Tiểu luận Môn Đường lối Cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam

Đường lối cách mạng chính là một trong những yếu tố quan trọng quyết định thắng lợi của cuộc cách mạng. Nó là cơ sở để dẫn dắt cuộc cách mạng đi đến thành quả cuối cùng. Một đường lối cách mạng đúng đắn kết hợp với việc thực hiện triệt để sẽ dẫn tới một cuộc cách mạng thành công và ngược lại, một đường lối cách mạng chưa xác định chính xác những vấn đề chính của cách mạng thì sẽ dẫn tới một cuộc cách mạng không đạt kết quả như mong đợi. Đảng ta đã căn cứ vào những điều kiện cụ thể của đất nước ta, vân dụng sáng tạo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin để vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, đưa kháng chiến đến thắng lợi vẻ vang. Có thể nói, Đường lối kháng chiến chống Pháp Đảng ta chính là kết tinh của trí tuệ con người, thể hiện năng lực lãnh đạo vững vàng của Đảng ta. Nó góp phần khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam hoàn toàn xứng đáng với vai trò lãnh đạo dân tộc Việt Nam.

doc15 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 31/01/2013 | Lượt xem: 13403 | Lượt tải: 46download
Tóm tắt tài liệu Tiểu luận Môn Đường lối Cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN MÔN HỌC: ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Tên đề tài: Cơ sở, nội dung và ý nghĩa của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng. Sinh viên thực hiện : Võ Thị Thu Huyền Lớp : Đ5BH1 Giáo viên hướng dẫn : Triệu Thị Trinh Hà Nội – Năm 2010 LỜI MỞ ĐẦU Chiến tranh là một nghệ thuật. Ở đó có sự đối kháng giữa các lưc lượng tham chiến. Chiến tranh chính là sự đối kháng trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, quân sự. Trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử các dân tộc trên thế giới, không có một nước nào dựng nước và giữ nước mà không có chiến tranh. Mỗi nước tham gia chiến tranh đều có thể đứng ở vị trí nước chủ chiến hoặc nước bị xâm lược, hoặc cũng có thể là nước can thiệp. Nhưng dù ở bất cứ vị trí nào đi chăng nữa thì trong chiến tranh việc đưa ra và thực hiện một đường lối chiến tranh đúng đắn sẽ quyết định phần lớn khả năng chiến thắng của đất nước đó. Đường lối chiến tranh chính là kết tinh của trí tuệ con người, nó chính là kim chỉ nam cho các hành động, cho sự quyết định thắng lợi của một đất nước. Xuyên suốt lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh. Và kết quả của những cuộc chiến tranh ấy chính là nền độc lập dân tộc, là xã hội xã hội chủ nghĩa với tính chất công bằng, dân chủ, văn minh hôm nay. Để đạt được kết quả này, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã đổ rất nhiều mồ hôi, xương máu và nước mắt. Và một trong những yếu tố quan trọng không thể thiếu được để ta đạt thắng lợi trong các cuộc đấu tranh đó là nhờ ở đường lối lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của nhà lãnh đạo. Nhìn ngược dòng lịch sử về với Việt Nam những năm kháng chiến chống Pháp, ta sẽ thấy rõ hơn về vai trò của việc đề ra một đường lối kháng chiến đúng đắn. Để hiểu sâu hơn về vấn đề này, em xin đi vào tìm hiểu đề tài: Cơ sở, nội dung và ý nghĩa của Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng. B. NỘI DUNG Hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam trước cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Thuân lợi: - Sau chiến tranh Thế giới thứ hai, hệ thống chủ nghĩa xã hội trên Thế giới đang dần hình thành và phát triển, bao gồm Liên Xô và các nước Đông Âu. - Các nước Tư bản chủ nghĩa bị tàn phá nặng nề, phong trào đấu tranh đòi dân chủ ở các nước Tư bản phát triển mạnh mẽ. - Phong trào giải phóng dân tộc ngày càng phát triển mạnh ở Á - Phi – Mỹ Latinh. - Đặc biệt, sau thắng lợi của cách mạng tháng Tám, quần chúng nhân dân ngày càng thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Chính phủ mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Niềm tự hào dân tộc, ý thức đoàn kết quốc gia truyền thống yêu nước và tinh thần tương thân tương ái sẽ là động lức thúc đẩy con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi sóng gió, thác ghềnh để cập bến bờ thắng lợi. Khó khăn: 2.1 Đối ngoại: - Sau chiến tranh thế giới thứ hai, mặc dù chủ nghĩa phát xít đã bị tiêu diệt, lực lượng đế quốc đã suy yếu hơn trước, song với bản chất phản động, bọn Đế quốc ra sức đàn áp phong trào cách mạng thế giới, đặc biệt là phong trào giải phóng dân tộc, giành giật lại những thuộc địa đã mất. Việt Nam trở thành đối tượng đàn áp và giành giật của các thế lực Đế quốc và tay sai. - Theo quy định của hội nghị Ianta và Pôtxđam, vấn đề giải giáp quân đội Nhật ở Đông Dương, mà cụ thể là ở Việt Nam được quy định như sau : phía Bắc vĩ tuyến 16 giao cho 20 vạn quân Tưởng, mà đằng sau quân Tưởng là nước Mỹ. Còn Nam vĩ tuyến 16 được giao cho quân Anh, mà đằng sau quân Anh là thực dân Pháp. Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc, Việt Nam lại cùng lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù đến như vậy. Đó là chưa kể đến lúc này ở Việt Nam còn có 6 vạn quân Nhật đang chờ giải giáp. Lúc này, Đảng ta nhận định: Việt Nam nằm trong vòng vây trùng trùng điệp điệp của chủ nghĩa Đế quốc. Trong tất cả các kẻ thù lúc bấy giờ, Pháp chính là kẻ thù nguy hiểm nhất đối với nền độc lập của Việt Nam. 2.2 Đối nội - Về chính trị : Hệ thống chính quyền còn non trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm lãnh đạo. Khối đại đoàn kết toàn dân cần có thời gian củng cố. Chính phủ Hồ Chí Minh vừa mới thành lập, chưa được một nước nào trên thế giới công nhận nên gặp nhiều khó khăn trong đối ngoại. Bọn phản động ngóc đầu dậy ráo riết hoạt động. - Về kinh tế - tài chính : Kinh tế - tài chính lâm vào tình trạng kiệt quệ. Kinh tế Việt Nam tiêu điều, xơ xác, nạn đói tràn lan, mùa màng thất bát. Nhà máy nằm trong tay tư bản pháp, hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt. Tài chính khánh kiệt, ngân quỹ trống rống, kho bạc Nhà nước chỉ còn 1,2 triệu, trong đó 58 vạn rách nát, ngân hàng Đông Dương vẫn nằm trong tay tư bản Pháp. Quân Tưởng lại tung thêm tiền quan kim và quốc tệ đang mất giá khiến tình hình tài chính càng thêm rối loạn. Bức tranh kinh tế - tài chính ảm đạm. - Về văn hóa – xã hội : Hậu quả chính sách văn hóa ngu dân để lại là 95% dân số mù chữ, các tệ nạn xã hội tràn lan. Có thể nói, chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc, Việt Nam lại cùng lúc phải cùng lúc đối phó với nhiều kẻ thù đến như vậy. Vận mệnh dân tộc ở trong tình trạng ngàn cân treo sợi tóc. Tổ quốc lâm nguy. II. Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng. Cơ sở của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng: Sau cách mạng tháng Tám 1945, mặc dù phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong đối nội nhưng Đảng và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vẫn luôn luôn chú trọng đến công tác giải quyết những vấn đề đối ngoại. Đặt chủ trương giải quyết các vấn đề đối nội và đối ngoại một cách song song. Trong đường lối đối ngoại của mình, Đảng xác định rõ : Trong các kẻ thù của Việt Nam lúc bấy giờ thì Pháp chính là kẻ thù nguy hiểm nhất đe dọa trực tiếp, hằng ngày, hằng giờ đến nền độc lập vừa mới giành được của Việt Nam. Xét về mặt vị thế, Pháp là một Đế quốc với tiềm lực kinh tế, chính trị và quân sự hùng mạnh, là một tên Đế quốc già và đã có vị thế nhất định trên thế giới. Trong khi lúc này, Việt Nam vừa mới dành được nền độc lập, trải qua hàng ngàn năm đấu tranh, lại là một dân tộc nhỏ bé với nền kinh tế nông nghiệp lúa nước lạc hậu, Việt Nam thực sự còn rất non trẻ. Có thể nói so với Pháp, Việt Nam đứng ở thế yếu. Tuy nhiên, sức mạnh tiềm tàng và cũng là thế mạnh của Việt Nam mà Pháp hay bất cứ thế lực nào khác cũng không thể tác động đó là sức mạnh của tinh thần đoàn kết, sức mạnh của niềm tự tôn dân tộc, sức mạnh của truyền thống yêu nước hàng ngàn năm lịch sử, sức mạnh của ý thức tự giải phóng đất nước, giải phóng con người. Hơn nữa, lúc này, khi mà dư âm thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám đang sục sôi, ý thức về nền độc lập dân tộc, về giải phóng cá nhân lại càng mạnh mẽ hơn bất cứ lúc nào trong người dân Việt Nam. Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, của Chính phủ, của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự đã thu phục niềm tin của nhân dân. Vì vậy, Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam nhất định bằng mọi giá sẽ phải giữ vững và nhất định giữ vững nền độc lập dân tộc. Sau cách mạng tháng Tám, trước vòng vây trùng trùng điệp điệp của chủ nghĩa Đế quốc và các thế lực phản động, Đảng đã tích cực thực hiện các biện pháp chống ngoại xâm và nội phản, bảo vệ chính quyền cách mạng. Với dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa, ngay sau khi Nhật đầu hàng đồng minh, chính phủ Đờ Gôn quyết định thành lập một đạo quân viễn chinh tiến hành xâm lược Việt Nam. Đêm ngày 22, rạng sáng ngày 23/9/1945, pháp nổ súng tấn công Trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ thành phố, mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Đảng ta đã nêu chủ trương đánh Pháp để bảo vệ Nam Bộ, tổ chức lực lượng cả nước chi viện cho Nam Bộ. Ngày 25/11/1945, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị về ‘‘kháng chiến - kiến quốc’’, vạch ra con đường đi lên cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Ở Miền Bắc, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện các biện pháp chống Đế quốc và bọn phản cách mạng. Trong mối quan hệ với quân Tưởng và tay sai, chúng ta chủ trương tránh mọi xung đột. Với Tưởng, ta nhận cung cấp một phần lương thực, thực phẩm, phương tiện giao thông, đồng thời đấu tranh hòa bình với chúng. Đối với bọn Việt quốc, Việt cách, chúng ta thực hiện nhân nhượng có nguyên tắc với chúng, nhường 70 ghế trong Quốc hội, trong đó có một ghế phó chủ tịch nước cho chúng. Đổi lại, Hồ Chí Minh vẫn giữ chức Chủ tịch nước, lực lượng cách mạng vẫn nắm ưu thế trong Chính phủ và Quốc hội. Với bọn phản cách mạng, ta kiên quyết vạch trần và trừng trị theo pháp luật. Ngày 11/11/1945, Đảng cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán nhưng thực chất là rút vào hoạt động bí mật, tiếp tục lãnh đạo phong trào cách mạng. Ngày 28/2/1946, Pháp và Tưởng ký kết Hiệp ước Hoa – Pháp, đặt nước ta trước một tình hình mới. Lúc này, nếu chúng ta cầm súng chống Pháp có nghĩa là cùng lúc chúng ta sẽ cùng phải đối phó với cả Pháp, cả Tưởng và quân đồng minh. Đây là điều hoàn toàn không có lợi cho ta. Vì vậy, giải pháp tốt nhất là chúng ta phải nhượng bộ có điều kiện với Pháp. Lúc này, Pháp cũng đang muốn đàm phán với Việt Nam để xúc tiến nhanh chóng việc đưa quân ra Miền Bắc, loại bỏ Tưởng. Đó chính là cơ sở dẫn đến việc ký kết Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) giữa Việt Nam và Pháp. Trong hiệp định ta đã nhân nhượng Pháp, cho Pháp đưa 15000 quân ra Bắc thay Tưởng giải giáp quân đội Nhật, số quân này đóng tại những địa điểm quy định và rút dần trong vòng 5 năm. Nhưng mặt khác, Hiệp định thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, nó chính là sự thừa nhận của Chính phủ Pháp về sự tồn tại của Việt Nam với tư cách một quốc gia dân chủ cũng như thừa nhận địa vị đại diện cho nhân dân Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đập tan âm mưu liên kết chống Việt Nam của Pháp và Tưởng. Tuy ta đã hết sức nhân nhượng nhưng Pháp vẫn lấn tới, chúng liên tục vi phạm: vi phạm lệnh ngừng bắn ở Miền Bắc, cho quân đánh chiếm trái phép một số vùng ở Bắc Bộ, thành lập chính phủ Nam kỳ tự trị hòng tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam. Các cuộc đàm phán hòa bình giữa Việt Nam và Pháp không thành công do dã tâm của Pháp. Trước nguy cơ cuộc chiến tranh Việt - Pháp đang đến gần, Chính phủ ta quyết định nhân nhượng với Pháp thêm một lần nữa, ký với Pháp bản Tạm ước ngày 14/9/1946, tiếp tục nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế - văn hóa ở Việt Nam để tạo thời gian hòa hoãn cho ta xây dựng, chuẩn bị lực lượng bước vào cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi, chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài. Đảng và Chính phủ ta đã tỏ rõ thiện chí hòa bình, cố gắng làm những việc có thể để đẩy lùi chiến tranh. Trong khi chúng ta đã hết lòng nhân nhượng và chấp hành đúng những gì đã thỏa thuận, ký kết thì thực dân Pháp lại liên tục bội ước. Chúng xem sự nhân nhượng của ta là hành động hèn nhát đầu hàng, chúng kiêu căng ngạo mạn về sức mạnh của mình, cho nên càng ngày chúng càng lấn tới. Với dã tâm cướp nước ta một lần nữa, thực dân Pháp thi hành chính sách việc đã rồi, tăng cường khiêu khích và lấn chiếm. Ngày 20/11/1946, quân Pháp mở cuộc tấn công chiếm đóng thành phố Hải Phòng, thị xã Lạng Sơn và đổ bộ lên Đà Nẵng. Ngày 16/12/1946, những tên trùm thực dân Pháp ở Đông Đương đã họp tại Hải Phòng bàn triển khai kế hoạch đánh chiếm Hà Nội và khu vực Bắc vĩ tuyến 16. Ngày 17 và 18/12/1946, tại Hà Nội, quân Pháp tàn sát thảm khốc đồng bào ta tại phố Hàng Bún, Yên Ninh, đòi kiểm soát an ninh trật tự ở thủ đô. Trắng trợn hơn, chúng còn gửi tối hậu thư buộc ta phải giao quyền kiểm soát thủ đô cho chúng, nếu không, chậm nhất là sáng 20/12/1946, quân Pháp sẽ hành động. Lịch sử đã đặt dân tộc ta trước một sự lựa chọn mới. Thực tế cho thấy khả năng hòa hoãn không còn. Hành động của thực dân Pháp đã đặt Đảng và Chính phủ ta trước một tình thế không thể nhân nhượng thêm được nữa, vì nhân nhượng sẽ dẫn đến họa mất nước, nhân dân sẽ trở lại cuộc đời nô lệ. Trong thời điểm lịch sử quyết đoán này,Hội nghị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại làng Vạn Phúc – Hà Đông ngày 19/12/1946 đã quyết định hạ quyết tâm phát động kháng chiến toàn quốc. Mệnh lệnh kháng chiến được phát đi. Vào lúc 20h ngày 19/12/1946,tất cả các chiến trường trong cả nước đồng loạt nổ súng. Rạng sáng ngày 20/12/1946, ‘‘Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến’’ của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát đi trên đài tiếng nói Việt Nam. Lúc này, nhân dân Việt Nam bước vào cuộc đấu tranh chống Pháp với vai trò bảo vệ Tổ quốc, tính chất của cuộc chiến tranh là cuộc chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh nhân dân bảo vệ hòa bình, chống lại kẻ thù xâm lược, nhân dân ta có thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Mặt khác, trải qua một quá trình lâu dài thực hiện hòa hoãn với Pháp, giờ đây ta đã loại bỏ được các kẻ thù, chỉ còn lại kẻ thù duy nhất là Pháp, các công tác đối nội cũng đã được giải quyết về cơ bản, các điều kiện cần thiết chuẩn bị cho chiến tranh đã sẵn sàng, Đảng và nhân dân có đủ niềm tin để chiến đấu và chiến thắng. Trong khi đó, lúc này Pháp vấp phải không ít khó khăn về kinh tế, chính trị, quân sự ở trong nước và tại Đông Dương, những khó khăn này không dễ gì chúng khắc phục được ngay trong ngày một, ngày hai. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cơ bản đó, chúng ta cũng vấp phải một số khó khăn nhất định. Lực lượng của ta so với Pháp còn yếu, vũ khí trang bị lạc hậu hơn. Ta bị cô lập, bao vây bốn phía, chưa được công nhận địa vị trên trường quốc tế. Trong khi Pháp lại có vũ khí tối tân và đã chiếm đóng được Lào, Cămpuchia và một số nơi ở Nam Bộ Việt Nam, có quân đội đứng chân trong các thành thị lớn ở Miền Bắc. Những đặc điểm của sự khởi đầu và những thuận lợi, khó khăn đó chính là cơ sở để Đảng xác định đường lối cho cuộc kháng chiến. 2. Nội dung đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng: Đường lối kháng chiến của Đảng được hình thành từng bước qua thực tiễn đối phó với âm mưu, thủ đoạn xâm lược của thực dân Pháp. Ngay sau ngày cách mạng tháng Tám thành công, trong chỉ thị thị về kháng chiến – kiến quốc, Đảng đã nhận định kẻ thù chính, nguy hiểm nhất của dân tộc ta là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung mũi nhọ đấu tranh vào chúng. Trong quá trình chỉ đạo cuộc kháng chiến, trước những âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, Đảng đã đưa ra những chủ trương, chỉ thị chỉ đạo kháng chiến thích hợp, kịp thời. Những văn kiện này đã cấu thành đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng ta. Những nội dung cơ bản trong đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng được thể hiện trong các văn kiện: Chỉ thị Kháng chiến – kiến quốc (25/11/1945) của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Chỉ thị Toàn dân kháng chiến (12/12/1946) của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi (9/1947) của đồng chí Trường Chinh và Chính cương của Đảng lao động Việt Nam sau này. Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng toát lên những nội dung cơ bản sau: - Về mục đích kháng chiến: Kế tục và phát triển sự nghiệp của Cách mạng tháng Tám, đánh phản động thực dân Pháp, giành thống nhất và độc lập. - Về tính chất kháng chiến: Cuộc kháng chiến của dân tộc ta là một cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân, chiến tranh chính nghĩa. Nó có tính chất toàn dân, toàn diện và lâu dài. Là một cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc lập, dân chủ và hòa bình. Đó là cuộc kháng chiến có tính chất dân tộc giải phóng và dân chủ mới. - Chính sách kháng chiến: Liên hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động thực dân Pháp. Đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình. Đoàn kết chặt chẽ toàn dân. Thực hiện toàn dân kháng chiến... Phải tự cấp, tự túc về mọi mặt. - Chương trình và nhiệm vụ kháng chiến: Đoàn kết toàn dân, thực hiện quân, chính, dân nhất trí... Động viên nhân lực, vật lực, tài lực, thực hiện toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, trường kỳ kháng chiến. Giành quyền độc lập, bảo toàn lãnh thổ, thống nhất Trung, Nam, Bắc. Củng cố chế độ cộng hòa dân chủ... Tăng gia sản xuất, thực hiện kinh tế tự túc... - Phương châm tiến hành kháng chiến: Tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực hiên kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính. + Kháng chiến toàn dân: Xác định kháng chiến toàn dân, Đảng dựa vào cơ sỏ lý luận và thực tiễn: * Cơ sở lý luận: Nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra rằng: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, do nhân dân tiến hành. Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, mỗi khi đất nước đứng trước những thử thách to lớn, để chiến thắng được kẻ thù thì điều cơ bàn là phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc. * Cơ sở thực tiễn: Tiếp tục kế thừa và phát triển truyền thống dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Đó là truyền thống cả nước chung lòng, toàn dân đánh giặc. Truyền thống yêu nước này đã từ hàng ngàn năm lịch sử với những Thánh Gióng, Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, những Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,... Muốn tiến hành kháng chiến toàn dân thì phải xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc, phải xây dựng được những hình thức mặt trận tương ứng, phải phát động kháng chiến toàn diện. ‘‘Bất kỳ đàn ông, đàn bà không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ. Hễ là người Việt Nam phải đứng lên đánh thực dân Pháp’’, làm sao cho mỗi người dân là một chiến sỹ, mỗi làng xóm là một pháo đài, mỗi phố phường là một trận địa. Khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta, chúng đặt ách áp bức, bóc lột vô cùng giã man và tàn bạo lên toàn thể nhân dân ta, theo quy luật thông thường, có áp bức – có đấu tranh, toàn thể nhân dân Việt Nam sẽ vùng lên đấu tranh chống Pháp. Mặt khác, tương quan lực lượng giữa ta và địch là rất lớn. Pháp có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn ta gấp nhiều lần, do đó buộc ta phải huy động sức mạnh toàn dân. Kháng chiến toàn dân sẽ đem lại cho cách mạng Việt Nam một sức mạnh to lớn cả về vật chất và tinh thần, góp phần đánh thắng mọi kế hoạch của Pháp. Chúng ta tiến hành chiến tranh nhằm mục đích bảo vệ Tổ quốc, do đó cuộc chiến tranh của ta là cuộc chiến tranh chính nghĩa chống lại chiến tranh phi nghĩa. Chiến tranh Việt Nam là chiến tranh nhân dân do đó phải dựa vào dân, phải kháng chiến toàn dân. + Kháng chiến toàn diện: Cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam phải tiến hành một cách toàn diện. Có thể nói, chiến tranh bao giờ cũng là cuộc đối đầu toàn diện giữa hai bên tham chiến. Ở đây, thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam trên tất cả mọi phương diện. Vì thế, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam cũng sẽ diễn ra trên tất cả các lĩnh vực. Kháng chiến trên mọi lĩnh vực biểu hiện: Về chính trị: Thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân; Đoàn kết Mên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do hòa bình. Về quân sự: Thực hiện vũ trang toàn dân,xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tiêu diệt địch, giải phóng nhân dân và đất đai, thực hiện du kích chiến tiến lên vận động chiến, đánh chính quy, là ‘‘Triệt để dùng du kích, vận động chiến. Bảo toàn thực lực, kháng chiến lâu dài,...Vừa đánh vừa võ trang thêm; vừa đánh vừa đào tạo thêm cán bộ’’. Lần lượt đánh bại các kế hoạch, chiến lược chiến tranh của Pháp, tiêu diệt lực lượng địch trên đất nước ta, đè bẹp ý chí xâm lược của chúng, giành độc lập cho đất nước. Về kinh tế: Tiêu thổ kháng chiến, xây dựng kinh tế tự cung tự túc, tập trung phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp quốc phòng. Chúng ta đưa ra khẩu hiệu: ‘‘Xây dựng kinh tế ta, phá hoại kinh tế địch’’, chống lại kế hoạch ‘‘lấy chiến tranh nuôi chiến tranh’’ của Pháp. Về văn hóa: Xóa bỏ văn hóa thực dân, phong kiến. Xây dựng nền văn hóa dân chủ mới theo ba nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng. Thực hiện khẩu hiệu: ‘‘Văn hóa hóa kháng chiến, kháng chiến hóa văn hóa’’. Về ngoại giao: Thực hiện thêm bạn bớt thù, biểu dương thực lực. ‘‘Liên hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động thực dân Pháp’’, sẵn sàng đàm phán nếu Pháp công nhận Việt Nam độc lập. Thoát khỏi thế bị bao vây cô lập. Có thể nói, kháng chiến toàn diện chính là một biểu hiện của kháng chiến toàn dân. Kháng chiến toàn diện giúp phát huy triệt để lợi thế của mỗi giai cấp, mỗi cá nhân trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược. + Kháng chiến trường kỳ: Chúng ta thực hiện kháng chiến trường kỳ là để chống lại âm mưu của Pháp. Khi bắt đầu cuộc chiến tranh, tương quan lực lượng có lợi cho Pháp, do đó Pháp muốn thực hiện chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh. Để có thời gian phát huy yếu tố ‘‘Thiên thời, địa lợi, nhân hòa’’, ta phải thực hiện đánh lâu dài để vừa đánh vừa xây dựng và phát triển lực lượng, làm tiêu hao lực lượng địch, chuyển hóa tương quan lực lượng từ chỗ ta yếu hơn địch đến chỗ ta mạnh hơn địch, đánh thắng địch, ‘‘Biến lớn thành nhỏ, biến nguy thành an’’(Hồ Chí Minh). Kháng chiến trường kỳ nhưng không có nghĩa là mãi mãi, trong suốt quá trình tiến hành cuộc kháng chiến cần phải xác định thời cơ để tạo ra những bước ngoặt thúc đẩy kháng chiến đến thắng lợi, hạn chế tối đa hao tốn sức người, sức của của nhân dân. Trường kỳ nhưng phải tất thắng, phải có niềm tin vào thắng lợi cuối cùng. + Kháng chiến dựa vào sức mình là chính: Chúng ta tiến hành cuộc kháng chiến trong thế bị bao vây cô lập bốn phía, chưa được một nước nào công nhận và đặt quan hệ ngoại giao, cũng như chưa được một nước nào giúp đỡ nên phải tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính. Lịch sử cũng đã chứng minh: Không có nước nào trên thế giới chỉ dựa vào nước ngoài mà có độc lập thực sự, vì ‘‘Có tự lập mới có độc lập, có tự cường mới có tự do’’. Do đó, ta cần phải đem sức ta mà giải phóng cho ta. Mặt khác, khi nào có điều kiện ta sẽ tranh thủ sự sự giúp đỡ của các nước, sự đồng tình của bạn bà quốc tế. Song, lúc đó cũng không được ỷ lại, phát huy sức mạnh của dân tộc và thời đại để dành thắng lợi trong cuộc kháng chiến. - Triển vọng kháng chiến: Đường lối kháng chiến xác định mặc dù kháng chiến diễn ra lâu dài, gian khổ, khó khăn song nhất định thắng lợi. 3. Ý nghĩa của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng. Đường lối kháng chiến với những nội dung cơ bản như trên là đúng đắn và sáng tạo. Đường lối kháng chiến chống Pháp là sự kế thừa và nâng lên tầm cao mới tư tưởng quân sự truyền thống của tổ tiên, đúng với các nguyên lý về chiến tranh cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, vừa phù hợp với thực tế đất nước lúc bấy giờ. Đường lối kháng chiến chính là sự vận dụng sáng tạo nguyên lý chiến tranh cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin và kinh nghiệm quân sự của nước ngoài vào Việt Nam. Đây là đường lối chiến tranh nhân dân, chiến tranh chính nghĩa ‘‘lấy yếu chống mạnh’’. ‘‘lấy ít địch nhiều’’, ‘‘lấy chính nghĩa thắng hung tàn’’. Đường lối kháng chiến của Đảng được công bố sớm đã có tác dụng đưa cuộc kháng chiến nhanh chóng đi vào ổn định và phát triển đúng hướng, từng bước đi tới thắng lợi vẻ vang. Thực hiện theo tinh thần của đường lối, từ năm 1947 đến năm 1950, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống Pháp trên tất cả các lĩnh vực và đặc biệt giành thắng lợi vẻ vang trên mặt trận quân sự tại chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947 và chiến dịch Biên giới 1950, giáng đòn mạnh mẽ vào ý chí xâm lược của địch, giành được thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ. Đến đầu năm 1951, tình hình thế giới và cách mạng Đông Dương có nhiều biến chuyển mới. Nước ta được các nước xã hội chủ nghĩa công nhận và đặt quan hệ ngoại giao. Cuộc kháng chiến của ba nước Đông Dương giành được những thắng lợi quan trọng. Mỹ lợi dung lúc Pháp gặp khó khăn để can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến Đông Dương. Điều kiên lịch sử đặt Đảng ta trước yêu cầu bổ sung và hoàn chỉnh đường lối cách mạng. Tháng 2/1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng họp tại xã Vinh Quang (Chiêm Hóa – Tuyên Quang) thông qua ‘‘Báo cáo chính trị’’ do chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày và báo cáo ‘‘Bàn về cách mạng Việt Nam’’ do Trường Chinh trình bày. Bản báo cáo của Tổng bí thư Trường Chinh sau này đi vào lịch sử dân tộc với tên gọi: ‘‘Chính cương của Đảng lao động Việt Nam’’, xác định những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, tiếp tục hoàn thiện đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng ta và đường lối này tiếp tục được bổ sung, phát triển qua các hội nghị Trung ương tiếp theo, như Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (tháng 3/1951), Hội nghị Trung ương lần thứ hai (từ ngày 27/9 đến ngày 5/10/1951), Hội nghị Trung ương lần thứ tư (tháng 1/1953), Hội nghị trung ương lần thứ năm (tháng 11/1953). Nhờ việc đề ra và thực hiện triệt để thực hiện đường lối kháng chiến của Đảng chúng ta đã giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược, đỉnh cao là thắng lợi trong Đông – Xuân 1953 – 1954 với chiến dịch Điện Biên Phủ. Bảo vệ thắng lợi của cách mạng tháng Tám, làm thất bại âm mưu xâm lược của Pháp và can thiệp Mỹ, buộc chúng công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương. Nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Đồng thời, nó cũng mang trong mình ý nghĩa quốc tế , cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng thuộc địa và là tiếng chuông báo tử cho hệ thống tử cho hệ thống thực dân cũ trên toàn Thế giới. C. KẾT LUẬN Đường lối cách mạng chính là một trong những yếu tố quan trọng quyết định thắng lợi của cuộc cách mạng. Nó là cơ sở để dẫn dắt cuộc cách mạng đi đến thành quả cuối cùng. Một đường lối cách mạng đúng đắn kết hợp với việc thực hiện triệt để sẽ dẫn tới một cuộc cách mạng thành công và ngược lại, một đường lối cách mạng chưa xác định chính xác những vấn đề chính của cách mạng thì sẽ dẫn tới một cuộc cách mạng không đạt kết quả như mong đợi. Đảng ta đã căn cứ vào những điều kiện cụ thể của đất nước ta, vân dụng sáng tạo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin để vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, đưa kháng chiến đến thắng lợi vẻ vang. Có thể nói, Đường lối kháng chiến chống Pháp Đảng ta chính là kết tinh của trí tuệ con người, thể hiện năng lực lãnh đạo vững vàng của Đảng ta. Nó góp phần khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam hoàn toàn xứng đáng với vai trò lãnh đạo dân tộc Việt Nam.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTiểu luận môn Đường lối CM ĐCS VN.doc