Tiểu luận Mối quan hệ giữa chính sách tài khoa và chính sách tiền tệ, thực tiễn ở Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng và hậu khủng hoảng

CSTK và CSTT là hai công cụ vô cùng quan trọng trong nền kinh tế của bất cứ một quốc gia dù đang phát triển hay đã phát triển vì nếu sử dụng không tốt hai chính sách này thì nền kinh tế sẽ có thể gặp nhiều rủi ro như: lạm phát, mất cân bằng giá cả, lãi suất không ổn định khi nền kinh tế khó khăn thì sẽ kéo theo nhiều vấn đề về an sinh xã hội. Một vấn đề quan trọng là cơ chế phối hợp giữa hai chính sách mà cụ thể là hai cơ quan điều hành với nhau như thế nào để góp phần ổn định giá cả và tăng trưởng kinh tế. Kinh tế thế giới năm 2008 đã tác động rõ nét tới nền kinh tế nước t a. Chúng ta đã phải đối mặt với những khó khăn về vấn đề thanh khoản của hệ thống tín dụng, lãi suất ngân hàng cao, những cơn sốt giá lương thực và năng lượng, thị trường chứng khoán tiếp tục bị sụt giảm Tuy nhiên hệ thống kinh tế Việt Nam đã ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực từ thị trường. Đến nay có thể nhìn lại những khó khăn đã vượt qua, đánh giá mức độ tác động của các yếu tố bên ngoài và xác định những thách thức sẽ phải đương đầu trong những năm tới

pdf24 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 08/09/2014 | Lượt xem: 1639 | Lượt tải: 7download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Mối quan hệ giữa chính sách tài khoa và chính sách tiền tệ, thực tiễn ở Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng và hậu khủng hoảng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Trang 1 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4 Tiểu luận Mối quan hệ giữa chính sách tài khoa và chính sách tiền tệ, thực tiễn ở Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng và hậu khủng hoảng Trang 2 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4 MỤC LỤC CHƯƠNG 1: TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ PHỐI HỢP NHỊP NHÀNG VÀ ĐỒNG BỘ GIỮA CSTK VÀ CSTT TRONG VIỆC QUẢN LÝ, ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ NỀN KINH TẾ..3 1.1. Khái niệm CSTT và CSTK ...............................................................................................5 1.2. Mục tiêu của CSTT và CSTK ..........................................................................................5 1.3. Nội dung của CSTT và CSTK..........................................................................................5 1.4. Sự tác động qua lại của hai chính sách............................................................................6 1.5. Sự giống và khác nhau của hai chính sách .....................................................................7 1.6. Sự cần thiết của việc phối hợp nhịp nhàng hai chính sách trong việc quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh t ế....................................................................................................................8 CHƯƠNG 2: SỰ PHỐI HỢP 02 CHÍNH SÁCH NÀY TRON G NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TỪ CUỐ I N ĂM 2007 CHO ĐẾN N AY..........................................................................9 2.2. Giai đoạn từ tháng 09/2008 đến cuối năm 2009 .............................................................11 2.3. Các ý kiến xoay quanh vấn đề có nên tiếp tục thực hiện gói kích cầu thứ hai trong năm 2010 và Quan điểm của Nhóm. ........................................................................................12 2.3.1. Quan điểm không tiếp tục duy trì gói kích cầu ........................................................12 2.3.2 Quan điểm duy trì .........................................................................................................13 2.3.3. Quan điểm và kiến nghị của nhóm đối với gói kích cầu thứ hai ...........................14 2.3.4. M ột số định hướng của CSTT trong năm 2010 ......................................................15 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NÂNG CAO S Ự PHỐI HỢP NHỊP NHÀNG VÀ ĐỒN G BỘ GIỮA CSTK VÀ CSTT TRONG VIỆC QUẢN LÝ, ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ N ỀN KINH TẾ. ...................................................................................................17 3.1 Tăng cường sự phối hợp giữa Bộ Tài chính và NHNN .........................................18 3.2 Các biện pháp khác .......................................................................................................19 KẾT LUẬN ....................................................................................................................................21 TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................... Error! Bookmark not defined. Trang 3 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4 MỞ ĐẦU Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là hai công cụ trọng yếu giữ vai trò quyết định trong việc quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững phụ thuộc rất nhiều vào việc hoạch định và thực thi các chính sách của một quốc gia trong khuôn khổ phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa các chính sách, nhất là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Thành công trong việc chặn đứng lạm phát phi mã năm 1989 hay việc ngăn chặn cuộc đua lãi suất, đưa nền kinh tế dần thoát khỏi khủng hoảng thời gian gần đây đã cho thấy tầm quan trọng của việc sử dụng các công cụ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều tiết kinh tế vĩ mô, nhằm đạt các mục tiêu ổn định thị trường. Trong nền kinh tế tăng trưởng nhanh của nước ta luôn thường trực nguy cơ lạm phát cao, đồng thời, khả năng rơi vào khủng hoảng tài chính cũng không nhỏ, do đó, các công cụ điều tiết vĩ mô hiệu nghiệm như chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ được sử dụng với sự phối hợp nhịp nhàng là điều cần thiết. Tuy nhiên do 02 chính sách này chịu sự hoạch định của 02 cơ quan khác nhau là NHNN và BTC với chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu theo đuổi khác nhau trong ngắn hạn nên vẫn xảy ra tình trạnh phối hợp không đồng bộ giữa 02 chính sách này trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Điều này thể hiện chưa thống nhất, đồng bộ trong việc quản lý và phối hợp giữa các bộ ngành. Nếu thiếu sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, nền kinh tế sẽ khó có thể đạt được các mục tiêu tăng trưởng bền vững trong dài hạn. Vì vậy, phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nhận thấy tầm quan trọng trong việc phối hợp đồng bộ của 02 CSTT và CSTK, nhóm chúng tôi đi vào tìm hiểu nội dung: Mối quan hệ giữa chính sách tài khoa và chính sách tiền tệ, thực tiễn ở Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng và hậu khủng hoảng. Tiểu luận gồm 3 chương: Chương 1: Tầm quan trọng của sự phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa CSTK và CSTT trong việc quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Chương 2: Sự phối hợp 2 chính sách tài khóa và tiền tệ trong nền kinh tế Việt Nam từ cuối năm 2007 đến nay. Chương 3: Một số ý kiến đề xuất nâng cao hiệu quả của sự phối hợp 2 chính sách. Trang 4 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4 Vì điều kiện thời gian và kiến thức còn hạn chế, bài tiểu luận chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn. Chân thành cảm ơn. Trang 5 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4 CHƯƠN G 1: TẦM QUAN TRỌN G CỦA SỰ PHỐI HỢP NHỊP NHÀNG VÀ ĐỒN G BỘ GIỮA CSTK VÀ CSTT TRON G VIỆC QUẢN LÝ, ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ NỀN KINH TẾ. 1.1. Khái niệm CSTT và CSTK  Về cơ bản, chính sách tài khoá là chính sách thu chi của Chính phủ hay còn gọi là chính sách ngân sách. Còn CSTT là việc thực hiện tổng thể các biện pháp, sử dụng các công cụ của NHTW nhằm góp phần đạt được các mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô thông qua việc chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền.  Trên thực tế, người ta thường hiểu rằng chính sách tài khoá do Bộ Tài chính chịu trách nhiệm thực hiện còn CSTT do NHNN điều hành. 1.2. Mục tiêu của CSTT và CSTK  Mục tiêu của CSTT: CSTT có 4 mục tiêu chính: - Lạm phát thấp. - Ổn định thị trường tài chính. - Ổn định lãi suất. - Tỷ lệ thất nghiệp thấp. - Tăng trưởng kinh tế thường được ưu tiên hơn tỷ lệ thất nghiệp.  Mục tiêu của CSTK: CSTK có 2 mục tiêu: - Ổn định và tăng trưởng kinh tế. - Tỷ lệ thất nghiệp thường được ưu tiên hơn tỷ lệ lạm phát thấp. 1.3. Nội dung của CSTT và CSTK  Nội dung cơ bản của CSTK là kiểm soát thu chi ngân sách do những khoản thu chi này có tác động trực tiếp đến tăng trưởng, lạm phát và nhiều chỉ số kinh tế vĩ mô khác. Vì thế, CSTK được coi là một trong những chính sách quan trọng đối với việc ổn định và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô, một CSTK vững mạnh sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và làm cơ sở để các DN đưa ra các quyết định đầu tư lớn. Trong mối quan hệ với giá cả, CSTK là một trong những nguyên nhân cơ bản của lạm phát, một sự nới lỏng CSTK đều gây áp lực tăng giá cả hàng hóa dịch vụ trên hai kênh là thúc đẩy tăng tổng cầu và tài trợ thâm hụt.  Nội dung quan trọng nhất của CSTT là việc cung ứng tiền cho nền kinh tế. Việc cung ứng tiền có thể thông qua con đường tín dụng, cũng có thể thông qua hoạt động của thị trường mở (mua bán giấy tờ có giá), thị trường hối đoái (mua bán ngoại tệ) và để điều Trang 6 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4 tiết mức tiền cung ứng, NHTW các nước sử dụng các công cụ khác nhau như lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc… CSTT là công cụ của NHTW để điều tiết quá trình cung ứng tiền, lãi suất và tín dụng, kết quả là chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền để đạt mục tiêu chính sách đề ra. Một CSTT nới lỏng sẽ làm tăng cung tiền, giảm lãi suất, qua đó thúc đẩy tăng tổng cầu và gây áp lực lạm phát nếu cung tiền tăng quá mức so với sản lượng tiềm năng. 1.4. Sự tác động qua lại của hai chính sách  CSTK tác động đến CSTT trước hết qua kênh tài trợ thâm hụt ngân sách: Nếu thâm hụt ngân sách được tài trợ từ vay nước ngoài sẽ ảnh hưởng đến cán cân thanh toán, nếu tài trợ bằng cách vay từ NHTW thì sẽ làm tăng lượng tiền cung ứng và mặt bằng giá cả, nếu thâm hụt ngân sách được bù đắp bằng cách vay từ các NHTM thì nguồn vốn cho vay các khu vực kinh tế ngoài quốc doanh sẽ giảm, hạn chế năng lực đầu tư của các khu vực kinh tế này và ảnh hưởng xấu đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, CSTK còn ảnh hưởng đến dòng vốn quốc tế và khả năng của NHTW trong việc kiểm soát luồng ngoại tệ, nếu chính sách thu chi ngân sách không hợp lý thì sẽ tác động tiêu cực đến hiệu quả phân bổ nguồn lực và làm tăng rủi ro liên quan đến dòng vốn quốc tế.  CSTT tác động đến CSTK tùy theo mức độ điều chỉnh các công cụ CSTT, một CSTT thắt chặt sẽ làm giảm đầu tư, khả năng thu thuế và nguồn thu ngân sách, một sự giảm giá nội tệ sẽ làm gia tăng khoản nợ Chính phủ bằng ngoại tệ qui đổi, nếu NHTW điều chỉnh tăng lãi suất thì giá trái phiếu Chính phủ sẽ giảm và ảnh hưởng đến khả năng cân đối ngân sách.  Các khoản thu chi của Chính phủ được phản ánh rõ qua các giao dịch trên tài khoản kho bạc mở tại NHTW hoặc các NHTM, tiền gửi kho bạc tăng cao sẽ làm giảm nguồn vốn khả dụng của các NHTM , qua đó làm tăng lãi suất liên ngân hàng. Tiền gửi của Chính phủ tại NHTW chiếm tỉ trọng lớn trong tiền cơ bản, nên cũng là yếu tố quan trọng làm thay đổi tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, việc chuyển tiền hai chiều trên tài khoản của Chính phủ tại NHTW sẽ gây biến động đến tiền cơ bản. Đây là những yếu tố gây áp lực đến việc kiểm soát cung tiền và thực thi CSTT, việc kiểm soát cung tiền và lãi suất sẽ khó khăn hơn nếu một phần tiền gửi kho bạc được gửi tại các NHTM.  Để hạn chế những tác động bất lợi giữa CSTK và CSTT, cả hai chính sách này phải nhất quán về mặt mục tiêu, phải tạo ra sự đồng bộ và bổ sung cho nhau trong quá trình thực thi. Khi bù đắp thâm hụt ngân sách, Bộ Tài chính có thể phát hành trái phiếu Chính Trang 7 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4 phủ và NHTW mua vào, tạo thêm công cụ để điều tiết thị trường tiền tệ. Trong quá trình thực thi CSTK, việc tài trợ thâm hụt và các khoản thu chi lớn của Chính phủ phải có kế hoạch và được thông báo trước cho NHTW, giúp NHTW dự báo được diễn biến cung tiền để kịp thời điều chỉnh theo mục tiêu đề ra và đảm bảo hiệu quả của CSTT.  Mối quan hệ giữa CSTT và CSTK cũng được chứng minh qua mô hình IS-LM. Theo mô hình này, tăng chi tiêu của Chính phủ có tác động làm tăng cung tiền, làm giảm lãi suất trên thị trường tiền tệ. Ngược lại, tăng thu thuế có tác động làm tăng lãi suất vì khi đó cung tiền giảm. Mô hình IS-LM giúp các nhà hoạch định chính sách điều chỉnh CSTT và CSTK, để có tác động thích hợp lên tổng cầu và lãi suất trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, mô hình Timbergen của nhà kinh tế học cùng tên người Hà Lan có thể giúp các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô tìm kiếm được sự phối hợp hiệu quả giữa CSTT và CSTK. 1.5. Sự giống và khác nhau của hai chính sách a) Giống nhau  Đều là hai công cụ trọng yếu giữ vai trò quyết định trong việc quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế.  Cùng theo đuổi mục tiêu chung là tăng trưởng kinh tế bền vững và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. b) Khác nhau: khác nhau chủ yếu tại phần mục tiêu theo đuổi của 02 chính sàch  CSTK là tổng hợp các quan điểm, cơ chế và phương thức huy động các nguồn hình thành ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính có tính chất tập trung của Nhà nước nhằm mục tiêu phục vụ các khoản chi lớn của ngân sách nhà nước theo kế hoạch từng năm tài chính, gồm: Chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, bổ sung quỹ dự trữ quốc gia, trả nợ trong và ngoài nước đến hạn.  CSTT là việc thực hiện tổng thể các biện pháp, sử dụng các công cụ của NHNN nhằm góp phần đạt được mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô thông qua việc chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền. Trang 8 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4 1.6. Sự cần thiết của việc phối hợp nhịp nhàng hai chính sách trong việc quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế  Trong thực tế nền kinh tế vẫn chưa có sự phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả và đồng bộ giữa Bộ Tài chính và NHNN trong thực thi CSTK và CSTT. Việc điều hành CSTT được giao cho NHNN đảm nhận còn CSTK giao cho Bộ Tài chính đảm nhận. Ở Việt Nam trong những thời điểm nhất định vẫn tồn tại những xung đột lợi ích giữa NHNN và Bộ Tài chính, theo đó NHNN ưu tiên thực mục tiêu CSTT còn Bộ Tài chính ưu tiên thực hiện dự toán ngân sách nhà nước được duyệt. M ỗi cơ quan chỉ tập trung ưu tiên thực hiện các mục tiêu của CSTT hoặc CSTK được giao phó thì chính sách tài khoá có thể gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả của CSTT hoặc ngược lại. Mỗi chính sách theo đuổi những mục tiêu và giải pháp khác nhau sẽ dẫn tới sự xung đột ngoài quy luật thị trường.  Đôi khi CSTK để đạt được một số mục tiêu đề ra đã gây hậu quả xấu cho việc thực thi các mục tiêu của CSTT và ngược lại. CSTK và CSTT nếu thiếu đi sự phối hợp nhịp nhàng trong quá trình thực thi chính sách sẽ gây ra những tác động đối kháng lẫn nhau, phá vỡ qui luật của thị trường, làm ảnh hưởng xấu đến mục tiêu tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa CSTK và CSTT cần được hiểu là phải đảm bảo giải quyết các tác động của hai chính sách tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn và dài hạn. Trong ngắn hạn, hai chính sách phải phối hợp nhằm đạt được các mục tiêu của từng chính sách một cách có trật tự, bao gồm cả ổn định giá. Trong dài hạn, hai chính sách phải phối hợp phải đảm bảo được lợi ích cân bằng giữa mục tiêu của từng chính sách với mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững, kiềm chế lạm phát. Trang 9 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4 CHƯƠN G 2: SỰ PHỐI HỢP 02 CHÍNH SÁCH NÀY TRON G NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TỪ CUỐI NĂM 2007 CHO ĐẾN NAY 2.1 . Giai đoạn từ cuối năm 2007 đến tháng 09/2008  Từ cuối năm 2007, kinh tế thế giới biến động mạnh và bước vào thời kỳ suy thoái, gây ra những bất ổn khó lường đối với nền kinh tế Việt Nam, thị trường tài chính trong nước chao đảo mạnh, đe dọa tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng, lãi suất và tỉ giá biến động mạnh, lạm phát liên tục leo thang. Để ổn định thị trường, NHNN, Bộ Tài chính và các bộ, ngành đã có nhiều biện pháp can thiệp quyết liệt, kịp thời và có hiệu quả, từng bước giải quyết các vấn đề phát sinh.  Từ tháng 6/2007 đến tháng 9/2008, NHNN đã thực hiện CSTT thắt chặt để chống lạm phát, nhưng CSTK vẫn duy trì mức bội chi như thường lệ, nỗ lực chống lạm phát vì thế không đạt được hiệu quả như mong đợi, mặc dù nguy cơ khủng hoảng bị đẩy lùi. Nói đúng hơn, trong khi CSTT thắt chặt thì CSTK lại nới lỏng, khiến áp lực lạm phát và lãi suất tăng. Khi đó, CSTK mới bắt đầu điều chỉnh theo hướng giảm tỉ lệ thâm hụt xuống dưới 3% GDP, cắt giảm 10% chi thường xuyên, v.v. Như vậy có thể thấy có sự hạn chế trong quá trình phối hợp giữa hai chính sách và đã tạo ra những mâu thuẫn lợi ích đối kháng hoặc CSTK đã làm giảm hiệu quả của CSTT. Dẫn chứng:  Mặc dù thâm hụt ngân sách nhà nước được khống chế không vượt quá 5% GDP, nhưng trong một khoảng thời gian khá dài từ 2000 – 2007 thâm hụt ngân sách nhà nước luôn ngấp nghé mức 5%, khiến cho nợ chính phủ dù được giữ ở mức cố định 5% GDP, nhưng cũng tăng liên tục do GDP tăng trưởng qua từng năm và đã tạo ra mầm mống lạm phát tích lũy qua nhiều năm. Bảng : Thâm hụt ngân sách và GDP qua các năm. Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Thâm hụt NS(%) 4.98 4.96 4.78 4.9 4.85 4.86 5 5 GDP ( Tỷ đồng) 441,646 481,295 535,762 613,443 715,307 839,211 974,266 1,143,715 Nguồn : Tổng cục thống kê Việt Nam  Thậm chí dự toán ngân sách nhà nước năm 2008 đã được thông qua (11/2007) với tỷ lệ bù đắp thâm hụt vẫn ở mức 5% GDP trong điều kiện lạm phát ở năm 2007 đã vượt 2 con số. Lẽ ra, đầu năm 2008, Quốc hội cần họp để điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước theo hướng giảm mức thâm hụt ngân sách, cắt giảm chi tiêu thường xuyên, đặc biệt là Trang 10 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4 cắt giảm chi đầu tư các công trình chưa thực sự cần thiết để kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, mục tiêu lạm phát năm 2008 đặt ra không vượt quá tỷ lệ lạm phát năm 2007.  Để đạt được mục tiêu này, trong điều kiện thiếu sự phối hợp của CSTK, NHNN đã tiến hành tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên 11% (dưới 12 tháng), 5% (từ 12 tháng trở lên) và phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu phân bổ bắt buộc cho 41 TCTD để giảm bớt lượng tiền trong lưu thông. Việc hệ thống NHTM phải mua tín phiếu bắt buộc gần 20.300 tỷ đồng và phải tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên đã khiến cho tính thanh khoản của hệ thống NHTM bị giảm sút nghiêm trọng, cuộc đua lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm và lãi suất vay qua đêm tăng vọt trong thời điểm lãi suất cơ bản chưa được NHNN điều chỉnh đã buộc NHTM phải cắt giảm các khoản tín dụng cho vay, làm ảnh hưởng đến các ngành nghề kinh doanh như chứng khoán, địa ốc, xuất nhập khẩu. Công cụ đơn lẻ của CSTT thiếu sự phối hợp của CSTK đầu năm 2008 xem như không đạt được hiệu quả kiềm chế lạm phát, chỉ số giả cả bắt đầu bùng nổ trong điều kiện giá cả dầu thô, lương thực, vật liệu xây dựng tăng đột biến, nhập siêu cao hơn so với cùng kỳ năm trước.  Diễn biến này cho thấy CSTT “thắt chặt” trong khi CSTK lại “nới lỏng” khiến áp lực lạm phát và lãi suất tăng. Đó là lý do chính khiến các chuyên gia cho rằng, NHNN và Bộ Tài chính lệch pha nhau trong việc điều hành chính sách tài chính – tiền tệ. Điều này cho thấy CSTK và CSTT trong một chừng mực nào đó hoàn toàn chưa có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ trong ngắn hạn. CSTT chưa thực sự độc lập hoặc còn bị phụ thuộc và bị chi phối mạnh mẽ bởi CSTK để đạt được một số mục tiêu của CSTK.  Do chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa 02 chính sách nên nỗ lực chống lạm phát vì thế không đạt được hiệu quả như mong đợi, mặc dù nguy cơ khủng hoảng bị đẩy lùi nhưng không đạt được hiệu quả kiềm chế lạm phát, chỉ số giả cả bắt đầu bùng nổ trong điều kiện giá cả dầu thô, lương thực, vật liệu xây dựng tăng đột biến, nhập siêu cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Trước tình hình này, CSTK mới bắt đầu điều chỉnh lại theo hướng tỷ lệ thâm hụt giảm xuống dưới 3% GDP, cắt giảm 10% chi thường xuyên…  Từ tháng 6/2007 đến tháng 9/2008, NHNN đã thực hiện CSTT thắt chặt để chống lạm phát, nhưng CSTK vẫn duy trì mức bội chi như thường lệ, nỗ lực chống lạm phát vì thế không đạt được hiệu quả như mong đợi, mặc dù nguy cơ khủng hoảng bị đẩy lùi. Trang 11 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4 2.2. Giai đoạn từ tháng 09/2008 đến cuối năm 2009  Từ tháng 10/2008 đến nay, Chính phủ chủ trương nới lỏng CSTT và CSTK để hỗ trợ phục hồi kinh tế sau khủng hoảng. Đối với CSTT, NHNN đã điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, đồng thời tăng cường nguồn vốn huy động, đáp ứng nhu cầu mở rộng tín dụng trong nền kinh tế. Đối với CSTK, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 11/12/2008 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, bao gồm 5 nhóm giải pháp cơ bản, trong đó kích cầu kinh tế là một trong những giải pháp ưu tiên hàng đầu. Bên cạnh khoản 36.000 tỉ đồng trái phiếu Chính phủ và hàng loạt chính sách an sinh xã hội và phát triển hạ tầng nông thôn, miễn giảm một số loại thuế, hoãn thu hồi vốn đầu tư xây dựng cơ bản ứng trước 2009, phát hành trái phiếu Chính phủ bổ sung, …. Chính phủ đã dùng 1 tỉ USD để hỗ trợ giảm 4% lãi suất (thời hạn 8 tháng) và 20.000 tỉ đồng (thời hạn 24 tháng). Kích cầu kinh tế là một trong những giải pháp ưu tiên hàng đầu, cụ thể: 1. Tiền tệ: hỗ trợ 4% lãi suất cho vay để phục hồi sản xuất, xuất khẩu, đầu tư mới, để nông dân mua máy móc, vật tư. 2. Tài chính: miễn, giảm, hoãn một số thuế như thế thu nhập DN, thuế thu nhập cá nhân, thuế trị giá gia tăng. 3. Đầu tư: tăng thêm vốn đầu tư mới, ứng trước vốn năm 2010… Do vậy, gói kích thích kinh tế được Chính phủ quyết định từ tháng 2 năm nay là một hệ giải pháp khá toàn diện, không chỉ là hỗ trợ lãi suất tín dụng thông qua các NHTM, mà còn là các giải pháp về tài chính và đầu tư.  Về vấn đề kích cầu, NHNN đã thực hiện đúng nguyên tắc với nhiều giải pháp thích hợp nhằm hướng các khoản vay đúng đối tượng, kiểm soát chặt chẽ việc cho vay hỗ trợ lãi suất và hạn chế rủi ro hệ thống. Nhờ đó, các tổ chức, cá nhân đã tiếp cận được vốn ngân hàng với chi phí thấp, giảm giá thành sản phẩm, duy trì sản xuất kinh doanh và việc làm, từng bước khắc phục khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới. Gói kích cầu đã đạt được 3 mục tiêu đề ra, là hỗ trợ được đúng đối tượng, đặc biệt là các hộ gia đình và cá nhân ở khu vực nông thôn; bảo đảm duy trì và thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển; hỗ trợ các DN trong nước vượt qua khó khăn trong giai đoạn khủng hoảng. Hiệu quả của gói kích cầu là nền kinh tế Việt Nam đã vượt qua giai đoạn khó khăn, đang chuyển biến tích cực và có dấu hiệu phục hồi rõ nét. Cụ thể, GDP quý III/2009 tăng 5,5% cao hơn mức 4,5% của quý II/2009 và mức 3% trong quý I/2009. Trang 12 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4  Đến thời điểm hiện nay, phần lớn các chuyên gia cho rằng khả năng lạm phát quay trở lại năm 2010 là có cơ sở vì: Tiền được bơm ra từ gói kích thích kinh tế; nhập siêu thương mại; giá nguyên vật liệu (trong và ngoài nước tăng; bội chi Ngân sách nhà nước tăng cao; hiệu quả đầu tư giảm xuống với chỉ số ICOR ngày càng tăng; sức mua tiêu dùng dân cư tăng; USD suy yếu gây áp lực lên VND; lạm phát thế giới có xu hướng gia tăng...Tuy nhiên, với mức thâm hụt ngân sách khá cao để nới lỏng CSTT và CSTK, nguồn vốn trong nền kinh tế dường như đã bị cạn kiệt, có thể ảnh hưởng đến giá trị VND và gây áp lực tăng lãi suất, nhiều ngân hàng đã tăng lãi suất huy động đến sát trần qui định 10%, nhất là từ cuối tháng 10/2009. NHNN ngày 25/11 đã phải ra quyết định tăng LSCB lên 8% và điều chỉnh tỉ giá VND/USD tuy điều này không nhất quán với tuyên bố ổn định LS trước đây. Dù NHNN không công bố chính thức, nhưng với những động thái như: Khống chế tăng trưởng tín dụng, không mở rộng quy mô thị trường mở, tăng LSCB, điều chỉnh tỉ giá, người ta cảm thấy rõ rệt CSTT đang có sự chuyển đổi theo hướng thắt chặt tiền tệ, trong khi đó CSTK vẫn đang trong tình trạng nới lỏng. Thực trạng CSTT và CSTK thời gian qua cho thấy, mặc dù hai chính sách này đã được tận dụng tối đa và phối hợp khá chặt chẽ, nhưng giới hạn chính sách đang cản trở những tác động tích cực và làm nảy sinh nhiều hệ lụy cho thời gian tới. Điều này cũng do CSTT linh hoạt hơn so với CSTK, việc thay đổi lượng tiền cung ứng sẽ làm thay đổi mức lãi suất và NHNN có thể tác động đến đầu tư, xuất khẩu ròng và tiêu dùng trong ngắn hạn. Trong đó, NHNN có thể sử dụng CSTT để điều chỉnh mức lạm phát, gây tác động lên năng suất lao động và tăng trưởng GDP tiềm năng trong dài hạn. Tuy nhiên, rất khó thay đổi CSTK do Chính phủ lập kế hoạch chi tiêu, thuế và thâm hụt ngân sách, kế hoạch ngân sách hàng năm do Quốc hội thông qua, điều này tạo ra sự lệch pha so với CSTT. 2.3. Các ý kiến xoay quanh vấn đề có nên tiếp tục thực hiện gói kích cầu thứ hai trong năm 2010 và Quan điểm của Nhóm. 2.3.1. Quan điểm không tiếp tục duy trì gói kích cầu  Một trong những tác động trái của chính sách kích cầu là ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các DN và tạo tâm lý ỷ lại vào hỗ trợ của Nhà nước.  Việc thực hiện các chính sách hỗ trợ lãi suất, tăng chi tiêu của ngân sách Nhà nước làm tăng tổng cầu có khả năng thanh toán gây tiềm ần nguy cơ lạm phát.  Tác động của gói kích thích kinh tế và thực hiện CSTT, sự gia tăng tín dụng, chính sách tài khoá nới lỏng, sức ép lạm phát sẽ tăng cao. Trang 13 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4  Trong 4 gói đã được triển khai là: gói hỗ trợ lãi suất 4%; gói hỗ trợ tiêu dùng; gói hỗ trợ đầu vào và đầu tư cho các công trình xây dựng cơ bản, thì gói hỗ trợ lãi suất có tác động mạnh nhất. Tuy nhiên, xét về thực chất, đây là gói “giải cứu” chứ không phải là gói kích cầu. Gói này đã giải thoát nhiều DN khỏi tình trạng “ách tắc” lưu thông vốn do gánh nặng nợ xấu (nợ không trả được do lãi suất vay quá cao năm 2008). Kích hoạt nền kinh tế, giúp các DN và ngân hàng thoát khỏi “điểm chết”, gói kích cầu này đã hoàn thành sứ mệnh “giải cứu” nền kinh tế.  Sứ mệnh kích cầu là giúp nền kinh tế vượt qua “điểm chết”. Đến nay, sứ mệnh đó đã hoàn thành. Do vậy, không nên thực hiện kích cầu trong năm 2010. Bởi, kích cầu luôn luôn cung ứng vốn với điều kiện dễ dãi, có lợi cho người vay, thiệt hại trực tiếp cho ngân sách và đặc biệt là gây tổn hại nguyên tắc thị trường của cơ chế phần bổ nguồn lực, làm méo mó môi trường kinh doanh.  Trong gói kích cầu này Chính phủ cũng phải chi ngân sách để cấp bù lãi suất cho các NHTM. Tổng cục Thuế cho biết, chủ trương giảm, miễn thuế sẽ tạo ra khoảng 20.000 tỷ đồng kích thích tiêu dùng, đầu tư và sản xuất. Con số này có nghĩa là ngân sách nhà nước giảm thu một khoản tương ứng. Do thực hiện các giải pháp trên đây, dự báo bội chi ngân sách năm nay là 6,9% GDP, cao hơn 40% của mức bội chi gần 5% trong nhiều năm trước đó.  Tiếp tục gói kích cầu sẽ dẫn đến một số tình trạng tiêu cực như, cò tín dụng, sai lệch trong đối tượng được hỗ trợ, nguồn tiền hỗ trợ giải ngân được sử dụng không hiệu quả, tham ô, tham nhũng nguồn tiền hỗ trợ của ngân sách nhà nước… 2.3.2 Quan điểm duy trì  Cho đến nay, mặc dù nền kinh tế đã có sự hồi phục nhưng vẫn có gì đó chưa thật rõ ràng. Nền kinh tế Việt Nam thực tế vẫn phụ thuộc nhiều ở bên ngoài, đặc biệt là đầu tư và thương mại. Việc Việt Nam hồi phục được, không chỉ nhờ có gói kích cầu 17.000 tỷ đồng mà còn nhờ sự hồi phục của nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, sự khởi sắc của các nền kinh tế khác vẫn còn yếu ớt, có cái lên và cũng có cái xuống.  Gói kích cầu cần được duy trì để giúp nền kinh tế phục hồi thực sự, giúp việc tái cấu trúc nền kinh tế quốc gia diễn ra hoàn chỉnh.  Nông dân vẫn chưa thực sự tiếp cận được với gói hỗ trợ lãi suất của chính phủ do đó cần phải tiếp tục kéo dài thời gian hỗ trợ để nông dân tiếp cận được nguồn vốn phát triển kinh doanh. Trang 14 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4 2.3.3. Quan điểm và kiến nghị của nhóm đối với gói kích cầu thứ hai Quan điểm về gói kích cầu thứ hai:  Mặc dù nhận định rằng nền kinh tế Việt Nam “hết bệnh nhưng chưa chắc đã khỏe”, và cần kéo dài thời gian bù lãi suất, nhưng Nhóm cho rằng không cần có thêm một gói hỗ trợ lãi suất ngắn hạn mới vì mục tiêu của chương trình hỗ trợ lãi suất ngắn hạn là giúp DN có vốn mua nguyên liệu, bảo đảm việc làm cho công nhân và vấn đề này nay đã được giải quyết.  Còn chương trình hỗ trợ lãi suất trung - dài hạn (24 tháng) là nhằm giúp DN đổi mới công nghệ, tái cơ cấu hoạt động trong giai đoạn dài hơn. Tuy nhiên, do DN vừa mới thoát khỏi khó khăn, nên ít có DN nào chuẩn bị được phương án để vay vốn của chương trình này. Trong khi đó, thời hạn giải ngân vốn hỗ trợ lãi suất trung dài hạn được ấn định là chỉ đến hết 31-12-2009. Vì vậy, cần kéo dài thời hạn giải ngân của chương trình hỗ trợ lãi suất trung - dài hạn để DN có thời gian tập trung chuyển đổi cơ cấu, đổi mới công nghệ.  Việc hỗ trợ cho dự án đầu tư, bảo lãnh cho DN vay vốn đầu tư sản xuất hay mua sắm thiết bị, tài sản cố định thì nên duy trì. Hỗ trợ này có tác động dài đến nền kinh tế và còn 1 khía cạnh khác rất quan trọng là từng bước cơ cấu dần lại nền kinh tế.  Tiếp tục thực hiện hỗ trợ vốn cho người nông dân. Một số kiến nghị của nhóm đối với gói kích cầu thứ hai  Gói kích cầu thứ hai nên đặt trọng tâm vào CSTK (bao gồm chính sách thuế, chi tiêu chính phủ) và cải cách hành chính, nhằm làm cho chính sách sớm và dễ dàng đi vào hoạt động kinh doanh của DN. Trong CSTK, nên tập trung ưu tiên cho những ngành nghề, những lĩnh vực tạo ra những mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động. Có mức ưu đãi (có thể khác nhau) cho từng DN mà tiêu chí hiệu quả được đặt lên hàng đầu chứ không phải là thành phần kinh tế, kèm theo đó là những chế tài cụ thể bằng tiền nếu DN không đạt những gì mà họ cam kết khi nhận sự trợ giúp từ gói kích cầu của Chính phủ. Ngoài chính sách thuế thì vấn đề cải cách hành chính và thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng nên được quan tâm chú ý.  Đối với các gói kích cầu hiện nay, cần tăng cường kiểm soát chất lượng các khoản tín dụng hỗ trợ lãi suất, kiểm soát tín dụng cho các mục tiêu kinh doanh chứng khoán và bất động sản.  Sự phục hồi của kinh tế thế giới là chậm, triển vọng của kinh tế Việt nam là còn nhiều khó khăn trước mắt. Các chính sách của chính phủ trong thời gian gần đây là tương Trang 15 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4 đối trúng và cơ bản là kịp thời, đặc biệt là gói kích cầu thứ nhất và các giải pháp kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên cần phải tính liều lượng của gói kích cầu thứ 2 để đảm bảo các cân đối vĩ mô đặc biệt là tránh lạm phát cao trở lại. Nên cân đối mục tiêu giữa tăng trưởng và ổn định vĩ mô, cần phải thiết kế cụ thể gói kích cầu thứ 2 làm sao cho hiệu quả, đủ liều lượng và trúng mục tiêu (hỗ trợ DN, kích thích tiêu dùng, và kích thích thông qua đầu tư công). Gói kích cầu thứ 2 cần phải được giám sát tốt và đảm bảo tính giải trình cao, tránh thất thoát, lãng phí, không hiệu quả. Đồng thời nên có các đánh giá kịp thời về gói kích cầu này; nên chú trọng về tính dài hạn và trung hạn của gói kích cầu số thứ 2, chú trọng các vấn đề an sinh xã hội, cần có chiến lược thoát khỏi khủng hoảng và khó khăn từ bây giờ để đón đầu cơ hội. 2.3.4. Một số định hướng của CSTT trong năm 2010  Hướng tới tăng trưởng tín dụng hợp lý: Gần đây NHNN đã phát đi tín hiệu về khống chế tăng trưởng tín dụng 25% trong 2010 chỉ cao hơn một chút so với 2008 và thấp hơn so với mức tăng trưởng tín dụng năm 2009 là 37.73% nhằm thắt chặt CSTT để chống lạm phát. Theo đó, năm 2010, tăng trưởng tín dụng dự kiến sẽ bị kiểm soát chặt chẽ, tốc độ tăng trưởng sẽ bị siết chặt và chỉ bằng khoảng 2/3 so với năm 2009. Cụ thể, NHNN sẽ khống chế tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế chỉ tăng khoảng 25% trong 2010, thấp hơn nhiều so với mức 37,73% năm 2009. Định hướng này sẽ đảm bảo lãi suất không quá căng cho năm 2010.  Cung ứng tiền hợp lý: NHNN nhấn mạnh rằng năm tới sẽ tập trung điều hành cung ứng tiền mặt một cách chặt chẽ cùng với việc kiểm soát chặt tăng trưởng tín dụng đó là định hướng CSTT phù hợp trong điều kiện chỉ số CPI đang có chiều hướng đi lên.  Tỷ giá linh hoạt, đảm bảo cân bằng: Với dự báo là năm 2010, diễn biến tiền tệ thế giới vẫn phức tạp (nhất là các đối tác thương mại chủ chốt của Việt Nam), dự báo về cán cân thanh toán của Việt Nam (nhất là cán cân thương mại vẫn thâm hụt đáng kể) thì Chính phủ sẽ chắc chắn thực hiện điều hành tỷ giá linh hoạt hơn, đảm bảo thị trường không bị đình đốn trong khi vẫn khuyến khích xuất khẩu và không làm tăng quá mức gánh nặng nợ lên các DN vay vốn ngoại tệ.  Hướng dòng vốn cho khu vực sản suất thực, giảm bớt đầu cơ quá mức: Khi dòng vốn ngân hàng đảm bảo tập trung vốn cho sản xuất sẽ có sự chuyển dịch vốn theo ngành, lĩnh vực, địa bàn, kỳ hạn và khách hàng cho vay; hạn chế cho vay các nhu cầu phi sản xuất. Đặc biệt khi dòng vốn được định hướng đúng đắn, tình trạng bong bóng (chứng Trang 16 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4 khoán, nhà đất, vàng…) sẽ giảm và qua đó sẽ không gây áp lực lên khu vực ngân hàng, lãi suất sẽ ổn định. Chính phủ cần giảm bớt (hoặc kiểm soát chặt) tình trạng đầu cơ thái quá trong nền kinh tế (như sử dụng các công cụ đòn bẩy tài chính quá mức trên TTCK, tiền tệ; các loại kinh doanh quá mạo hiểm không cần thiết cho khu vực sản xuất vật chất...).  Tiếp tục nâng cao quản trị rủi ro tại các NHTM so với vốn ngày càng tăng: Theo định hướng của NHNN, đến năm 2010, các NHTMCP VN phải đạt 3.000 tỷ VND. Cùng với mở rộng mạng lưới hoạt động, đưa thêm công cụ mới vào hoạt động trong thời gian qua, các NHTM đang lớn lên nhưng vấn đề quản lý lại chưa theo kịp (nhất là quản lý tài sản nợ, tài sản có và trong đó có quản lý rủi ro lãi suất). Trên phương diện quản lý (cả vĩ mô và vi mô), định hướng cho năm 2010, các NHTM này cần chứng tỏ rằng NHTM vốn càng lớn, quy mô càng lớn thì vấn đề quản trị, quản lý cũng được nâng cao và mạnh tương ứng. Khi các vấn đề về quản lý ở các NHTM (khu vực vi mô) này tốt, chắc chắn CSTT của NHNN (vĩ mô) sẽ hiệu quả hơn nhiều.  Cải cách luật phù hợp với tình hình mới về tiền tệ và ngân hàng: Các luật ngân hàng (Luật NHNN, Luật các TCTD) rõ ràng cũng đang cần được cải cách phù hợp với tình hình mới khi thị trường tài chính Việt Nam đã phát triển, hội nhập sâu rộng hơn cuối những năm 1990 rất nhiều. Trong đó, có vấn đề đáng quan tâm như: có hay không có “lãi suất cơ bản”; NHTM được kinh doanh/cho vay chứng khoán, kinh doanh /cho vay bất động sản hay vàng... đang được xã hội mong đợi một định hướng rõ ràng. Trang 17 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NÂNG CAO SỰ PHỐI HỢ P NHỊP NHÀNG VÀ ĐỒNG BỘ GIỮA CSTK VÀ C STT TRONG VIỆC QUẢN LÝ, ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ NỀN KINH TẾ.  CSTT và CSTK quốc gia là hai bộ phận trọng yếu trong hệ thống chính sách vĩ mô, điều tiết nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa; là hai chính sách riêng biệt nhưng khi hoạch định và thực thi CSTT và chính sách tài khoá quốc gia luôn tập trung vào mục tiêu thúc đẩy nền kinh tế thị trường tăng trưởng ổn định và bền vững.  CSTT và CSTK có mối quan hệ chặt chẽ đan xen và ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình hoạch định và thực thi. Để tăng cường hiệu quả thực thi CSTT và CSTK quốc gia, cần thiết phải có sự kết hợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa hai chính sách nêu trên để tăng cường hiệu quả thực thi của từng chính sách.  Thực tế đã chứng minh, nếu có được sự phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ sẽ có những tác động tích cực đến điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tránh phát sinh những xung đột về lợi ích giữa hai chính sách làm giảm hiệu quả điều tiết vĩ mô kinh tế và phá vỡ các quy luật thị trường. Khi đó CSTK sẽ tăng cường hiệu quả thực thi CSTT và ngược lại.  Các giải pháp thực thi CSTK nếu được cân nhắc và phối hợp kịp thời với CSTT, phù hợp với điều kiện cụ thể thì các mục tiêu CSTK đạt được sẽ là “bước đệm” tạo điều kiện hỗ trợ tích cực cho việc thực thi CSTT. CSTK đảm bảo được thu ngân sách, cắt giảm chi tiêu thường xuyên, kiểm soát chặt chẽ chi đầu tư xây dựng cơ bản, mở rộng diện nộp thuế, ban hành các loại thuế mới, giảm thuế suất, giảm bội chi tất cả hướng về mục tiêu cân đối thu – chi ngân sách nhà nước đồng thời ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát và giảm phát trong ngắn hạn lẫn dài hạn. Ngược lại, các giải pháp thực thi CSTT cũng được cân nhắc và phối hợp kịp thời với CSTK nhằm đảm bảo lãi suất vừa kiềm chế lạm phát vừa tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển qua đó tạo điều kiện góp phần tăng thu ngân sách nhà nước, giảm bội chi ngân sách nhà nước, giữ giá đồng nội tệ, giảm gánh nặng nợ công bằng ngoại tệ do đồng nội tệ mất giá, kiểm soát hợp lý tốc độ tăng trưởng tín dụng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, kiềm chế lạm phát và giảm phát. Việc hoạch định và thực thi CSTT phải đảm bảo duy trì tính ổn định của kinh tế vĩ mô trong khuôn khổ điều tiết lãi suất thị trường theo hướng kiềm chế lạm phát, ổn định sức mua đồng tiền, kiểm soát tỷ giá, huy động vốn và cung cấp vốn cho thị trường; phát triển hệ thống ngân hàng tạo cơ sở thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, bền vững qua đó tạo điều kiện tăng nguồn thu và huy động vốn để bù đắp thâm hụt cho ngân sách nhà nước. Trang 18 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4  Đối với CSTT: NHNN cần xem xét lại mức khống chế lãi suất cho vay hoặc tăng lãi tiền dự trữ bắt buộc để đảm bảo hoạt động tín dụng của NHTM không bị lỗ, tránh tình trạng một số ngân hàng phải ngưng hoạt động tín dụng gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh do không thể tiếp cận được vốn vay hoặc chi phí lãi suất đi vay quá cao. Bên cạnh đó, NHNN phải duy trì hoạt động giám sát chặt chẽ việc mua, bán ngoại tệ để tránh tình trạng đầu cơ ngoại tệ, những cơn “sốt giá ảo” khiến cho tỷ giá gia tăng đột biến gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và dư nợ nước ngoài của ngân sách nhà nước bị gia tăng do nội tệ mất giá vì yếu tố đầu cơ. NHNN ngoài việc tạm ngưng cho phép thành lập mới NHTM cần phải rà soát để tiến hành sáp nhập các NHTM có quy mô nhỏ để tăng sức mạnh về vốn và trình độ quản lý, mở rộng quy mô để tránh các cuộc chạy đua lãi suất huy động tiền gửi giữa các NHTM.  Đối với CSTK: phải nỗ lực tập trung các khoản thu, chi ngân sách nhà nước nhằm đạt được mục tiêu ổn định nền kinh tế, chính trị, xã hội quốc gia, phát triển nền kinh tế vĩ mô bền vững, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, xác lập cơ sở kinh tế cho việc thực thi CSTT có hiệu quả, kiểm soát lạm phát, giữ sức mua của đồng tiền ổn định và phát triển thị trường tiền tệ. Thu, chi ngân sách và tín dụng nhà nước phải gắn chặt với nguyên tắc giữ ổn định tiền tệ. Song song với việc tăng thu ngân sách nhà nước, CSTK cần phải cắt giảm các khoản chi tiêu công theo hướng tiếp tục cắt giảm các khoản chi thường xuyên, tỷ lệ vốn chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước phải được cắt giảm qua từng năm theo hướng “nhà nước và nhà đầu tư cùng làm” bằng cách kêu gọi đầu tư hoặc đổi đất dự án cho các tập đoàn nước ngoài để lấy hạ tầng cơ sở nhằm giảm bớt gánh nặng nợ công. 3.1 Tăng cường sự phối hợp giữa Bộ Tài chính và NHNN  Thiết lập mối quan hệ liên thông thường xuyên, liên tục trong quá trình hoạch định và thực thi CSTT và chính sách tài chính giữa Bộ Tài chính và NHNN. Mối liên hệ phải thực hiện thông qua thông tin trao đổi, ý kiến đóng góp hoặc ý kiến tham mưu qua lại để hỗ trợ lẫn nhau trong hoạch định và thực thi từng chính sách. Xây dựng cơ chế cung cấp thông tin giữa NHNN và các Bộ, Ngành khác để có thể dự báo chính xác nhu cầu vốn khả dụng, kiểm soát được lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế. Cụ thể như: - NHNN phải được cung cấp những thông tin chính xác và kịp thời từ phía Bộ Tài chính về tồn quỹ tiền mặt tại Kho bạc Nhà nước để tính toán lượng tiền cơ sở, số lượng huy động vốn và cho vay của các quỹ ngoài ngân sách để kiểm soát được tổng phương tiện Trang 19 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4 thanh toán của toàn bộ nền kinh tế. Số liệu thống kê, báo cáo về các vấn đề tài chính công, nhất là kế hoạch về huy động vốn để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước, biến động tài khoản ngân sách tại NHNN phải được Bộ Tài chính cung cấp kịp thời cho NHNN. - Ngược lại, NHNN phải cung cấp các thông tin về lãi suất, tỷ giá, lạm phát, phát hành tiền và khả năng vốn khả dụng của hệ thống NHTM cho Bộ Tài chính. Sự trao đổi thông tin giữa hai bên phải được thực hiện liên tục, không bị gián đoạn và các bảng báo cáo phải đảm bảo: giống nhau về thời gian báo cáo, về độ chính xác và đầy đủ, kịp thời của các số liệu, phải thống nhất về biểu mẫu thống kê giữa NHNN và Bộ Tài chính. NHNN và Bộ Tài chính cần phối hợp chặt chẽ hơn trong việc xây dựng và thực thi CSTK và CSTT hàng năm trên cơ sở mục tiêu về lạm phát, G DP và dự báo cán cân thanh toán. 3.2 Các biện pháp khác  NHNN cần tiếp tục kết hợp hài hòa, linh hoạt giữa điều hành tỷ giá và lãi suất, sử dụng thích hợp các công cụ dự trữ bắt buộc, tín phiếu, thị trường mở... trong từng giai đoạn cụ thể; tăng cường phối hợp giữa các CSTT và CSTK.  Cải cách cơ chế cấp phát ngân sách và kiểm soát chặt chẽ các khoản chi tiêu, có biện pháp giảm thất thoát trong chi tiêu đối với các dự án và công trình lớn nhưng không hiệu quả, đảm bảo yêu cầu kiểm soát chi tiêu hiệu quả hơn là chỉ nhằm mục tiêu kiểm soát việc chấp hành chế độ. Có biện pháp quyết liệt về cải cách DN, nhất là các DN nhà nước (DNNN), nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, đặc biệt là vốn ngân sách nhà nước. Rà soát lại hệ thống DNNN, xử lý kiên quyết các DN làm ăn thua lỗ. Cần tính đến ảnh hưởng tiêu cực của chính sách vay nợ nước ngoài liên quan đến tỉ giá, hoạt động xuất khẩu và cán cân thương mại, không để ảnh hưởng xấu đến cán cân vãng lai và cán cân thanh toán.  Một số vấn đề khác cần lưu ý nữa đó là, sức ép lạm phát tăng do đang thực hiện CSTT nới lỏng và CSTK mở rộng tạo sức ép lên cán cân thanh toán và làm tỷ giá tăng, dẫn đến thâm hụt ngân sách lớn ; sức ép phá giá đồng nội tệ gia tăng; dư địa để áp dụng CSTT còn ít; dư địa cho CSTK còn nhưng phải đề phòng về lãng phí, thất thoát khi tăng chi tiêu đầu tư công; đề phòng có sự xa rời mục tiêu chất lượng tăng trưởng khi quá lạm dụng chính sách tăng đầu tư công. Để giảm thất thoát, lãng phí nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư công, Chính phủ cần tập trung điều chỉnh, ưu tiên cho các dự án trong nước, cơ cấu lại chương trình dầu tư công theo hướng giãn tiến độ các dự án sử dụng nhiều vốn, ưu tiên các dự án sử dụng nhiều lao động, ít nhập khẩu, khuyến khích sản xuất trong nước, xuất khẩu. Đầu tư công của Chính phủ cần được cơ quan có thẩm quyền rà soát một cách thận trọng, cần được Trang 20 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4 thẩm định bởi cơ quan thẩm định đầu tư độc lập thuộc Chính phủ và công khai tới người dân để đảm bảo tính hiệu quả, khả thi của dự án. Cơ cấu lại đầu tư công theo hướng nâng tỷ lệ đầu tư nhà nước cho nông nghiệp, nông thôn, các lĩnh vực giáo dục, y tế, nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ; thiết lập cơ chế hợp tác “công - tư” trong đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật theo cơ chế thị trường. Trang 21 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4 KẾT LUẬN CSTK và CSTT là hai công cụ vô cùng quan trọng trong nền kinh tế của bất cứ một quốc gia dù đang phát triển hay đã phát triển vì nếu sử dụng không tốt hai chính sách này thì nền kinh tế sẽ có thể gặp nhiều rủi ro như: lạm phát, mất cân bằng giá cả, lãi suất không ổn định…khi nền kinh tế khó khăn thì sẽ kéo theo nhiều vấn đề về an sinh xã hội. Một vấn đề quan trọng là cơ chế phối hợp giữa hai chính sách mà cụ thể là hai cơ quan điều hành với nhau như thế nào để góp phần ổn định giá cả và tăng trưởng kinh tế. Kinh tế thế giới năm 2008 đã tác động rõ nét tới nền kinh tế nước ta. Chúng ta đã phải đối mặt với những khó khăn về vấn đề thanh khoản của hệ thống tín dụng, lãi suất ngân hàng cao, những cơn sốt giá lương thực và năng lượng, thị trường chứng khoán tiếp tục bị sụt giảm…Tuy nhiên hệ thống kinh tế Việt Nam đã ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực từ thị trường. Đến nay có thể nhìn lại những khó khăn đã vượt qua, đánh giá mức độ tác động của các yếu tố bên ngoài và xác định những thách thức sẽ phải đương đầu trong những năm tới Trong bài đầu thuyết trình của nhóm chúng tôi, chúng tôi đã đưa ra những khái niệm cơ bản về CSTK và CSTT, sự tác động qua lại của hai chính sách này cũng như là những lý do vì sao phải phối hợp hai chính sách này với nhau. Trong phần hai của bài thuyết trình, nhóm chúng tôi đã sơ nét về thực trạng của Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng và sau khủng hoảng, sự phối hợp giữa CSTK và CSTT trong thực tế. Và trong phần cuối của bài, nhóm đã đưa ra những ý kiến xoay quanh vấn đề có nên tiếp tục thực hiện gói kích cầu thứ hai trong năm 2010 cũng như là về quan điểm của nhóm. Nhóm chúng tôi cũng đã đưa ra ý kiến là không cần có thêm một gói hỗ trợ lãi suất ngắn hạn mới vì mục tiêu của chương trình hỗ trợ lãi suất ngắn hạn là giúp DN có vốn mua nguyên liệu, bảo đảm việc làm cho công nhân và vấn đề này nay đã được giải quyết. Tuy nhiên cần kéo dài thời hạn giải ngân của chương trình hỗ trợ lãi suất trung - dài hạn để DN có thời gian tập trung chuyển đổi cơ cấu, đổi mới công nghệ. Tóm lại, việc sử dụng các công cụ CSTT và CSTK để điều tiết hoạt động kinh tế là những hoạt động thường ngày, tuy nhiên để vận hành các công cụ này một cách có hiệu quả thì mặc dù phải luôn tuân thủ những nguyên tắc nhất định song mặt khác lại không thể rập khuôn, máy móc mà rất cần sự sáng suốt, linh hoạt và nhạy bén. Trang 22 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4 Tuy nhiên do thời gian có hạn cũng như những tài liệu và kiến thức nhóm chúng tôi nghiên cứu được cũng có nhiều hạn chế nên chưa thể di sâu hơn nữa vào phần CSTK của nhà nước như : việc thu chi ngân sách, chính sách thuế…, cũng chưa thể liên hệ được với những đất nước sử dung hai công cụ này một cách có hiệu quả. Vì thế, nhóm cũng mong được thầy và các bạn đóng góp ý kiến để có thể hoàn thiện được chủ đề này hơn nữa. Xin chân thành cảm ơn! Trang 23 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. TS. Lê Vinh Danh, 4/2009, Tiền Và Hoạt Động Ngân Hàng, Nxb Giao thông Vận tải, Hà Nội 2. TS. Lê Vinh Danh, Năm 2006 Chính Sách Tiền Tệ Và Điều Tiết Vĩ Mô Của Ngân Hàng Trung Ương, Nxb Tài chính, Hà Nội 3. PGS, TS. Nguyễn Văn Đờn, Năm 2009, Lý thuyết tài chính tiền tệ– NXB ĐHQG TPHCM 4. PGS, TS. Nguyễn Văn Đờn, Năm 2009, Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương– NXB ĐHQG TPHCM 5. PGS, TS. Nguyễn Văn Đờn, Năm 2009, Tiền tệ ngân hàng, Nxb Đại học quốc gia TP.HCM, TP.HCM 6. TS. Vương Quân Hoàng, Nhìn lại nền kinh tế Việt Nam 2008 phải trong bối cảnh khủng hoảng tài chính thế giới, Nghiên cứu viên cao cấp - Đại học Tổng hợp Brúc-xen (Bỉ) - tháng 1/2009 7. Bùi Thị Mai Hoài, Sử Đình Thành, Năm 2009, Tài chính công và phân tích chính sách thuế, NXB Lao động XH, Hà Nội 8. TS. Nguyễn Văn Lương và PGS., TS. Nguyễn Thị Nhung, Chính sách tiền tệ trong vai trò điều tiết hoạt động của các ngân hàng thương mại 9. Joanna Ledgerwood, Năm 2008, Cẩm Nang Hoạt Động Tài Chính Vi Mô, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội 10. Nhiều tác giả, Năm 2009, Giáo trình lý thuyết tiền tệ, NXB Thống kê 11. Tạp chí nghiên cứu và thảo luận – số 17 tháng 11/2009 12. Các website kinh tế như:  Anh Quân, Chính phủ không buộc ngân hàng cho Vinashin vay, Kinh tế Việt Nam, 21 tháng 10 năm 20008, phỏng vấn chủ tịch Vinashin, Phạm Thanh Bình  Vũ Quang Việt, Tập đoàn tài chính: ý nghĩa kinh tế và nguy hiểm trước mắt, Kinh tế Sài Gòn, 31 tháng 8 năm 2008.  Thanh Tuyền, Bơm tiền vực dậy thị trường, Tuổi trẻ, 29 tháng 10 năm 2008  Hồng Khánh, Lạm phát cao không phải do chính phủ điều hành kém, VNexpress, 27 tháng 3, 2008. Trang 24 Mối quan hệ giữa CSTT & CSTK Nhóm 4  Trang web Tổng cục thống kê Việt Nam www.gso.gov.vn  Trang web Bộ Tài Chính www.mov.gov.vn  www.thongtinphapluatdansu.com  www.sbv,gov.vn  www.vnbaorg.info (hiệp hội ngân hàng Việt Nam)  www.hids.hochiminhctity.gov.vn (viện nghiên cứu phát triển thành phố)  www.laodong.com  Vneconomy.com.vn  Kinhtehoc.com.vn  Vnexpress.com.vn  Tailieu.vn  Kienthuckinhte.com.vn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnoi_dung_429.pdf
Luận văn liên quan