Tiểu luận Triết: Con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước ở Việt Nam

LỜI NÓI ĐẦU Tại sao lại phải nghiên cứu về phạm trù con người và vấn đề về con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong khi thế giới đã trải qua hai cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vĩ đại và trên thế giới đã có rất nhiều, rất nhiều nước đã trở thàmh những nước công nghiệp lớn. Phải chăng đó là vì công nghiệp hoá, hiện đại hoá là phương thức duy nhất để phát triển nền kinh tế thế giới và bất kỳ một quốc gia nào bỏ qua quá trình này đều sẽ trở nên quá chậm, quá lạc hậu so với bước đi của thế giới? Và phải chăng giống như các quốc gia khác, Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật chung đó? Nhưng quan trọng hơn cả, phải chăng con người là chủ thể, là mấu chốt, là điểm khởi đầu cũng như là cái đích của quá trình lâu dài này? Đúng là trên thực tế ở nhiều quốc gia công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã tạo ra nhiều thành tựu khoa học không thể phủ nhận được. Chẳng hạn việc sử dụng năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời đã làm giảm sự phụ thuộc của con người vào nguồn năng lượng khoáng sản; sự ra đời của các vật liệu tổng hợp không những giúp con người giảm phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên không tái sinh được mà cung cấp cho con người nguồn vật liệu mới có tính năng ưu việt hơn và tái sinh được. Nhờ phát minh con người sử dụng nguồn vật liệu mới này mà con người đã có thể thu nhỏ máy tính điện tử xuống hàng vạn lần về thể tích đồng thời tăng hiệu năng của nó lên hàng chục vạn lần so với ba chục năm trước. Sự ra đời và xuất hiện các loại vật liệu mới đang ngày càng trở thành nhân tố vô cùng quan trọng của sự phát triển sức sản xuất xã hội và tiến bộ khoa học công nghệ. Cùng với quá trình tự động hoá, tiến bộ khoa học công nghệ cho thấy khả năng loài người sẽ tiến tới một xã hội của cải tuôn ra dào dạt. Còn ở Việt Nam thì sao? Cho đến nay,Việt Nam vẫn thuộc loại những nước nghèo nhất thế giới, nền kinh tế vẫn ở tình trạng lạc hậu, còn mang tính chất tự cấp, tự túc, đất nước chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, lạm phát còn ở mức cao, sản xuất chưa ổn định, tình hình mất cân đối vẫn nghiêm trọng, bội chi ngân sách còn lớn, tốc độ tăng dân số cao, lao động thất nghiệp hoặc không đủ việc làm ngày càng tăng (6,28% dân số thành thị thất nghiệp), đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn; tổng sản phẩm quốc dân (GDP) tính theo đầu người thuộc loại thấp nhất thế giới: 220USD năm 1993 và 428 USD năm 2001 thấp hơn Lào 1700USD, Bangladesh 1410USD, Tháilan 5757USD, Malaysia 8513, Đài Loan 17495, tốc độ tăng bình quân chậm hơn nhiều nước trong khu vực. Gắn liền với nền kinh tế đó là lối làm ăn tản mạn và tuỳ tiện của sản xuất nhỏ. Cùng với những thuyền thống tốt đẹp mà chúng ta đang kế thừa cũng có những truyền thống lạc hậu của người đã chết đang đè nặng lên vai người đang sống Vì vậy muốn không bị tụt hậu xa hơn nữa, muốn ổn định mọi mặt để đi lên và phát triển thì tất yếu phải thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá VII (từ 24/11/1993 đến 1/12/1993) và Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (20-25/1/1994) đã xác định tới đây nước ta “chuyển dần sang một thời kỳ phát triển mới, đẩy tới một bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằm tạo thêm nhiều công ăn việc làm, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Đây là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới.”Chủ trương đó tiếp tục được hoàn thiện và có bước phát triển mới ở các Đại hội VII,VIII,IX và trong nhiều Nghị quyết quan trọng của Trung ương. Song dựa vào đâu để đảm bảo việc thực hiện nó cho thật hiệu quả và không phải trả giá quá đắt thì lại không dễ dàng; bởi vì từ chỗ thấy được tính tất yếu nếu không cẩn thận lại dễ sa vào duy ý chí như đã từng xảy ra trước đây hoặc trái lại nếu chỉ thấy khó khăn, bất lợi, thiếu điều kiện rồi cam chịu tụt hậu thì lại là một tai họa. Như vậy cũng có nghĩa là chúng ta đã để lại cho thế hệ tương lai một cái gánh quá nặng và sẽ có tội rất lớn đối với những ai đã hy sinh xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc bảo vệ đất nước.

doc16 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 31/01/2013 | Lượt xem: 7225 | Lượt tải: 14download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Triết: Con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
oá đất nước. Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá VII (từ 24/11/1993 đến 1/12/1993) và Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (20-25/1/1994) đã xác định tới đây nước ta “chuyển dần sang một thời kỳ phát triển mới, đẩy tới một bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằm tạo thêm nhiều công ăn việc làm, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Đây là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới.”Chủ trương đó  tiếp tục được hoàn thiện và có bước phát triển mới ở các Đại hội VII,VIII,IX và trong nhiều Nghị quyết quan trọng của Trung ương. Song dựa vào đâu để đảm bảo việc thực hiện nó cho thật hiệu quả và không phải trả giá quá đắt thì lại không dễ dàng; bởi vì từ chỗ thấy được tính tất yếu nếu không cẩn thận lại dễ sa vào duy ý chí như đã từng xảy ra trước đây hoặc trái lại nếu chỉ thấy khó khăn, bất lợi, thiếu điều kiện rồi cam chịu tụt hậu thì lại là một tai họa. Như vậy cũng có nghĩa là chúng ta đã để lại cho thế hệ tương lai một cái gánh quá nặng và sẽ có tội rất lớn đối với những ai đã hy sinh xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc bảo vệ đất nước. Nhưng nếu chỉ có như vậy thì tại sao lại phải đề cập đến vấn đề con người? Liệu có phải con người đang giữ một vai trò gì đó trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, và hơn thế nữa phải chăng đó là một vai trò quan trọng, quyết định sự thành bại của sự nghiệp đổi mới này? Trước hết có thể nói rằng xã hội loài người tồn tại và phát triển dựa vào hai nguồn tài nguyên là: thiên nhiên và con người. Cái quý nhất trong nguồn tài nguyên con người là trí tuệ. Theo quan niêm cổ điển, mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên đều có hạn và đều có thể bị khai thác cạn kiệt. Song, sự hiểu biết của con người đã, đang và sẽ không bao giờ chịu dừng lại, nghĩa là nguồn tài nguyên trí tuệ không có giới hạn. Tính vô tận của nguồn tiềm năng trí tuệ là nền tảng để con người nhận thức tính vô tận của thế giới vật chất, tiếp tục nghiên cứu những nguồn tài nguyên thiên nhiên còn vô tận nhưng chưa được khai thác và sử dụng, phát hiện ra những tính năng mới của những dạng tài nguyên đang sử dụng hoặc sáng tạo ra những nguồn tài nguyên mới vốn không có sẵn trong tự nhiên, nhằm phục vụ cho sự phát triển của xã hội trong những điều kiện mới. Bởi vậy có thể nói, trí tuệ con người là nguồn lực vô tận của sự phát triển xã hội. Đồng thời, nguồn lực phát triển của xã hội, trước hết và quan trọng hơn cả cũng chính là con người- nguồn tiềm năng sức lao động. Con người đã làm nên lịch sử của chính mình bằng lao động được định hướng bởi trí tuệ đó. Ta đã biết rằng, “tất cả cái gì thúc đẩy con người hoạt động đều tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ”(1), tức là phải thông qua trí tuệ của họ. Trước tiên, những nhu cầu về sinh tồn đã thúc đẩy con người hoạt động theo bản năng như bất kỳ một động vật nào khác. Nhưng rồi “bản thân con người bắt đầu tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình- đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định” (2). Sự khác biệt căn bản về mặt “tổ chức cơ thể” giữa con người và con vật chính là bộ óc và đôi bàn tay. Bộ óc điều khiển đôi bàn tay, nghĩa là bằng trí tuệ (bộ óc) và lao động (đôi bàn tay) con người đã tiến hành hoạt động biến đổi tự nhiên làm nên lịch sử xã hội, đồng thời trong quá trình đó đã biến đổi cả bản thân mình. Cho đến khi lực lượng sản xuất phát triển, đánh dấu bởi những phát minh khoa học, những công nghệ hiện đại thì trí tuệ con người vẫn có sức mạnh áp đảo. Những tư duy máy móc, trí tuệ nhân tạo… dù rộng lớn đến đâu, dù dưới hình thức hoàn hảo nhất cũng chỉ là một mảng cực nhỏ, một sự phản ánh rất tinh tế thế giới nội tại của con người, chỉ là kết quả của quá trình phát triển khoa học kinh tế, của hoạt động trí tuệ của con người. Mọi máy móc dù hoàn thiện, dù thông minh đến đâu cũng chỉ là kẻ trung gian cho hoạt động của con người. Do đó con người luôn luôn đã và vẫn là chủ thể duy nhất của mọi hoạt động trong xã hội. Thực tiễn ngày nay càng khẳng định tính đúng đắn trong quan niệm của Mác về vị trí vai trò không gì thay thế được của con người trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, của xã hội loài người. Bản thân sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà chúng ta đang từng bước thực hiện với những thành công bước đầu của nó cũng ngày càng đòi hỏi mỗi chúng ta phải nhận thức sâu sắc “những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người”, thấy rõ vai trò của con người trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội trên thực tế và trong quan niệm của mỗi chúng ta, con người ngày càng thể hiện rõ vai trò là “chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hoá, mọi nền văn minh của các quốc gia” (3). Bởi vậy để đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN và đưa sự nghiệp cách mạng lớn lao đó đến thành công ở một nước vẫn còn trong tình trạng lạc hậu như nước ta, chúng ta không thể không phát triển con người Việt Nam, nâng cao đội ngũ những người lao động nước ta lên một tầm cao chất lượng mới. Nhận định này đã được khẳng định trong nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Nhận định này tiếp tục được khẳng định và có bước phát triển mới ở Đại hội IX và nhiều Nghị quyết quan trọng của Trung ương. Một lần nữa ta có thể khẳng định tính cấp thiết và ý nghĩa quan trọng của việc nghiên cứu đề tài này. Qua đó, triết học tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của  mình trong đời sống xã hội và trong công cuộc đổi mới đất nước. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta được tiến hành như thế nào, quy mô và nhịp độ của nó ra sao, điều đó một phần tuỳ thuộc vào sự đóng góp của triết học. Qua đó em chọn đề tài “Vai trò của con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nứơc CHƯƠNG 1 CON NGƯỜI - KHÁI QUÁT VỀ CON NGƯỜI 1.1. Quan niệm chung về con người trong lịch sử triết học trước Mác Triết học duy vật trước Mác, coi con người là một thực thể tự nhiên- thực thể xã hội. Song họ cũng không vượt qua tính chất siêu hình và thậm chí còn là duy tâm. Theo triết học Phương Đông với sự chi phối bởi thế giới quan duy tâm hoặc duy vật chất phác thơ ngây, biểu hiện trong tư tưởng Nho Giáo, Lão Giáo, quan niệm về bản chất con người củng thể hiện một cách phong phú. Chẳng hạn như Khổng Tử quy tính thiện của con người vào năng lực bẩm sinh, do ảnh hưởng bởi phong tục, tập quán xấu mà bị nhiễm cái xấu, xa rời cái tốt đẹp. Củng như Khổng Tử, Mạnh Tử cho rằng phải lấy lòng nhân ái, quan hệ đạo đức để dẫn dắt con người hường tới các giá trị dạo đức tốt đẹp. Tuân Tử cho rằng bản chất con người khi sinh ra là ác nhưng có thể cải biến được, qua một quá trình chống lại cái ác ấy thì con người mới tốt được. Lão Tử cho rằng con người sinh ra từ “ Đạo” . Do vậy con người cần phải sống theo lẽ tự nhiên thuần phát, không hành động một cách giả tạo, gò ép trái với quy luật tự nhiên. Củng như triết học phương Đông, triết học phương Tây củng có nhiều quan niệm khác nhau về con người. Đặc biệt là Kitô giáo, họ nhận thức con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm và thần bí. Triết học Hy Lạp cổ đại bước đầu củng đã có sự phân biệt con người với giới tự nhiên, nhưng củng chỉ là hiểu biết bên ngoài về tồn tại con người. Triết học thời kỳ phục hưng cận đại đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lý tính của con người, xem con người là một thực thể có trí tuệ. Nói chung nền triết học thời bấy giờ, vấn đề con người vẩn chưa được nhận thức đầy đủ cả về bản chất, về mặt sinh học và xã hội. Con người mới chỉ được nhấn mạnh về mặt cá thể, mà xem nhẹ mặt xã hội. Bởi vì họ đã quy đặc trưng bản chất con người theo khuynh hướng tuyệt đối hoá những thuộc tính tự nhiên hoặc thuộc tính xã hội, mà không thấy được vai trò của thực tiễn. Chẳng hạn, khi phê phán quan điểm duy tâm của Hêghen thì Phơbách cho rằng vấn đề giữa tư duy và tồn tại là vấn đề bản chất của con người vì chỉ có con người mới có tư duy và sự tồn tại của con người cũng như tư duy của con người không thể tách khỏi quá trình tâm sinh học. Tuy nhiên, Phơibách đã mắc phải sai lầm khi ông tuyệt đối hoá mặt sinh học của con người hoặc tách con người ra khỏi quan hệ hiện thực của xã hội hoặc ông quy bản chất con người vào tính tộc loại, mà đặc trưng của nó là tình cảm đạo đức, tôn giáo và tình yêu. Có thể khái quát rằng, các quan niệm về con người trong triết học trước Mác, dù đứng trên nền tảng thế giới quan duy tâm, nhị nguyên luận hoặc duy vật siêu hình, đều không phản ánh đúng bản chất con người. Họ đều xem xét con người một cách trừu tượng, tuyệt đối hoá về mặt tinh thần hoặc thể xác con người, tuyệt đối hoá mặt tự nhiên- sinh học mà không thấy được mặt xã hội trong đời sống con người. Tuy vậy củng không thể phủ nhận hết những thành tựu trong việc phân tích, quan sát con người, đề cao lý tính,, xác lập các giá trị về nhan bản học để hướng con người tới tự do. Đó là những tiền đề có ý nghĩa quan trọng cho việc hình thành tư tưởng về con người của triết học Macxít sau này. 1.2. Quan điểm của triết học Mác- Lênin về bản chất con người 1.2.1. Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh học với mặt xã hội Tiếp thu một cách mang tính phê phán những quan điểm có tính hợp lý và khắc phục những thiếu sót, hạn chế quan niệm về con người trong lịch sử triết học trước đó, Mác khẳng định rằng con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học với yếu tố xã hội. Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là sản phẩm của giới tự nhiên. Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học, tính loài. Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người.Vì vậy giới tự nhiên la ” thân thể vô cơ của con người”. Con người là một bộ phận của tự nhiên. Tuy nhiên, điều cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chất của con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt của con người với thế giới loài vật là mặt xã hội .Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất. Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ nhu cầu cuộc sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ, tư duy; xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy lao động chính là yếu tố quyết định bản chất xã hội của con ngươi, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội. Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển , con người luôn phải chịu sự tác động của ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thống nhất với nhau.Bao gồm: Hệ thống quy luật tự nhiên chịu sự quy định của mặt sinh học, hệ thống quy luật tâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con người , hệ thống quy luật xã hội quy định các quan hệ giữa người với người trong xã hội. 1.2.2. Bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội Con người là một thực thể xã hội được tách ra như một lực lượng đối lập với giới tự nhiên, sự tác động qua lại giữa cái sinh học và cái xã hội tạo thành bản chất của con người. Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên luận điểm nổi tiếng Luận cương về Phoiơbắc:” Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội”. Theo luận đề trên thì không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của lịch sử và xã hội. Luận đề đã khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người. Trái lại, điều đó muốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người và giới động vật trước hết là bản chất xã hội và đó củng là để khắc phục sự thiếu sót của những nhà triết học trước Mác, không thấy được bản chất xã hội của con người. Mặt khác, cái bản chất với ý nghĩa là cái phổ biến, là cái mang tính quy luật; vì vậy cần phải thấy được các biểu hiện riêng biệt, phong phú và đa dạng của mỗi cá nhân về cả phong cách, nhu cầu và lợi ích trong cộng đồng xã hội. Con người là sản phẩm của giới tự nhiên, song con người không hoàn toàn phụ thuộc vào giới tự nhiên mà đã vươn lên, tách xa thế giới động vật, trở thành con người của xã hội, sáng tạo ra lịch sử . Với vai trò là chủ thể của lịch sử con người phải được tự do, hạnh phúc, phải được phát triển các khả năng của mình. Nhưng không phải lúc nào và ở đâu con người cũng có đủ điều kiện để phát triển toàn diện.Vì vậy, một vân đề đã và đang đặt ra là các quốc gia nói riêng, nhân loại nói chung, phải coi con người là mục tiêu của sự phát triển của xã hội. 1.3. Con người là chủ thể của lịch sử, mục tiêu của sự phát triển xã hội 1.3.1. Con người là chủ thể của lịch sử Lịch sử loài người được hình thành khi con người biết chế tạo ra công cụ sản xuất, con người bắt đầu sinh sống theo một cách riêng, tách mình ra khỏi thế giới loài vật, hình thành thế giới loài người. Trong quá trình lao động sản xuất, con người không ngừng cải tiến công cụ, tích luỹ kinh nghiệm làm cho lực lượng của sản xuất của xh tiến dần từ trình đọ thấp lên trình độ ngày càng cao. Lực lượng sản xuất ptriẻn đã kéo theo sự thay đổi của các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Lịch sư xã hội từ chế độ cộng sản nguyên thủy đến nay, trước hết là lịch sử phát triển của các phương thức sản xuất . Trong các chế độ xã hội có quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất chỉ được thực hiện thông qua cuộc đấu tranh giai cấp. Cuộc đấu tranh này diễn ra hết sức gay gắt mà đỉnh cao là các cuộc cách mạng xã hội để xoá bỏ các quan hệ sản xuất lỗi thời. Ví dụ, cuộc đấu tranh của giai cấp nô lệ xoá bỏ quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động để xoá bỏ quan hệ sản xuất Tư bản chủ nghĩa . Như vậy, lịch sử nhân loại chính là lịch sử hoạt động thực tiễn của con người.Con người sáng tạo ra lịch sử dựa trên sự nhận thức và vận dụng qui luật khách quan. Trong giới tự nhiên, sự phát triển diễn ra một cách tự động, không thức. Ngược lại sự phát của xã hội gắn liền với ý thức những mục tiêu nhất định và lựa chọn những phương thức để đạt được những mục tiêu đó. Vì vậy, nhiều người lầm tưởng những qui luật khách quan chỉ chi phối giới tự nhiên, còn con người có thể có thể làm ra lịch sử theo ý muốn chủ quan của mình. thực ra không phải như vậy, hoạt động con người không chịu sự chi phối của những qui luật khách quan. Chỉ khi nào, những mục tiêu, phương thức hoạt động của con người phù hợp với quy luật khách quan thì nó mới trở thành hiện thực. 1.3.2. Con người là mục tiêu của sự phát triển xã hội Từ khi xuất hiện đến nay, loài người luôn cháy bỏng hoài bão được sống tự do, hạnh phúc và không ngừng đấu tranh để hoài bão đó được trở thành hiện thực. Trong các chế độ xã hội dựa trên quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất( chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản), các giai cấp thống trị luôn dùng mọi thủ đoạn để tước đoạt hoặc hạn chế quyền tự do và hạnh phúc của số đông quần chúng lao động , cho nên loài người không ngừng đấu tranh chống lại sự áp bức bất công đó. Xã hội ngày càng văn minh, đó xu hướng chủ yếu của xã hội. Nhưng cho đến nay, bước tiến của nền văn minh vẫn chứa đựng những yếu tố , những khuynh hướng đi ngược lại lợi ích chung của loài người, nhiều thành tựu của khoa học- kỹ thuật được sử dụng để huỷ diệt con người, công nghiệp hoá học tạo ra năng suất chất lượng lao động cao, nhưng lại gây ô nhiễm môi trường, máy móc thay thế sức người nhưng lại đẩy hàng chục triệu người vào thất nghiệp, xu thế hội nhập mở cửa tạo ra cơ hội phát triên cho mỗi người, cho các quốc gia nhưng lại nảy sinh những biểu hiện tiêu cực về lối sống làm mất bản sắc văn hoá dân tộc... Ông Nobel đã phát minh ra thuốc nổ, và nhờ thuốc nổ trở thành giàu có. nhưng bản thân ông lại không ngờ thuốc nổ lại sử dụng rộng rãi trong chiến tranh, tàn sát hàng chục triệu người vô tội. Ân hận về điều đó, ông đã để lại di chúc, đề nghị sử dụng gia tài mà ông có được do phát minh thuốc nổ, làm giải thưởng cho những ai có công trình khoa học đem lại hạnh phúc cho con người. Như vậy, Nobel đã đề xuất một tư tưởng: văn minh phải hướng tới nhân đạo. Thế kỷ XXI chắc chắn sẽ có nhiều biến đổi to lớn, khoa học và công nghệ sẽ có những bước tiến bất ngờ. Vì vậy nhiệm vụ đặt ra cho mỗi người, mỗi quốc gia là phải làm chủ được các thành tựu của văn minh. Vậy con người là chủ thể của lịch sử nên chính con người chứ không phải đối tượng nào khác, phải loại trừ những yếu tố ngăn cản tự do, hạnh phúc của con người, đồng thời thúc đẩy làm biến đổi xã hội theo chiều hướng ngày càng tốt đẹp hơn. Thế giới hiện nay còn chứa đựng những yếu tố khác đe doạ tự do và hạnh phúc của con người như đói nghèo, dịch bệnh, thất học, ô nhiễm môi trường, bất bình đẳng xã hội, nguy cơ khủng bo, chiến tranh…. Do đó mọi chủ trương chính sách, mọi hành động của cộng đồng quốc tế, của các quốc gia và hành động của mỗi cá nhân phải nhằm bảo vệ con người, vì tự do hạnh phúc của con người. Vì con người là chủ thể của lịch sử nên con người cần được tôn trọng, cần phải đảm bảo các quyền chính đág của mình, phải là mục tiêu của mọi tiến bộ xã hội. Chủ Nghĩa Tư bản hiện đại vẫn đang còn sự phát triển. Nhưng theo qui luật tiến hoá của lịch sử, tương lai sẽ thuộc về một xã hội tốt đẹp hơn. Một xã hội không có tình trạng áp bức, bóc lột, một xã hội thống nhất và văn minh với nhân đạo, một xã hội mà trong đó mọi người có cuộc sống tự do, hạnh phúc, và xã hội chỉ có thể là Xã Hội Chủ nghĩa. 1.3.3. Chủ Nghĩa Xã Hội ( CNXH) là sự phát triển toàn diện của con người Xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.... mọi người có cuộc sống tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân là mục tiêu cao cả cuả Xã Hội Chủ Nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “ tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bật là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập , dân tộc ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc ,ai cũng được học hành” Chủ Nghĩa Xã Hội đã trải qua bước phát triển quanh co, đày thử thách của lịch sử, nhưng đang vững bước đi lên và đạt nhiều kết quả trong mục tiêu vì sự phát triển toàn diện của con người. Nước ta là một nước nghèo đang trong giai đoạn quá độ đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội. Tuy vậy, Đảng và nhà nước luôn coi trọng con người, coi con người là mục tiêu của sự phát triển của xã hội, thể hiện ở các nhiệm vụ phát triển sau: Đưa đất nước ra khỏi tình trạng đói nghèo, kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất tinh thần của nhân dân. Thực hiện công bằng trong phân phối, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội . Bằng nhiều giải pháp tạo ra nhiều việc làm cho người lao động. Phát triển kinh tế phù hợp với các vùng,miền nhiều khó khăn, thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo. Thực hiện đồng bộ chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cuả nhân dân. Đẩy mạnh hoạt động của thể dục thể thao, nâng cao thể trạng tầm vóc của con người Việt Nam. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, phấn đấu vì sự công bằng xã hội.Trong giáo dục, thực hiện: giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành một xã hội văn minh. Những mục tiêu trên đang được Đảng và nhân dân ta thực hiện nhằm xây dựng một xã hội: dân giàu nước mạnh ,xã hội công bằng, dân chu, văn minh. CHƯƠNG 2 VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ- HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC 2.1. Con người là mục tiêu của sự nghiệp Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:"Muốn chủ nghĩa cộng sản thực hiện được,cần phải có kỹ nghệ,nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khả năng của mình".Đó chính là mục tiêu mà chủ nghĩa xã hội hướng tới:giải phóng con người nhằm phát triển mọi tiềm năng ,giá trị nhân cách của con người.Trong sự nghiệp đổi mới đất nước Đảng Cộng Sản Việt Nam xác định:"Phát triển con người ,với tư cách vừa là động lực ,vừa là mục đích của cách mạng,của sự nghiệp đổi mới đất nước".Đây cũng là mục tiêu nhân văn của nền văn hoá tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc:"Nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộcvà chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác _Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ,nhằm mục tiêu tất cả vì con người,vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người." Con người trong quan niệm của Hồ Chí Minh và của Đảng ta không phải là con người trừu tượng mà là những cá nhân, những tập thể, những tầng lớp người cụ thể. Vì hạnh phúc của mỗi người"dân" của "đồng bào" và của cả dân tộc Việt nam là mục tiêu phấn đấu của Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay trong thời kỳ cách mạng giành độc lập cho dân tộc, Hồ Chí Minh đã nói:"Tôi chỉ có một sự ham muốn,ham muốn tột bậc,là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập,dân ta được hoàn toàn tự do,đồng bào ai cũng có cơm ăn ,áo mặc ,ai cũng được học hành".Ngày nay trong sự nghiệp Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước để đi lên Chủ Nghĩa Cộng Sản, mục tiêu xây dựng con người được đặt ra một cách thiết thực, trực tiếp.Vấn đề con người là mục tiêu của sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội ở nước ta là một vấn đề có tính chiến lược. Đại hội của Đảng đã đề ra đường lối và chiến lược phát triển kinh tế xã hội: Xuât phát từ tình hình hiện nay và yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới, đường lối kinh tế của Đảng ta được xác định là đẩy mạnh Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đưa nước ta thành môt nước công nghiệp,ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất phù hợp theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, phát huy cao nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện cơ sở vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ,bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường quốc phòng ,an ninh và trật tự xã hội. Đây là con đường phát triển bền vững đất nước ta nhằm mục tiêu "Dân giàu, xã hội công bằng , dân chủ , văn minh".Hay nói cách khác là con đường phát triển nhắm tới một mục tiêu kép: vừa phát triển kinh tế, vừa phát triển con người và xã hội,vừa phấn đấu để dân giàu, nước mạnh, công bằng xã hội và dân chủ, văn minh. Lấy phát triển con người làm mục tiêu chiến lược, chúng ta cần chú ý đến những vấn đề sau: _ Cần quan tâm đến lợi ích của con người, gồm lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, trước hết là lợi ích vật chất. Hồ Chí Minh cho rằng: "Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thoả mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa". _ Cần bảo đảm và phát huy quyền dân chủ của nhân dân trong đời sống xã hội bắt đầu từ cơ sở trên các lĩnh vực chính trị ,kinh tế ,xã hôi. Đặc biệt phát huy tinh thần làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp đổi mới Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước, Hồ Chí Minh đã khẳng định:" "Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới,xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân". _ Cần bảo đảm và thực hiện sự bình đẳng giữa những cá nhân, nhóm cộng đồng về cơ hội phát triển, tạo điều kiện cho mọi người và các nhóm,cộng đồng có điều kiện phát triển ngang nhau,được hưởng lợi ích công bằng phù hợp với sự phát triển kinh tế _xã hội trong từng giai đoạn cụ thể. _ Cần phát huy sức mạnh của nhân dân,của khối đoàn kết toàn dân tộc,xây dựng nhà nước của dân,do dân, vì dân. Phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ Tổ Quốc vì hạnh phúc của nhân dân. 2.2. Vai trò của con người trong quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá Từ cách tiếp cận mới, Đảng ta chỉ ra vai trò quyết định của con người trong quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước.Con người không chỉ là trung tâm của sự phát triển kinh tế_xã hội với tư cách là mục tiêu mà còn là động lực và là nhân tố bảo đảm cho quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước thành công. Nói con người là động lực của sự phát triển là nói tới vai trò của nguồn lực con người bao gồm các yếu tố tri thức, kỹ năng, ý chí, tình cảm, đạo đức…của con người trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước.Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp Hành TW khoá VIII đã chỉ rõ điều đó:"Đẩy mạnh Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc vì"dân giàu, nước mạnh, công bằng, văn minh", là sự nghiệp xây dựng và sáng tạo to lớn của nhân dân ta, đồng thời là một quá trình cải biến của xã hội sâu sắc, đòi hỏi phát huy khả năng và trí tuệ ở con người Việt Nam". Để phát triển kinh tế xã hội ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa Xã Hội, chúng ta cần rất nhiều nguồn lực như: Nguồn lực khoa học và công nghệ; nguồn lực tài chính; nguồn lực tài nguyên thiên nhiên; nguồn lực lao động…. Trong các nguồn lực trên đều có vai trò của con người, con người với tư cách là nhân tố liên kết tích hợp, tổng hợp các nguồn lực thành động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội. Hay có thể nói đó chinh là nguồn lực con người tham gia vào quá trình phát triển và đóng vai trò chủ đạo trong quá trình đó. Yếu tố đầu tiên của nguồn lực con người là tri thức, kỹ năng nghề nghiệp bí quyết hành nghề.Trong thời đại khoa hoc, công nghệ, tin học, con người tiến lên không chỉ bằng sức mạnh cơ bắp mà bằng trí tuệ của mình là chủ yếu.Người lao động có tri thức nghề nghiệp, kỹ năng lao động, có năng lực thích ứngvới sự phát triển của khoa học, công nghệ và sự biến đổi liên tục của nền kinh tế thị trường thì mới bảo đảm cho nền kinh tế phát triển bền vững và ổn định. Ngày nay, trong nền kinh tế tri thức , khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp . Sản sinh , truyền bá và sử dụng tri thức là yếu tố quyết định nhất đối với tăng trưởng kinh tế,làm giàu của cải vật chất,nâng cao chất lượng sống. Kinh tế tri thức là giai đoạn phát triển mới của lực lượng sản xuất của loài người, từ chỗ chủ yêu sử dung nguồn lưc vật chất sang nguồn lực trí tuệ.Tri thức là yếu tố quyết điịnh đối với sự tăng trưởng kinh tế , làm giàu của cải vật chất. Ở nước ta hiện nay đang trong quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá gắn với việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế,chuyển đổi cơ cấu sản xuất thì vấn đề vai tròcủa tri thức, kỹ năng của người lao động được đặt ra. Chẳng hạn, trong nông nghiệp muốn chuyển đổi vât nuôi, cây trông nào đó ta đều phải dùng đến tri thức. Vai trò con người trong quá trình sản xuất được biểu hiện ở lương tâm,trách nhiệm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật. Nguồn lực con ngưòi trong hoạt động kinh tế được thể hiện ở khả năng tổ chức. Nguồn lực con người trong phát triển kinh tế xã hộicòn được thể hiện qua ý chí, tình cảm, đạo đức…. Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước là quá trình cải biến xã hội sâu sắc ở nước ta đòi hỏi phải có một ý chí lớn, tư tưởng lớn…Cho nên, nó đòi hỏi con người Việt Nam phải quyết tâm vượt qua kho khăn thử thách, chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu để xây dựng đất nước thành công. Do vậy, khi đề cập quan điểm về vai trò của con người trong quá trình phát triển kinh tế xã hội hiện nay, Đảng Cộng Sản Việt Nam nhấn mạnh : "Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm nhân tố cho sự phát triển nhanh và bền vững " ở nước ta 2.3. Xây dựng con người trong thời kỳ Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá Đại Hội IX của Đảng đã nêu ra các phẩm chất nhân cách con người Việt Nam trong giai đoạn Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất…" Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành TW khoá VIII đã đưa ra những tiêu chuẩn xây dựng con người Việt Nam: "Có tính thần yêu nước, tự cường dân tộc , phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.Có ý thức tập thể , đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung”. Cần chú ý những yếu tố tâm lý xã hội trong công tác đánh giá và lựa chọn cán bộ. Đánh giá cán bộ là khâu rất quan trọng thậm chí có ý nghĩ quyết định trong công tác cán bộ nói chung, cán bộ cơ sở nói riêng. Lập trường tư tưởng chính trị của người cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cơ sở nước ta hiện nay phải được biểu hiện trong tư tưởng va hành đông của mỗi cán bộ văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp Hành Trung Ương, khóa VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đât nước khẳng định mỗi cán bộ các cấp phải có :” tinh thần yêu nước sâu sắc , tận tụy phục vụ nhân dân , kiên định mục tiêu độc lập và chủ nghĩa xã hội , phấn đáu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng , chính sách và luật pháp của nhà nước “ Đi ngược lập trường tư tưởng chính trị tiến bộ đó là lập trường tư tưởng chính trị phản đông. Còn lập trường tư tưởng chính trị cơ hội biểu hiện ở tính xu hướng, lập trường không dứt khoát, không nhất quán trong tư tưởng và hành động .Khi cách mạng thuận lợi thì ủng hộ ,khi cách mạng khó khăn thì sẵn sàng phản bội.Thông thường những cán bộ có lập trường tư tưởng chính trị cơ hội có nguy cơ ngã về lập trường tư tưởng chính trị phản động khi họ không được giáo dục, rèn luyện đến nơi đến chốn. Yêu cầu đánh giá về người cán bộ: đạo đức và hành vi của họ,yêu cầu về ý thức đạo đức và hành vi đạo đức của người cán bộ các cấp ở nước ta trong thời kỳ đổi mới là:” Cần, kiệm, liêm , chính, chí công vô tư.Không tham những và kiên quyết đáu tranh chống tham nhũng.Có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm”. Yêu cầu về tài đối với cán bộ nhân dân các cấp trong thời kỳ mới là phải:”có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị , quan điểm đường lối của đảng ,chính sách và pháp luật của nhà nước, có trình độ văn hóa chuyên môn đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao”. Đánh giá đúng đức và tài của người cán bộ cơ sở cần chú ý: phải đánh giá một cách khách quan không đưa quan hệ tình cảm riêng tư vào đánh giá cán bộ, phải căn cứ vào những tài liệu, số liệu cụ thể càng đầy đủ càng tốt ,cần tham khảo ý kiến làm việc của mỗi người , cần sử dụng nhiều phương pháp thu nhập phân tích thông tin khác nhau.Cần sử dụng phương pháp đánh giá hợp lý tùy điều kiện cụ thể mà đánh giá trực tiếp hay công khai gián tiếp.Đánh giá công khai gián tiếp có tác dụng thúc đẩy sự nỗ lực lao động của đối tượng bộc lộ khả năng một cách tự nhiên. Tùy theo đối tượng cán bộ mà sử dụng biện pháp đánh giá thích hợp.Người cán bộ cần phải có: - Lối sống lành mạnh ,nếp sống văn minh, cần kiệm, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái. - Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo ,năng suất cao vì lợi ích của bản thân , gia đình, tập thể và xã hội. - Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lưc. Như vậy việc xây dựng con người cần phát triển toàn diện và hài hoà về nhân cách, nâng cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất , phong phú về tâm hồn, trong sáng về đạo đức. Để đạt được mẫu nhân cách đó,chúng ta phải từng bước thực hiện các chiến lược xây dựng con người một cách tích cực , chủ động, nhưng cũng không được quá nóng vội. 2.4. Những nhiệm vụ cơ bản xây dựng con người trong quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước Xây dựng con người là mục tiêu của sự nghiệp Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước nên nó phải là kết quả tổng hợp của tất cả những hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa của chúng ta. Song ở đây, chúng ta chỉ bàn đến những nhiệm vụ cơ bản trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa tác động đến sự hình thành con người trong quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước, cụ thể như sau: 2.4.1.. Xây dựng tư tưởng đạo đức và lối sống Nghị quyết hội nghị lần thứ V Ban Chấp Hành Trung Ương khóa VIII về xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân ta đã chỉ rõ:” tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa được coi là những lĩnh vực quan trọng nhất hiện nay cần đặc biệt quan tâm”. Định hướng xây dựng con người, yếu tố tư tưởng, đạo đức lối sống là yếu tố cơ bản nhẩttong phẩm chất tinh thần của con người Việt Nam hiện nay.Trong đó, “hệ tư tưởng là cốt lõi của văn hóa, là định hướng cơ bản cho đời sống tinh thần xã hội”. Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đó là tư tưởng: độc lập dân tộc gắn liền với Chủ Nghĩa Xã Hội dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm mục tiêu tất cả vì con người vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú tự do toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và xã hội, giữa cộng đồng và tự nhiên. Do vậy, nhiệm vụ đặt ra là: Cần nghiên cứu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh nước ta trong giai đoạn hiện nay và trước những biến đổi sâu rộng của thời đại mới. Tuyên truyền giáo dục cho nhân dân hiểu biết đầy đủ sâu sắc chủ nghĩa Mác-Lênin củng cố lòng tin của nhân dân va tư tưởng Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Khắc phục những biểu hiện dao động, hoài nghi về con đường đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội, phủ nhận những thành quả của Chủ Nghĩa Xã Hội hiện thực trên thế giới, phủ nhận con đường đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở nước ta, phủ nhận lịch sử Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự mơ hồ, bàn quan mất cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ chế độ ta của các thế lực thù địch. Đồng thời đấu tranh phê phán chống lại những tư tưởng phản động, chống phá cách mạng nước ta và sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của nhân dân ta dưới sư lãnh đạo của Đảng. Xây dựng tinh thần yêu nước có ý chí xây dựng đất nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Biến tinh thần đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây thành tinh thần phục hưng đất nước trong thời kỳ Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước hiện nay. Quyết tâm xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc và của mỗi con người, Xây dựng đạo đức và lối sống mới phấn đấu vì lợi ích con người với tư cách là mỗi cá nhân và cả cộng đồng, gắn lợi ích của cá nhân với lợi ích của cộng đồng, ở từng cơ sở, từng địa phương và trong cả nước. Hình thành lối sống mới, lối sống văn minh tác phong công nghiệp, trật tự kỷ cương và trách nhiệm. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đẹp đẽ và” những thuần phong mỹ tục” của dân tộc, của từng địa phương. Phê phán lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền hay quan liêu, cửa quyền, cục bộ mà ơ nhiều địa phương đã trở thành hiện tượng nổi cộm trong đời sống xã hội hiện nay. Cần nêu gương người tốt, việc tốt những cá nhân đơn vị, tập thể tiêu biểu có những phẩm chất tốt đẹp của con ngườiViệt Nam hiện nay. Cần phát huy sức mạnh của dư luận và sức mạnh của luật pháp để lên án và trừng phạt thích đáng những kẻ cố tình vi phạm pháp luật, quấy rối mất trật tự, an toàn xã hội, những kẻ gây nên những tội ác, gieo rắc những tư tưởng xấu hay những tệ nạn xã hội….Công tác tư tưởng phải tạo ra sự nhất trí về tinh thần ,sự đoàn kết dân tôc, phấn đâu cho sự nghiệp Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước và hình thành những con người hiện đại, con người Việt Nam với những phẩm chất mà Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nêu ra. 2.4.2. Phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo Để thực hiên chiến dịch con người và nguồn nhân lực, nhân tố quyết định sự phát tr iển của đất nước trong thời k ỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước cần tạo sự chuyển hướng căn bản , toàn diện về giáo dục và đào tạo. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001_2010 của Đảng đã xác định nhiệm vụ phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo như sau : Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước ,yêu quê hương ,gia đình và tự tôn dân tộc , lý tưởng xã hội chủ nghĩa , lòng nhân ái , ý thức tôn trọng pháp luật , tinh thần hiếu học chí tiến thủ lập nghiệp ,không cam chịu nghèo hèn. Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản ,làm chủ kỹ năng nghề nghiệp , quan tâm hiệu quả thiết thực ,nhạy cảm với cái mới,có ý thức vươn lên vì khoa học và công nghệ. Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và nhà khoa học, nhà văn hóa. Nhà kinh doanh, nhà quản lý. Chính sách sử dụng lao đông và nhân tài phải tận dụng mọi nhân lực, phát huy mọi tài năng của các tập thể và cá nhân phục vụ sự nghiệp xây dụng và bảo vệ đất nước. Phát triển giáo dục mầm non, củng cố vững chắc kết quả xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học , tiến hành phổ cập trung học cơ sở trong cả nước , phần lớn thanh thiếu niên trong độ tuổi ở thành thị và vùng nông thôn, đồng bằng được học hết trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp hoặc đào tạo nghề .Tạo mọi điều kiện cho mọi người ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên suốt đời . Điều chỉnh hợp lý cơ cấu bậc họ, cơ cấu nghành, nghề, cơ cấu vùng trong hệ thống giáo dục và đào tạo phù hợp với yêu cầu học tập của nhân dân , yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội và các mục tiêu của chiến lược. Chú trọng giáo dục hướng nghiệp thiết thực trong trường phổ thông. Mở rộng đào tạo công nhân , kỹ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ theo nhiều trình độ. Phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo đại học, sau đại học, tập trung xây dựng một số trường đại học trọng điểm quốc gia mang tầm khu vực, tiến tới đạt trình độ quốc tế . Phát triển giáo dục thường xuyên và đào tạo từ xa. Nhà nước dành n gân sách đưa người giỏi đi đào tạo ở các nước phát triển, khuyến khích tạo thuận lợi cho việc học tập và nghiên cứu nước ngoài. Coi trọng đào tạo đội ngủ công nhân tay nghề cao, có kỹ thuật thực hành và nhà kinh doanh giỏi. Ưu tiên đào tạo nhân lực phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn, miền núi, xuất khẩu lao động, một số nghành mũi nhọn. Phát triển và nâng cao chất lượng các trường dân tộc nội trú, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số . Khẩn trương biên soạn và đưa vào sử dụng ổn định trong cả nước chương trình và sách giáo khoa phổ thông phù hợp với yêu cầu phát triển mới . Ngoài tiếng phổ thông, các dân tộc có chữ viết riêng được khuyến khích học chữ dân tộc. Đổi mới chương trình đào tạo đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề theo hướng thiết thực, hiện đại. Chú trọng trang bị và năng cao kiến thức tin họ, ngoại ngữ cho học sinh ,sinh viên. Đổi mới phương phap dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực đào tào của người học, coi trọng thực hành thực nghiệm, ngoại khóa làm chủ kiến thức tránh nhồi nhét , học vẹt, học chạy, Đổi mới và thực hiện nghiêm chỉnh chế độ thi cử. Đề cao tính tự chủ cua trường học.Phát triển đổi ngũ giáo viên, coi trọng chất lượng và đạo đức sư phạm, cải thiện chế độ đãi ngộ. Bảo đảm về cơ bản đọi ngũ giáo viên đạt chuẩn quốc gia và tỷ lệ giáo viên so với học sinh theo yêu cầu của từng cấp học. Có cơ chế chính sách bảo đảm đủ giáo viên cho miền núi, hải đảo. Tăng cường cơ sở vật chất và từng bước hiện đại hóa nhà trường (lớp học, sân chơi, bãi tập, phòng thí nghiệm, thiết bị giảng dạy hiện đại, thư viện, kí túc xá…..).Phấn đấu đến năm 2010, phần lớn các trường phổ thông có đủ điều kiện cho học sinh học tập và hoạt đông cả ngày tại trường. Tăng cường đầu tư cho ngân sách nhà nước và đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, đào tạo .Khuyến khích mạnh mẽ các thành phấn kinh tế dầu tư phát triển giáo dục ở tất cả các cấp học đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội. Ngân sách nhà nước tập trung nhiều hơn cho các bậc giáo dục phổ cập, cho vùng nông thôn, miền núi cho đào tạo trình độ cao và những nghành khó thu hút đàu tư ngoài ngân sách nhà nước; bảo đảm điều kiên học tập cho con em người có công với cách mạng và gia đình nghèo.Tăng cường quản lý nhà nước đặc biệt là hệ thống thanh tra giáo dục ,thiết lập kỷ cương, đẩy lùi các hoạt động tiêu cực. Tăng cường quản lý và giúp đỡ người đi học tập và nghiên cứu ở nước ngoài. 2.4.3. Xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế của xã hội.Nghị quyết hội nghị lần năm ban chap hành trung ương khóa VIII đã chỉ rõ vai trò của văn hóa nhiêm vụ xây dựng và phát triễn nền văn hóa việt nam tiên tiến đạm đà bản sắc dân tộc: chăm lo văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội.Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ,lành mạnh không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không thể có sự phát triển kinh tế bền vững. Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì con người phát triển toàn diện . Văn hóa là kết quả của kinh tế đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế. Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỉ cương… biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển đất nước. Để phát huy vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội và con người, Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX của Đảng đã đặt ra các nhiệm vụ xây dựng và phát triển môi trường văn hóa trong những năm tới: - Mở rộng và nâng cao hiệu quả cuộc vân động “ toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “xây dựng nếp sống văn minh và gia đình văn hóa”. Phong trào người tốt việc tốt làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người, hoàn thiện hệ giá trị mới của con người Việt Nam, kế thừa các giá trị văn hóa của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa của loài người, tăng sức đề kháng chống văn hóa đồi trụy, độc hại. Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân. - Chú trọng giữ gìn, phát triển các di sản văn hóa phi vật thể, tôn tạo và quản lý tốt các di sản văn hóa vật thể, các di tích lịch sử ; nâng cấp các bảo tàng. Phát triển mạng lưới thư viện, lưu trữ. Xây dựng các công trình văn hóa, các khu vui chơi công cộng. - Khuyến khích sáng tác những tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị theo các chủ đề lớn về chiến tranh và cách mạng, về sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, về xã hội và con người Việt Nam. Nâng cao chất lượng nền điện ảnh Việt Nam. Phấn đấu xây dựng nhiều bộ phim hay và tốt. Chú trọng thể hiện bản sắc văn hóa Việt Nam trong các công trình xây dựng, kiến trúc mới. - Phát triển và hiện đại hóa mạng lưới thông tin đại chúng, nâng cao chất lượng các sản phẩm, dịch vụ phát thanh, truyền hình, báo chí, xuất bản. Đến 2010, hoàn thành cơ bản việc phổ cập các phương tiện phát thanh, truyền hình đến mỗi gia đình. Phát triển các điểm văn hóa với hệ thống bưu cục khắp xã. Dùng tiếng nói dân tộc và chữ viết của các dân tộc có chữ viết trên các phương tiện thông tin đại chúng ở vùng đồng bào dân tộc. - Ban hành và thực hiện chính sách thể hiện rõ sự quan tâm và chăm sóc đối với văn nghệ sĩ và những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, nhất là nghệ thuật truyền thống. - Đẩy mạnh hoạt động hoạt động thể dục thể thao, nâng cao thể trạng và tầm vóc của người Việt Nam. Phát triển phong trào thể dục, thể thao quần chúng với mạng lưới cơ sở rộng khắp. Đào tạo, bồi dưỡng vận động viên thể thao có thành tích cao, đưa thể thao Việt Nam lên trình độ chung trong khu vưc Đông Nam Á và có vị trí cao trong nhiều bộ môn. Đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích nhân dân và các tổ chức tham gia thiết thực, có hiệu lực các hoạt động văn hóa thể thao. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư và bảo trợ các hoạt động văn hóa, thể thao. Phát triển thị trường sản phẩm về dịch vụ văn hóa, thể thao phong phú, lành mạnh. - Tăng đầu tư ngân sách cho văn hóa tương ứng với tăng trưởng kinh tế, tập trung xây dựng một số trung tâm văn hóa lớn gắn kết với văn hóa, thể thao, du lịch như làng văn hóa các dân tộc việt Nam, trung tâm thể thao quốc gia và các trung tâm đào tạo về văn hóa, thể thao ngang tầm khu vực. - Mở rộng giao lưu văn hóa, thể thao quốc tế. Đầu tư thích đáng cho việc truyền bá ở trong các nước giá trị văn hóa của loài người và giới thiệu đất nước, văn hóa con người Việt Nam với thế giới. - Xây dựng môi trường văn hóa và đời sống văn hóa ở cơ sở. Nói đến môi trường văn hóa là nói đến những quan hệ vô cùng rộng lớn của con người trong không gian và thời gian, từ phạm vi vĩ mô đến vi mô của một cộng đồng ( từ cả nước, địa phương đến từng cơ sở). Xây dựng môi trường văn hóa vì mục tiêu của sự phát triển kinh tế xă hội vì con người như liên hợp quốc đã khuyến cáo: mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà không tính đến môi trường văn hóa thì kết quả thu được sẽ khập khiễng, mất cân đối, cả về kinh tế và văn hóa, đồng thời tiềm năng sáng tạo của mỗi dân tộc cũng sẽ suy giảm đi rất nhiều. 2.4.4. Xây dựng môi trường văn hoá * Hội nghị lần thứ năm BCH TW khóa VIII đã nêu ra nội dung xây dựng môi trường văn hóa như sau: - Tạo ra ở các đơn vị cơ sơ ( gia đìmh, làng, bản, xã phường , khu tập thể, cơ quan trường học, đơn vị bộ đội…), các vùng dân cư ( đô thị , nông thôn, miền núi…), đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng những nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân. Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hóa, nâng cao tính tự quản của cộng đồng dân cư trong công cuộc xây dựng nếp sống văn minh. Thu hẹp dần khoảng cách đời sống văn hóa giữa các trung tâm đô thị và nông thôn, giữa những vùng kinh tế phát triển với các vùng sâu, vùng xa, vùng núi, biên giới, hải đảo, giữa các tầng lớp nhân dân. - Phát triển và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa cơ sở; đầu tư xây dựng một số công trình văn hóa trọng điểm mang tầm quốc gia. Tăng cường hoạt động của các tổ chức văn hóa , nghệ thuật chuyên nghiệp,phát triển phong trào quần chúng hoạt động văn hóa nghệ thuật. - Xây dựng môi trường văn hóa không chỉ xây dựng đời sống văn hóa ở sơ sở mà còn xây dựng gia đình văn hóa, giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam .nêu cao vai trò gương mẩu của các bậc cha mẹ .Coi trọng xây dựng gia đình văn hóa, xây dụng mối quan hệ khăng khít giữa gia đình , nhà trường xã hội . - Gia dình là cái nôi nuôi dưỡng con người , thực hiện hai chức năng cơ bản là duy trì nòi giống và văn hóa cá nhân để hình thành nhân cách … Gia đình là cộng đòng tự nhiên ,trao truyền nhân tính, trao truyền văn hóa cho con người .Vinh dự và trách nhiệm của gia đình là cung cấp cho xã hội những công nhân ưu tú về tài năng và đạo đúc.gia dình cần được xây dựng bền vững để trở thành niềm vui và hành phúc của mỗi con người .vì vậy”các chính sách của nhà nước phải chú ý tới xây dựng gia đình no ấm,hòa thuận,tiến bộ.nâng cao ý thức vế nghĩa vụ gia đình đói với mọi lớp người”. Thực hiện tốt chính sách xã hội nhằm tác đông trực tiếp đến con người như tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo ,chăm lo sức khỏe cho nhân dân . - Giải quyết việc làm là yếu tố quết định để phát huy nhân tố con người ổn định và phát triển kinh tế , làm lành mạnh xã hội ,đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc cuả nhân dân. Để giải quyết vấn đề việc làm ,tạo môi trường và điều kiên thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế,đầu tư phát triển rộng rãi các cơ sở sản xuất kinh doanh tạo nhiều việc làm và phát triển thị trường lao đông .thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao đọng xã hội phù hợp với cơ cấu kinh tế.chú trọng đảm bảo an toàn lao động - Xóa đói giảm nghèo:bằng nguồn lực của nhà nước và của toàn xã hội tăng đàu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cho vay vốn, để giúp đào tạo nghề , cung cấp thông tin , chuyển giao công nghệ .giúp đở tiêu thụ sản phẩm… Đối với những vùng nghèo, xã nghèo và nhóm dân cư nghèo. Chủ động di dời một bộ phận nông dân không có đất canh tác và điều kiện sản xuất đến lập nghiệp ở những vùng còn nhiều tiềm năng. Nhà nước tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích mọi người dân vươn lên làm giàu chính đáng và giúp đỡ người nghèo. Thực hiện trợ cấp xã hội đối với những người có hoàn cảnh khó khăn không thể tự lao động, không có người baỏ trợ, nuôi dưỡng. Phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản không có hộ nghèo. Thường xuyên củng cố thành quả xóa đói, giảm nghèo. - Chăm sóc sức khỏe cho nhân dân: tiếp tục thực hiện các chương trình, mục tiêu về y tế quốc gia. Nâng cao chất lượng chăm soc sức khỏe ở tất cả các tuyến. Đặc biệt coi trọng tăng cường dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, người bị di chứng chiến tranh, người nghèo, đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng, vùng sâu, vùng xa. Giảm tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, tỉ lệ tử vong của trẻ em dưới năm tuổi, tỉ lệ tử vong của bà mẹ liên quan đến thai sản. Giảm tỉ lệ tử vong do các bệnh truyền nhiễm, không để xẩy ra dịch lớn. Tích cực phòng, chống các bệnh không do nhiễm trùng, khắc phục hậu quả do tai nạn và thương tích. Bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và an toàn truyền máu. Hoàn chỉnh quy hoạch, củng cố và nâng cấp mạng lưới y tế cơ sở, có bác sĩ làm việc ở tất cả các trạm y tế đồng bằng và trung du, phần lớn xã miền núi. Nâng cấp bệnh viện huyện, tỉnh; phát triển các bệnh viên đa khoa khu vực ở các địa bàn xa trung tâm tỉnh. Hoàn thiện hai trung tâm y tế chuyên sâu tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, xây dựng trung tâm y tế chuyên sâu tại miền Trung và phát triển các trung tâm y tế vùng. Từng bước hiện đại hóa trang thiết bị y tế, ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến vào việc khám và chữa bệnh cho nhân dân. Kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền dân tộc, kết hợp quân – dân y; phấn đấu có một số lĩnh vực y dược học có thế mạnh, trở thành trung tâm của khu vực Đông Nam Á. Tiêu chuẩn hóa và tăng cường đào tạo cán bộ y tế, chú ý đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số; phân bố cán bộ theo vùng phù hợp yêu cầu. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển các cơ sở khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội. Đề cao y đức gắn với xây dựng và thực hiện quy chế hành nghề, xóa bỏ các hiện tượng tiêu cực. - Phòng chống các tệ nạn xã hội: phòng chống, đẩy lùi các tệ nạn xã hội, đặc biệt là ma túy. Thực hiện cơ chế giải pháp đồng bộ về tuyên truyền, giáo dục, chữa trị, đào tạo nghề, tạo việc làm, xử lý nghiêm theo pháp luật những hành động gây tệ nạn xã hội. Xây dựng nếp sống lành mạnh trong toàn xã hội, ngăn chặn sự lây nhiễm HIV/AIDS. Tổ chức chữa bệnh cho bệnh nhân AIDS và người nghiện ma túy, giúp họ sống, lao động có ý nghĩa trong cộng đồng. Có biện pháp đồng bộ ngặn chặn tai nạn giao thông. Đề cao trách nhiệm các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể đối với tình trạng tệ nạn trên từng địa bàn. Phát huy vai trò của người dân, từng cộng đồng trong việc đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi những tệ nạn này.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTiểu luận triết- Con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước ở Việt Nam.doc