Tiểu luận trung cấp lí luận chính trị, quản lý nhà nước - Chương trình chuyên viên, quản lý giáo dục - Một số biện pháp quản lý nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ

Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong nhà trường là công việc cần thiết cấp bách trong sự nghiệp giáo dục giai đoạn hiện nay. Người quản lý cũng phải không ngừng học hỏi, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ quản lý, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục- đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Xuất phát từ cơ sở lý luân, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn và thực trạng của đơn vị, trong tiểu luận, chúng tôi đã đề xuất bốn biện pháp quản lý nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tại trường THPT N - huyện K - tỉnh Q: Một là: Lập kế hoạch nhân sự đội ngũ. Hai là: Tuyển chọn, bổ sung nhân sự. Ba là: Phân công, bố trí giáo viên. Bốn là: Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trên các phương diện: bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị; bồi dưỡng kiến thức; bồi dưỡng kỹ năng sư phạm. Năm là: Thực hiện biện pháp động viên, khuyến khích vật chất, tinh thần cho đội ngũ giáo viên. Sáu là: Xây dựng, cũng cố nề nếp kỷ cương. Những kết luận nêu trên cho thấy các nhiệm vụ của đề tài đã được thực hiện phù hợp với mục tiêu đề tài đã xác định. Mặc dù người viết đã có nhiều cố gắng tìm kiếm các biện pháp phù hợp song do giới hạn của một tiểu luận nên trong quá trình nghiên cứu còn có một số biện pháp chưa có điều kiện đi sâu. Đó chính là hướng nghiên cứu tiếp của đề tài.

doc37 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 07/02/2013 | Lượt xem: 5574 | Lượt tải: 33download
Tóm tắt tài liệu Tiểu luận trung cấp lí luận chính trị, quản lý nhà nước - Chương trình chuyên viên, quản lý giáo dục - Một số biện pháp quản lý nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
phát triển nhân cách của người học sinh. Khác với các loại hình lao động khác, lao động sư phạm của người giáo viên là loại hình lao động mang tính đặc thù. Đối tượng lao động sư phạm ở đây là học sinh với lứa tuổi có sự phát triển cao về tâm lí, sinh lý, có nhu cầu cao về trí tuệ và tình cảm. Phương tiện lao động là nhân cách người thầy cùng các thiết bị dạy học, trong đó nhân cách người thầy có vai trò quan trọng nhất. Thời gian lao động của người giáo viên không chỉ là thời gian quy định trong chương trình mà cần mang tính năng động, sáng tạo cộng với niềm say mê nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm trước thế hệ trẻ và toàn xã hội. Hiệu quả và sản phẩm lao động sư phạm là nhân cách phát triển toàn diện đạt mục tiêu phát triển của nhà trường. Học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông phải đáp ứng những nhu cầu phát triển của bản thân, gia đình và xã hội. Trong thời kì CNH, HĐH hiện nay, để hoàn thành được sứ mệnh cao cả của mình, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đòi hỏi đội ngũ giáo viên trong nhà trường phải thường xuyên học tập, bồi dưỡng, rèn luyện, từ đó mới có đủ khả năng thực hiện sứ mệnh của mình, mới xứng đáng là nguyên khí của một trường trung học phổ thông. Với tính chất đặc thù trong lao động sư phạm của người giáo viên được nêu ở trên, người cán bộ quản lý trường học cần phải hiểu đúng tầm quan trọng của công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đó là vấn đề sống còn quyết định chất lượng dạy học của nhà trường. Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010 của Đảng và Nhà nước ta khi nói về phát triển đội ngũ nhà giáo, đổi mới phương pháp giáo dục đã nêu: “Phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý cả về cơ cấu và chuẩn về chất lượng đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục”. Xây dựng và phát triển đội ngũ trong trường THPT là một biện pháp của người quản lý nhằm xây dựng đội ngũ đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển thực tế xã hội của đất nước, yêu cầu phát triển của giáo dục nói chung và yêu cầu phát triển của nhà trường THPT nói riêng. Mục tiêu đó biểu hiện cụ thể: - Số lượng và cơ cấu của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong nhà trường đủ và đồng bộ. - Năng lực của đội ngũ nói chung và của từng thành viên nói riêng đảm bảo được chất lượng và hiệu quả các hoạt động theo chức năng và nhiệm vụ. - Mọi thành viên trong nhà trường đoàn kết, thống nhất để thực hiện mục tiêu chung của nhà trường. 2. Cơ sở thực tiễn Giáo dục đào tạo nước ta trong những năm qua đã có những bước tiến đáng kể, góp phần quan trọng trong việc tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển của đất nước, tạo tiền đề cho những bước phát triển mạnh mẽ và vững chắc Thực trạng giáo dục đào tạo nước ta trong thời gian qua tuy đã thu được nhiều thành tựu đáng kể, đã có bước phát triển mới, góp phần chuẩn bị tiền đề cho những bước phát triển mạnh mẽ và vững chắc hơn của sự nghiệp giáo dục trong thế kỷ XXI, vì mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vấn đề bức xúc nhất trong giáo dục nước ta hiện nay là chất lượng giáo dục toàn diện, nhất là giáo dục đại trà nhìn chung còn thấp so với mục tiêu giáo dục, với yêu cầu nhân lực phục vụ phát triển kinh tế, xã hội và với trình độ của các nước trong khu vực. Nội dung và phương pháp dạy học chưa đáp ứng tốt yêu cầu chuẩn bị nhân lực cho công nghiệp hoá rút ngắn và trình độ chưa theo kịp sự phát triển khoa học công nghệ hiện đại. Đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng, chất lượng còn gặp nhiều bất cập, lại không đồng bộ, một bộ phận giáo viên tuy đã đạt chuẩn trình độ đào tạo song năng lực sư phạm vẫn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Hiệu quả giáo dục đào tạo còn thấp , cơ cấu đào tạo nhân lực về trình độ ngành, nghề, vùng miền chưa hợp lý. Trong bối cảnh chung của ngành Giáo dục và Đào tạo, trường THPT N - huyện K - tỉnh Q đã có nhiều cố gắng và đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, chất lượng dạy và học vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của địa phương. Tỷ lệ học sinh giỏi khá còn thấp, học sinh giỏi các cấp, đặc biệt là học sinh giỏi cấp Tỉnh, cấp Quốc gia còn ít. 3. Cơ sở pháp lý * Quan điểm của Đảng về giáo dục: - Xây dựng và phát triển đội ngũ là thực hiện quan điểm về “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” và thực hiện nghị quyết TW IV, khoá 8: “Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải đặc biệt chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và tiêu chuẩn hoá đội ngũ giáo viên cũng như cán bộ quản lý giáo dục về chính trị, tư tưởng, đạo đức và nâng cao năng lực chuyên môn”. - Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 BCH TW Đảng khoá VIII đã nêu: “ Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh. Giáo viên phải có đủ đức, đủ tài”. Nghị quyết của Đại hội Đảng khoá IX và khoá X cũng đặc biệt quan tâm đến xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và đội ngũ nhà giáo cần có đủ sức đủ tài để chấn hưng nền giáo dục nước nhà và chú trọng việc nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất lối sống của nhà giáo. - Ngày 15/6/2004, Ban Bí thư TW Đảng đã ban hành chỉ thị 40 về việc xây dựng, nâng cao đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Chỉ thị nêu rõ xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý là một nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010 và chấn hưng đất nước, chỉ thị đã nêu rõ mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, bảo đảm đủ số lượng, nâng cao chất lượng, cân đối về cơ cấu, đạt chuẩn đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới. Đây là Chỉ thị vô cùng quan trọng và hết sức cụ thể về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục và đặc biệt chỉ thị đã nhấn mạnh: “ Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những điều kiện để phát huy nguồn lực con người. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng” Tiếp tục quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 40-CT TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư và Quyết định số 09/2005/QĐ-TTG ngày 11/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, chú trọng cả 3 mặt: đánh giá và sắp xếp, đào tạo và bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ. * Luật Giáo dục năm 2005: - Điều 15 chương I: “ Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo duc. Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện, nêu gương tốt cho người học. Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, có chính sách sử dụng, đãi ngộ, bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai trò và trách nhiệm của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học”. - Điều 70: Quy định nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây: + Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt. + Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ. + Đủ điều kiện theo nghề nghiệp. + Lí lịch bản thân rõ ràng. - Điều 72: Quy định nhiệm vụ của nhà giáo: + Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt. - Điều 77: Quy định trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo: Có bằng tốt nghiệp ĐHSP hoặc bằng TNĐH và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên THPT. - Điều 80: Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ: + Nhà nước có chính sách bồi dưỡng nhà giáo về chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao trình độ và chuẩn hoá nhà giáo. + Nhà giáo được cử đi học nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, được hưởng lương và phụ cấp theo qui định của chính phủ. Như vậy Luật Giáo dục đã chỉ rõ tiêu chuẩn, nhiệm vụ, trách nhiệm... của nhà giáo về việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Đây là yêu cầu bắt buộc mọi giáo viên phải tuân thủ và quản lý phải làm sao cho luật thực hiện nghiêm. * Điều lệ trường trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường phổ thông nhiều cấp học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 02/4/2007: - Điều 32. Quy định Quyền của giáo viên 1. Giáo viên có những quyền sau đây: a) Được nhà trường tạo điều kiện để giảng dạy và giáo dục học sinh; b) Được hưởng mọi quyền lợi về vật chất, tinh thần và được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ theo các chế độ, chính sách quy định đối với nhà giáo; c) Được trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức tham gia quản lý nhà trường; d) Được hưởng lương và phụ cấp (nếu có) khi được cử đi học để đào tạo nâng cao trỡnh độ chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định hiện hành; đ) Được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường và cơ sở giáo dục khác nếu được sự đồng ý của Hiệu trưởng và thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ quy định tại; e) Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự; g) Được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật. - Điều 33. Quy định trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên 1. Trình độ chuẩn đào tạo của giáo viên trường trung học phổ thông được quy định như sau: Có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm theo đúng chuyên ngành tại các khoa, trường đại học sư phạm. 2. Giáo viên chưa đạt trình độ chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này được nhà trường, cơ quan quản lý giáo dục tạo điều kiện để đạt trình độ chuẩn. 3. Giáo viên cú trình độ trên chuẩn được nhà trường, cơ quan quản lý giáo dục tạo điều kiện để phát huy tác dụng của mình trong giảng dạy và giáo dục. - Điều 34. Quy định hành vi, ngôn ngữ ứng xử, trang phục của giáo viên 1. Hành vi, ngôn ngữ ứng xử của giáo viên phải mẫu mực, có tác dụng giáo dục đối với học sinh. 2. Trang phục của giáo viên phải chỉnh tề, phù hợp với hoạt động sư phạm, theo quy định của Chính phủ về trang phục của viên chức Nhà nước. - Điều 35. Quy định các hành vi giáo viên không được làm Giáo viên không được có các hành vi sau đây: 1. Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể của học sinh, đồng nghiệp, người khác. 2. Gian lận trong kiểm tra, thi cử, tuyển sinh; gian lận trong đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh. 3. Xuyên tạc nội dung giáo dục. 4. Ép buộc học sinh học thêm để thu tiền. 5. Hút thuốc; uống rượu, bia; nghe, trả lời bằng điện thoại di động khi đang dạy học, khi đang tham gia các hoạt động giáo dục ở nhà trường. - Điều 36. Quy định khen thưởng và xử lý vi phạm 1. Giáo viên có thành tích sẽ được khen thưởng, được tặng các danh hiệu thi đua và các danh hiệu cao quý khác. 2. Giáo viên có hành vi vi phạm quy định tại Điều lệ này thì bị xử lý theo quy định của pháp luật. * Trong Chỉ thị thực hiện nhiệm vụ năm học 2010 – 2011 của Bộ Giáo dục ghi rỏ: - Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các văn bản liên quan đến việc thực hiện chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. - Triển khai thực hiện đại trà chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non, tiểu học, trung học (trung học cơ sở và trung học phổ thông), chuẩn hiệu trưởng trường trung học. - Tổ chức có hiệu quả công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, chú trọng bồi dưỡng kinh nghiệm làm công tác chủ nhiệm lớp. Hoàn thành bồi dưỡng hiệu trưởng trường phổ thông theo đề án liên kết Việt Nam - Singapore, tiến hành các hoạt động tư vấn, giám sát để phát huy kết quả của việc bồi dưỡng. - Xây dựng quy hoạch đội ngũ giáo viên phổ thông giai đoạn 2010-2015 và tầm nhìn đến năm 2020. Có chính sách và kế hoạch để phát triển giảng viên sư phạm, giáo viên các môn học còn thiếu và các môn đặc thù. * Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2010-2011 ngày 28/8/2010 của sở GD&ĐT Q nêu rỏ: - Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt Quyết định số 16/2008/BGDĐT ngày 16/4/2008 của Bộ GDĐT về Quy định đạo đức nhà giáo và cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”. - Triển khai có hiệu quả việc đánh giá cán bộ quản lý, giáo viên theo chuẩn hiệu trưởng, chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học theo các thông tư và công văn hướng dẫn của Bộ Giáo dục và đào tạo ở các đơn vị. Thực hiện áp dụng chuẩn đánh giá cán bộ quản lý, giáo viên ở mỗi trường học để cán bộ quản lý, giáo viên trung học phấn đấu đạt chuẩn mức độ cao. - Căn cứ Thông tư liên tịch số 35/TTLT-BGD&ĐT-BNV về biên chế của trường phổ thông công lập, các trường được chủ động bố trí sắp xếp đội ngũ để đảm bảo về số lượng, chất lượng, cân đối về cơ cấu giáo viên, nhân viên cho các môn học, nhất là các môn Tin học, Ngoại ngữ, Giáo dục công dân, Mỹ thuật, Âm nhạc, Công nghệ, Thể dục, Giáo dục quốc phòng - an ninh, viên chức phụ trách thư viện, thiết bị dạy học. Kiểm tra đụn đốc, chấn chỉnh các yếu kém để có đủ đội ngũ giáo viên cơ hữu, giáo viên thỉnh giảng theo yêu cầu dạy học các môn trong các trường ngoài công lập. - Triển khai thực hiện chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên trung học giai đoạn 2010-2015; chương trình đổi mới phương pháp dạy, đổi mới kiểm tra, đánh giá cho tất cả giáo viên trung học; chương trình bồi dưỡng hiệu trưởng trường trung học. Như vậy, việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong trường không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là lâu dài, không phải là nhiệm vụ của một đơn vị giáo dục mà là nhiệm vụ trọng tâm then chốt của toàn ngành, của tất cả các cơ sở giáo dục. Hơn ai hết, người cán bộ quản lí phải thấu suốt và quán triệt sâu sắc các quan điểm chỉ đạo này để làm cho việc xây dựng bồi dưỡng đội ngũ trở thành sống còn với đơn vị mình. Xuất phát từ những cơ sở trên, để đáp ứng yêu cầu, mục tiêu giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo trường THPT N - huyện K - tỉnh Q là một đòi hỏi hết sức cấp bách và tất yếu. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC QUẢN LÝ NHẰM XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG THPT N . 1. Đặc điểm tình hình trường THPT N 1.1. Thực trạng tình hình chung Huyện K là huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Q, giáp với thành phố D, phía nam giáp huyện T, với tổng diện tích là 119.089 ha và dân số trên 90.000 người gồm 02 dân tộc là người Kinh và Vân Kiều cùng sinh sống. Nếu xét về địa lý và tình hình kinh tế thì không mấy thuận lợi cho phát triển giáo dục. Huyện có diện tích hẹp nhưng địa hình phức tạp, có những vùng núi cao, đồi cát, có đường biên giới, bờ biển dài 25 km, nhiều vùng bị chia cắt vì giao thông không mấy phát triển, dân cư thưa thớt; tỷ lệ tăng dân số còn cao, dân trí thấp, một bộ phận dân cư vùng Trường Sơn, Trường Xuân còn có tập quán du canh, du cư; tỷ lệ đói nghèo ở những vùng này còn cao. Điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt: Hạn hán lũ lụt thường xuyên xảy ra, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế và xã hội của huyện nhà. Trong khi đó nhu cầu học tập của con em ngày càng tăng. Yêu cầu về điều kiện cơ sở vật chất ngày càng lớn, để nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, trung tâm chất lượng cao, nhằm giáo dục trong toàn diện, đội ngũ giáo viên luôn luôn ở trong tình trạng vừa thiếu về số lượng, vừa chưa đạt yêu cầu về chất lượng. Những khó khăn thử thách trên có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển sự nghiệp giáo dục của huyện nhà. Tuy nhiên, từ khi có NQ TW 2 (khoá VIII) của BCH TW Đảng do có những chủ trương định hướng đúng đắn và những giải pháp tích cực, giáo dục huyện K đã có những chuyển biến và đạt những kết quả khả quan, những thành quả đáng kể, làm thay đổi nhiều mặt trong đời sống xã hội và tạo điều kiện để giáo dục phát triển. Cơ sở vật chất tăng khá, có 18 trường đạt chuẩn quốc gia, 15/15 xã, thị trấn đạt phổ cập GDTHCS và phổ cập GDTH đúng độ tuổi, hoạt động hướng nghiệp dạy nghề, giáo dục thường xuyên đã đi vào nề nếp và có hiệu quả. Trên địa bàn huyện có tất cả 03 trường Trung học phổ thông, 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên. 1.2. Đặc điểm tình hình trường THPT N Trường THPT N là đơn vị được thành lập theo quyết định số 500/QĐUB của UBND tỉnh Q ngày 28 tháng 05 năm 1996. Trường đóng ở địa phận giáp ranh giữa hai xã Võ Ninh và Duy Ninh. Đây là hai xã thuần nông, tình hình kinh tế đang khó khăn, trình độ dân trí đặc biệt là khu vực dân cư xung quanh trường đang còn rất thấp gây không ít khó khăn cho công tác xã hội hoá giáo dục. Năm học đầu tiên, năm học 1996-1997 trường chỉ có 297 học sinh với 6 lớp trong đó có 2 lớp bán công và 4 lớp công lập, đội ngũ giáo viên lúc đó là 16 thầy cô giáo. Cơ sở vật chất hết sức nghèo nàn chỉ có 2 dãy nhà cấp 4 với 6 phòng học, chưa có văn phòng, nhà trường phải mượn và thuê nhà dân, khuôn viên nhà trường là một bãi cát trắng không có cây cối, không có hàng rào. Với đặc điểm và tình hình như vậy song dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện K, Sở Giáo dục và Đào tạo Q qua 14 năm phấn đấu, xây dựng và trưởng thành trường THPT N đã có nhiều bước tiến đáng kể. - Thuận lợi: + Nhà trường được sự quan tâm, giúp đỡ mọi mặt của Sở Giáo dục và Đào tạo Q, sự lãnh đạo và chỉ đạo sát sao của Thường vụ huyện uỷ và Uỷ ban nhân dân huyện K, sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và các ban ngành trên địa bàn huyện. + Trường được đóng trên địa bàn mà lãnh đạo và nhân dân luôn quan tâm đến phong trào dạy và học của giáo viên và học sinh. + Đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên ổn định sớm, cơ bản đảm bảo cho các hoạt động giáo dục; cán bộ giáo viên có ý thức trách nhiệm cao, sẵn sàng đảm nhận phần hành và hoàn thành nhiệm vụ khi được phân công. + Học sinh đa số chăm ngoan, hiếu học. + Cơ sở vật chất tuy chưa khang trang nhưng cũng đảm bảo để dạy và học hai ca. Sách giáo khoa, tài liệu và thiết bị dạy học tuy còn nghèo nàn nhưng cũng đủ ở mức tối thiểu phục vụ giảng dạy cho giáo viên và học tập của học sinh. - Khó khăn: + Là đơn vị mới thành lập, đang còn non trẻ, cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, sân chơi, bãi tập chưa đảm bảo, hệ thống phòng bộ môn chưa có. + Giáo viên chưa đồng bộ, có môn còn thiếu, chủ yếu sinh viên mới ra trường nên chưa có kinh nghiệm nhiều trong giảng dạy và công tác. + Nhân dân, phụ huynh có đời sống kinh tế còn khó khăn, thu nhập chủ thấp, chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp. Hơn nữa, phụ huynh học sinh nằm sinh nằm trong vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng xấu của thiên tai, phần nào hạn chế đến việc đầu tư cho con em đến trường học tập. + Chất lượng đầu vào khối Trung học phổ thông thấp. + Các tổ chức đoàn thể trong trường thiếu kinh nghiệm trong hoạt động. + Thiếu các văn bản pháp quy đã ban hành từ những năm trước, thiếu tài liệu tham khảo cho các đoàn thể, tổ chuyên môn. 2. Một số kết quả đạt được trong việc quản lý nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường THPT N - huyện K - tỉnh Q. 2.1. Về công tác quản lý Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà trường, đồng chí hiệu trưởng đã chủ động hơn trong kế hoạch tổ chức bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên; phân công cho một đồng chí hiệu phó cùng các tổ trưởng chuyên môn triển khai kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ giáo viên; có biện pháp kiểm tra, đánh giá, xếp loại từng giáo viên về chất lượng giảng dạy và giáo dục. Có kế hoạch triển khai bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên dưới nhiều hình thức như tập trung tại Sở Giáo dục, tại cụm, tại trường, đặc biệt là công tác tự bồi dưỡng. Phương pháp tổ chức ngày một đa dạng và phong phú với mục tiêu huy động được nhiều nhất số giáo viên tham gia bồi dưỡng. 2.2. Về số lượng học sinh tuyển sinh qua từng năm học Đơn vị trường THPT N theo quyết định của Sở GD-ĐT Q được phép tuyển các học sinh THCS của 7 xã vùng Bắc huyện K bao gồm Lương Ninh, Võ Ninh, Vĩnh Ninh, Hàm Ninh, Duy Ninh, Gia Ninh, Hải Ninh và sau này có Thị trấn Quán Hàu. Đây là vùng đất nổi tiếng hiếu học, dưới sự lãnh đạo của chi bộ đội ngũ nhà trường đã từng bước khẳng định uy tín của mình thông qua kết quả giáo dục, chính vì vậy số lượng học sinh không ngừng tăng lên: Năm học Số lượng Năm học Số lượng Lớp Học sinh Lớp Học sinh 1996-1997 6 297 2003-2004 35 1644 1997-1998 11 577 2004-2005 33 1530 1998-1999 17 893 2005-2006 31 1379 1999-2000 24 1244 2006-2007 31 1375 2000-2001 30 1509 2007-2008 30 1347 2001-2002 34 1697 2008-2009 30 1350 2002-2003 36 1768 2009-2010 30 1349 Hiện nay năm học 2010-2011, trường có 30 lớp với 1347 học sinh. 2.3. Về tình hình đội ngũ Theo sự phát triển tăng dần về số lượng lớp và học sinh, được sự quan tâm của chính quyền và ngành giáo dục, đội ngũ cán bộ giáo viên được bổ sung một cách kịp thời phục vụ cho yêu cầu dạy và học Năm học Tổng số CBGV Năm học Tổng số CBGV QL GV HC Tổng QL GV HC Tổng 1996-1997 2 12 2 16 2003-2004 3 56 4 63 1997-1998 2 18 3 23 2004-2005 3 63 4 70 1998-1999 2 25 3 30 2005-2006 3 65 4 72 1999-2000 2 31 3 36 2006-2007 3 66 4 73 2000-2001 2 36 3 41 2007-2008 3 68 4 75 2001-2002 3 43 3 49 2008-2009 3 70 4 77 2002-2003 3 54 4 61 2009-2010 3 70 4 77 Năm học 2010-2011 trường THPT N có 77 cán bộ giáo viên trong đó: Trình độ thạc sĩ: 05 đồng chí, trình độ cử nhân: 70 đồng chí, trình độ cao đẳng: 02 đồng chí, 100% giáo viên đứng lớp đã đạt chuẩn đào tạo, có tâm huyết với nghề, tuổi đời bình quân trẻ có thừa nhiệt tình trong công tác tuy nhiên do đội ngũ phần lớn không phải là con em địa phương vì vậy trong công tác giáo dục nói chung và tạo dựng các mối quan hệ với chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể ngoài nhà trường nói riêng gặp nhiều khó khăn. 2.4. Về cơ sở vật chất Hiện tại đơn vị đã có 02 khu nhà cao tầng bao gồm 20 phòng học cùng 2 dãy nhà cấp 4 (6 phòng) đảm bảo cho 30 lớp học 2 ca. Các phòng chức năng như phòng vi tính, phòng thực hành, thư viện, các phòng chức năng trên cơ bản đáp ứng cho nhu cầu dạy và học trong điều kiện cho phép. Các trang thiết bị phục vụ nâng cao chất lượng dần dần được bổ sung qua hàng năm tạo nên những tiến bộ trong việc đảm bảo tính thực chất trong chất lượng giáo dục. Khuôn viên nhà trường đã được hoàn thiện, hệ thống sân bãi đầy đủ, rộng, phục vụ tốt cho các hoạt động mang tính quy mô toàn trường. 2.5. Về các tổ chức đoàn thể Trường có 7 tổ chuyên môn và một tổ hành chính, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức nòng cốt trong việc tạo dựng các hoạt động bề nổi của nhà trường với 31 chi đoàn trong đó có 30 chi đoàn học sinh và 01 chi đoàn giáo viên (42 đồng chí), tổ chức công đoàn nhà trường thực sự là tổ ấm của các đoàn viên, là nhân tố thúc đẩy chất lượng dạy của giáo viên và là tổ chức bảo vệ quyền lợi cho cán bộ giáo viên theo đúng chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước. Ngoài ra trường còn có các tổ chức như: Hội Cha mẹ học sinh, Hội Chữ thập đỏ, Hội Cựu chiến binh, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Hội Khuyến học, Lực lượng dân quân tự vệ. Đây là những tổ chức đoàn thể góp phần rất lớn trong việc thực hiên các nhiệm vụ, kế hoạch giáo dục qua từng năm học. 3. Những tồn tại trong việc quản lý nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường THPT N - huyện K - tỉnh Q. Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trường THPT N - huyện K - tỉnh Q còn có một số tồn tại cần khắc phục nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên của nhà trường để thực hiện được mục tiêu cũng như chiến lược giáo dục và đào tạo mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, cụ thể là: - Việc xây dựng bồi dưỡng giáo viên để nâng cao chất lượng dạy và học tuy đã tiến hành song việc đầu tư kinh phí chưa thoả đáng, mới tập trung vào một sô môn gọi là cơ bản. Ban Giám hiệu chưa bố trí tạo điều kiện thời gian để giáo viên ôn thi cao học nhằm nâng cao trình độ v.v… Nhà trường đã phối hợp với nhiều lực lượng giáo dục khác để nâng cao chất lượng dội ngũ như phối hợp với hội cha mẹ học sinh quan tâm đến việc giáo dục học sinh trong nâng cao đời sống song hiệu qủa vần còn khiêm tốn chưa xứng với tiềm năng của cơ sở. - Công tác kiểm tra chất lượng của nhà trường mới chỉ nêu ra kế hoạch, phó mặc cho các tổ chuyên môn, chưa có sự phối hợp giữa ban giám hiệu cùng các tổ trưởng trong kiểm tra toàn diện đối với giáo viên. Công tác kiểm tra đánh giá của Ban Giám hiệu đôi lúc còn ôm đồm, chưa mang tính trọng tâm trọng điểm. - Đội ngũ giáo viên nhiệt tình rất tâm huyết với nghề. Nhiều giáo viên của trường là giáo viên trẻ nhiệt tình và rất năng nổ hăng hái. Tuy nhiên, số giáo viên này còn có nhiều hạn chế về năng lực sư phạm, đổi mới phương pháp giảng dạy còn bỡ ngỡ lúng túng. Số giáo viên trẻ phần lớn gia đình xa trường, không thuận lợi cho việc giao lưu học hỏi đồng nghiệp. Một số đồng chí trong tổ trưởng chuyên môn chưa có kinh nghiệm trong quản lí điều hành nên tính kế hoạch, tác nghiệp chưa cao. Đặc biệt, việc họp tổ chuyên môn còn nặng nề hành chính sự vụ, chưa đi sâu vào bàn chuyên môn nhất là đi vào những bài dạng mới và khó. Tỉ lệ nữ đông lại đang ở tuổi xây dựng gia đình và hoàn thành thiên chức làm mẹ cho nên nhiều giáo viên nghỉ, anh em phải bố trị dạy thay nhiều. Bồi dưỡng xây dựng đội ngũ giáo viên mới chỉ tập trung vào nhiệm vụ dạy học còn nhiều nhiệm vụ khác chưa có điều kiện hoặc ít được quan tâm chú ý như công tác chủ nhiệm, giáo dục đạo đức học sinh, tổ chức lao động hướng nghiệp. Ngay trong nhiệm vụ dạy học, yêu cầu giáo viên phải thành thục nhiều kĩ năng nhưng nhà trường mới chỉ dừng lại ở việc chỉ đạo đổi mới phương pháp. Thực ra muốn đổi mới phương pháp thì giáo viên phải đổi mới soạn bài, đổi mới kiểm tra đánh giá .v.v … - Trong quá trình thực hiện kế hoạch bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của bản thân vẫn còn có một số đồng chí giáo viên thờ ơ, tỏ ra có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, thiếu sự học hỏi, thiếu ý thức cầu tiến. Một số giáo viên còn ngần ngại khi được nhà trường phân công bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu. - Điều kiện tài chính còn hạn hẹp nên nhà trường chưa chú tâm nhiều đến việc động viên, khuyến khích vật chất và tinh thần cho đội ngũ giáo viên. - Nhà trường còn non trẻ, nên cơ sở vật chất còn thiếu thốn nhất là các phòng thí nghiệm, bộ môn chưa hoàn thành nên nhiều bài giáo viên vẫn dạy chay, lí thuyết chưa gắn với thực hành.Việc triển khai thực hiện phân ban còn nhiều bất cập ( nhất là việc dạy các phần tự chọn). Nguồn kinh phí đầu tư cho chuyên môn chưa thoả đáng, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, chưa đáp ứng yêu cầu cho việc giảng dạy. Trên đây là một số thành tích đạt được cũng như một số tồn tại của trường THPT N trong việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Để việc quản lý xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên được chất lượng nhằm hoàn thiện mục tiêu, cũng như chiến lược về giáo dục và đào tạo mà Đảng và Nhà nước đề ra, trước hết phải nhìn nhận đúng một số vấn đề đặt ra trong công tác quản lý, đặc biệt là đưa ra một số biện pháp thiết thực có tính khả thi. 4. Một số vấn đề đặt ra trong việc quản lý nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường THPT N - huyện K - tỉnh Q. Dựa trên cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và sự phân tích cụ thể thực trạng của việc quản lý trong xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường THPT N - huyện K - tỉnh Q, bản thân nhận thấy có một số vấn đề đặt ra mang tính cấp bách là: Một là: Lập kế hoạch nhân sự đội ngũ. Hai là: Tuyển chọn, bổ sung nhân sự. Ba là: Phân công, bố trí giáo viên. Bốn là: Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trên các phương diện: bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị; bồi dưỡng kiến thức; bồi dưỡng kỹ năng sư phạm. Năm là: Thực hiện biện pháp động viên, khuyến khích vật chất, tinh thần cho đội ngũ giáo viên. Sáu là: Xây dựng, cũng cố nề nếp kỷ cương. Những vấn đề nêu trên được thể hiện bằng hệ thống các biện pháp ở chương III. CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG THPT N - HUYỆN K - TỈNH Q. 1. Phương hướng chung 1.1. Quán triệt sâu sắc nghị quyết của Đảng các cấp, đặc biệt là các quan điểm của Đảng về Giáo dục và Đào tạo, phát huy kết quả đạt được của thời gian qua, khắc phục khó khăn, đẩy mạnh phong trào thi đua "Dạy tốt - Học tốt", nâng cao chất lượng đào tạo, đoàn kết đổi mới tiến lên, lãnh đạo đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ. 1.2. Phát huy những thành tích đạt được trong lãnh đạo hoạt động chuyên môn, tiếp tục giữ vững tỷ lệ khá tăng tỷ lệ giỏi, giảm tỷ lệ yếu kém, phấn đấu nâng cao chất lượng thực chất. Tỷ lệ học sinh lớp 12 đổ tốt nghiệp hàng năm từ 90% trở lên, lên lớp 99%. Học sinh giỏi Tỉnh đạt nhiều giải đồng đội và cá nhân, phấn đấu có học sinh giỏi quốc gia. Tỷ lệ học sinh TN 12 đỗ vào các trường ĐH, CĐ, THCN hàng năm đạt từ 20-25%. Giáo viên giỏi cấp cơ sở trở lên 15-20%, giáo viên đạt trên chuẩn 3%. 1.3. Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, lãnh đạo các tổ chức đoàn thể hoạt động có hiệu quả, xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh, phấn đấu vươn lên vững mạnh tiêu biểu. Công đoàn, Đoàn trường vững mạnh xuất sắc. Trường đạt danh hiệu tiên tiến và vươn lên tiên tiến xuất sắc. 2. Những biện pháp chủ yếu nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tại trường THPT N - huyện K - tỉnh Q. Đội ngũ giáo viên là lực lượng chủ yếu, quan trọng nhất trong nhà trường. Nói cách khác đội ngũ giáo viên là người chủ, chính đội ngũ giáo viên là người quyết định nhất đến chất lượng đào tạo. Trong tình hình hiện nay, nhằm đáp ứng nhân lực trình độ cao cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mỗi giáo viên phải tự nâng mình lên. Để tạo bước chuyển biến căn bản về chất lượng đội ngũ qua việc học tập bồi dưỡng tại Học viện Quản lý giáo dục, tiếp thu kinh nghiệm thực tế tại trường THPT Nguyễn Trãi - Hải Phòng, trường THPT Lý Thường Kiệt - Bắc Ninh cũng như tích hợp một số kinh nghiệm của bản thân trong công tác quản lý, bản thân xin mạnh dạn nêu một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên như sau: 2.1. Lập quy hoạch nhân sự đội ngũ Lập quy hoạch nhân sự là việc xác định nhu cầu về số lượng, chất lượng, cơ cấu về cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên nhằm đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ của nhà trường. Khi lập quy hoạch nhân sự, hiệu trưởng cần căn cứ vào các văn bản pháp quy của Bộ Giáo dục và Đào tạo định biên cho các cơ sở giáo dục trung học cơ sở và trung học phổ thông, căn cứ vào nội dung, kế hoạch giáo dục và thực trạng đội ngũ giáo viên trong nhà trường. Các biện pháp cụ thể trong lập quy hoạch nhân sự đối với trường THPT N - huyện K - tỉnh Q trong giai đoạn hiện nay là: - Căn cứ Thông tư liên tịch số 35/TTLT-BGD&ĐT-BNV về biên chế của trường phổ thông công lập, để chủ động bố trí sắp xếp đội ngũ để đảm bảo về số lượng, chất lượng, cân đối về cơ cấu giáo viên, nhân viên cho các môn học. - Rà soát tình hình nhân sự. - Phân loại số lượng, chất lượng đội ngũ. - Lập kế hoạch nhân sự trên cơ sở yêu cầu của năm học mới. - Chú trọng công tác lựa chọn tổ trưởng chuyên môn, là người có phẩm chất, có tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật cao, có năng lực chuyên môn vững vàng. - Xây dựng tổ chuyên môn mang tính lồng ghép: chọn các môn tương đồng vào một tổ, tìm hạt nhân nổi trội làm tổ trưởng và nhóm trưởng. Khi năng lực chuyên môn và số lượng giáo viên của một số bộ môn tăng, đủ điều kiện thì tách tổ. 2.2. Tuyển chọn, bổ sung nhân sự - Căn cứ vào bản quy hoạch lập đề án tuyển nhân sự trình Sở Giáo dục và Đào tạo xem xét để tuyển giáo viên các môn còn thiếu. - Tuyển chọn những giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy và năng lực chuyên môn giỏi, giáo viên đạt chuẩn. 2.3. Phân công, bố trí giáo viên Phân công, bố trí giáo viên, nhân viên là quyền hạn và trách nhiệm của người hiệu trưởng. Đó là việc phân công giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm các lớp trong trường. Nếu phân công hợp lý sẽ phát huy tối đa tiềm năng giáo viên, ngược lại phân công bố trí không hợp lý sẽ làm giảm chất lượng công việc cá nhân ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục chung của nhà trường. Đối với trường THPT N, là một trường mới thành lập, số giáo viên trẻ nhiều lại ở xa trường, một số giáo viên có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Vì vậy, việc phân công bố trí giáo viên đòi hỏi người hiệu trưởng phải hết sức thận trọng. Biện pháp thực hiện: - Yêu cầu cá nhân đề đạt nguyện vọng. - Tổ chuyên môn trao đổi, bàn bạc trên cơ sở đánh giá năng lực giáo viên ở năm học trước. - Hiệu trưởng dựa trên cơ sở phân công của tổ để ra quyết định. - Hiệu trưởng căn cứ vào năng lực chuyên môn và sự đề đạt của học sinh (thông qua phiếu thăm dò) để bố trí. - Do đội ngũ giáo viên chưa đồng bộ, đối với những giáo viên dạy không đủ tiết bộ môn của mình, hiệu trưởng dựa vào khả năng, năng lực của giáo viên, khéo léo thuyết phục giáo viên chấp nhận dạy thêm một số tiết môn phụ khác. - Chú ý đến nguyên tắc đảm bảo sự ổn định, kế thừa, quan tâm đến học sinh cuối cấp, bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém, giáo viên dạy chương trình chuyên ban, v.v… - Giao giáo viên có kinh nghiệm lâu năm công tác kèm cặp giáo viên mới ra trường. - Khi phân công giáo viên, hiệu trưởng phải chú ý đảm bảo định mức mặt bằng lao động, quan tâm tới đề nghị chính đáng của giáo viên với phương châm để cho giáo viên phát triển tốt. - Khi phân công giáo viên chủ nhiệm lớp, ngoài việc căn cứ vào phân công chuyên môn, hiệu trưởng cần đưa ra những tiêu chí để lựa chọn những giáo viên làm công tác chủ nhiệm, đồng thời thăm dò nguyện vọng của học sinh và cha mẹ học sinh. Giảm thiểu tối đa những giáo viên dạy ít tiết (1 đến 2 tiết trong một lớp) chủ nhiệm lớp đó. Nên bố trí chủ nhiệm trọn khoá (từ lớp 10 đến lớp 12) để giáo viên chủ động và có biện pháp linh hoạt nhuần nhuyễn trong giáo dục học sinh. Hiệu trưởng giao quyền cho giáo viên chủ nhiệm trong việc nhận hoặc từ chối học sinh cá biệt của lớp. 2.4. Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao, hoàn thiện nhân cách của giáo viên. Muốn nâng cao chất lượng giáo dục trong trường trung học phổ thông, người làm công tác quản lý cần đặc biệt quan tâm tới công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên. 2.4.1. Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và tư tưởng chính trị cho đội ngũ giáo viên. - Vấn đề nhận thức về tầm quan trọng của việc nâng cao đội ngũ nhà giáo đối với mỗi giáo viên là một công việc hết sức cần thiết. Hiểu và nhận thức đầy đủ về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp giáo dục giai đoạn hiện nay, mỗi một người thầy sẽ nhận thức đúng vai trò, vị trí, trách nhiệm của mình đối với thế hệ trẻ. Nhận thức đúng điều đó, họ sẽ sẵn sàng đem hết khả năng của mình phục vụ cho sự nghiệp giáo dục. Ban giám hiệu nhà trường tranh thủ sự giúp đỡ, chỉ đạo của chi bộ tổ chức nói chuyện thời sự hoặc tổ chức các lớp học về tư tưởng Hồ Chí Minh, về độc lập dân tộc, về xu thế toàn cầu hoá, về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về sự nghiệp giáo dục. Sau các đợt học tập, giáo viên viết thu hoạch, nhà trường và chi bộ tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm. - Tổ chức học tập nghị quyết của Đảng các cấp, các văn bản pháp quy, chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Luật giáo dục, Điều lệ trường phổ thông, nhiệm vụ năm học của Sở Giáo dục và Đào tạo, kế hoạch năm học của trường. Yêu cầu 100% giáo viên tham gia. Đề xuất với chi bộ Đảng cử giáo viên ưu tú tham gia lớp cảm tình Đảng và phấn đấu kết nạp 4-5 quần chúng vào hàng ngũ Đảng Cộng sản trong một năm. - Bồi dưỡng phẩm chất chính trị với các hình thức: + Tổ chức theo đơn vị trường (hoặc liên trường) nghe quán triệt chỉ thị, Nghị định của các cấp uỷ, địa phương của ngành. - Thực hiện nghiêm túc và hiệu quả chỉ thị số 06/CT/TW của Bộ Chính trị về cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Chỉ thị số 33/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong Giáo dục, hưởng ứng cuộc vận động “Hai không” với 4 nội dung, v.v… - Trong quá trình bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ, phẩm chất đạo đức của người thầy phải được coi trọng. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, người thầy phải xứng đáng là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Phải xây dựng thói quen làm việc có kỷ cương, nề nếp, lương tâm, trách nhiệm. Thông qua bồi dưỡng tư tưởng chính trị cho thầy cô giáo có niềm tự hào gắn bó với nghề, với trường để tạo động lực phát triển nhà trường. Hàng năm, nhà trường kết hợp với tổ chức công đoàn cho giáo viên nghiên cứu luật giáo dục, luật công chức. Hiệu trưởng xây dựng hòm thư góp ý để kịp thời điều chỉnh các hành vi thiếu chuẩn mực của giáo viên. - Bồi dưỡng lòng nhân ái sư phạm cho đội ngũ giáo viên là nội dung quan trọng trong công tác bồi dưỡng chất lượng giáo viên. Tình yêu thương học sinh là điểm xuất phát của mọi sự sáng tạo sư phạm và làm cho giáo viên có trách nhiệm cao với công việc. Tình yêu thương học sinh thể hiện trong các hoạt động giảng dạy và giáo dục, đó cũng là điểm xuất phát của tình yêu nghề nghiệp. Để tăng thêm lòng yêu nghề của người thầy, tập thể học sinh có sự tác động mạnh. Nhà trường kết hợp với tổ chức Đoàn thanh niên và Hội cha mẹ học sinh trong trường giáo dục con em, xây dựng kỷ cương nề nếp dạy học để tăng thêm lòng yêu trường, mến lớp trong mỗi người thầy. 2.4.2. Bồi dưỡng các kỹ năng sư phạm Đây là yêu cầu cơ bản, quan trọng trong công tác bồi dưỡng giáo viên. Bồi dưỡng kỹ năng sư phạm cụ thể là: kỷ năng lập kế hoạch dạy học, kỹ năng dạy học trên lớp, kỹ năng tổ chức quản lý giáo dục học sinh, kỹ năng giao tiếp với học sinh, đồng nghiệp và cộng đồng, kỹ năng lập hồ sơ, tài liệu giáo dục giảng dạy. Đặc biệt trong khi tiến hành triển khai thực hiện chương trình nội dung sách giáo khoa mới, giáo viên cần phải có kỹ năng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực và sử dụng thành thạo các thiết bị dạy học theo đặc trưng bộ môn. Giáo viên cũng cần có kỹ năng hướng dẫn học sinh tự học, kỹ năng ra đề kiểm tra, kỹ năng đánh giá học sinh. Các biện pháp thực hiện: - Tổ chức hội thảo cấp trường chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học nhằm cung cấp cho giáo viên kinh nghiệm trong soạn bài, lên lớp. - Kết hợp với hội cha mẹ học sinh trong giáo dục con em: một tháng giáo viên chủ nhiệm mời ban chấp hành chi hội phụ huynh tham gia sinh hoạt với lớp ít nhất một lần. - Họp tổ chủ nhiệm một tháng một lần để trao đổi tình hình học sinh, rút kinh nghiệm trong quản lý và bàn bạc nhằm tìm biện pháp hữu ích trong công tác chủ nhiệm. - Kết hợp với tổ chức công đoàn dạy thêm cho giáo viên môn ngoại ngữ và vi tính. - Thường xuyên dự giờ thăm lớp. Đối với giáo viên trẻ quy định dự 2 tiết/tuần. 2.4.3. Bồi dưỡng năng lực chuyên môn Năng lực chuyên môn là nền tảng, là đòn bẩy của năng lực sư phạm. Muốn có năng lực sư phạm tốt, phải có năng lực chuyên môn vững vàng. Các biện pháp nhằm bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên cụ thể như sau: - Xây dựng tổ chuyên môn thực sự là nơi diễn ra hoạt động chuyên môn sâu rộng, có ý nghĩa thiết thực đối với sự phấn đấu vươn lên của mỗi thành viên trong hoạt động nâng cao chất lượng giáo dục giảng dạy. Người quản lý cần xác định rõ nhiệm vụ, tầm quan trọng của tổ và nhóm chuyên môn trong nhà trường. Nhiệm vụ của tổ chuyên môn là xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ, hướng dẫn và xây dựng kế hoạch cá nhân của tổ viên theo kế hoạch dạy học, phân phối chương trình và các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, tổ chức kiểm tra đánh giá chất lượng thực hiện nhiệm vụ của giáo viên theo kế hoạch của nhà trường; đề xuất khen thưởng kỷ luật đối với giáo viên. Nề nếp sinh hoạt của tổ chuyên môn là 2 lần/ tháng. Nội dung và hình thức sinh hoạt góp phần đảm bảo kỷ cương nề nếp và nâng cao chất lượng dạy học, cụ thể: + Phản ánh những tiết khó trong phân phối chương trình. + Dự giờ, đánh giá, góp ý giờ dạy. + Hội thảo các chuyên đề như: chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học, chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi. Tổ trưởng cử giáo viên có năng lực chuyên môn vững vàng dạy thử nghiệm, tổ góp ý cùng tìm ra hướng đi phù hợp. + Góp ý xây dựng soạn giáo án chung với những tiết khó. + Khuyến khích giáo viên sử dụng và tự làm đồ dụng dạy học, tự trích một phần quỹ lương để mua tài liệu có nội dung phù hợp với bộ môn. + Quy định viết sáng kiến kinh nghiệm là một tiêu chí trong đánh giá thi đua của giáo viên. Đề tài có thể là một tiết dạy mà giáo viên cho là thành công… - Về phía nhà trường, ban giám hiệu phân công hợp lý các thành viên phụ trách các tổ chuyên môn và quản lý các khối lớp để cùng sinh hoạt chuyên môn với tổ để kịp thời điều chỉnh, uốn nắn những sai lệch trong giảng dạy, trong quản lý sổ sách, trong chế độ cho điểm, cộng điểm… - Từng bước đầu tư xây dựng thư viện và thiết bị dạy học phù hợp với đặc trưng của từng bộ môn. - Cử giáo viên tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ ngắn hạn, bồi dưỡng định kỳ do sở hoặc bộ tổ chức theo chuyên đề. Sau khi tham dự phải tổ chức phổ biến, áp dụng. - Vận động và cử giáo viên có năng lực, có điều kiện tham dự các lớp đào tạo các lớp đào tạo thạc sỹ (3-5 đồng chí/năm). Đây là hình thức mang tính chiến lược của nhà trường, phù hợp với chiến lược về phát triển giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay, giúp nhà trường tạo dựng mũi nhọn trong đào tạo học sinh giỏi. 2.4.4. Bồi dưỡng cho cán bộ tiếp cận công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học. Hiện nay, công nghệ thông tin đang ảnh hưởng sâu rộng vào đời sống. Nhiều giáo viên trẻ đã được học tin học, nhưng nhiều giáo viên lớn tuổi chưa có điều kiện tiếp xúc với công nghệ này. Do đó, Ban giám hiệu nhà trường phải chỉ đạo tổ chức mở các lớp bồi dưỡng tin vào buổi chiều sau khi dạy theo yêu cầu hoặc vào các buổi họp tổ chuyên môn. Những việc làm đó sẽ giúp cho giáo viên nắm được và làm được những kỹ năng cơ bản về tin học văn phòng, soạn thảo giáo án bằng máy, rồi trình chiếu trên máy tính các bài dạy.v.v. Nhà trường đã nối mạng Internet đường truyền ADSL tốc độ cao tạo điều kiện cho giáo viên tra cứu học tập. 2.5. Động viên, khuyến khích vật chất và tinh thần cho đội ngũ giáo viên. 2.5.1. Kích thích về vật chất Sử dụng biện pháp kích thích về vật chất trong quản lý nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là cách thức gắn lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể. Các biện pháp thực hiện là: - Giải quyết tốt các chế độ chính sách của nhà nước một cách đúng đắn, kịp thời, thoả đáng: nhận lương đúng hạn, nhận thừa giờ đúng kỳ. - Công bằng trong đánh giá thi đua, trong khen thưởng, kỷ luật. - Chỉ đạo thực hiện phương pháp khoán thưởng trong dạy học. Phần khoán thưởng chất lượng chủ yếu giải quyết phần tăng năng suất trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học gồm có các bươc thực hiện như sau: + Bước 1: Chuẩn bị Nghiên cứu thực trạng học sinh khi tiếp nhận hợp đồng khoán thưởng. Phân tích nguyên nhân và điều kiện tạo ra chất lượng đó. Lựa chọn, phân loại đối tượng tiếp nhận khoán thưởng. Lập chương trình kế hoạch chỉ đạo. + Bước 2: Triển khai, tổng kết, đánh giá khen thưởng Tổng kết, đánh giá mức độ nâng cao chất lượng theo từng cá nhân, mức độ khen thưởng: giáo viên giỏi cấp tỉnh được 1.000.000 đồng, giáo viên giỏi cấp cơ sở được 300.000 đồng, giáo viên bồi dưỡng học sinh đạt giải cấp tỉnh được 1.000.000 đồng, tổ chuyên môn tiên tiến được 500.000 đồng. Tổ chức trao thưởng cho giáo viên. Tổng kết rút ra bài học kinh nghiệm, đề ra phương pháp tiếp tục triển khai. - Kết hợp với tổ chức công đoàn, hội cha mẹ học sinh tổ chức chu đáo thăm hỏi kịp thời cán bộ giáo viên vào các ngày lễ lớn trong năm: ngày Nhà giáo Việt Nam, ngày lễ Quốc khánh, ngày Tết. - Tạo nguồn kinh phí: Trích một phần kinh phí hoạt động của nhà trường, huy động nguồn kinh phí của cá nhân, sự hỗ trợ của các nhà doanh nghiệp trên địa bàn huyện. 2.5.2. Kích thích về tinh thần. - Xây dựng môi trường sư phạm đoàn kết, đồng thuận, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau.Chi bộ, ban giám hiệu nhà trường, ban chấp hành công đoàn có quan điểm nhất quán trong chỉ đạo hoạt động xây dựng nhà trường. - Kích thích khả năng sáng tạo của từng thành viên trong hội đồng. - Tổ chức cho cán bộ giáo viên tham quan, nghỉ mát, giao lưu học hỏi đơn vị bạn. - Tổ chức các câu lạc bộ trong trường: câu lạc bộ người yêu thơ, câu lạc bộ người yêu ca hát, câu lạc bộ thể dục thể thao. - Tổ chức tháng sinh nhật cho cán bộ giáo viên. - Thưởng con em cán bộ giáo viên có thành tích cao trong học tập. 2.6. Xây dựng củng cố nền nếp, kỉ cương Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên gắn liền với việc củng cố nề nếp, kỷ cương, phối hợp tốt với các lực lượng giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường. - Đội ngũ giáo viên là một tổ chức sư phạm hoạt động chặt chẽ, có tôn chỉ mục đích cụ thể. Cho nên, muốn nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên thì người quản lý phải thường xuyên củng cố nề nếp, tổ chức kỷ cương. Nếu buông lỏng việc tổ chức và kiểm tra thì chắc chắn công tác này sẽ không đạt hiệu quả như mong muốn. - Để làm tốt công tác trên, phải đề ra quy chế, nội quy chặt chẽ về tất cả các lĩnh vực. Chẳng hạn về vấn đề chuyên môn yêu cầu tối thiểu đối với giáo viên là phải đủ hồ sơ, giáo án, sổ sách. Lên lớp phải có giáo án đầy đủ, dạy đúng, dạy đủ chương trình, ra vào lớp đúng quy định, chấm trả bài đúng thời gian… - Tôn trọng đề cao tinh thần tự giác, tự trọng của giáo viên để mỗi giáo viên phát huy hết tài lực, tâm lực của mình. - Tâm lý của tri thức nói chung, giáo viên nói riêng là rất tôn trọng sự đánh giá khách quan khả năng của họ. Do đó, người quản lý phải đánh giá đúng nhân viên của mình. Chính sự đánh giá khách quan là nguồn động viên khích lệ to lớn để giáo viên phấn đấu. - Muốn giáo viên gắn bó tâm huyết với cơ quan nhà trường, với nghề, người quản lý phải biết động viên, tạo không khí cởi mở, tin cậy trong cơ quan. Cùng với việc khuyến khích vật chất khen thưởng kịp thời chắc chắn giáo viên sẽ yên tâm, phấn khởi và cố gắng vươn lên để không hổ thẹn với mình và với sự quan tâm của tập thể. - Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cuối cùng theo tôi người quản lý còn phải luôn luôn bảo vệ quyền lợi, danh dự cho giáo viên cho đồng nghiệp. Người giáo viên đến trường được tôn trọng, đề cao, ra ngoài rất an toàn, trọng vọng sẽ không còn gì khiến họ phải băn khoăn, trăn trở mà yên tâm công tác, cống hiến. Tóm lại, để quản lý nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trung học phổ thông có rất nhiều biện pháp. Trên cơ sở nền tảng lý luận, người quản lý cần phải biết phân tích tình hình cơ sở, để từ đó đề ra các biện pháp phù hợp trong quản lý. Trên đây là một số biện pháp quản lý mà chúng tôi cho là hữu hiệu để xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên của trường THPT N - huyện K - tỉnh Q trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên trong quá trình quản lý, chúng tôi không ngừng điều chỉnh để ngày càng phù hợp với tình hình thực tế của địa phương và xu thế chung của thời đại. KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong nhà trường là công việc cần thiết cấp bách trong sự nghiệp giáo dục giai đoạn hiện nay. Người quản lý cũng phải không ngừng học hỏi, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ quản lý, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục- đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Xuất phát từ cơ sở lý luân, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn và thực trạng của đơn vị, trong tiểu luận, chúng tôi đã đề xuất bốn biện pháp quản lý nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tại trường THPT N - huyện K - tỉnh Q: Một là: Lập kế hoạch nhân sự đội ngũ. Hai là: Tuyển chọn, bổ sung nhân sự. Ba là: Phân công, bố trí giáo viên. Bốn là: Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trên các phương diện: bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị; bồi dưỡng kiến thức; bồi dưỡng kỹ năng sư phạm. Năm là: Thực hiện biện pháp động viên, khuyến khích vật chất, tinh thần cho đội ngũ giáo viên. Sáu là: Xây dựng, cũng cố nề nếp kỷ cương. Những kết luận nêu trên cho thấy các nhiệm vụ của đề tài đã được thực hiện phù hợp với mục tiêu đề tài đã xác định. Mặc dù người viết đã có nhiều cố gắng tìm kiếm các biện pháp phù hợp song do giới hạn của một tiểu luận nên trong quá trình nghiên cứu còn có một số biện pháp chưa có điều kiện đi sâu. Đó chính là hướng nghiên cứu tiếp của đề tài. 2. Kiến nghị 2.1. Với Bộ Giáo dục và Đào tạo - Chỉ đạo tích cực việc đào tạo có chất lượng ở tất cả các hệ đào tạo. - Ban hành nội dung chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên trung học phổ thông và trung học cơ sở nhằm tạo cơ sở hành lang pháp lý để các trường có kế hoạch bồi dưỡng, nâng cao chất lượng giảng dạy. 2.2. Với Sở Giáo dục và Đào tạo Q - Có kế hoạch tăng số lượng chỉ tiêu đào tạo giáo viên trên chuẩn. - Tổ chức cho đội ngũ giáo viên bồi dưỡng các chuyên đề tập trung về đường lối, chính sách liên quan đến giáo dục và đào tạo. - Có chính sách ưu đãi nhằm thu hút giáo viên giỏi, giáo viên của các môn còn thiếu ở tỉnh bạn đến công tác tại Q. - Tổ chức các hội nghị chuyên đề trao đổi học tập kinh nghiệm giữa các trường trung học phổ thông tiên tiến trong tỉnh. - Tăng tính tự chủ của hiệu trưởng đặc biệt là quyền lựa chọn, tiếp nhận giáo viên. - Tăng cường hơn nữa cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cho các trường theo hướng hiện đại. - Đề xuất với Tỉnh về cơ chế, chính sách đối với những giáo viên có bằng thạc sĩ trở lên. 2.3. Với trường THPT N - huyện K - tỉnh Q - Tổ chức cho giáo viên đi học tập trao đổi kinh nghiệm với trường bạn trên địa bàn huyện. - Có biện pháp hỗ trợ thoả đáng đối với giáo viên đào tạo trên chuẩn. - Có chiến lược lâu dài về xây dựng đội ngũ giáo viên có tay nghề vững. TÀI LIỆU THAM KHẢO Luật Giáo dục- NXB CTQG- 2005. Điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành ngày 02/4/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, IX, X. Nghị quyết BCHTW khoá VII, nghị quyết TW 2, Nghị quyết TW3, Nghị quyết TW 7 khoá VIII. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 BCHTW khoá IX. Nghị quyết 40 của Quốc hội khoá X. Chỉ thị 40/CT-TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư TW Đảng. Quyết định số 09/2005/QĐ-TTG ngày 11/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Chỉ thị số 3399 /CT-BGDĐT ngày 16/8/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hướng dẫn số 4718/BGDĐT-GDTrH ngày 11/8/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Giáo trình dùng cho cán bộ quản lý trờng trung học phổ thông. Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2010-2011 ngày 28/8/2010 của sở GD&ĐT Q. Báo cáo tổng kết năm học 2009 - 2010 và kế hoạch năm học 2010-2011 của trờng THPT N- Q.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docDownload- Tiểu luận cuối khóa- trung cấp lí luận chính trị, quản lý nhà nước-chương trình chuyên viên, quản lý giáo dục- Một số biện pháp quản lý nhằm.doc