương lượng, thoả thuận với người bị thiệt hại giải quyết tranh chấp.Trong trường hợp bảo vệ quyền lợi cho người bị thiệt hại mà thấy yêu cầu của người bị thiệt hại là khơng cĩ cơ sở thì luật sư giải thích để họ rút yêu cầu, tránh việc kiện tụng ở Tồ án gây tốn kém cho họ. Nếu yêu cầu của người bị thiệt hại chỉ đúng một phần thì luật sư giải thích để người bị hại rút phần yêu cầu khơng đúng và cĩ thể giúp đỡ họ thoả thuận với người gây thiệt hại về việc bồi thường.Đối với những tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng qua việc giúp đỡ của luật sư mà các bên vẫn khơng thoả thuận giải quyết được việc bồi thường thì luật sư cần hướng dẫn cho đương sự yêu cầu Tồ án cĩ thẩm quyền giải quyết. Theo quy định tại Điều 13, Điều 14 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì Tồ án cĩ thẩm quyền giải quyết loại tranh chấp này là Tồ án nơi cư trú của bị đơn. Nếu tranh chấp địi bồi thường thiệt hại về tính mạng sức khoẻ thì Tồ án cĩ 18 thẩm quyền bao gồm cả Tồ án nơi cư trú của bị đơn, nơi xảy ra thiệt hại và Tồ án nơi cư trú của nguyên đơn giải quyết. Theo Điều 34 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì đơn khởi kiện phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người khởi kiện (nguyên đơn), bị đơn, người cĩ quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nội dung sự việc, yêu cầu và những chứng cứ lý lẽ để chứng minh cho yêu cầu đĩ. Do vậy, luật sư cần giúp đỡ các đương sự đưa ra yêu cầu khởi kiện đúng, xác định đúng thẩm quyền của Tồ án trong việc giải quyết tranh chấp, viết đơn khởi kiện và cung cấp các chứng cứ, lý lẽ cho Tồ án để bảo vệ quyền lợi của mình. 6. Nghiên cứu hồ sơ vụ án: Luật sư nghiên cứu tất cả các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án từ đơn kiện, lời khai của nguyên đơn, lời khai của bị đơn, lời khai của người cĩ quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến các chứng cứ, tài liệu do đương sự cung cấp và Tồ án thu thập được. Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án luật sư cần chú ý nghiên cứu kỹ chứng cứ, tài liệu ban đầu do cơ quan điều tra lập và những chứng cứ, tài liệu chứng minh cĩ hay khơng các căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng (đã nêu trên). Ngồi ra, tuỳ trường hợp cụ thể luật sư nghiên cứu hồ sơ làm rõ những vấn đề khác, như năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, căn cứ để đình chỉ việc giải quyết vụ án... Ví dụ: Đối với tranh chấp bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thơng luật sư phải nghiên cứu kỹ sơ đồ hiện trường, biên bản về tai nạn giao thơng do cảnh sát giao thơng lập, kết luận của cơ quan điều tra, giấy chứng thương, kết luận giám định, hố đơn mua thuốc thanh tốn viện phí, các tài liệu phản ánh mức thu nhập của người bị hại trước khi bị thiệt hại...Đối với tranh chấp địi bồi thường thiệt hại do xây dựng luật sư phải nghiên cứu kỹ sơ đồ hiện trường, kết luận giám định, các tài liệu phản ánh chi phí đã bỏ ra để khắc phục thiệt hại...Để đánh giá được giá trị của các chứng cứ, tài liệu luật sư cần phải nghiên cứu cả nội dung và hình thức của chúng, mối liên hệ của chúng đối với sự kiện gây thiệt hại...Ví dụ: hố đơn thanh tốn viện phí cĩ phải do bệnh viện lập khơng, cĩ được lập ra sau sự kiện gây thiệt hại khơng.. Sau khi đã nghiên cứu kỹ từng chứng từ, tài liệu luật sư cần hệ thống lại những nội dung cơ bản của vụ án, xác định những chứng cứ, tài liệu nào cĩ thể sử dụng để giải quyết vụ án, những vấn đề nào của vụ án đã được làm rõ, những vấn đề nào cần xác minh thêm. Trên cơ sở đĩ luật sư phác thảo kế hoạch xác minh thêm các vấn đề của vụ 19 án. 7. Nghiên cứu pháp luật áp dụng giải quyết vụ án : - Trên cơ sở những nội dung các chứng cứ, tài liệu của vụ án luật sư nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật áp dụng giải quyết vụ án. Các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng được quy định tại các điều từ Điều 609 đến Điều 638 Bộ luật dân sự và một số quy định của các văn bản pháp luật khác. Tuy vậy khơng phải tranh chấp nào cũng áp dụng tất cả các điều luật đĩ do vậy, luật sư phải lựa chọn đúng điều luật áp dụng vụ án cụ thể mà nghiên cứu. Ví dụ: Tranh chấp địi bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra nghiên cứu các điều từ Điều 609 đến Điều 614, Điều 616 và Điều 629 Bộ luật dân sự. - Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, pháp luật áp dụng giải quyết vụ án luật sư xác định xem người gây thiệt hại cĩ trách nhiệm bồi thường thiệt hại khơng, mức bồi thường thiệt hại cụ thể là như thế nào. Trên cơ sở đĩ luật sư trao đổi với đương sự mình bảo vệ tiếp tực giữ nguyên yêu cầu hay phải thay đổi yêu cầu. Trường hợp phải tham gia tố tụng tại phiên tồ thì luật sư chuẩn bị bản bảo vệ quyền lợi cho đương sự đọc trước Tồ án. 8. Viết bản luận cứ bảo vệ cho đương sự: Trên cơ sở kết quả của việc nghiên cứu hồ sơ, xác minh các tình tiết của vụ án và nghiên cứu pháp luật giải quyết vụ án luật sư chuẩn bị bản bảo vệ quyền lợi cho đương sự đọc tại Tồ án. Cơ cấu của bản bảo vệ quyền lợi cho đương sự cần trình bày theo các phần: Nội dung vụ án, nhận định của luật sư và đề nghị của luật sư yêu cầu Tồ án giải quyết. ở phần nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu cĩ trong hồ sơ vụ án và kết quả xác minh tìm hiểu vụ án của mình luật sư trình bày khái quát những vấn đề cơ bản nhất của vụ án. Trong phần nhận định của mình luật sư phải phân tích rõ, nêu bật lên được những chứng cứ tài liệu nào cĩ tính xác thực cĩ thể dựa vào đĩ để giải quyết vụ án; cĩ hay khơng cĩ hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại, thiệt hại thực tế xảy ra cụ thể được tính tốn như thế nào, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại, mức độ lỗi của người gây thiệt hại, năng lực chịu trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại... Để việc nhận định cĩ sức thuyết phục, khi viết bản bảo vệ quyền lợi cho đương sự luật sư cần nêu trích dẫn những tài liệu cĩ trong hồ sơ vụ án (đặc biệt là những tài liệu do đương sự bên kia cung cấp) và viện dẫn những quy định của pháp luật về 20 trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng được áp dụng giải quyết vụ án. ở phần đề nghị yêu cầu Tồ án giải quyết tuỳ vào việc tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho bên nào mà luật sư nêu ra yêu cầu Tồ án giải quyết. Các yêu cầu của luật sư phải cụ thể và cĩ căn cứ xác thực. Luật sư khơng nên vì quá thiên về bảo vệ quyền lợi cho đương sự mà nêu ra những yêu cầu vơ lý. 9. Tham gia tranh tụng tại phiên tồ: Tại phiên tịa luật sư cần theo dõi việc thẩm vấn và ghi chép lại những điểm cần thiết từ đĩ phát hiện những vấn đề chưa được làm rõ đề nghị hội đồng xét xử cho hỏi để làm rõ. Tuỳ trường hợp tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn hay bị đơn mà luật sư đưa ra câu hỏi cho phù hợp. Nhưng nĩi chung luật sư chỉ nên đặt những câu hỏi mà đốn chắc việc trả lời sẽ cĩ lợi cho đương sự mình bảo vệ. Việc đặt câu hỏi của luật sư tập trung vào làm rõ những vấn đề sau: Ai là người thực hiện hành vi gây thiêt hại, hành vi gây thiệt hại cĩ trái pháp luật khơng, thiêt hại đã xẩy ra như thế nào, người cĩ hành vi gây thiệt hại cĩ lỗi khơng, mức độ lỗi của họ, thiệt hại thực tế xẩy ra, ai sẽ phải bồi thường thiệt hại, ai là người được bồi thường thiệt hại... Theo Điều 51 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, sau khi kết thúc việc xét hỏi đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung cĩ quyền tranh luận để làm rõ các vấn đề của vụ án. Vì vậy, luật sư phải tích cực tham gia tranh luận. Khi tranh luận luật sư cần tránh việc đứng lên đọc nguyên văn bản bảo vệ quyền lợi cho đương sự đã được chuẩn bị sẵn. Luật sư cần căn cứ vào diễn biến của vụ án ở tại phiên tồ mà sửa chữa bản bảo vệ quyền lợi cho đương sự cho phù hợp, cĩ sức thuyết phục. Khi tranh luận luật sư dựa vào bản bảo vệ quyền lợi cho đương sự mà trình bày nhận định của mình về các chứng cứ, tài liệu của vụ án, nêu ra yêu cầu giải quyết vụ án. ý kiến của luật sư tham gia tranh luận trong các tranh chấp bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng cần tập trung làm rõ các căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại và trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại.Nếu bảo vệ quyền lợi cho người bị hại luật sư phải phân tích, chứng minh được hành vi của người gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, thiệt hại xảy ra là do lỗi của người gây thiệt hại, người gây thiệt hại là người cĩ năng lực chịu trách nhiệm bồi thường...Nếu bảo vệ quyền lợi cho người gây thiệt hại luật sư cần phải phân tích, chứng minh hành vi gây thiệt hại khơng trái pháp luật, người bị hại cũng cĩ lỗi, thiệt hại chưa đến mức như người bị thiệt hại nêu ra. 21 III. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN: Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại (cịn được gọi là kiện trái quyền) là một trong những phương thức rất phổ biến được sử dụng để bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp. Để hiểu rõ về phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, trong phạm vi bài viết này, những điều kiện làm phát sinh phương thức kiện cần được tìm hiểu như chủ thể nào cĩ quyền khởi kiện, chủ thể nào cĩ thể bị kiện và tình trạng tài sản thoả mãn điều kiện của phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. Nĩi cách khác, trong những trường hợp cụ thể nào, phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại cĩ thể được áp dụng. 1. Chủ thể thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại: Theo Điều 260 của Bộ luật Dân sự, chủ thể khởi kiện cĩ thể là chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp. Như vậy, ngồi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản cũng cĩ quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đối với vấn đề này, cĩ một số điểm, theo chúng tơi, cần xác định rõ. Thứ nhất, về quy định người chiếm hữu hợp pháp Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt là ba quyền năng thuộc quyền sở hữu. Bộ luật Dân sự chỉ phân loại chiếm hữu thành hai hình thức là chiếm hữu cĩ căn cứ pháp luật và chiếm hữu khơng cĩ căn cứ pháp luật. Theo Điều 183 Bộ luật Dân sự, chiếm hữu cĩ căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong các trường hợp: chủ sở hữu chiếm hữu tài sản; người khơng phải là chủ sở hữu chiếm hữu tài sản trong các trường hợp: được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản, được chủ sở hữu chuyển giao quyền chiếm hữu thơng qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật, phát hiện và giữ tài sản vơ chủ, tài sản khơng xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, bị chơn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện của pháp luật quy định, phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuơi dưới nước bị thất lạc phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định và các trường hợp khác. Như vậy, khơng cĩ quy định trong Bộ luật Dân sự đề cập đến chiếm hữu hợp pháp là chiếm hữu của chủ thể nào. Theo cách hiểu thơng thường, chiếm hữu hợp pháp là chiếm hữu cĩ căn cứ pháp luật và chiếm hữu bất hợp pháp là chiếm hữu khơng cĩ căn cứ pháp luật. 22 Nếu xét trên mặt ngữ nghĩa, cách hiểu này cũng chưa được thoả đáng. ‘Bất hợp pháp’ cĩ nghĩa là khơng phù hợp quy định của pháp luật. ‘Khơng cĩ căn cứ pháp luật’ là khơng tồn tại quy định nào của pháp luật để dựa vào. Hai ý nghĩa này khơng phải lúc nào cũng trùng khớp. Trong thực tế, sẽ cĩ những trường hợp, sự chiếm hữu là khơng dựa trên quy định nào của pháp luật nhưng nĩ khơng trái với nguyên tắc chung của luật. Ví dụ với một số trường hợp người được lợi về tài sản khơng cĩ căn cứ pháp luật cĩ nên xác định là chiếm hữu bất hợp pháp hay khơng? Đặt giả thiết là cách hiểu này hồn tồn hợp lý và chính xác về mặt ngữ nghĩa, quy định tại Điều 260 cũng vẫn tồn tại vấn đề cần xem xét. Nếu chiếm hữu hợp pháp là chiếm hữu cĩ căn cứ pháp luật thì người chiếm hữu hợp pháp chính là chủ sở hữu và người khơng phải chủ sở hữu trong một số trường hợp đã nêu tại Điều 183. Điều 260 ghi rõ: ‘Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp cĩ quyền yêu cầu người cĩ hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình bồi thường thiệt hại’. Vậy, ‘chủ sở hữu’ với tư cách là người chiếm hữu hợp pháp (Điều 183) và ‘chủ sở hữu’ nĩi riêng (Điều 260) cĩ trùng nhau hay khác nhau? Theo quan điểm của chúng tơi, ở đây, điều luật chỉ quy định về chủ sở hữu tài sản mà thơi.Vấn đề nằm ở chỗ, quy định của Điều luật chưa thực sự xác đáng, dẫn đến trùng lặp trong cách diễn đạt và cách hiểu. Để cĩ thể hiểu chính xác hơn, theo chúng tơi, quy định này nên ghi nhận: Chủ sở hữu và người khơng phải chủ sở hữu chiếm hữu cĩ căn cứ pháp luật cĩ quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. Thứ hai về quy định người cĩ quyền khởi kiện Theo quy định của luật Dân sự, để trở thành chủ sở hữu tài sản, một cá nhân khơng cần đáp ứng yêu cầu cĩ đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Căn cứ xác lập quyền sở hữu được Bộ luật Dân sự quy định rõ trong Chương XIV, Mục 1 từ Điều 233 đến Điều 247 với các trường hợp theo các căn cứ riêng biệt, theo hợp đồng dân sự hoặc theo các trường hợp cụ thể được pháp luật quy định như đối với tài sản do lao động, kinh doanh hợp pháp; tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, chơn giấu, chìm đắm, vơ chủ, khơng xác định chủ sở hữu; tài sản được thừa kế, … Theo quy định của luật Tố tụng Dân sự, điều kiện khởi kiện vụ án dân sự bao gồm các điều kiện về chủ thể, thời hiệu, thẩm quyền của Tồ án, vụ án chưa được xem xét giải quyết tại Tồ án (trừ một số trường hợp do pháp luật quy định) và một số điều kiện về mặt hình thức khác (theo Điều 168 Bộ luật Tố tụng Dân sự). Trong đĩ, tư cách người khởi kiện là một điều kiện quan trọng. Người khởi kiện khơng cĩ quyền khởi kiện hoặc khơng cĩ đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự mà tiến hành khởi kiện sẽ bị Tồ án trả lại đơn khởi kiện. Khơng cĩ quyền 23 khởi kiện được hiểu là khơng cĩ quyền và lợi ích hợp pháp giả thiết bị xâm phạm, khơng cĩ tư cách đại diện cho người bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp hoặc khơng phụ trách lĩnh vực bị xâm phạm về quyền và lợi ích cơng cộng. Năng lực hành vi tố tụng dân sự, ngồi những trường hợp đặc biệt được quy định trong luật cũng trùng với năng lực hành vi dân sự. Đĩ là người từ đủ 18 tuổi trở lên, khơng thuộc các trường hợp mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Quy định tại Điều 260 Bộ luật Dân sự, chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp cĩ quyền khởi kiện nên hiểu như thế nào? Đĩ là những người chỉ cĩ quyền với ý nghĩa là năng lực pháp luật dân sự hay đĩ là những người cĩ quyền thực tế thực hiện hành vi khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự? Nếu họ là những người được thực tế thực hiện hành vi khởi kiện, quy định của luật Dân sự và quy định của luật Tố tụng Dân sự sẽ cĩ điểm chưa hài hồ, đồng nhất. Theo quy định của luật Tố tụng Dân sự, năng lực hành vi tố tụng dân sự khơng quyết định tư cách nguyên đơn, bị đơn nhưng lại quyết định tư cách của người khởi kiện. Như vậy, nếu gặp trường hợp chủ sở hữu tài sản là người chưa cĩ đầy đủ năng lực hành vi dân sự, dù cĩ thoả mãn các điều kiện cĩ thể áp dụng phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, họ vẫn khơng thể tiến hành kiện trên thực tế. Do đĩ, theo quan điểm của chúng tơi, ‘quyền khởi kiện’ quy định tại Điều 260 Bộ luật Dân sự nên hiểu đĩ là năng lực pháp luật dân sự và năng lực pháp luật tố tụng dân sự của chủ sở hữu và những người khác. Cĩ nghĩa là những người này theo quy định pháp luật cĩ quyền và nghĩa vụ dân sự, cĩ quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. Việc thực hiện hành vi khởi kiện, yêu cầu Tồ án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trên thực tế phải căn cứ vào mức độ năng lực hành vi dân sự của của các đương sự trong những trường hợp cụ thể. 2. Điều kiện khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại: Để thực hiện phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, theo chúng tơi, cần đáp ứng được hai nhĩm điều kiện cơ bản. Đĩ là nhĩm điều kiện về sự chiếm hữu vật và nhĩm điều kiện về vật (tài sản bị kiện, đang tranh chấp) ở thời điểm khởi kiện. Thứ nhất, nhĩm điều kiện về sự chiếm hữu vật Điều kiện về sự chiếm hữu vật cĩ thể hiểu trên những gĩc độ sau: vật rời khỏi chủ sở hữu, người khác chiếm hữu cĩ căn cứ pháp luật là theo ý chí của những người này, người thứ ba chiếm hữu được tài sản là thơng qua giao dịch dân sự cĩ đền bù và tài sản, đối tượng phương thức kiện là động sản khơng phải đăng ký quyền sở hữu. - Tài sản rời khỏi chủ sở hữu hoặc người khác chiếm hữu cĩ căn cứ pháp luật theo ý 24 chí của họ Vấn đề đầu tiên cần xác định là tài sản đã rời khỏi sự chiếm hữu của người cĩ quyền như thế nào, cĩ theo ý muốn của họ hay khơng, cĩ bị chiếm đoạt, tước đoạt quyền sở hữu hay khơng. Điều kiện này cho thấy, tài sản tranh chấp khơng bị tước đoạt khỏi sự chiếm hữu cĩ căn cứ pháp luật ngồi ý muốn của các chủ thể cĩ quyền chiếm hữu. Nĩi cách khác, tài sản được chuyển giao sự chiếm hữu thơng qua các hành vi cĩ ý thức của người cĩ quyền chiếm hữu như cho mượn, cho thuê, cho vay, … - Người đang thực tế chiếm giữ vật là người thứ ba ngay tình, cĩ được tài sản thơng qua giao dịch dân sự cĩ đền bù Người thứ ba ngay tình là người chiếm giữ tài sản khơng dựa trên bất kỳ căn cứ nào tại Điều 183 Bộ luật Dân sự về các trường hợp chiếm hữu cĩ căn cứ pháp luật nhưng khơng biết hoặc khơng buộc phải biết việc chiếm hữu là khơng cĩ căn cứ pháp luật. Người này cĩ được tài sản bằng giao dịch dân sự cĩ đền bù. Nghĩa là người này cĩ được tài sản bằng hành vi mua bán, trao đổi tài sản, đổi một tài sản khác để được tài sản đang chiếm giữ. - Tài sản là động sản khơng phải đăng ký quyền sở hữu trừ một số ngoại lệ do pháp luật quy định. Tài sản thoả mãn điều kiện của phương thức kiện, về nguyên tắc phải là động sản. Theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Dân sự, động sản là những tài sản khơng phải là bất động sản. Cĩ nghĩa tài sản này khơng là đất đai, nhà, cơng trình xây dựng gắn liền với đất đai, các tài sản gắn liền với nhà, cơng trình xây dựng, gắn liền với đất đai hoặc các một số tài sản theo quy định của pháp luật là bất động sản. Ngồi ra, tài sản thoả mãn điều kiện của phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại cịn phải là động sản khơng phải đăng ký quyền sở hữu. Nghĩa là việc sở hữu các động sản này khơng cần đăng ký theo thủ tục nhất định tại cơ quan Nhà nước cĩ thẩm quyền. Những tài sản này thơng thường là những tài sản cĩ giá trị khơng lớn, khơng ảnh hưởng đến nền kinh tế, xã hội, an ninh quốc phịng của đất nước và do vậy, khơng cần sự quản lý theo thủ tục đăng ký của các cơ quan chức năng. Về nguyên tắc, chỉ cĩ tài sản là động sản khơng phải đăng ký quyền sở hữu mới thoả mãn điều kiện của phương thức kiện này. Nhưng theo quy định tại Điều 258, tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản cũng cĩ thể trở thành điều kiện của phương thức kiện này nếu như thuộc một trong hai trường hợp: người thứ ba ngay tình cĩ được tài sản thơng qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan Nhà nước cĩ thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản 25 nhưng sau đĩ người này khơng phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa. Những trường hợp này, lỗi xác định là từ phía cơ quan Nhà nước cĩ thẩm quyền. Người tham gia giao dịch khơng thể biết được việc chiếm hữu của mình thực sự là khơng cĩ căn cứ pháp luật. Họ khơng phải chịu trách nhiệm về lỗi của cơ quan Nhà nước. Do vậy, họ được bảo vệ quyền sở hữu. Cĩ thể thấy, nhĩm quan hệ về sự chiếm hữu vật vừa nêu thuộc nội hàm của nguyên tắc bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vơ hiệu. Theo quan điểm của chúng tơi, nếu ba điều kiện này thoả mãn, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu cĩ căn cứ pháp luật khác khơng thể thực hiện phương thức kiện địi tài sản với người đang chiếm hữu vật trên thực tế. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, họ chỉ cĩ thể thực hiện phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. Thứ hai, nhĩm điều kiện về vật Khi chủ sở hữu hoặc những người khác chiếm hữu cĩ căn cứ pháp luật bị xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, họ cĩ thể khởi kiện để địi tài sản hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, khi vật, tài sản đã rời khỏi họ theo những điều kiện nêu trên, cĩ những trường hợp, họ chỉ cĩ thể khởi kiện theo phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại mà khơng thể kiện địi tài sản. Đĩ chính là những đặc điểm của vật ở thời điểm khởi kiện. Cĩ hai đặc điểm cơ bản cĩ thể nêu trong trường hợp này. Đĩ là vật hiện khơng cịn trong tay người bị kiện (khơng xác định được người đang chiếm hữu vật); vật bị tiêu hủy hoặc khơng cịn nguyên trạng như khi rời khỏi chủ sở hữu, người chiếm hữu cĩ căn cứ pháp luật khác. - Khơng xác định được người đang chiếm hữu thực tế vật Sau khi vật rời khỏi chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu cĩ căn cứ pháp luật khác theo ý chí của những người này, việc chiếm hữu vật cĩ thể được chuyển giao cho người khác. Khi khơng thoả mãn các yếu tố cĩ thể áp dụng nguyên tắc bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vơ hiệu, người đang chiếm giữ tài sản sẽ khơng được bảo vệ quyền sở hữu và cĩ thể bị kiện địi tài sản. Tuy nhiên, khơng phải lúc nào cũng xác định được người này. Vì các chủ thể, các mối quan hệ trong xã hội rất đa dạng và phức tạp. - Vật bị tiêu hủy hoặc khơng cịn nguyên trạng Một đặc điểm rất điển hình của phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là tình trạng của vật. Khi tất cả các điều kiện khác của kiện địi tài sản đều được thoả mãn, các chủ thể đều được xác định rõ ràng, nếu vật bị kiện khơng cịn tồn tại hoặc khơng cịn nguyên 26 trạng thì các chủ thể cũng khơng thể thực hiện được phương thức kiện địi tài sản. Ví dụ 1, tài sản, đối tượng kiện là vật tiêu hao đã bị người đang chiếm hữu sử dụng Trên thực tế, khi các chủ thể kiện địi bồi thường thiệt hại, họ cĩ thể nhận được tài sản bồi thường. Ví dụ, A kiện B yêu cầu bồi thường chiếc điện thoại Nokia N72, B sẽ trả cho A một chiếc điện thoại Nokia N72 tương ứng. Trong trường hợp này, tuy chủ sở hữu đã cĩ được tài sản nhưng cần thiết phải xác định rõ, khơng phải là họ địi lại được tài sản mà chỉ là được bồi thường một tài sản cùng loại mà thơi. Chính vì lý do này, theo một số ý kiến, đặc điểm của vật để cĩ thể khởi kiện địi tài sản phải là vật đặc định. Chúng ta hiểu vật đặc định trong trường hợp này khơng đồng nghĩa rằng chỉ trong trường hợp vật đĩ là duy nhất mới cĩ thể kiện địi tài sản, mà nên hiểu rằng vật đĩ đã được xác định, đặc định hố từ những vật cùng loại khác. Vì vậy, khi vật đặc định khơng cịn, phương thức bảo vệ quyền sở hữu chỉ cĩ thể là kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại để nhận được một tài sản cùng loại tương ứng. 3. Người bị kiện theo phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại: Qua những điều kiện đã phân tích ở trên cĩ thể thấy người bị kiện khơng chỉ là người thứ ba chiếm hữu tài sản khơng ngay tình hoặc khơng qua giao dịch dân sự cĩ đền bù; người cĩ được tài sản từ sự tước đoạt quyền sở hữu từ chủ sở hữu; cơ quan Nhà nước cĩ thẩm quyền cĩ lỗi để người thứ ba cĩ được tài sản mà cịn cĩ thể là chính người chiếm hữu cĩ căn cứ pháp luật dựa trên sự chuyển giao của chủ sở hữu. Với những ví dụ và điều kiện đã nêu, trong trường hợp khơng thể xác định được người đang thực tế chiếm hữu tài sản hoặc người đang thực tế chiếm hữu tài sản là người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền sở hữu hoặc vật bị kiện đã bị tiêu huỷ, khơng cịn nguyên trạng hoặc ngay cả trong trường hợp xác định được người thứ ba và người này cĩ thể bị kiện, chủ sở hữu cũng cĩ thể kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại với người đã được mình chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản. Bởi vì người này đã nhận sự chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản theo ý chí của chủ sở hữu, họ phải chịu trách nhiệm hồn trả tài sản cho chủ sở hữu. Nếu họ khơng hồn trả được tài sản, họ hồn tồn cĩ thể trở thành bị đơn trước Tồ án, tức là người giả thiết đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và bị nguyên đơn hoặc người đại diện của nguyên đơn khởi kiện. Nĩi tĩm lại, phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là một trong những phương thức hữu hiệu để bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp. Để thực hiện phương thức kiện này, một số điều kiện nhất định cần thiết phải được đáp ứng để đảm bảo tuân thủ các quy định cĩ liên quan của pháp luật về vấn đề này. 27 KẾT LUẬN Pháp luật khơng khuyến khích các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Người cĩ hành vi gây thiệt hại cho các chủ thể khác thì phải bị xử lý, trừng trị nhằm ngăn ngừa và hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật. Cơ sở pháp lý của trách nhiệm này quy định trong Bộ luật dân sự về chế định bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng.Trong đĩ vai trị luật sư trong tranh tụng tại phiên tịa bổi thường thiệt hại ngồi hợp đồng là rất quan trọng.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfboi_thuong_thiet_hai_7773.pdf
Luận văn liên quan