Tiểu luận Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của triết học cổ điển Đức

Phép biện chứng duy tâm của Hegel là một thành tựu vĩ đại của triết học cổ điển Đức. Cho dù có những ý kiến đánh giá khác nhau về triết học Hegel song không thể p hủ nhận được rằng cái có giá trị nhất và có sức sống mạnh mẽ nhất trong triết học của ông chính là p hép biện chứng duy tâm. Hegel là người có công phê p hán tư duy siêu hình và ông cũng là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình, nghĩa là trong sự liên hệ, vận động, biến đổi và p hát triển không ngừng. Trong khuôn khổ hệ thống triết học duy tâm của mình, Hegel không chỉ trình bày các phạm trù như: chất, lượng, p hủ định, mâu thuẫn mà ông còn là người diễn đạt được các quy luật theo khuôn khổ của phép biện chứng, nghĩa là ông coi sự liên hệ, vận động p hát triển của thế giới tuân theo các quy luật như “Lượng đổi dẫn đến chất đổi và ngược lại”, “Phủ định của p hủ định” với tư cách là sự phát triển diễn ra theo hình “Xoáy ốc” và quy luật mâu thuẫn với tư cách là nguồn gốc động lực của sự p hát triển. Như vậy, những vấn đề cốt lỗi nhất đã được H egel đề cặp một cách bao quát nhất. N hưng khi trình bày quy luật của phép biện chứng H egel lại cho rằng “Tất cả những quy luật đó chỉ là sản phẩm của sự vận động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối”. Do đó, phép biện chứng của H egel là phép biện chứng duy tâm, hệ thống triết học của ông là hệ t hống triết học duy tâm. N ét đặc trưng của hệ thống đó là không phải ý thức phát triển trong sự phụ thuộc vào sự phát triển của tự nhiên và xã hội mà ngược lại, tự nhiên và xã hội phát triển trong sự phụ thuộc vào sự phát triển của ý niệm tuyệt đối. M arx và Engels đã phê phán một cách triệt để tính chất duy tâm trong phép biện chứng của Hegel.

pdf17 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 04/04/2015 | Lượt xem: 2197 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của triết học cổ điển Đức, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 1 SVTH: Trần Đăng Ninh Tiểu luận Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 2 SVTH: Trần Đăng Ninh LỜI MỞ ĐẦU N ền triết học cổ điển Đức là nền triết học được tạo nên từ cuối thế kỷ X VIII - đầu thế kỷ X IX là thành tựu rực rỡ của nền văn minh Tây  u và thế giới. Đây là đỉnh cao của thời kỳ triết học Tây Âu, đồng thời có ảnh hưởng to lớn đến triết học hiện đại triết học cổ điển Đ ức. Vì vậy, nó trở thành một trong ba nguồn gốc hình thành chủ nghĩa M arx - nguồn gốc triết học (cùng với kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp). N ền triết học cổ điển Đ ức là khúc dạo đầu cho một bản nhạc giao hưởng, bản hợp xướng của triết học Tây Âu. Trong bản giao hưởng đầy tính bác học của triết học Tây Âu mà khúc dạo đầu lại rực rỡ âm sắc trang hoàng đó là tư tưởng biện chứng triết học cổ điển Đ ức, nó bức ra khỏi những nốt nhạc trời đầy màu sắc thần linh để khảy lên bằng chính đôi tay người phàm tục. N hững đôi tay vàng ấy được phản ánh qua những triết gia dệt nên những trang bất hữu bởi thời gian. Đặc biệt là tư tưởng biện chứng của triết học cổ điển Đức thể hiện thông qua một số đại biểu tiêu biểu như: Canter, Hegel, Feurbach. Tuy đứng trên lập trường duy tâm nhưng các nhà triết học cổ điển Đức đã xây dựng nên các hệ thống triết học độc đáo, đề xuất được tư duy biện chứng, logic biện chứng, học thuyết về các quá trình phát triển mà tìm tòi lớn nhất trong tất cả các tìm tòi của họ đó là phép biện chứng. Với cách nhìn tổng quát về phương pháp biện chứng, các nhà triết học cổ điển Đ ức có ý đồ hệ thống hóa toàn bộ tri thức và thành tựu mà nhân loại đã đạt được. Trong số các nhà triết học vĩ đại nhất đó không thể không kể tới Georg Wilhelm Friedrich H egel. Phép biện chứng của ông là một tiền đề lý luận quan trọng của triết học M ácxit. Triết học của Hegel có ảnh hưởng rất mạnh đến tư tưởng của nước Đức và cả Châu  u đương thời, triết học của ông được gọi là "tinh thần Phổ". Phép biện chứng của H egel là phép biện chứng duy tâm, tức là phép biện chứng về sự vận động và phát triển của các khái niệm được ông đồng nhất với biện chứng sự vật. K hông chỉ là đại biểu tiêu biểu của nền triết học cổ điển Đức mà Hegel đã đem lại cho triết học địa vị vốn có và sứ mệnh cao cả của nó trong đời sống tinh thần nhân loại. Với những luận cứ sâu sắc và có cơ sở khoa học, H egel đã làm sáng tỏ đối tượng, chức năng và phương pháp của triết học, mối quan hệ của triết học với các khoa học khác và qua đó, trình bày một cách khúc chiết, đúng đắn bản chất của triết học. Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 3 SVTH: Trần Đăng Ninh I. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ VÀ NH ỮN G ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌ C CỔ Đ IỂN Đ ỨC : 1. Điều kiện l ịch sử: Triết học cổ điển Đức ra đời trong điều kiện lịch sử hết sức đặc biệt. N ước Đ ức vào cuối thế kỷ X VIII đến đầu thế kỷ XIX vẫn còn là một quốc gia phong kiến điển hình với 360 tiểu vương quốc tự lập trong một liên bang Đức chỉ còn là hình thức, lạc hậu về kinh tế và chính trị. Thủ công nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp bị đình đốn. Lúc này vương triều Phổ Phriđrich Vin H em vẫn tăng cường quyền lực duy trì chế độ quân chủ, cản trở đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Cả đất nước bao trùm bầu không khí bất bình của đông đảo quần chúng. Trong khi đó ở nước Pháp đã tiến hành cuộc cách mạng tư sản. Ở nước Anh thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp làm rung chuyển châu Âu, đưa châu  u bước vào nền văn minh công nghiệp. Tấm gương của các nước Tây Âu đã thức tỉnh tinh thần cách mạng của giai cấp tư sản Đức và những bộ phận tiến bộ khác của xã hội Đức. Nhưng vì giai cấp tư sản Đ ức lúc này tỏ ra hèn kém, những lực lượng tiến bộ khác nằm rải rác ở những vương quốc nhỏ tách rời nhau, nhỏ bé về số lượng, yếukém về kinh tế và chính trị nên không thể tiến hành cách mạng tư sản trong thực tiễn mà chỉ tiến hành cách mạng về phương diện tư tưởng. Người ta nói rằng tương lai của tư sản nước Đức vẫn còn rất xa vời. H ọ muốn thỏa hiệp với tầng lớp phong kiến quý tộc Phổ, giữ lập trường cải lương trong việc giải quyết những vấn đề phát triển đất nước. N hưng với tinh thần cách mạng của mình, giai cấp tư sản Đức phải tìm cách nào đó để thể hiện tinh thần đó và đã gửi gắm vào trong triết học cổ điển Đ ức. Đồng thời, trước đòi hỏi của quá trình phát triển phương thức sản xuất tư bản ở các nước Tây Âu, khoa học tự nhiên đã đạt nhiều thành tựu lớn: phát hiện ra điện, phát hiện ra ôxy và bản chất sự cháy của Lavoadie; việc phát hiện ra tế bào của Lơvenhuc; học thuyết về dưỡng khí của Pritski và Sielo... N hững thành tựu đó chứng tỏ sự hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình trong việc lý giải bản chất của các hiện tượng tự nhiên và thực tiễn xã hội đang diễn ra. Nó đòi hỏi cần có cách nhìn mới, phương pháp mới, quan niệm mới về vai trò và khả năng của con người. Triết học cổ điển Đức ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu đó. 2. Những đặc điểm cơ bản: - Triết học cổ điển Đ ức có nội dung rất cách mạng nhưng hình thức thể hiện rất rối Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 4 SVTH: Trần Đăng Ninh rắm, bảo thủ. Triết học cổ điển Đức là tiếng nói của giai cấp tư sản Đức nhằm phê phán trật tự xã hội đương thời. Tuy nhiên, tinh thần phê phán đó là tinh thần mang tính ôn hòa. Người ta nói rằng: triết học cổ điển Đức là sự thể hiện cách mạng tư sản Pháp trên nước Đức. Triết học cổ điển Đ ức nhằm phê phán trật tự xã hội đương thời, vẫn còn dưới sự thống trị của vương triều Phổ. Tuy nhiên, nếu so sánh tinh thần phê phán của triết học cổ điển Đ ức vào nửa đầu thế kỷ X IX với tinh thần phê phán của triết học Tây  u thế kỷ XVII thì tinh thần phê phán đó mang tính ôn hòa hơn, nó không quyết liệt bằng tinh thần phê phán của triết học Tây  u thế kỷ XVII - XVIII vì nó được bao bọc bởi những vỏ sinh tâm thần bí trong triết học của Hegel hay Canter, Phicter… - Triết học cổ điển Đ ức đã xây dựng phép biện chứng như là học thuyết triết học về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển xảy ra trên thế giới. - Triết học cổ điển Đ ức đề cao vai trò tích cực của con người với tính cách là chủ thể của mọi hoạt động cải tạo thế giới – khách thể và khảo sát khách thể gắn liền với hoạt động thực tiển của chủ thể - con người. Tuy nhiên, họ đã gắn cho con người một vai trò quá lớn ở chỗ họ thần thánh hóa trí tuệ của con người, coi con người có sức mạnh, là chúa tể của giới tự nhiên. - Triết học cổ điển Đ ức có những đóng góp to lớn với sự phát triển văn hóa và khoa học của nhân loại, đóng góp lớn nhất là đóng góp về phép biện chứng gắn liền với tên tuổi của Hegel, đóng góp thứ hai là đóng góp về thế giới quan duy vật (chủ nghĩa duy vật) gắn liền với tên tuổi của L.L.Feurbach (1804 - 1872). II. PH ÉP BIỆN CH ỨNG CỦA HEGEL – MỘT TRONG NHỮ NG THÀNH TỰU VĨ ĐẠI C ỦA TRIẾT HỌ C CỔ ĐIỂN ĐỨ C: G .Ph.Hegel (1770 - 1831) xuất thân trong gia đình công chức, đã từng tốt nghiệp đại học tổng hợp. Bản thân ông từng là giáo sư dạy trung học, sau đó là giáo sư giảng dạy trong trường đại học. Theo đánh giá các nhà kinh điển của chủ nghĩa M arx: H egel không chỉ là một thiên tài sáng tạo mà còn là nhà triết học có tri thức bách khoa nên tất cả mọi lĩnh vực, H egel đều là người của mọi thời đại. Triết học của H egel là tinh hoa của triết học cổ điển Đức và là nguồn gốc lý luận trực tiếp của cổ điển M arx. H egel đã để lại cho đời sau rất nhiều tác phẩm nổi tiếng. Hệ thống của Hegel rất khó đọc. Thời kỳ nước Đức lên cơn sốt Hegel chứng tỏ trình độ tư duy của người Đức rất cao. Lúc bấy giờ nước Đức hình thành hai phái: một H egel già và H egel trẻ, đều ảnh hưởng trực tiếp của Hegel. Hegel từng tuyên bố: triết học của Hegel là cuối cùng trong lịch sử, về sau này sẽ không Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 5 SVTH: Trần Đăng Ninh tìm được bộ óc nào vĩ đại hơn H egel. Sự tuyên bố đó tất nhiên là không đúng nhưng có cơ sở của nó. Tư tưởng của H egel bao bọc bởi duy tâm huyền bí. 1. Học thuyết của He gel về ý niệm tuyệt đối : - Đây là điểm khởi đầu và là nền tảng của triết học Hegel. Ô ng thông qua học thuyết ý niệm tuyệt đối để trình bày nguồn gốc của thế giới. H egel coi ý niệm tuyệt đối là đấng tối cao sáng tạo ra tụ nhiên và con người. Bản thân con người là sản phẩm và là giai đoạn phát triển cao nhất của ý niệm tuyệt đối và hoạt động nhận thức. H oạt động cải tạo thế giới của con người chính là công cụ để ý niệm tuyệt đối nhận thức chính bản thân mình và trở về với chính bản thân mình. Theo Hegel, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, kể cả những sản phẩm hoạt động của con người chỉ là hiện thân của ý niệm tuyệt đối. H ọc thuyết ý niệm tuyệt đối nằm trong hệ thống triết học của ông gồm ba phần: (+) Khoa học logic: nghiên cứu ý niệm tuyệt đối ở giai đoạn sơ khai, nhưng lại là xuất phát điểm của hệ thống, trình bày các quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển. (+) Triết học tự nhiên: triết học đem lại bức tranh về sự phát triển của giới tự nhiên dưới hình thức duy tâm. (+) Triết học tinh thần: dưới hình thức triết học tinh thần, Hegel đã trình bày lịch sử của con người và sự tự nhận thức của con người. - Ý niệm tuyệt đối là thực thể tinh thần có trước giới tự nhiên, giống thượng đế sáng tạo ra giới tự nhiên và toàn thể nhân loại. Theo Hegel, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều được sinh ra bởi một thực thể tinh thần, ý thức, tinh thần có trước vật chất nhưng đó không phải là ý thức, tinh thần của từng cá nhân, con người cụ thể mà là một thực thể tinh thần bên ngoài con người và ông đặt tên là ý niệm tuyệt đối. Điều đó chứng tỏ triết học của H egel là duy tâm khách quan. Trong quá trình tự vận động biện chứng, nó đạt tới sự phát triển đầy đủ ngay trước khi giới tự nhiên xuất hiện và khi đạt tới sự phát triển đầy đủ thì ý niệm tuyệt đối “tha hóa” thành giới tự nhiên. Ý niệm tuyệt đối là một thực thể tinh thần nên có tính ham hiểu biết, bởi vậy muốn biết mình thì phải tha hóa mình ra thành cái khác mình. Theo học thuyết ý niệm tuyệt đối điểm khởi đầu là tinh thần và điểm kết thúc của sự phát triển cũng là tinh thần, chỉ có khác ở chỗ điểm khởi đầu là tinh thần thế giới còn điểm kết thúc là tinh thần tuyệt đối. - Như vậy, Triết học của H egel nếu xét về hệ thống thì nó là triết học duy tâm khách quan, thể hiện ở chỗ triết học này đã thừa nhận tinh thần thế giới là cái có trước còn giới Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 6 SVTH: Trần Đăng Ninh tự nhiên (vật chất) là cái có sau, cái phụ thuộc hay cái phái sinh vào ý niệm tuyệt đối. Xét về cấu trúc thì hệ thống triết học của H egel là siêu hình, coi sự phát triển có tận cùng và khi có sự nhận thức đầy đủ thì giới tự nhiên nó không vận động phát triển về thời gian và chỉ vận động phát triển về mặt không gian. 2. Phép biện chứng duy tâm của He gel: Đ ây được xem là một thành tựu vĩ đại của Triết học cổ điển Đ ức, là một trong những cống hiến vĩ đại của Hegel trong lịch sử khoa học của nhân loại. - Luận điểm xuyên suốt toàn bộ phép biện chứng của H egel là tất cả những gì hiện thực đều hợp lý, tất cả những gì hợp lý đều là hiện thực. Hiện thực là sự tồn tại trong tính tất yếu. Đ ây là cách đánh giá của M arx: “Luận điểm xuyên suốt toàn bộ phép biện chứng của H egel: hiện thực không chỉ đơn giản là sự tồn tại mà là sự tồn tại trong tính tất yếu, nghĩa là tất cả các sự vật, hiện tượng và cả vũ trụ này vận động và phát triển theo các quy luật vốn có”. Điều này được thể hiện qua hai mặt: (+) M ột mặt được bảo vệ và duy trì nền chuyên chế của Nhà nước quý tộc Phổ lúc bấy giờ. (+) M ột mặt, theo H egel không phải tất cả những gì hiện đang tồn tại cũng đều là hiện thực mà thuộc tính hiện thực chỉ thuộc về những gì đồng thời là tất yếu. Như vậy, theo H egel hiện thực không phải là cái tồn tại nói chung mà tồn tại trong tính tất yếu của nó, là hiện thực trong sự phát triển. Đ ây là tư tưởng tuyệt vời của H egel. - Đằng sau vỏ duy tâm hợp lý đó, ông cho rằng tất cả sự vật trên thế giới, kể cả tư duy của con người đều vận động, phát triển theo các quy luật, chính H egel là người đầu tiên xây dựng một hệ thống các phạm trù các quy luật của phép biện chứng đó. Toàn bộ ba quy luật cơ bản (lượng – chất, quy luật phủ định của phủ định và một phần của quy luật mâu thuẩn), sáu khoa học phạm trù: (chất lượng, mâu thuẩn, phủ định, cái chung & cái riêng, nguyên nhân & kết quả, bản chất và hiện tượng) được khái quát lên chính là Hegel. Đây là điểm sáng thứ hai trong phép biện chứng. - Đối lập với tư duy siêu hình Hegel là người đầu tiên trình bày giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình nghĩa là nằm trong sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng, đồng thời hiểu phát triển là quá trình phủ định biện chứng, trong đó cái mới ra đời thay thế cái cũ nhưng vẫn kế thừa của cái cũ những mặt tích cực có thể thúc đẩy sự phát triển. Tự nhiên, lịch sử và tư duy theo H egel trình bày ở dạng quá trình, tức là trong sự sinh thành, biến đổi và phát triển. K hác với siêu hình, siêu hình cho rằng phát triển là Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 7 SVTH: Trần Đăng Ninh sự tăng giảm đơn thuần về lượng, còn Hegel hiểu rằng phát triển là quá trình phủ định từ thấp đến cao, đó là quá trình phủ định biện chứng. Phủ định biện chứng có hai đặc điểm: khách quan và kế thừa, kế thừa có sự chọn lọc, phê phán, người đầu tiên khái quát lên tư tưởng đó là Hegel. Học thuyết của H egel chứng minh: con cái ra đời từ cha mẹ sẽ kế thừa những mặt tích cực của cha mẹ, loại bỏ những mặt tiêu cực. Ví dụ: chế độ tư bản ra đời dưới chế độ phong kiến, cũng là quá trình phủ định biện chứng, nó không phủ định sạch trơn tất cả những chế độ, hệ tư tưởng, những tư tưởng mà chế độ phong kiến đã tạo ra, không phải đạp đổ tất cả mọi thành quách, đền đài, lăng cẩm mà cũng kế thừa những mặt tích cực, chọn lọc phát triển chủ nghĩa tư bản. Với tinh thần biện chứng, khi đánh giá bất kỳ sự vật nào đó phải thấy hai mặt: tích cực và tiêu cực để từ đó loại bỏ những mặt tiêu cực và kế thừa những mặt tích cực. N hư vậy, tinh thần của biện chứng người đầu tiên khái quát lên là Hegel. Nếu thừa nhận phủ định biện chứng này thì đánh giá của các nhà chủ nghĩa tư bản đa số đều khách quan. Đối với Heghen không có gì được gọi là tối hậu, là tuyệt đối, là thiêng liêng cả mà nó chỉ tính chất quá độ của mọi sự vật, không có gì tồn tại ngoài quá trình không ngừng của sự hình thành, của sự tiêu vong, của sự tiến triển vô cùng, vô tận từ thấp đến cao. - Theo Hegel, con người vừa là chủ thể, vừa là kết quả hoạt động của mình, nhận thức và tư duy của con người được hình thành trong chừng mực con người nhận thức và cải tạo thế giới. Ý thức của mỗi cá nhân là sự khái quát lại toàn bộ ý thức mà nhân loại đã trải qua. Quan điểm con người là sản phẩm, là chủ thể của chính bản thân mình là quan điểm hoàn toàn đúng đắn. Hegel đã thấy được vai trò của lao động đối với sự hình thành và phát triển của ý thức. Lao động đã giải phóng hai tri thức của loài người, đưa con người đi lên thẳng đứng, tách con người ra khỏi thế giới loài vật. Cũng chính lao động, con người đã tạo thức ăn mới hoàn thiện não bộ. Trong lao động, con người tác động vào thế giới xung quanh, bộc lộ những đặc điểm, tính chất để con người nhận thức. Cũng chính trong quá trình lao động, con người tự hoàn thiện chính bản thân mình. Vậy không có quá trình lao động, con người không tách khỏi loài vật, bộ óc con người không hoàn thiện, không nảy sinh nhu cầu nhận thức về thế giới, không có ý thức của con người. Hegel khẳng định ý thức và tư duy của con người hình thành trong chừng mực con người nhận thức và cải tạo thế giới, chứng tỏ rằng đã bắt đầu thấy vai trò của lao động đối với sự hình thành và phát triển ý thức và tư duy. Từ đó Hegel cho rằng: bằng cách đó, con người tác động vào giới tự nhiên, tạo ra giới tự nhiên thứ hai cho mình và làm chủ giới tự nhiên. Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 8 SVTH: Trần Đăng Ninh Quan điểm giới tự nhiên thứ hai người đầu tiên đưa ra chính là Hegel. Chân lý là sự thống nhất của tinh thần và vật chất là cả một quá trình. Chân lý là tri thức có nội dung phản ánh phù hợp với hiện thực khách quan.Ví dụ: tổng ba góc trong một tam giác = 180 0 là chân lý. - Những quan điểm về chân lý sau này của M arx cũng chính là sự kế thừa quan điểm của H egel. Chân lý là cả một quá trình, nghĩa là toàn bộ tri thức mà con người có được đến thời điểm hiện tại là chân lý, có thể thực tiễn sau đó sẽ bác bỏ nó, không là chân lý nữa. Có nhiều luận điểm cả ngàn năm là chân lý, thực tiễn sau đó bác bỏ nó, nghĩa là thực tiễn kiểm tra chân lý. - Theo Hegel, con người là sản phẩm của lịch sử, lịch sử lại mang tính kế thừa.Vì vậy, ý thức của mỗi cá nhân, của mỗi con người là khái quát lại toàn bộ lịch sử mà tư tưởng nhân loại đã trải qua. Như vậy, trong ý thức của ta có ý thức của nhân loại trong quá khứ và trong hiện tại. Đây chính là quan điểm duy tâm của H egel. N hững quan hệ xã hội hình thành nên bản chất của ta, không chỉ trong hiện tại mà còn trong cả quá khứ. N ếu tách con người hiện tại ra khỏi liên hệ lịch sử thì con người trong hiện tại phát triển phiến diện và bề ngoài. Người đặt nền móng tư tưởng này chính là Hegel. - Hegel là người nâng phép biện chứng từ trình độ tự phát lên trình độ lý luận và là người đầu tiên trình bày phép biện chứng ở dạng nguyên lý, quy luật, phạm trù. Trải qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử, phép biện chứng tồn tại dưới ba hình thức cơ bản, đó là:  Phép biện chứng chất phác trong thời kỳ cổ đại.  Phép biện chứng duy tâm gắn liền tên tuổi H egel.  Phép biện chứng duy vật do M arx - Engels sáng lập vào giữa thế kỷ XIX. Trong thời kỳ cổ đại, các nhà tư tưởng đã khái quát một bức tranh chung về thế giới mang tính biện chứng dựa trên sự quan sát mang tính trực quan cảm tính. Ví dụ: trong thời kỳ đó, H ecralite đưa ra luận điểm nổi tiếng, cho rằng trong thế giới không có sự vật, hiện tượng nào đứng im tuyệt đối mà vạn vật vừa tồn tại, vừa không tồn tại, chúng luôn trôi qua, luôn nằm trong quá trình không ngừng sinh thành, biến đổi và chuyển hóa, cái này biến hóa thành cái kia và ngược lại. “Con người không ai tắm hai lần ở trong cùng một dòng sông”, nghĩa là vạn vật không ngừng thay đổi. Theo Hecralite, dòng sông ngày hôm nay sẽ không là dòng sông của ngày hôm qua vì dòng nước đã thay đổi. Chúng ta ngày Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 9 SVTH: Trần Đăng Ninh hôm qua và hôm nay cũng khác nhau bởi theo biến đổi tâm sinh lý trong cơ thể. Tư tưởng đó là tư tưởng biện chứng. Sau này học trò của H ecralite còn nói lên phép biện chứng còn hơn cả thầy mình là: “Con người không ai tắm một lần ở trong cùng một dòng sông”. Với tư tưởng đó mới chỉ ra thấy rằng thế giới là sự vận động, phát triển liên tục và vô tận. Tuy nhiên, cả thế giới vận động, phát triển theo quy luật biện chứng nào thì tư tưởng biện chứng ở thời cổ đại không trả lời câu hỏi đó. Phương pháp biện chứng ở thời kỳ cổ đại mang tính chất sơ khai và thời kỳ này phép biện chứng chưa thật sự trở thành khoa học. Chính vì vậy ở thế kỷ XVII - X VIII, khi phong kiến phát triển thì phép biện chứng đã bị phủ định bởi phép siêu hình. Sự phát triển của khoa học tự nhiên thế kỷ XVII và XVIII, đặc biệt là sự phát triển của vật lý học và toán học khiến người ta nhìn nhận thế giới ở trong trạng thái bất biến và cô lập. Ảnh hưởng của khoa học Newton, người ta cho rằng thế giới là một kho đáy khổng lồ và các bộ phận thế giới là những bộ phận riêng biệt, tách rời nhau. Cũng thời kỳ này, sự phát triển của khoa học tự nhiên đòi hỏi phát triển khoa học tự nhiên để phát triển lực lượng sản xuất. K hi khoa học tự nhiên phát triển như vậy dẫn đến sự ra đời của một phương pháp nghiên cứu, gọi là phương pháp thực nghiệm. Thực nghiệm là khảo sát, nghiên cứu của hiện tượng nào đó bằng cách tạo ra điều kiện phùhợp với mục đích nghiên cứu. Ở trong khoa học tự nhiên, thực nghiệm thực hiện trong phòng thí nghiệm để nghiên cứu hiện tượng nào đó. Bằng phương pháp thực nghiệm, khi khảo sát hiện tượng A trong giới tự nhiên, người ta tạm thời cô lập nó, không tính tới sự hình thành, biến đổi và phát triển của nó. Từ đó người ta có thói quen nhìn nhận các sự vật, hiện tượng nghiên cứu trong trạng thái bất biến và cô lập, dẫn đến sự ra đời và thống trị của phương pháp siêu hình trong triết học. Chính phép biện chứng trong thời cổ đại chất phác đã bị phủ định bởi phương pháp siêu hình vào thế kỷ XVII và X VIII. Đ ến nửa đầu thế kỷ XIX, phép biện chứng đã phát triển lên trình độ lý luận trong phép biện chứng duy tâm của H egel, chính H egel làm sống lại tư tưởng biện chứng. Có thể nói H egel là người đầu tiên có công nâng phép biện chứng từ trình độ tự phát lên trình độ lý luận và và chính ông là người đầu tiên đã khái quát được đầy đủ phép biện chứng dưới dạng nguyên lý, quy luật, phạm trù. Toàn bộ hai nguyên lý, ba quy luật và sáu phạm trù chính M arx kế thừa của Hegel. Theo phép biện chứng của Hegel, các sự vật, hiện tượng trên thế giới không cô lập, tách rời nhau mà liên hệ tác động qua lại với nhau và không ngừng chuyển hóa cho nhau, nghĩa là vạn vật liên hệ với nhau một cách phổ biến. Điều này hiện nay đã được khoa học chứng minh. Theo H egel, vạn vật không những liên Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 10 SVTH: Trần Đăng Ninh hệ, tác động qua lại với nhau mà còn không ngừng vận động và phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện cho đến hoàn thiện hơn. Nguồn gốc của động lực và phát triển là sự đấu tranh của những mặt đối lập. Đ ây là tư tưởng hoàn toàn bình đẳng, hợp lý. Đây cũng là quan điểm của triết học M arx về sau này. Ví dụ:  Nguyên tử vận động vì nguyên tử là thể thống nhất của những mặt đối lập trong lòng nó, hạt nhân mang điện tích âm dương.  Cơ thể sống vận động biến đổi vì cơ thể sống là thể thống nhất những mặt đối lập trong lòng nó, đó là đồng hóa, dị hóa, biến dị, di truyền, hấp thụ, bài tiết.  Nền kinh tế biến đổi, phát triển bởi sự đấu tranh của những mặt đối lập trong lòng nó: cung và cầu, tích lũy và tiêu dùng, kế hoạch hóa và vô chính phủ… Cách thức phát triển là chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại (quy luật vật chất). N guyên nhân phát triển là theo con đường xoắn ốc mà mỗi vòng khâu của nó là một mắc xích quá trình phủ định của phủ định. Phủ định biện chứng là một sợi dây chuyền diễn ra liên tục và vô tận trong tất cả lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy. Liên tục diễn ra cái mới hay cái cũ nhưngnó kế thừa cái cũ những mặt tích cực, còn khả năng thúc đẩy sự phát triển. Và cũng theo phép biện chứng của H egel, giữa cái chung và cái riêng, nguyên nhân và kết quả, tất nhiên và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, bản chất hiện tượng, khả năng và hiện thực nó không cô lập nhau, cũng không tách rời nhau mà chuyển hóa cho nhau. Toàn bộ hai nguyên lý: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý sự phát triển; ba quy luật cơ bản: quy luật mâu thuẫn, quy luật lượng chất, quy luật phủ định của phủ định và sáu quy luật phạm trù: cái chung cái riêng, nguyên nhân kết quả, tất nhiên ngẫu nhiên, nội dung hình thức, bản chất hiện tượng, khả năng hiện thực đã được Hegel khái quát. Nhưng vì phép biện chứng của Hegel mang tính duy tâm nên toàn bộ những nguyên lý, quy luật phạm trù đó được Hegel trình bày trên lập trường duy tâm, vì vậy, vai trò khám phá chân lý của nó bị giảm đi. Sau này giữa thế kỷ X IX , chính M arx và Engels đã phải cải tạo phép biện chứng của H egel, đặt nó trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật và sáng tạo ra hình thức thứ ba của phép biện chứng, đó chính là phép biện chứng duy vật. N ói đến phép biện chứng của M arx và Engels không thể không nói đến phép biện Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 11 SVTH: Trần Đăng Ninh chứng của H egel. Đ ánh giá của M arx đối với phép biện chứng của H egel vì chính M arx không những đã chỉ phê phán một cách sâu sắc phép biện chứng của Hegel mà còn cải tạo phép biện chứng đó, xây dựng nên phép biện chứng duy vật duy nhất và thực sự khoa học với mẫu mực tuyệt vời của nó là tác phẩm chủ yếu của ông - bộ "Tư bản". M arx viết: “Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Hegel tuyệt nhiên không ngăn cản Hegel trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung. Phép biện chứng của H egel bị lộn ngược đầu xuống đất, chỉ cần dựng ngược lại là tiền nhân nhân hợp lý của nó đằng lớp vỏ thần đó. Phép biện chứng của Hegel nếu đặt trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật giống như con người đi bằng hai chân vậy, nhưng vì đặt trên nền tảng của chủ nghĩa duy tâm, bao bọc bởi những lời thông thái thông thường giống một người lộn ngược đầu xuống đất, chân trỏng lên trời”. Nhiệm vụ của M arx là dựng ngược lại, tìm hạt nhân hợp lý. Chính M arx và Engels đã làm điều đó. Hai ông loại bỏ chủ nghĩa duy tâm và kế thừa hạt nhân hợp lý, đó chính là phép biện chứng. Trong triết học của M arx phép biện chứng duy vật, nội dung gồm hai nguyên lý, ba quy luật và sáu phạm trù. Người đầu tiên khái quát nên những nguyên lý, quy luật và phạm trù đó không phải là M arx mà là Hegel. Hegel là nhà bác học có tri thức bách khoa, là một thiên tài sáng tạo, chỉ có điều phép biện chứng của Hegel bị ông đặt trên nền tảng của chủ nghĩa duy tâm nên vai trò khám phá chân lý của nó bị giảm đi. G iữa thế kỷ X IX, M arx và Engels đã cải tạo lại phép biện chứng của Hegel, đặt nó trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật và từ đó sáng tạo nên phép biện chứng duy vật. Nhà sáng lập chủ nghĩa M arx không bao giờ coi công việc của mình nhằm chỉnh lý và cải tạo một cách duy vật đối với phép biện chứngcủa H egel đã hoàn tất. Trái lại, cho đến tận cuối đời, các ông vẫn không ngừng nhắc nhở rằng cần phải có những nghiên cứu chuyên sâu và những khái quát mới về phép biện chứng của H egel. N oi theo tấm gương của M arx và Engels, V.I.Lenin cũng kiên trì nhấn mạnh về sự cần thiết phải tiếp tục công việc chỉnh lý một cách duy vật đối với phép biện chứng của Hegel. Trong bài viết "Về tác dụng của chủ nghĩa duy vật chiến đấu" – tác phẩm được coi một cách xác đáng là di chúc triết học của Lenin - ông kêu gọi thành lập "H ội những người bạn duy vật của phép biện chứng Hegel" để tiến hành công tác nghiên cứu giải thích và tuyên truyền phép biện chứng của H egel: "Dựa vào cách của M arx đã vận dụng phép biện chứng của Hegel hiểu theo quan điểm duy vật, chúng ta có thể và cần phải nghiên cứu phép biện chứng đó trên tát cả các mặt". Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 12 SVTH: Trần Đăng Ninh Phép biện chứng của Hegel là một trong những cống hiến vĩ đại của ông trong quá trình phát triển văn hóa khoa học của nhân loại, đặc biệt là trong sự ra đời của triết học M arx. Từ đó cho thấy rằng hạt nhân phép biện chứng của Hegel là tư tưởng về sự phát triển. Hegel đã mang lại phong cách tư duy mới, đó là phong cách tư duy biện chứng. H egel, một nhà bác học kiêu căng nhất trong lịch sử, là một thiên tài sáng tạo có tri thức bách khoa, ông từng tuyên bố rằng nhân loại không tìm bộ óc nào vĩ đại hơn Hegel được nữa. Chính H egel là người đã khái quát nên phép biện chứng, đây là thằng bé trai đẹp kháu khỉnh mà Engels đã từng ví. Engels ví: “Phép biện chứng của Hegel như thằng bé trai đẹp kháu khỉnh được sinh ra bởi một người đàn bà nhưng chủ nghĩa duy tâm của Hegel là nước dơ, nước bẩn trong chậu nước. Khi sinh em bé này, người ta đặt nó trong chậu nước bẩn thì bình thường phải hắt nước bẩn giữ thằng bé để nuôi thằng bé lớn, nhưng chỉ có điều đáng tiếc là L.Feurbach khi kế thừa H egel thì kế thừa nguyên si, nhưng khi loại bỏ thì loại bỏ cả duy tâm và phép biện chứng”. Do đó Engels nói rằng: “Ông Lút vích L.Feurbach khi ông hắt nước bẩn trong chậu nước thì đồng thời hắt luôn cả thằng bé ngồi trong chậu nước”, nghĩa là Engels ví phép biện chứng của H egel giống như thằng bé kháu khỉnh được sinh ra bởi người đàn bà, còn chủ nghĩa duy tâm của H egel là nước dơ, nước bẩn trong chậu nước. Bình thường khi mới sinh em bé, người ta đặt em bé trong chậu nước bẩn và sau đó người ta hắt nước bẩn đi để nuôi em bé lớn nhưng L.Feurbach không làm điều đó. Phê phán của Engels đối với L.Feurbach là cực kỳ sâu sắc để thấy được rằng M arx và Engels đánh giá cực kỳ cao Hegel và không phải ngẫu nhiên M arx và Engels thừa nhận H egel là người thầy vĩ đại của mình. K hông có phép biện chứng của H egel thì không có phép biện chứng của M arx và Engels giữa thế kỷ XIX. Người thầy vĩ đại nhất M arx phải thừa nhận chính là Hegel. M arx tuyên bố rằng: “Hegel là người thầy vĩ đại của tôi về phép biện chứng”. Cha đẻ của thuyết tương đối là Enstein, một nhà bác học chính xác đến cau có, nghiệt ngã phải tuyên bố rằng: “Tiến sĩ M arx là một người thực sự nghiêm túc khoa học, nghiêm túc đến nỗi ông ta suy tôn H egel - kẻ thù của mình - là người thầy của mình về phép biện chứng. Cả cuộc đời của M arx có một người duy nhất M arx thừa nhận là thầy, đó chính là Hegel”. M ặc dù Hegel là một cái đầu bách khoa nhất của thời đại mình song ông vẫn bị hạn chế. - M ột là bởi những giới hạn không thể tránh được của sự hiểu biết của bản thân ông. - Hai là bởi những kiến thức và những quan niệm của thời đại ông cũng có tính chất Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 13 SVTH: Trần Đăng Ninh hạn chế như thế cả về khối lượng lẫn về chiều sâu. - Ba là Hegel là một nhà duy tâm, nghĩa là đối với Hegel, những tư tưởng trong đầu óc của mình không phải là những phản ánh ít trừu tượng của những sự vật và quá trình hiện thực, mà ngược lại, đối với ông, những sự vật và phát triển của chúng chỉ là những phản ánh vốn là hiện thân của một "ý niệm" tồn tại ở một nơi nào đó ngay trước khi có thế giới. N hư vậy, tất cả đều bị đặt lộn ngược và mối liên hệ hiện thực của thế giới đều hoàn toàn bị đảo ngược. M ặc dầu H egel đã nắm được một cách đúng đắn và thiên tài một số liên hệ cá biệt giữa các hiện tượng nhưng do những nguyên nhân nói trên, về chi tiết, nhiều cái trong hệ thống của ông ta nhất định phải có tính chất gò ép, giả tạo, hư cấu, tóm lại là bị giải thích sai lệch đi. H ệ thống Hegel, với tư cách là một hệ thống như thế, là một cái thai đẻ non khổng lồ nhưng đó cũng là cái thai đẻ non cuối cùng trong loại. Cụ thể là hệ thống ấy chứa đựng một mâu thuẫn bên trong không thể cứu chữa được: một mặt, tiền đề cơ bản của nó là một quan điểm lịch sử cho rằng lịch sử nhân loại là một quá trình phát triển mà xét về bản chất thì không thể tìm được đỉnh cao của nó về mặt trí tuệ trong việc phát hiện ra cái gọi là chân lý tuyệt đối. Nhưng mặt khác, hệ thống Hegel lại khẳng định rằng nó là hiện thân của chính ngay chân lý tuyệt đối ấy. M ột hệ thống nhận thức về tự nhiên và lịch sử bao quát tất cả và hoàn tất một lần là xong vĩnh viễn, là mâu thuẫn với những quy luật cơ bản của hệ tư duy biện chứng; nhưng điều đó hoàn toàn không loại trừ mà trái lại còn bao hàm việc cho rằng sự hiểu biết có hệ thống về toàn bộ thế giới bên ngoài có thể đạt được những bước tiến khổng lồ từ thế hệ này qua thế hệ khác. Tuy có nhược điểm là mâu thuẫn giữa phép biện chứng có tính cách mạng với hệ thống duy tâm có tính chất bảo thủ nhưng triết học của Hegel thực sự là một hệ thống đồ sộ, kỳ vĩ nhất trong lịch sử trước M arx nói chung và trong triết học cổ điển Đức nói riêng. Như vậy, muốn thấy được giá trị đích thực của phép biện chứng H egel phải luôn luôn lật ngược vấn đề: biện chứng khách quan sinh ra biện chứng chủ quan nghĩa là phải nghiên cứu triết học Hegel trên tinh thần duy vật. 3. Q uan điểm xã hội của He gel: - Q uan điểm nguồn gốc và bản chất Nhà nước: con người bản tính bất bình đẳng vì vậy mọi sự bất công, mọi tệ nạn xã hội là những hiện tượng tất yếu của sự phát triển xã hội. Vì nó xuất phát từ bản tính con người do đó trong xã hội thường xuyên xảy ra mâu Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 14 SVTH: Trần Đăng Ninh thuẫn, xung đột giữa các tầng lớp khác nhau cũng như mối cá nhân với xã hội. Chính vì những mâu thuẫn xã hội trên mà N hà nước phải xuất hiện nhằm dung hòa các mâu thuẫn giữa người giàu với người nghèo, giữa các đẳng cấp xã hội khác nhau nhằm định hướng phát triển xã hội. - Q uan điểm về lịch sử: H egel coi lịch sử là sự thống nhất giữa tính khách quan và tính chủ quan trong hoạt động của con người, dẫu vậy ông cho rằng lịch sự không bao giờ diễn ra theo ý muốn chủ quan của họ mà trái lại thế giới hiện thực thế nào thì tất yếu phải như thế. Lịch sử nhân loại diễn ra thông qua lịch sử của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc riêng lẻ, sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc không thể vượt ra ngoài khung cảnh lịch sử toàn thế giới nói chung mà phải tham gia vào lịch sử nhân loại. - Q uan điểm về vĩ nhân và lãnh tụ: vĩ nhân của mỗi thời đại lịch sử là những người suy nghĩ và hiểu được những gì là cần thiết những gì là hợp thời. Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 15 SVTH: Trần Đăng Ninh KẾT LUẬN Phép biện chứng duy tâm của Hegel là một thành tựu vĩ đại của triết học cổ điển Đức. Cho dù có những ý kiến đánh giá khác nhau về triết học Hegel song không thể phủ nhận được rằng cái có giá trị nhất và có sức sống mạnh mẽ nhất trong triết học của ông chính là phép biện chứng duy tâm. Hegel là người có công phê phán tư duy siêu hình và ông cũng là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình, nghĩa là trong sự liên hệ, vận động, biến đổi và phát triển không ngừng. Trong khuôn khổ hệ thống triết học duy tâm của mình, Hegel không chỉ trình bày các phạm trù như: chất, lượng, phủ định, mâu thuẫn mà ông còn là người diễn đạt được các quy luật theo khuôn khổ của phép biện chứng, nghĩa là ông coi sự liên hệ, vận động phát triển của thế giới tuân theo các quy luật như “Lượng đổi dẫn đến chất đổi và ngược lại”, “Phủ định của phủ định” với tư cách là sự phát triển diễn ra theo hình “Xoáy ốc” và quy luật mâu thuẫn với tư cách là nguồn gốc động lực của sự phát triển. Như vậy, những vấn đề cốt lỗi nhất đã được Hegel đề cặp một cách bao quát nhất. Nhưng khi trình bày quy luật của phép biện chứng Hegel lại cho rằng “Tất cả những quy luật đó chỉ là sản phẩm của sự vận động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối”. Do đó, phép biện chứng của Hegel là phép biện chứng duy tâm, hệ thống triết học của ông là hệ thống triết học duy tâm. Nét đặc trưng của hệ thống đó là không phải ý thức phát triển trong sự phụ thuộc vào sự phát triển của tự nhiên và xã hội mà ngược lại, tự nhiên và xã hội phát triển trong sự phụ thuộc vào sự phát triển của ý niệm tuyệt đối. Marx và Engels đã phê phán một cách triệt để tính chất duy tâm trong phép biện chứng của Hegel. Đồng thời, các ông cũng kế thừa, tiếp thu những mặt tiến bộ trong phép biện chứng ấy để hình thành phép biện chứng duy vật và các ông coi Hegel là người có nhiều công lao trong việc phát triển phép biện chứng. Chính học thuyết của Hegel là thứ triết học đã biến phép biện chứng thành trung tâm, thành hạt nhân đích thực của toàn bộ hệ vấn đề triết học. Phép biện chứng được Hegel lý giải là phương pháp đúng đắn để nhận thức các vấn đề triết học. Phương pháp tư duy biện chứng được ông nghiên cứu một cách đầy đủ nhất và có căn cứ vững chắc, là phương pháp chưa từng thấy trong lịch sử triết học trước Marx. Trong triết học Hegel, phép biện chứng biểu hiện ra là lý luận nhận thức và là hình thức cao nhất của logic học, của tư duy logic. Đồng thời nó cũng chế định một thế giới quan đặc biệt cần đặt trên niềm tin vào tính tất yếu của sự tiến bộ với tư cách là kết quả của sự phát triển hợp quy luật. Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 16 SVTH: Trần Đăng Ninh Do tính hạn chế của các điều kiện lịch sử và thiên hướng động hòa với trật tự xã hội Phổ hiện tồn thời đó mà Hegel đã có những kết luận mâu thuẫn và không nhất quán. Trái với các nguyên tắc xuất phát của mình, Hegel đã đặt ra một giới hạn cho sự phát triển của nhân loại, kể cả cho sự phát triển của triết học sau khi tuyên bố rằng học thuyết của mình là sự kết thúc tuyệt đối hoàn thiện của tư tưởng triết học. Nhưng ngay cả những điều ấy cũng không làm mất đi ý nghĩa tiến bộ của các nguyên tắc biện chứng xuất phát của Hegel. Phù hợp với chúng, Hegel quan niệm lịch sử toàn cầu là sự tiến bộ trong nhận thức về tự do. Cho dù bản chất của tự do có được hiểu khác nhau xong việc thừa nhận nó vẫn trở thành một trong những tiêu chuẩn quan trọng của chủ nghĩa nhân đạo và về sự công bằng xã hội. Gần hai thế kỷ đã trôi qua kể từ khi hệ thống triết học Hegel ra đời, song ảnh hưởng của nó trong đời sống tinh thần nhân loại vẫn không ngừng tăng lên. Bởi lẽ như Engels đã khẳng định: "Hệ thống Hegel bao trùm một lĩnh vực hết sức rộng hơn bất cứ hệ thống nào trước kia và phát triển trong lĩnh vực đó. Một sự phong phú về tư tưởng mà ngày nay người ta vẫn còn ngạc nhiên... Vì Hegel không những chỉ là một thiên tài sáng tạo mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa nên những phát biểu của ông tạo thành thời đại... Nếu đi sâu hơn nữa vào trong toà nhà đồ sộ, người ta sẽ thấy trong đó có vô số những vật quý giá đến nay vẫn còn giữ được toàn bộ giá trị của chúng... Nói chung, với Hegel, triết học đã đi đến điểm tận cùng. Một mặt vì trong hệ thống của ông, ông đã tổng kết một cách hết sức hùng vĩ toàn bộ sự phát triển của triết học. Mặt khác, vì Hegel dù không có ý thức cũng đã chỉ cho chúng ta con đường thoát khỏi cái mớ bòng bong những hệ thống triết học để đi tới sự nhận thức thực sự tích cực về thế giới". Là những người ủng hộ sự phát triển, sáng tạo phép biện chứng, chúng ta đánh giá cao công lao vĩ đại của Hegel cho phép biện chứng và coi việc tiếp tục tổng kết khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học và của thực tiễn hiện đại để làm giàu thêm phép biện chứng duy vật của Marx là nhiệm vụ quan trọng và không bao giờ kết thúc. Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 17 SVTH: Trần Đăng Ninh TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. TS. Bùi Văn Mưa (chủ biên), Giáo trình Triết học, Nxb Đại học kinh tế Tp. HCM, 2011. 2. GS.TS Nguyễn Ngọc Long, Giáo trình Triết học Mac – Lênin, Nxb giáo dục, 2002. 3. Lưu Phóng Đồng (chủ biên), Triết học phương Tây hiện đại, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004. 4. Nguyễn Hữu Vui (chủ biên), Lịch sử triết học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002. 5. Paul Redding, Thông diễn học của Hegel, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 2006, dịch bởi Lê Tuấn Huy.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftieuluantriet_phepbienchunghegel_trandangninh_2837.pdf