Tiểu luận Phân tích rủi ro quốc gia - Nợ quốc gia

Đảm bảo tính bền vững về quy mô và tốc độ tăng trưởng của nợ công, có khả năng thanh toán trong nhiều tình huống khác nhau và hạn chế rủi ro, chi phí. Muốn vậy, cần thiết lập ngưỡng an toàn nợ công; đồng thời thường xuyên đánh giá các rủi ro phát sinh từ các khoản vay nợ Chính phủ trong mối liên hệ với GDP, thu ngân sách nhà nước, tổng kim ngạch xuất khẩu, cán cân thương mại, dự trữ ngoại hối, dự trữ tài chính, quỹ tích lũy để trả nợ + Kiể m soát chặt chẽ các khoản vay để cho vay lại và các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh. Chính phủ vay để cho vay lại và bảo lãnh vay thường phát sinh khi doanh nghiệp cần huy động một lượng vốn lớn trên thị trường vốn quốc tế, nhưng không đủ uy tín để tự mình đứng ra vay nợ. Khi đó, Chính phủ có thể giúp doanh nghiệp tiếp cận được với các nguồn vốn quốc tế với quy mô lớn, lãi suất thấp. Các khoản vay và bảo lãnh này thực chất là nghĩa vụ ngân sách dự phòng, làm nảy sinh nguy cơ ngân sách nhà nước phải trang trải các khoản nợ khi doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc mất khả năng thanh toán. Do đó, việc vay về cho vay lại và bảo lãnh vay cần hết sức thận trọng, chỉ nên ưu tiên cho các chương trình, dự án trọng điểm của Nhà nước hoặc thuộc các lĩnh vực ưu tiên cao của quốc gia. Kiể m soát chặt chẽ các khoản vay nợ nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh và việc cấp bảo lãnh cho các doanh nghiệp vay nợ trong nước; khuyến khích phát triển mô hình hợp tác công - tư (PPP).

pdf27 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 23/06/2014 | Lượt xem: 1494 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Phân tích rủi ro quốc gia - Nợ quốc gia, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 1 Tiểu luận PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA- NỢ QUỐC GIA GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 2 1.1. NỢ QUỐC GIA 1.1.1. Khái niệm Nợ quốc gia là một khái niệm tương đối phức tạp. Tuy nhiên, hầu hết những cách tiếp cận hiện nay đều cho rằng, nợ quốc gia là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phải chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó. Chính vì vậy, thuật ngữ nợ quốc gia thường được sử dụng cùng nghĩa với các thuật ngữ như nợ công hay nợ Chính phủ.  Theo quan điểm của ngân hàng thế giới (WB) nợ công là toàn bộ những khoản nợ của chính phủ và những khoản nợ được chính phủ bảo lãnh.Trong đó: - Nợ của chính phủ là toàn bộ các khoản nợ trong nước và nước ngoài của chính phủ và các đại lí của chính phủ;các tỉnh thành phố hoặc các tổ chức chính trị trực thuộc chính phủ và các đại lí của các tổ chức này, các doanh nghiệp nhà nước. - Nợ của Chính phủ bảo lãnh là những khoản nợ trong nước và nước ngoài của khu vực tư nhân do chính phủ bảo lãnh.  Theo quan điểm của quĩ tiền tệ quốc tế (IMF) nợ công bao gồm nợ của khu vực tài chính công và nợ khu vực phi tài chính công. Trong đó: - Khu vực tài chính công gồm: Tổ chức tiền tệ (ngân hàng trung ương, các tổ chức tín dụng nhà nước) và các tổ chức phi tiền tệ (các tổ chức tín dụng không cho vay mà chỉ có chức năng hỗ trợ phát triển). - Các tổ chức phi tài chính công như: Chính phủ, tỉnh thành phố, các tổ chức chính quyền địa phương, các doanh nghiệp phi tài chính nhà nước.  Theo Luật Quản lý nợ công ban hành năm 2009 của Việt Nam quy định nợ công bao gồm: - Nợ chính phủ: Là các khoản nợ được kí kết, phát hành nhân danh nhà nước hoặc chính phủ, các khoản nợ do Bộ Tài Chính kí kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành; nhưng không bao gồm các khoản nợ do NHNNVN phát hành nhằm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 3 - Nợ được chính phủ bảo lãnh: là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh. - Nợ của chính quyền địa phương: à khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành.  Các khoản vay như vay vốn ODA, phát hành trái phiếu chính phủ (trong cũng như ngoài nước), trái phiếu công trình đô thị, hay một tập đoàn kinh tế vay nợ nước ngoài được chính phủ bảo lãnh đều được xem là nợ công. 1.1.2. Phân loại nợ công a. Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay thì nợ công gồm có hai loại là nợ trong nước và nợ nước ngoài: - Nợ trong nước là nợ công mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức Việt Nam. - Nợ nước ngoài là nợ công mà bên cho vay là Chính phủ nước ngoài, vùng lãnh thổ, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài. Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, nợ nước ngoài không được hiểu là nợ mà bên cho vay là nước ngoài, mà là toàn bộ các khoản nợ công không phải là nợ trong nước. b. Theo phương thức huy động vốn thì nợ công có hai loại là nợ công từ thỏa thuận trực tiếp và nợ công từ công cụ nợ: - Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công xuất phát từ những thỏa thuận vay trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức cho vay. Phương thức huy động vốn này xuất phát từ những hợp đồng vay, hoặc ở tầm quốc gia là các hiệp định, thỏa thuận giữa Nhà nước Việt Nam với bên nước ngoài. - Nợ công từ công cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hành các công cụ nợ để vay vốn. Các công cụ nợ này có thời hạn ngắn hoặc dài, thường có tính vô danh và khả năng chuyển nhượng trên thị trường tài chính. GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 4 c. Theo tính chất ưu đãi của khoản vay làm phát sinh nợ công thì nợ công có ba loại là nợ công từ vốn vay ODA, nợ công từ vốn vay ưu đãi và nợ thương mại thông thường. d. Theo trách nhiệm đối với chủ nợ thì nợ công được phân loại thành nợ công phải trả và nợ công bảo lãnh. Nợ công phải trả là các khoản nợ mà Chính phủ, chính quyền địa phương có nghĩa vụ trả nợ e. Theo cấp quản lý nợ thì nợ công được phân loại thành nợ công của trung ương và nợ công của chính quyền địa phương: - Nợ công của trung ương là các khoản nợ của Chính phủ, nợ do Chính phủ bảo lãnh. - Nợ công của địa phương là khoản nợ công mà chính quyền địa phương là bên vay nợ và có nghĩa vụ trực tiếp trả nợ. Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 thì những khoản vay nợ của chính quyền địa phương được coi là nguồn thu ngân sách và được đưa vào cân đối, nên về bản chất nợ công của địa phương được Chính phủ đảm bảo chi trả thông qua khả năng bổ sung từ ngân sách trung ương. 1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ công Lãi suất thực tế: Khi lãi suất tăng lên: các khoản vay của chính phủ sẽ trở nên đắt hơn và khó khăn hơn. Nếu không có kế hoạch vay nợ rõ ràng thì sẽ không đảm bảo vay nợ đúng thời hạn để đáp ứng cho nhu cầu đầu tư của Chính phủ, làm ảnh hưởng đến sự bền vững của chính sách tài khóa. Tốc độ tăng trưởng thực tế: Nền kinh tế càng phát triển thì khoản vay của Chính phủ sẽ trở nên dễ dàng hơn khi nền kinh tế tăng trưởng chậm. Ngoài ra khi kinh tế tăng trưởng chậm, người dân cũng như Doanh Nghiệp thắt chặt chi tiêu hơn, việc tích lũy ít đi và nguồn vay của Chính Phủ sẽ giảm đáng kể. Còn có thể đi kèm với lạm phát và thất nghiệp,lúc này những khoản trả nợ vay đến hạn còn phải cấp bù lạm phát. Tỷ giá thực tế: Ảnh hưởng đến những khoản vay và trả đối với nợ công khi có những khoản vay nợ nước ngoài. Nếu tỷ giá tăng thì khoản trả nợ vay đến hạn GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 5 sẽ tăng và ngược lại. Còn khi vay nợ thì tỷ giá tăng đối với khoản vay nợ sẽ có lợi hơn khi tỷ giá giảm. 1.1.4. Những tác động của nợ công: Nợ công vừa có nhiều tác động tích cực nhưng cũng có một số tác động tiêu cực. Nhận biết những tác động tích cực và tiêu cực nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực là điều hết sức cần thiết trong xây dựng và thực hiện pháp luật về quản lý nợ công. a. Tích cực: - Nợ công làm gia tăng nguồn lực cho Nhà nước, từ đó tăng cường nguồn vốn để phát triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước. Việt Nam đang trong giai đoạn tăng tốc phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó cơ sở hạ tầng là yếu tố có tính chất quyết định. Muốn phát triển cơ sở hạ tầng nhanh chóng và đồng bộ, vốn là yếu tố quan trọng nhất. Với chính sách huy động nợ công hợp lý, nhu cầu về vốn sẽ từng bước được giải quyết để đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đó gia tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế. - Huy động nợ công góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi trong dân cư. Một bộ phận dân cư trong xã hội có các khoản tiết kiệm, thông qua việc Nhà nước vay nợ mà những khoản tiền nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng, đem lại hiệu quả kinh tế cho cả khu vực công lẫn khu vực tư. - Nợ công sẽ tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế. Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế – ngoại giao quan trọng của các nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo, cũng như muốn hợp tác kinh tế song phương. Nếu Việt Nam biết tận dụng tốt những cơ hội này, thì sẽ có thêm nhiều nguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trên cơ sở tôn trọng lợi ích nước bạn, đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước b. Tiêu cực: GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 6 Nợ công sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoản tài trợ ngoài nước. Nếu kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo, nợ công sẽ tỏ ra kém hiệu quả và tình trạng tham nhũng, lãng phí sẽ tràn lan nếu thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ việc sử dụng và quản lý nợ công. 1.2. RỦI RO QUỐC GIA Đối với bất kỳ hoạt động đầu tư nào, vấn đề rủi ro luôn được đề cập đến khi đánh giá tính hiệu quả của hoạt động đầu tư đó. Ngày nay, trong quá trình toàn cầu hóa, sự chu chuyển vốn giữa các quốc gia càng diễn ra mạnh mẽ hơn. Vấn đề xem xét đánh giá mức độ rủi ro của từng quốc gia được đặt ra cũng trở nên phổ biến như việc đánh giá rủi ro của bất kỳ hoạt động đầu tư nào đó. 1.2.1. Khái niệm rủi ro quốc gia Rủi ro quốc gia là rủi ro mà các điều kiện và các sự kiện kinh tế, xã hội, chính trị ở một quốc gia sẽ ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích của một quá trình đầu tư. Rủi ro quốc gia cũng bao gồm các khả năng quốc hữu hóa hay sung công tài sản, sự từ chối trả nợ nước ngoài của chính phủ, việc kiểm soát ngoại hối, sự đánh giá thấp tiền tệ hay mất giá, phá giá tiền tệ Rủi ro quốc gia còn ám chỉ đến khả năng có thể xảy ra khi mà một chính phủ hay người đi vay từ một quốc gia cụ thể có thể không có khả năng hay không sẵn sàng để thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ nợ của họ đối với một hay nhiều người cho vay nước ngoài hay nhà đầu tư nước ngoài. Ví dụ: trong khoảng cuối thập niên 1990, các ngân hàng Châu Âu và Nhật đã phải gánh chịu rủi ro quốc gia đối với các nước Nga, Nam Hàn, Malaysia và Indonesia. Nhờ các khoản trợ giúp tài chính của IMF, WB và chính phủ các nước Mỹ, Nhật, Châu Âu cho các nước này vay nên các ngân hàng nói trên đã ko phải gánh chịu toàn bộ các thiệt hại. Rủi ro quốc gia theo Bourke (1990) là khả năng của một quốc gia để tạo ra đủ dự trữ ngoại hối để đáp ứng cho những nghĩa vụ nợ bên ngoài. Những yếu tố quan trọng của rủi ro quốc gia là tình trạng hoạt động mậu dịch và mức độ nợ nước ngoài. Rủi ro quốc gia là một định nghĩa rộng hơn của rủi ro tín dụng và cho vay xuyên biên giới. GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 7 Khi thuật ngữ rủi ro quốc gia được sử dụng trong cho vay xuyên biên giới và người đi vay là chính phủ thì rủi ro tín dụng được biết đến như là rủi ro thể chế (sovereign risk) hay rủi ro tín dụng quốc gia. Rủi ro tín dụng là rủi ro mà người đi vay sẽ không hoàn thành đầy đủ các nghĩa vụ trong hợp đồng vay mượn dẫn đến những mất mát cho người cung cấp tín dụng hay người cho vay. Rủi ro quốc gia có thể xem như là những tác động mang tính quốc gia đến thu nhập từ đầu tư. 1.2.2. Phân loại rủi ro quốc gia Có nhiều quan niệm trong việc phân loại rủi ro quốc gia, trong đó các nhà phân tích có xu hướng phân loại rủi ro quốc gia vào 5 loại chính: rủi ro kinh tế, rủi ro chuyển giao, rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro vị trí hay vùng lân cận, rủi ro chính trị Rủi ro chính trị thể hiện tính ổn định về mặt chính trị của một quốc gia mà có thể ảnh hưởng đến khả năng và thiện chí trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của mình. Rủi ro chính trị tăng lên từ các sự kiện như chiến tranh, xung đột nội bộ hay xung đột bên ngoài, khủng bố... dẫn đến những thay đổi trong chính phủ, thay đổi trong quyền lực kiểm soát chính phủ, cơ cấu xã hội. Loại rủi ro này bao hàm khả năng tiềm tàng đối với những xung đột bên trong và bên ngoài, rủi ro sung công. Đánh giá rủi ro này đòi hỏi phân tích nhiều nhân tố bao gồm các mối quan hệ của các đảng phái khác nhau trong một quốc gia, quá trình ra quyết định của chính phủ và lịch sử của quốc gia đó. Rủi ro chuyển giao: là rủi ro phát sinh từ một quyết định bởi chính phủ một quốc gia về việc hạn chế sự di chuyển của dòng vốn nước ngoài. Những hạn chế này có thể là: gây khó khăn cho việc chuyển lợi nhuận, cổ tức hay vốn về nước. Rủi ro chuyển giao cũng có thể hiểu là khả năng mà một tài sản không thể chuyển đổi sang một đồng tiền thanh toán (đồng tiền có khả năng chuyển đổi) bởi vì quốc gia vay nợ thiếu ngoại hối cần thiết hay kiềm chế khả năng này. Kiểm soát ngoại hối là một ví dụ của rủi ro chuyển giao. Rủi ro tỷ giá là một sự biến động không mong đợi trong tỷ giá hối đoái, ví dụ như một sự thay đổi từ tỷ giá cố định sang thả nổi. Trong ngắn hạn, rủi ro đối GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 8 với nhiều đồng tiền có thể được loại bỏ ở một chi phí có thể chấp nhận được thông qua các cơ chế phòng ngừa khác nhau và các hợp đồng tương lai Rủi ro vị trí hay rủi ro vùng lân cận bao hàm các hiệu ứng dây chuyền gây nên bởi những khó khăn trong một khu vực, bởi một nước đối tác của một quốc gia, hay trong các quốc gia với tính chất tương tự. Chẳng hạn, nếu quốc gia đi vay nằm bên cạnh một quốc gia đang có chiến tranh thì mức độ rủi ro của quốc gia này sẽ cao hơn bởi vì mặc dù quốc gia đi vay không liên quan trực tiếp đến cuộc xung đột nhưng nguy cơ ảnh hưởng từ cuộc xung đột này là tồn tại.Tính chất lây lan thể hiện tiêu biểu ở các quốc gia Latin vào những năm 1980, sự lây lan ở châu Á vào năm 1997-1998. Rủi ro kinh tế-tài chính: thể hiện sức mạnh hay sự yếu kém hiện tại của nền kinh tế của một quốc gia, khả năng của một quốc gia để đáp ứng cho việc thanh toán các khoản tín dụng chính thức, thương mại... nước ngoài. Sự đo lường rủi ro kinh tế bao gồm các đo lường truyền thống về chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ như quy mô và thành phần của chi tiêu chính phủ, chính sách thuế, tình trạng nợ công, chính sách tiền tệ và tính vững chắc về tài chính. Rủi ro kinh tế- tài chính phản ánh năng lực chi trả của một quốc gia đối với các khoản nợ của mình trong khi đó rủi ro chính trị lại phản ánh thiện chí trả nợ đó. 1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phân tích, đánh giá rủi ro quốc gia Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm có định hướng xếp hạng khá khác biệt, do đó, các tiêu chí hình thành nên mức xếp hạng cũng khác nhau. Ngoài ra, đối với mỗi một đối tượng là doanh nghiệp tư nhân hay tổ chức công, các tiêu chí này cũng không giống nhau. Ðối với xếp hạng tín nhiệm quốc gia cũng vậy, tùy thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia mà các tổ chức xếp hạng thiết lập nên những tiêu chí cụ thể và mức độ ảnh hưởng của những tiêu chí đó tới thứ bậc xếp hạng cũng rất đa dạng. Tuy nhiên, nhìn chung có 4 nhóm nhân tố chính ảnh hưởng tới xếp hạng tín nhiệm quốc gia như sau: GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 9 - Tình trạng k inh tế: Nhìn chung đây là nhóm nhân tố ảnh hưởng lớn nhất tới xếp hạng tín nhiệm quốc gia, bao gồm hầu hết các biến số kinh tế cơ bản của một quốc gia như: tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm và đầu tư, mức trung chuyển vốn, việc làm và thất nghiệp, thu nhập quốc dân và hộ gia đình, tình trạng bảo hộ sản xuất hay phát triển theo hướng thị trường… Ngoài ra, dự báo về khả năng tăng trưởng hay thu hẹp của nền kinh tế cũng được tính đến. - Tình trạng tài chính: Nhóm yếu tố này bao gồm cả tình trạng tài chính đối nội và đối ngoại, các chính sách tài khóa, tiền tệ và tác động của chúng, từ đó phản ánh tình hình thu nhập và chi tiêu của một quốc gia có linh hoạt và an toàn hay không. Các chỉ số thường được nhắc tới trong mục này là lạm phát và cán cân ngân sách. - Tình trạng nợ: Nợ ở đây được hiểu là nợ của chính quyền trung ương và địa phương, nợ trong nước và nợ nước ngoài. Bên cạnh tổng số nợ, khả năng trả nợ, thời hạn trả nợ và nguồn trả nợ cũng được quan tâm. - Tình trạng chính trị, xã hội: đây là những yếu tố dường như không mấy liên quan nhưng lại ảnh hưởng khá lớn tới mức độ tín nhiệm của một quốc gia. Trong đó, mức độ ổn định chính trị, xã hội; độ trong sạch của bộ máy nhà nước và an ninh quốc gia được đặt lên hàng đầu. 1.2.4. Vai trò của việc đánh giá rủi ro quốc gia- xếp hạng tín nhiệm quốc gia Đánh giá rủi ro quốc gia là việc sử dụng các dữ liệu thống kê hay các nhận xét định tính của các chuyên gia nhằm đưa ra một xếp hạng cho từng quốc gia ứng với mức độ rủi ro của quốc gia đó Một chức năng chính của đánh giá rủi ro quốc gia là để lường trước khả năng bội ước, không thể trả nợ hay trì hoãn thanh toán của chính phủ đi vay. Đánh giá rủi ro quốc gia cũng là để dự báo các điều kiện tương lai đối với việc đầu tư trong một quốc gia. Đánh giá rủi ro quốc gia đo lường các nhân tố kinh tế, tài chính, chính trị và tác động qua lại giữa các nhân tố này nhằm xác định rủi ro gắn liền với một quốc gia cụ thể. GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 10 Đánh giá rủi ro quốc gia có vai trò quan trọng vì nó biểu hiện mức độ rủi ro của một quốc gia. Do đó nó không chỉ quan trọng đối với chính phủ của quốc gia được đánh giá rủi ro quốc gia mà còn rất quan trọng đối với các nhà đầu tư và các nhà cho vay quốc tế. Thông qua việc đánh giá rủi ro quốc gia, chính phủ tự đánh giá hay thông qua các cơ quan xếp hạng tín nhiệm, thì các chính phủ có thể nhận biết được thực trạng nên kinh tế, những yếu kém và triển vọng của quốc gia. Từ đó có thể đề ra các chính sách biện pháp mang tính vĩ mô nhằm khắc phục để dần nâng cao mức tín nhiệm trên trường quốc tế, thu hút nhiều hơn vốn đầu tư quóc tế để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Thêm vào đó với việc cải thiện mức rủi ro quốc gia của mình thì chính phủ một quốc gia sẽ giảm thiểu được chi phí vay mượn trên thị trường quốc tế vì nguyên tắc tài chính cơ bản chỉ ra rằng rủi ro càng cao thì phần bù càng cao Các nhà đầu tư cũng như chính phủ sẽ thông qua việc đánh giá rủi ro quốc gia để nhận biết được mức độ rủi ro chung của quốc gia từ đó so sánh với mức độ rủi ro của riêng mình để có các chiến lược đầu tư cụ thể và vững chắc nhằm thu được tỷ suất sinh lợi cao nhất Đánh giá rủi ro quốc gia cung cấp cho các nhà cho vay quốc tế và các nhà đầu tư quốc tế biết được khả năng thu hồi các khoản vốn vay của mình và mức thu nhập kỳ vọng có được từ đầu tư. Tiến trình đánh giá rủi ro quốc gia nhằm cung cấp các thông tin tốt nhất cho việc dự báo các khả năng có thể xảy ra, là một công cụ giúp các nhà cho vay và đầu tư quốc tế ra quyết định cho vay hay đầu tư vào một quốc gia cụ thể Xếp hạng rủi ro quốc gia ảnh hưởng đến mức lãi suất mà quốc gia có thể đạt được một khoản tín dụng trên thị trường quốc tế: xếp hạng cao (tức là mức độ rủi ro thấp) thì lãi suất sẽ thấp và ngược lại. Thực tế đã chứng minh là theo sau một sự hạ thấp mức xếp hạng, việc vay mượn của chính phủ sẽ trở nên đắt đỏ hơn do lãi suất tăng lên, phản ánh nguy cơ vỡ nợ cao hơn. GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 11 Các định chế đầu tư thường giới hạn mức rủi ro mà họ có thể chấp nhận, điều này ngụ ý rằng họ không thể đầu tư vào các khoản nợ bị xếp hạng thấp hơn một mức đã định. Các nhà nghiên cứu nêu ra rằng xếp hạng rủi ro quốc gia chủ yếu dành cho các quốc gia đang phát triển, đây là những quốc gia có độ nhạy cảm cao đối với những công bô xếp hạng. Đối với thị trường tài chính, giới đầu tư gần như phản ứng ngay lập tức với mỗi lần xếp hạng lên xuống của “Big3” xếp hạng tín nhiệm. Các nhà đầu tư lớn như ngân hàng, quỹ bảo hiểm, lương hưu bị buộc phải bán ra những trái phiếu bị xếp hạng ở mức đầu cơ, trong khi các nhà đầu tư nhỏ hơn lại chịu ảnh hưởng và đôi khi là ăn theo những nhà đầu tư lớn này. Vì vậy xuất hiện hiện tượng một loại trái phiếu bị từ bỏ không phải vì không có khả năng phục hồi mà vì hành động của các tổ chức xếp hạng tín dụng dẫn tới thị trường rút vốn hàng loạt. Ðó là chưa kể đến những tin đồn thất thiệt về việc nâng lên hay hạ xuống sắp tới của các tổ chức này cũng là đòn không nhỏ đánh vào các con nợ đang khốn đốn. Lấy ví dụ sự kiện S&P buộc trái phiếu Mỹ rời khỏi mức xếp hạng cao nhất AAA xuống AA+ ngày 5/8/2011. Trước đó một vài ngày, tin đồn S&P sắp hạ mức tín nhiệm của Mỹ do lo ngại ảnh hưởng của nợ công Châu Âu tác động đến nước này đã lan tràn khắp thị trường, trong ngày 4/8/2011, một loạt các chỉ số chứng khoán sụt giảm, trong đó Dow Jone giảm 4%, đồng USD lên giá 1,3% so với Euro và vàng đạt đỉnh mới ở mức USD1.680. Và khi sự thật xảy ra ngày 5/8, giới đầu tư đồng loạt tháo chạy sang các loại tín phiếu kho bạc Mỹ với mức độ an toàn cao hơn nhiều. Hệ quả là tín phiếu kho bạc thời hạn 10 năm giảm lợi suất xuống 2,33%, tín phiếu thời hạn 2 năm giảm xuống 0,23% và thời hạn 3 năm giảm xuống 0,38% (The Washington Post). Xếp hạng rủi ro quốc gia cũng ảnh hưởng đến xếp hạng tín dụng của các ngân hàng và các công ty ở quốc gia đó, và tác động đến khả năng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài thông qua việc ảnh hưởng đến việc đánh giá chi phí kinh doanh. Ferri (2001) gọi xếp hạng rủi ro quốc gia là “điểm then chốt của tất cả các mức xếp hạng khác của quốc gia”. Tương tự trong quá khứ các tổ chức xếp hạng luôn GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 12 biểu hiện sự miễn cưỡng trong việc xếp hạng một công ty so với quốc gia mà công ty đó hoạt động. Chẳng hạn, sau khi Moody’s hạ mức tín nhiệm của Nhật vào tháng 1//1/1998 (từ Aaa xuống Aa1), tấ cả các nhà phát hành hạng Aaa ở Nhật cũng bị hạ mức tín nhiệm. Điều này dẫn đến việc xếp hạng rủi ro quốc gia thường được xem là “mức trần rủi ro tín dụng quốc gia”. Có thể thấy, đối với các chính phủ và các doanh nghiệp, ngân hàng, các đối tượng xếp hạng nói chung, họ luôn phải e sợ bị đánh tụt mức xếp hạng dẫn đến khả năng vay nợ càng khó khăn hơn do niềm tin của thị trường giảm sút. Do đó, mỗi bước đi nhằm phục hồi của họ đều phải dò xét trước phản ứng của các công ty xếp hạng tín dụng, họ trở nên dè dặt, thiếu mạnh bạo để đưa ra những quyết sách cương quyết. II. THỰC TIỄN TÌNH HÌNH NỢ CÔNG VÀ XẾP HẠNG TÍN NHIỆM TẠI VIỆT NAM: 2.1. NỢ CÔNG VIỆT NAM Nợ công là một vấn đề được quan tâm rộng rãi trong thời gian gần đây, đặc biệt từ sau bài học khủng hoảng nợ công của các nước trên Thế giới. Ở Việt Nam, nợ công cũng đang ngày càng được quan tâm, do những tồn tại bất cập trong vấn đề này. 2.1.1. Quy mô nợ công Việt Nam đang tăng nhanh: Theo The Economist Intelligence Unit, nợ công của Việt Nam năm 2001 là 11,5 tỷ USD, tương đương 36% GDP, bình quân mỗi người gánh số nợ công xấp xỉ 144 USD. Nhưng tính đến hết năm 2010, nợ công đã tăng lên 55,2 tỷ USD, tương đương 56,7% GDP và Việt Nam được xếp vào nhóm nước có mức nợ công trên trung bình. Như vậy, trong vòng 10 năm từ 2001 đến nay, quy mô nợ công đã tăng gấp gần 5 lần với tốc độ tăng trưởng nợ trên 15% mỗi năm (Biểu đồ 1) Năm 2011, tổng số dư nợ công bằng 55,4% GDP giảm 1,3% so với năm 2010. Sở dĩ trong các năm 2010, 2011 nợ công tăng nhanh như vậy thì ngoài nhu cầu phải huy động vốn để phát triển kinh tế - xã hội còn có yếu tố về chênh lệch tỉ giá. Thứ hai, vì bản thân tổng GDP của Việt Nam tăng khá cho nên tổng nợ trên GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 13 GDP sẽ giảm. Nợ công của nước ta hoàn toàn là để bổ sung vốn cho đầu tư phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nước ta vay để tập trung vào các dự án cơ sở hạ tầng, ví dụ như quốc lộ 1A… Nhờ các khoản vay để đầu tư như vậy nên GDP năm năm vừa rồi tăng cao Biểu đồ 1: Tình hình nợ công và nợ nước ngoài của Việt Nam năm 2001-2010 Nguồn: The Economist Intelligence Unit Ngoài ra, cũng theo Bộ Tài chính, mức nợ công tính trên đầu người của Việt Nam năm 2011 là 638,55 USD, số dư nợ công bằng 55,4% GDP. Nếu so sánh với 817,22 USD (Trung Quốc), 808,52 USD (Indonesia), 4.626,4 USD (Malaysia), 1.195,29 USD (Philippines), 2.261,78 USD (Thái Lan) thì đây là con số không cao. Mặc dù tỷ lệ nợ/GDP vẫn nằm trong tầm kiểm soát (dưới 60%GDP theo cách tính chỉ tiêu tỷ lệ nợ công trên GDP của Liên hiệp quốc) nhưng nó quá cao so với mức phổ biến được khuyến cáo ở các nền kinh tế đang phát triển (từ 30-40%) và so với một số nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc (17,4%), Indonesia (25,6%), Thái Lan (40,5%). Ở mỗi nước thì có tỷ lệ nợ công trên GDP là khác nhau nhưng cũng là một chỉ số về quy mô của nợ công chứ không phải là một thước đo tốt về mức độ an toàn hay rủi ro của nợ công. Bởi vì, nợ công khoảng 100% GDP đủ để Hy Lạp rơi vào tình trạng phá sản, trong khi nợ công lên tới 200% GDP của Nhật Bản vẫn GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 14 được coi là an toàn. Nếu dùng con số 50% GDP để coi là mức trần ở nước này thì ở nước khác người ta có thể sử dụng con số 80%. Như vậy, mức độ an toàn hay nguy hiểm của nợ công không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ nợ trên GDP, mà phụ thuộc vào một số chỉ số khác như xu hướng của tỷ lệ nợ công trên GDP, hiệu quả sử dụng nợ hay rộng hơn là tình trạng sức khỏe của nền kinh tế. Nguyên nhân quy mô nợ công tăng nhanh là do các khoản vay nợ trực tiếp trong và ngoài nước của Chính phủ để bù đắp cho bội chi ngân sách nhà nước và do sự gia tăng nghĩa vụ nợ được Chính phủ bảo lãnh của một số tập đoàn và tổng công ty nhà nước. Chi tiêu công của chính phủ góp phần kích thích nền kinh tế và thực hiện nhiều mục tiêu vĩ mô, tuy nhiên, việc lạm dụng chi tiêu công, sử dụng nợ công không hiệu quả sẽ dẫn đến những tác động ngược. Các số liệu về nợ công, chi tiêu công và lạm phát từ năm 2001 đến 2011, có thể vẽ ra bức tranh sơ lược về tình hình nợ công của Việt Nam. Từ năm 2001 đến 2007, tăng trưởng diễn ra thuận chiều với chi tiêu công. Trong giai đoạn này, chi tiêu công có tác động tích cực đến tăng trưởng. Tuy nhiên từ năm 2007 đến 2011, mối quan hệ này đã đảo chiều và chuyển sang ảnh hưởng tiêu cực. Một điều cần lưu ý, từ năm 2007, trong khi tăng trưởng giảm sút thì chi tiêu công của Việt Nam vẫn tăng lên và hầu như ngay lập tức lạm phát cũng tăng nhanh đáng kể. Nợ công chỉ suy giảm chút ít vào năm 2008 rồi lại tiếp tục tăng vọt từ năm 2009. Trong bối cảnh này, cách giải thích hợp lý là nguồn chi tiêu công được tài trợ chủ yếu bằng phát hành tiền và lạm phát phản ứng của xã hội về kỳ vọng mất giá đồng nội tệ. Mối quan hệ đó có thể được làm rõ qua số lượng phát hành tiền trong giai đoạn này. 2.1.2. Cơ cấu nợ công Việt Nam Theo khoản 2 Điều 1 Luật Quản lý nợ công của Việt Nam, nợ công bao gồm tất cả các khoản nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. + Bình quân năm 2006 - 2011, cơ cấu nợ công của Việt Nam gồm nợ chính phủ chiếm 78,0%, còn lại là nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 15 phương. Trong nợ chính phủ, nợ nước ngoài chiếm 63,5%; nợ trong nước chiếm 36,5%. Trong nợ nước ngoài, ODA chiếm tỷ trọng lớn. + Tính đến 31/12/2011, tổng số dư nợ công bằng 55,4%/GDP. Trong đó, các khoản nợ trực tiếp của Chính phủ chiếm 78% và bằng 43,1% GDP. Nợ được Chính phủ bảo lãnh chiếm khoảng 21% và bằng 11,7% GDP. Nợ chính quyền địa phương chiếm khoảng 1,0% và bằng 0,5% GDP. + Theo định hướng của Chính phủ, nợ công đến năm 2015 không quá 65% GDP, trong đó dư nợ chính phủ không quá 50% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP. Bảng 1: Cơ cấu nợ công của Việt Nam năm 2006 – 2010 Đơn vị 2006 2007 2008 2009 2010 2011 Bình quân Nợ chính phủ Tỷ USD 23,7 24,1 31,2 37,8 44,3 52,11 35,3 Nợ chính phủ %GDP 39,0 33,8 36,5 40,4 44,3 43,1 39,5 Nợ chính phủ % Nợ công 85,0 68,0 76,2 79,2 82,1 78,0 78,0 Nợ nước ngoài của chính phủ Tỷ USD 14,6 17,3 18,9 23,9 27,86 N/A Nợ nước ngoài của chính phủ % Nợ chính phủ 61,6 71,6 60,7 60,0 62,9 N/A Nguồn: Bộ Tài Chính, Bản tin nợ nước ngoài số 6 Trong cơ cấu nợ công Việt Nam, nợ nước ngoài có vai trò quan trọng và chiếm tỷ trọng cao nhất. Với việc dòng vốn đầu tư nước ngoài chiếm một tỷ lệ quá lớn trong cơ cấu vốn đầu tư, nền kinh tế Việt Nam sẽ rất dễ bị tổn thương một khi kinh tế thế giới ngưng trệ, dòng vốn đầu tư nước ngoài bị suy giảm. Nguồn cung cấp nợ nước ngoài chủ yếu của Việt Nam là các khoản vay ODA. Theo danh mục nợ công năm 2009 của Bộ Tài chính, 60,3% nợ công là ODA và 29,8% được tài trợ từ trái phiếu trong nước. Nhiều khoản vay ODA có GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 16 thời gian vay rất dài với lãi suất ưu đãi, chẳng hạn vay WB thời hạn là 40 năm, ân hạn 10 năm và lãi suất chỉ có 0,75% hay vay ADB thời hạn là 30 năm, ân hạn 10 năm, lãi suất 1%, vay Nhật Bản thời hạn vay 30 năm, ân hạn 10 năm, lãi suất từ 1% - 2%, thông thường là 1% còn một số khoản cao hơn chỉ 2%. Tuy nhiên, cần hiểu rằng khi Việt Nam đã trở thành nước có mức thu nhập trung bình thì các điều kiện cho vay sẽ trở nên kém ưu đãi hơn và chi phí trả lãi vay hằng năm sẽ ngày càng tăng. Ngoài ra, nợ chính quyền địa phương chủ yếu là vay nợ để đầu tư xây dựng cơ bản theo Luật Ngân sách nhà nước 2002. Mức dư nợ phát hành trái phiếu của chính quyền địa phương hiện nay vẫn ở mức thấp, hiện khoảng 0,6% GDP. Mức dư nợ của chính quyền địa phương hiện nằm trong giới hạn quy định của Luật Ngân sách nhà nước, không quá 30% tổng chi đầu tư xây dựng cơ bản trong nước của các địa phương. 2.1.3. Tình hình sử dụng nợ công Thông qua các chương trình đầu tư công, nợ công của Việt Nam được chuyển tải vào các dự án đầu tư nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng, tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế bền vững. Tuy nhiên, tình hình sử dụng nợ công ở Việt Nam không đạt hiệu quả cao, thể hiện ở hai khía cạnh sau: Thứ nhất, tình trạng chậm trễ trong giải ngân vốn: Tình trạng chậm trễ trong giải ngân nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và nguồn vốn trái phiếu Chính phủ diễn ra khá thường xuyên.Theo báo cáo của Kho bạc Nhà nước, hết tháng 10/2009, mới giải ngân được 26.586 trong số 64.000 tỷ đồng vốn trái phiếu Chính phủ, bằng 47,5% kế hoạch năm. Tình trạng dự án, công trình thi công dở dang, chuyển tiếp, kéo dài, chậm tiến độ vẫn chậm được khắc phục. Điều này cùng với sự thiếu kỷ luật tài chính trong đầu tư công và trong hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước cũng như các tập đoàn lớn, dẫn đến đầu tư dàn trải, lãng phí, thất thoát vốn đầu tư ở tất cả các khâu của quá trình quản lý dự án đầu tư. Thứ hai, hiệu quả đầu tư thấp, thể hiện qua chỉ số ICOR (xem Biểu đồ 2): GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 17 Năm 2009, trong khi tổng mức đầu tư toàn xã hội lên tới 42,2% GDP, thì tốc độ tăng trưởng lại chỉ đạt 5,2%. Chỉ số ICOR năm 2009 đã tăng tới mức quá cao, trên 8 so với 6,6 của năm 2008. Điều này có nghĩa là, nếu năm 2001, Việt Nam cần 5,24 đồng vốn để tạo ra được 1 đồng sản lượng, thì giờ đây cần phải đầu tư thêm gần 3 đồng vốn nữa. Biểu đồ 2: Chỉ số ICOR của Việt Nam năm 2001 – 2009 Năm 2011, cả nước có 333 dự án mới sai đối tượng sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ. Nợ của các doanh nghiệp nhà nước đang chiếm tới 70% nợ xấu của các ngân hàng. 2.1.4. Những vấn đề khác của nợ công Việt Nam: Về thanh khoản các khoản nợ: Các món vay nợ nước ngoài của Việt Nam phần lớn là vay nợ dài hạn và tính thanh khoản nợ công hiện vẫn khá tốt, các khoản vay dài hạn với lãi suất thấp chiếm tới 80% (nghĩa vụ trả nợ đến năm 2013 chiếm khoảng 10% dự trữ ngoại hối quốc gia và nợ nước ngoài chiếm 20% dự trữ ngoại hối hiện nay). Mặc dù vậy, nợ công của Việt Nam vẫn có thể xảy ra những rủi ro về tính thanh khoản, khi thời hạn trả nợ bị xáo trộn (khoản nợ từ trung hạn và dài hạn có thể chuyển thành ngắn hạn – trong trường hợp các chủ nợ gặp khó khăn hay khủng hoảng kinh tế trong nước). Đặc biệt, tính thanh khoản của những khoản nợ nước ngoài trong ngắn hạn cũng tiềm ẩn những rủi ro khi tỷ lệ dự trữ GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 18 ngoại hối của Việt Nam/tổng dư nợ ngắn hạn đã và đang sụt giảm với tốc độ rất nhanh, từ mức 100 lần năm 2007 xuống còn 28 lần vào năm 2008, còn 3 lần vào năm 2009 và chỉ còn gấp khoảng 2 lần trong năm 2010. Bên cạnh đó, nghĩa vụ trả nợ nội địa trong ba năm tới được ước tính trên số lượng trái phiếu Chính phủ đã phát hành và sẽ đáo hạn trong vòng 3 năm tới, ước khoảng 215.000 tỷ đồng, tương đương 20% dự toán thu NSNN của thời điểm đó (2014). Con số này khá lớn và ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách tài khóa, lạm phát và các chính sách liên quan của Việt Nam trong giai đoạn tới. Về chi phí vay nợ: Các khoản vay nước ngoài của Việt Nam đa số đều có lãi suất thấp, trong đó chủ yếu là ở mức 1% - 2,99%. Tuy nhiên so với các năm trước, năm 2010, các khoản vay của Việt Nam có lãi suất cao hơn và khoản vay với lãi suất thả nổi đang ngày càng tăng lên, gây thêm áp lực nợ cho Chính phủ. Trong 27,86 tỷ USD tổng nợ nước ngoài của Chính phủ năm 2010 có 19,313 tỷ USD có lãi suất từ 1 - 2,99%; trên 1,678 tỷ USD chịu lãi suất từ 3 - 5,99% (tăng 176 triệu USD so với 2009) và có tới 1,888 tỷ USD ở mức lãi suất 6- 10%, tăng hơn gấp đôi so với 2009. Ngoài ra, các khoản vay với lãi suất thả nổi cũng tăng 6,66 triệu USD so với 2009. Theo Cục Quản lư nợ và Tài chính đối ngoại, lãi suất trung bình nợ nước ngoài của Chính phủ đă tăng từ 1,54%/năm vào năm 2006 lên 1,9%/năm trong năm 2009 và năm 2010 đạt tới 2,1%/năm. Hơn nữa cần lưu ý là các khoản vay ưu đãi lãi suất thấp cũng sẽ giảm đi khi Việt Nam gia nhập nhóm các nước có thu nhập trung bình, thay vào đó là vay thương mại có lãi suất cao hơn nhiều. Với thực trạng này, rõ ràng chi phí trả lãi đang trở thành gánh nặng ngày càng gia tăng của Chính phủ. Rủi ro tỷ giá đối với các khoản vay nợ nước ngoài của Chính Phủ: Nợ nước ngoài của Việt Nam khá đa dạng về cơ cấu tiền vay. Trên lý thuyết, điều này được cho là có thể hạn chế rủi ro về tỷ giá, giảm áp lực lên nghĩa GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 19 vụ trả nợ nước ngoài của Chính phủ. Tuy nhiên, trên thực tế cơ cấu này cũng tiềm ẩn những rủi ro khi có biến động trên thị trường tài chính thế giới. Việt Nam hiện vay nợ Tỷ trọng cao của các khoản vay bằng USD (22,16%) và JPY (38,83%) gây nguy cơ gia tăng khoản chi gốc và lãi khi tỷ giá USD/VND luôn có xu hướng tăng; và JPY đang lên giá so với USD (Năm 2006: 1USD=116,3 Yên, năm 2010: 1USD=84,11979 Yên). Như vậy khi đến kỳ trả nợ, Việt Nam sẽ phải dành một lượng USD lớn hơn nhiều để mua đồng Yên trả nợ. Và chỉ riêng biến động này này đă làm gia tăng tổng số nợ nước ngoài và nợ công của chúng ta. Như vậy, mặc dù mức nợ công so với GDP của Việt Nam vẫn được đánh giá là an toàn nhưng nợ công đang ẩn chứa nhiều rủi ro. Khi nợ công quá cao, bên cạnh những hậu quả về mặt kinh tế, quốc gia còn phải đối mặt với nguy cơ suy giảm chủ quyền, khi phải chịu những áp lực to lớn từ phía các chủ nợ và các tổ chức tài chính quốc tế, nguy cơ bất ổn về xã hội khi Nhà nước không đảm bảo được những vấn đề về an sinh xã hội cho người dân. 2.2. XẾP HẠNG TÍN NHIỆM QUỐC GIA Lịch sử 15 năm xếp hạng tín nhiệm của Moody's và S&P bao gồm Việt Nam và các nước thuộc khu vực Châu Á Thái Bình Dương: GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 20 Nguồn: S&P, Moody's, Citi RS, vietstock Nhìn vào biểu đồ thể hiện sự thay đổi về xếp hạng tín nhiệm với các nước, vùng lãnh thổ khu vực châu Á của Moody's và S&P có thể thấy các nước, vùng lãnh thổ được đánh giá tín nhiệm cao nhất gồm Singapore, Hong Kong, Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc (từ A đến AAA). Nhóm ở giữa là các nước Đông Nam Á như Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Ấn Độ, Philippines. Nhóm cuối gồm có Việt Nam, Sri Lanka, Pakistan với xếp hạng dao động từ B đến BBB. Có thể thấy, trước năm 2008, là một nền kinh tế mới nổi với mức nợ công không quá lớn, tình hình xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam khá tốt, giữ mức triển vọng tích cực hoặc ổn định. Tuy nhiên, từ sau khủng hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu, Việt Nam bắt đầu tăng trưởng chậm lại, nợ công dần đáng ngại. GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 21 Bản đồ xếp hạng tín nhiệm của ba tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới trong năm 2012 - Nguồn: S&P, Moody's, Citi RS, vietstock 1. S & P: xếp hạng VN BB đồng cấp với Mông Cổ trên Sri LanKa, Cambodia, Fiji và Pakistan. 2. Moody's: xếp hạng VN B đồng cấp với Camphuchia, trên Pakistan. 3. Fitch: thì xếp VN ngang Mông Cổ Nhìn chung, cả ba tổ chức xếp hạng tín nhiệm này dành cho Việt Nam là “ổn định” Nguyên nhân cho mức xếp hạng dưới ngưỡng đầu tư 3 – 4 bậc này là: Thứ nhất, 3 tổ chức này đều bày tỏ quan ngại về tình hình lạm phát cao đã kéo dài vài năm nay ở Việt Nam, khiến cho đồng VND ngày càng mất giá, trong khi dự trữ ngoại hối chưa đủ mạnh, đồng thời cũng chỉ ra rằng những biện pháp nhằm giảm lạm phát của chính phủ có tác dụng chậm và thiếu hiệu quả. Đây được cho là những vấn đề đã tồn tại trong thời gian dài và vẫn chưa có cách giải quyết triệt để. Thứ hai, kinh tế phát triển nhanh nhưng nhiều biến động, cộng thêm tăng trưởng tín dụng khiến cho hệ thống ngân hàng và tài chính yếu ớt, kém sức chống đỡ (năm 2010, hàng loạt các ngân hàng Việt Nam bị hạ mức tín nhiệm). GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 22 Thứ ba, tình hình nợ công không có nhiều biến chuyển, đặc biệt là ngày càng nhiều vụ bê bối về các khoản đầu tư vào các doanh nghiệp quốc doanh bằng nguồn vốn trái phiếu chính phủ bị phanh phui. Tuy nhiên, tình hình kinh tế Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực trong năm 2012 cũng đã được phản ánh chân thực qua động thái chuyển mức dự báo từ “tiêu cực” sang “ổn định” của S&P đối với Việt Nam tháng 6/2012, có nghĩa Việt Nam ít có nguy cơ lâm vào khủng hoảng. S&P lý giải điều này là do những thành quả của những chính sách điều hành kinh tế vĩ mô và bình ổn nền kinh tế triển khai từ năm 2011, đặc biệt thể hiện ở chỉ số giá tiêu dùng được kiểm soát giảm xuống mức dưới một con số. Bên cạnh đó, các chỉ báo quan trọng như tăng trưởng tín dụng, dự trữ ngoại hối và lãi suất đã cải thiện trong vòng 18 tháng qua. Tổ chức này cũng giữ nguyên xếp hạng tín nhiệm ngắn và dài hạn của Việt Nam lần lượt ở mức “B” và “BB-”. Đến tháng 9/2012, Moody’s cũng có đánh giá tương tự, tuy nhiên, lại đồng thời hạ mức tín nhiệm của Việt Nam từ B1 xuống B2 do do rủi ro tiềm tàng đối với các khoản nợ Chính phủ tăng cao xuất phát từ những yếu kém trong hệ thống ngân hàng. Ngoài ra do con số tăng trưởng kinh tế dự kiến năm 2012 được công bố giảm, đặc biệt trong trung hạn, ảnh hưởng bởi khả năng nới rộng tín dụng trong trung hạn của hệ thống ngân hàng bị giới hạn. Cùng với việc hạ mức tín nhiệm quốc gia này, Moody’s cũng thực hiện hạ một bậc trái phiếu do Chính phủ phát hành, từ B1 xuống B2, đồng thời hạ bậc xếp hạng đối với 8 ngân hàng thương mại Việt Nam, bao gồm Ngân hàng Á châu (ACB), Đầu tư & Phát triển (BIDV), Quân đội (MBB), Sài Gòn - Hà Nội (SHB), Sài Gòn Thương tín (Sacomabank - STB), Kỹ thương (Techcombank - TCB), Công thương (Vietinbank - CTG) và Quốc tế (VIB) GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 23 Bảng xếp hạng cụ thể với 8 ngân hàng (Nguồn: Moody's) ACB BIDV MBB SHB STB TCB CTG VIB Tín dụng độc lập - cũ E+ E+ E+ E+ E+ E+ E+ E+ Tín dụng độc lập - mới E E E E E E E E Tiền gửi nội tệ - cũ B2 B1 B2 B2 B1 B1 B1 B2 Tiền gửi nội tệ - mới B3 B2 B3 B3 B3 B3 B2 B3 Tiền gửi ngoại tệ - cũ B2 B2 B2 B2 B2 B2 B2 B2 Tiền gửi ngoại tệ - mới B3 B3 B3 B3 B3 B3 B3 B3 Triển vọng* S S S S S S S S *Xếp hạng nêu trên dành cho các khoản tiền gửi dài hạn. Xếp hạng đối với các khoản tiền gửi ngắn hạn tại các ngân hàng không bị ảnh hưởng trong lần xem xét này. **S: Ổn định. Trước đó, vào ngày 11/05, Fitch giữ nguyên xếp hạng tín nhiệm nội và ngoại tệ của Việt Nam ở mức “B+” với triển vọng “ổn định”. Trần xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam cũng được duy trì ở mức “B+” và xếp hạng tín nhiệm ngoại tệ ngắn hạn ở mức “B”. Theo Fitch, mức xếp hạng ‘B+’ và triển vọng ‘ổn định’ cho thấy thành công của Chính phủ Việt Nam trong nỗ lực giải quyết tình trạng mất cân bằng vĩ mô trong năm 2010 và 2011. 2.3. NHỮNG GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH NỢ CÔNG VÀ NÂNG BẬC XẾP HẠNG TÍN NHIỆM QUỐC GIA Việc nâng bậc xếp hạng tín nhiệm quốc gia nhằm làm tăng uy tín, cải thiện môi trường đầu tư, từ đó thu hút nguốn vồn với chi phí thấp từ đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện để phát triển nền kinh tế ổn định và bền vững. Thủ tướng Chính phủ mới có Quyết định 304/QĐ-TTg (14/03/2012) phê duyệt Đề án Nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Theo đó, mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 từng bước nâng bậc xếp hạng tín nhiệm quốc gia đạt mức xếp hạng GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 24 tín nhiệm tối thiểu bằng mức khởi điểm đầu tư (Baa3 đối với xếp hạng tín nhiệm của Moody’s hoặc BBB- đối với xếp hạng tín nhiệm của S&P hoặc Fitch). Trong đề án cũng đưa ra một số giải pháp như sau: Cải thiện một số chỉ tiêu cụ thể nhằm tiếp tục nâng cao nội lực của nền kinh tế, tăng cường chủ động và chuyên nghiệp trong việc thực hiện các công việc liên quan đến xếp hạng tín nhiệm quốc gia; đồng thời bảo đảm thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu như: + Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 7 - 8%/năm trong giai đoạn 2011-2020; đến năm 2020 GDP theo giá so sánh bằng khoảng 2,2 lần so với năm 2010; GDP bình quân đầu người theo giá thực tế đạt khoảng 3.000 USD. + Chỉ số giá tiêu dùng tăng khoảng 5%-7% vào năm 2015 và được tiếp tục duy trì ở mức hợp lý trong giai đoạn 2016-2020. + Giảm thâm hụt cán cân vãng lai, ổn định cân bằng cán cân thanh toán quốc tế và tiến tới thặng dư; tăng mức dự trữ ngoại hối nhà nước đạt ít nhất 12 tuần nhập khẩu, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và đạt mức mức trung bình so với các nước có cùng mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia. + Tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước giảm xuống dưới 4,5% GDP vào năm 2015 và khoảng 4% GDP trong giai đoạn 2016-2020. + Mục tiêu đến năm 2020 dư nợ công không quá 65% GDP, trong đó dư nợ Chính phủ không quá 55% GDP; nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP. Ngoài ra, để cải thiện tình trạng nợ công, Chính phủ cần xây dựng kế hoạch vay nợ công (bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương) phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch thu, chi ngân sách nhà nước trong từng giai đoạn, thời kỳ. + Cần xác định rõ mục đích vay (để tài trợ thâm hụt ngân sách, tái cơ cấu nợ và cho vay lại, tài trợ cho các chương trình, dự án đầu tư quan trọng, hay nhằm đảm bảo an ninh tài chính quốc gia), mức huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 25 hạn theo từng đối tượng vay với hình thức huy động vốn và lãi suất thích hợp. Kế hoạch về vay nợ công cũng cần quy định rõ đối tượng sử dụng các khoản vay, hiệu quả dự kiến; xác định thời điểm vay, số vốn vay từng giai đoạn, tránh tình trạng tiền vay không được sử dụng trong thời gian dài hoặc chưa thực sự có nhu cầu sử dụng. + Đảm bảo tính bền vững về quy mô và tốc độ tăng trưởng của nợ công, có khả năng thanh toán trong nhiều tình huống khác nhau và hạn chế rủi ro, chi phí. Muốn vậy, cần thiết lập ngưỡng an toàn nợ công; đồng thời thường xuyên đánh giá các rủi ro phát sinh từ các khoản vay nợ Chính phủ trong mối liên hệ với GDP, thu ngân sách nhà nước, tổng kim ngạch xuất khẩu, cán cân thương mại, dự trữ ngoại hối, dự trữ tài chính, quỹ tích lũy để trả nợ… + Kiểm soát chặt chẽ các khoản vay để cho vay lại và các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh. Chính phủ vay để cho vay lại và bảo lãnh vay thường phát sinh khi doanh nghiệp cần huy động một lượng vốn lớn trên thị trường vốn quốc tế, nhưng không đủ uy tín để tự mình đứng ra vay nợ. Khi đó, Chính phủ có thể giúp doanh nghiệp tiếp cận được với các nguồn vốn quốc tế với quy mô lớn, lãi suất thấp. Các khoản vay và bảo lãnh này thực chất là nghĩa vụ ngân sách dự phòng, làm nảy sinh nguy cơ ngân sách nhà nước phải trang trải các khoản nợ khi doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc mất khả năng thanh toán. Do đó, việc vay về cho vay lại và bảo lãnh vay cần hết sức thận trọng, chỉ nên ưu tiên cho các chương trình, dự án trọng điểm của Nhà nước hoặc thuộc các lĩnh vực ưu tiên cao của quốc gia. Kiểm soát chặt chẽ các khoản vay nợ nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh và việc cấp bảo lãnh cho các doanh nghiệp vay nợ trong nước; khuyến khích phát triển mô hình hợp tác công - tư (PPP). Nâng cao hiệu quả và tăng cường kiểm soát việc sử dụng vốn vay, vốn được Chính phủ bảo lãnh. Đây là vấn đề cốt yếu đảm bảo cho khả năng trả nợ và tính bền vững của nợ công. + Công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý nợ công. Việc công khai, minh bạch nhằm tăng cường trách nhiệm trong quản lý, sử dụng GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 26 các khoản nợ công và trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nợ công. Kiểm toán Nhà nước với tư cách là cơ quan độc lập về kiểm tra tài chính nhà nước cần được quy định rõ nhiệm vụ kiểm toán nợ công trong Luật Quản lý nợ công và Luật Kiểm toán nhà nước. GVHD:PGS-TS Trương Thị Hồng Nhóm 4-NH Đêm 4-K21 Page 27 TÀI LIỆU THAM KHẢO  Bộ Tài chính (2011), Bản tin nợ nước ngoài số 6.  Luật Ngân sách Nhà nước.  Luật Quản lý nợ công.  Tổng cục Thống kê, www.gso.gov.vn  World Bank (2005), Policy Research Working Paper No. 3674  TS. Mai Thu Hiền và Nguyễn Thị Như Nguyệt “Tình hình nợ công và quản lý nợ công ở Việt Nam” – Tạp chí ngân hàng số 14/2011  TS Ngô Thị Tuyết Mai “Nợ nước ngoài của Việt Nam- Những vấn đề đáng quan ngại”- Tạp chí kinh tế và dự báo số 12/2012.  Website: www.vneconomy.vn  Website : www.sbv.gov.vn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfrui_ro_qoc_gia_no_quoc_gia_nhom_4_nh_dem4_k21_0272.pdf
Luận văn liên quan