Tiểu luận Việt Nam có vai trò và vị thế như thế nào về lịnh vực chính trị trong ASEAN?

Thành công của ASEAN trong 42 năm qua là do sự tụ hội của nhiều nhân tố, nhưng trước hết đó là sự chia sẻ nhiều lợi ích cơ bản cũng như tầm nhìn, quyết tâm chính trị mạnh mẽ và những nỗ lực không mệt mỏi của các nước thành viên. Nguy ện vọng chung thiết tha về một khu vực Đông Nam Á hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển đã tạo động lực và sức mạnh cho cả 10 nước khu vực phát huy những điểm tương đồng, vượt qua những khác biệt về chính trị, kinh tế, văn hóa cũng như những rào cản do lịch sử để lại, gắn kết dưới mái nhà chung ASEAN, cùng nhau tạo dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho mỗi nước cũng như cả khu vực. Bước sang thế kỷ 21, tình hình khu vực và thế giới đang chứng kiến những thay đổi to lớn và nhanh chóng, mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng kèm theo không ít thách thức đối với mọi quốc gia. Để kịp thích ứng với tình hình mới, trên cơ sở những thành quả đã đạt được trong hơn 4 thập kỷ qua, ASEAN một lần nữa lại tự điều chỉnh và đổi mới. Hướng đi cho tương lai của Hiệp hội đã được các nước thành viên nhất trí xác định rõ ràng, đó là phải đẩy nhanh liên kết nội khối, hướng tới mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 và dựa trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN.

pdf17 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 24/02/2014 | Lượt xem: 2128 | Lượt tải: 9download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Việt Nam có vai trò và vị thế như thế nào về lịnh vực chính trị trong ASEAN?, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1 Tiểu luận Việt Nam có vai trò và vị thế như thế nào về lịnh vực chính trị trong ASEAN? 2 MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU ………………………………………………………. 1 Lý do chọn đề tài ………………………………………………… 1 Câu hỏi nghiên cứu: Việt Nam có vai trò và vị thế như thế nào trong ASEAN…………………………….…………………… 2 BỐI CẢNH ………………………………………………………….. 4 Quốc tế ………………………………………………………… 4 Khu vực …………………………………………………………… 4 Trong nước .………………………………………………………. 4 NỘI DUNG ………………………………………………………….. 5 Góp phần tăng cường và củng cố đoàn kết trong Asean ………. 6 Góp phần giữ vai trò điều phối quan hệ đối thoại giữa Asean với bên ngoài và các cường quốc ……………………………… 7 Đóng góp quan trọng cho sự hình thành các sáng kiến cơ chế hợp tác mới của Asean ………………………………………… 8 Vai trò của Việt Nam trong hợp tác an ninh- tư pháp ở khu vực Đông Nam Á ………………………………………………….. 10 ĐÁNH GIÁ ………………………………………………………… 12 KẾT LUẬN ………………………………………………………… 12 3 I. LỜI NÓI ĐẦU Chiến tranh lạnh kết thúc, vấn đề Cămpuchia được giải quyết đã mang lại những cơ hội mới về quan hệ “thân thiện và hợp tác” cho các quốc gia khu vực Đông Nam Á. Với việc Việt Nam gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) từ 28/7/1995, quan hệ Việt Nam - ASEAN đã bước sang một chương mới của hợp tác và phát triển. Việc Việt Nam tham gia ASEAN cũng đánh dấu sự phát triển quan trọng khác của khu vực: Quá trình ASEAN mở rộng bao gồm tất cả các quốc gia Đông Nam Á, cùng phấn đấu vì hoà bình và sự phồn vinh của khu vực. Việt Nam tham gia Hiệp ước Thân thiện và hợp tác ASEAN từ năm 1992 và là một trong những nước thành viên sáng lập của ARF từ năm 1994 trước khi tham gia ASEAN. Trở thành thành viên chính thức của ASEAN vào năm 1995, sự hội nhập của Việt Nam với khu vực và thế giới càng được thúc đẩy mạnh mẽ hơn, góp phần vào bảo đảm an ninh và phát triển chung ở Đông Nam Á. Việt Nam đã tham gia tích cực vào các khuôn khổ, diễn đàn và các hoạt động hợp tác khác nhau của ASEAN về kinh tế, chính trị an ninh cũng như hợp tác chuyên ngành: hợp tác Á - Âu (ASEM - 1996); hợp tác ASEAN với 3 nước Đông Bắc á là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc (ASEAN + 3 - 1997); tổ chức thành công Hội nghị cấp cao ASEAN VI tại Hà nội năm 1998, các Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN (AMM) lần thứ 34 và Hội nghị ARF 7 năm 1999, cũng như một loạt các Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về môi trường, ma tuý, tội phạm xuyên quốc gia các năm sau này... đưa ra các sáng kiến như Chương trình Hành động Hà nội, về phát triển các vùng nghèo dọc theo hành lang Đông, Tây... Trên thực tế, Đông Nam Á và ASEAN có tầm quan trọng chiến lược đối với Việt Nam và là một bộ phận quan trọng trong chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa và “láng giềng hữu nghị” của Nhà nước ta vì nó liên quan trực tiếp đến môi trường an ninh và phát triển của đất nước. Hơn nữa, hợp tác ASEAN không chỉ bó hẹp trong phạm vi khu vực Đông Nam Á và 10 nước thành viên ASEAN, mà còn liên quan nhiều đến quan hệ và chính sách của các đối tác quan trọng bên ngoài. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định hợp tác ASEAN có tầm quan trọng chiến lược đối với Việt Nam; và chúng ta cần tham gia hợp tác ASEAN theo phương châm chủ động, tích cực và có trách nhiệm. Năm 2010, Việt Nam sẽ đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN. Đây sẽ là điều 4 kiện thuận lợi để Việt Nam phát huy hơn nữa vai trò trong ASEAN, hỗ trợ tích cực cho việc triển khai chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Không thể phủ nhận vai trò và vị thế của Việt Nam đã và đang ngày càng được nâng cao trong khu vực cũng như trên trường quốc tế kể từ sau khi gia nhập Asean đến nay. Nếu như Asean có tầm quan trọng chiến lược đối với chúng ta thì Việt Nam cũng đang ngày càng nắm giữ vị trí quan trọng trong Asean. Trong bài tiểu luận này em xin được làm rõ : “Việt Nam có vai trò và vị thế như thế nào về lịnh vực chính trị trong ASEAN?”. Lý do em chọn đề tài này vì sự kiện Việt Nam gia nhập ASEAN đã đánh dấu một bước phát triển mới của Việt Nam với các nước trong khu vực và các nước láng giềng. Sự gia nhập này không chỉ xoá bỏ những hoài nghi của các nước áp đặt cho chúng ta sau chiến trạnh cũng như trong thời hoà bình xây dựng và phát triển đất nước, mà còn mở ra một thời kỳ mới cho sự hợp tác và đoàn kết khu vực các nước Đông Nam Á. Vơí sự gia nhập tổ chức ASEAN này Việt Nam đã có được cơ hội để hội nhập phát triển với các nước trong khu vực và sau đó là các nước trên thế giới. Đó cũng chính là mục đích mà Đảng và nhà nước đã chỉ ra trong đường lối chính sách đối ngoại. Trong đổi mới chính sách đối ngoại, việc sắp xếp các đối tượng quan hệ có một vai trò quan trọng. Đại hội VI của Đảng (12-1986) khởi xướng đường lối đổi mới, đã thực thiện nhất quán tư tưởng đối ngoại của Đảng, giương cao ngọn cờ hoà bình, độc lập dân tộc và CNXH, giữ vững độc lập tự chủ, đẩy mạnh hợp tác hữu nghị, làm tròn nhiệm vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc tế. Đại hội VI đã thể hiện thiện chí, mong muốn của Đảng và nhân dân Việt Nam đối với việc tạo lập môi trường hoà bình ở Đông Nam Á: ''Chúng ta mong muốn và sẵn sàng cùng các nước trong khu vực thương lượng để giải quyết các vấn đề ở Đông Nam Á, thiết lập quan hệ cùng tồn tại hoà bình, xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hoà bình, ổn định và hợp tác, đây là bước đi thiết thực để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thực hiện chính sách ''cùng tồn tại hoà bình giữa các nước có chế độ chính trị và xã hội khác nhau'', tranh thủ tối đa những điều kiện quốc tế thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu cơ bản của cách mạng nước ta. Sau Đại hội VI, để bắt kịp với diễn biến của tình hình quốc tế và trong nước tháng 5-1988, Bộ chính trị ra Nghị quyết 13, nêu rõ hơn về chính sách đối ngoại trong tình hình mới, nhấn mạnh chủ trương ''thêm bạn, bớt thù'', ''giữ vững hoà bình, phát triển kinh tế''; đa dạng hoá quan hệ trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và cùng có lợi. 5 Đặc biệt đến Đại hội VII (6-1991), để có những chủ trương đối ngoại phù hợp, Đảng ta coi nhiệm vụ đối ngoại bao trùm là ''giữ vững hoà bình mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc". Những định hướng đối ngoại phù hợp, có tầm quan trọng đặc biệt được Đảng ta khẳng định là: phát triển quan hệ hữu nghị với các nước ở Đông Nam Á và phấn đấu cho một Đông Nam Á hoà bình, hữu nghị và hợp tác''. Có thể nói, so với Đại hội VI, đây là bước phát triển mới trong chính sách đối ngoại của Đảng. Trước những chuyển biến của tình hình thế giới, Đảng đã có nhận thức mới về vấn đề hoà bình, an ninh ở khu vực, thấy rõ mối liên hệ ràng buộc giữa an ninh quốc gia với an ninh khu vực và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng. Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, tại Đại hội VIII (6- 1996), trong khi khẳng định một lần nữa tinh thần ''Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, hợp tác và phát triển", Đảng ta đã chỉ ra một vấn đề có tính chiến lược trong đường lối đối ngoại của Đảng cộng sản Việt Nam: ''Ra sức tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước ASEAN, không ngừng củng cố quan hệ với các nước bạn bè truyền hống, coi trọng quan hệ với các nước phát triển và các trung tâm kinh tế chính trị trên thế giới''. Sự sắp xếp các đối tác của quan hệ đối ngoại thời kỳ này cho thấy Đảng đã lựa chọn đúng các ưu tiên trong triển khai đường lối đối ngoại theo trật tự: các nước láng giềng, các nước khu vực và các nước bạn bè, truyền thống, các nước lớn, các trung tâm kinh tế... Và ở đây, quan hệ đối ngoại đối với các nước láng giềng khu vực chiếm giữ vị trí quan trọng và được đặt lên hàng đầu. Tại Đại hội IX (4-2001), Đảng ta tuyên bố thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại đã được nâng lên một tầm cao mới ''Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển'', và nhấn mạnh định hướng đối ngoại xuyên suốt: ''Coi trọng và phát triển quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng. Nâng cao hiệu quả và chất lượng hợp tác với các nước ASEAN, cùng xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hoà bình, không có vũ khí hạt nhân, ổn định hợp tác cùng phát triển''. Thúc đẩy quan hệ hợp tác với ASEAN là một trong những chính sách chiến lược của ta. Trong khi đó, ASEAN cũng đang mong muốn tăng cường hoà bình, hữu nghị, và hợp tác với tất cả các dân tộc yêu chuộng hoà bình trong và ngoài khu vực Đông Nam Á, nhằm thúc đẩy hoà bình, ổn định và hoà hợp trên thế giới; cũng như hợp tác về các vấn đề ảnh hưởng đến Đông Nam Á. Chính vì vậy cả Việt Nam và ASEAN đều cần tới nhau, tất cả vì mục tiêu cao cả: Hiệp hội sẽ đại diện cho ý chí chung của các nứơc Đông Nam Á gắn bó với nhau bằng tình hữu nghị và hợp tác, thông qua các nỗ lực chung và cùng hy 6 sinh để đảm bảo cho nhân dân mình và các thế hệ mai sau được hưởng hoà bình tự do và thịnh vượng. II, BỐI CẢNH LỊCH SỬ 1, Tình hình quốc tế Chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới đã hoàn toàn thay đổi để tiếp tục phát triển và thích nghi với điều kiện mới, tình hình mới. Sự tan rã của Liên Xô đã làm mất đi thế 2 cực trong quan hệ quốc tế đưa đến sự thay đổi trong các cán cân lực lượng trên thế giới và khu vực. Thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh chính là vấn đề phát triển kinh tế, chạy đua kinh tế đã thay thế chạy đua vũ trang, và tập trung vào phát triển kinh tế đã trở thành một xu thế lớn, lôi cuốn tất cả các nước phát triển và đang phát triển. Trong khi đó xu thế khu vực hoá đang ngày càng phát triển mạnh. Điều đó được thể hiện qua sự ra đời của một “Thị trường thống nhất Châu Âu” bao gồm các nước trong Cộng đồng Châu Âu và các nước hiệp hội mậu dịch tự do Châu Âu, hay khái niệm đồng Yên ở Châu Á – Thái Bình Dương của Nhật Bản, hoặc sự hình thành khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ… 2, Tình hình khu vực Sau chiến tranh lạnh, ở Đông Nam Á cả Mỹ và Nga đều bắt đầu giảm thiểu sự hiện diện quân sự của mình ở khu vực này. Sự rút lui của Mỹ đã làm mất đi chỗ dựa truyền thống về an ninh của các nước ASEAN, trong khi vấn đề Campuchia chưa phải đã thực sự chấm dứt và bên cạnh đó lại nảy sinh những nguy cơ tiềm tang ở Biển Đông…Để bảo đảm an ninh, giữ gìn hoà bình, bảo đảm sự phát triển về kinh tế của các nước thành viên, ASEAN đã đưa ra hai giải pháp: mở rộng quan hệ tích cực đấu tranh với các nước để chống xu thế bảo hộ mậu dịch; tăng cường xây dựng sức mạnh của bản thân khu vực, thông qua đẩy mạnh hợp tác trong khu vực, để vừa tạo thế với bên ngoài và duy trì được tốc độ phát triển kinh tế của mình. 3, Tình hình trong nước Việc ký kết hiệp định hoà bình Paris về Campuchia vào tháng 10/1991 đã đặt ra cho cả Việt Nam lẫn các nước ASEAN nhiều cơ hội và thách thức mới. Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh nên lợi ích lớn nhất lúc này là duy trì hoà bình ổn định khu vực, tạo dựng một môi trường quốc tế và khu vực thuận lợi cho công cuộc đổi mới. Việt Nam tập trung khôi phục và phát 7 triển nền kinh tế sau chiến tranh, cải thiện đời sống nhân dân, đưa đất nước đi lên theo kịp với nhịp độ phát triển chung với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Việt Nam cần phải cố gắng nhiều để tranh nguy cơ tụt hậu về kinh tế - chính trị. Với mục tiêu đó, Việt Nam đã tăng cường và phát triển trước hết với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Năm 1993, Đảng đẩy mạnh đường lối đối ngoại chú trọng quan hệ với các nước láng giềng và khu vực, Chính phủ Việt Nam công bố ''Chính sách bốn điểm mới củaViệt Nam đối với khu vực'', trong đó thể hiện quan điểm nhất quán ''tăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt với từng nước láng giềng cũng như với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) với tư cách là một tổ chức khu vực'' đồng thời bày tỏ mong muốn ''sẵn sàng gia nhập ASEAN vào thời điểm thích hợp''1. Đến thời điểm lúc bấy giờ, Việt Nam đã tiến một bước chuẩn bị cho việc trở thành thành viên của tổ chức ASEAN, để có thể đóng góp một cách tốt nhất cho sự ổn định vì hoà bình, an ninh trong khu vực bằng đối thoại song phương, đa phương... III. NỘI DUNG: VAI TRÒ VÀ VỊ THẾ CỦA VIỆT NAM TRONG ASEAN TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ - AN NINH Việt Nam gia nhập ASEAN đã mở ra một trang mới trong lịch sử của khu vực. Ước mơ và ý tưởng về xây dựng ASEAN thành một khối thống nhất được đề cập trong “Tuyên bố Băng Cốc 1967” trở thành hiện thực. ASEAN đã thực sự là "trái tim của châu Á năng động", đóng vai trò trung tâm ở châu lục, trở thành khu vực phát triển và hấp dẫn các nhà đầu tư. Trong xu thế hội nhập, các quốc gia luôn tự điều chỉnh để thích nghi với môi trường, khẳng định sức sống, giá trị tồn tại của mình. Trong thành công đó, có một phần đóng góp tích cực và quan trọng của Việt Nam. Được đánh giá là nhân tố đoàn kết nội bộ trong ASEAN và cân bằng quan điểm với bên ngoài, Việt Nam luôn kiên trì các nguyên tắc cơ bản của tổ chức. TÓM TẮT NỘI DUNG Chính trị - an ninh là một trong những lĩnh vực quan trọng của mỗi một quốc gia cũng như của mỗi một tổ chức chính trị. Và ASEAN cũng là một trong những tổ chức như vậy, và luôn đòi hỏi sự đóng góp của những nước thành viên, và hơn hết là sự tự nguyện cống hiến của mỗi nước thành viên đó vì lợi ích chung và riêng. Việt Nam ngay từ những ngày đầu tiên gia nhập Hiệp hội, đóng góp của Việt Nam đã được đánh giá rất cao. Và những đóng góp cụ 1 8 thể là: Góp phần tăng cường và củng cố đoàn kết tong ASEAN; Góp phần giữ vai trò điều phối quan hệ đối ngoại giữa ASEAN với bên ngoài và các cường quốc; Đóng góp quan trọng cho sự hình thành các sáng kiến cơ chế hợp tác mới của ASEAN; Vai trò của Việt Nam trong hợp tác an ninh – tư pháp ở khu vực Đông Nam Á. 1, GÓP PHẦN TĂNG CƯỜNG VÀ CỦNG CỐ ĐOÀN KẾT TRONG ASEAN Có thể nói rằng, Đông Nam Á có hai thực thể chính trị, quan trọng, có ảnh hưởng khu vực. Đó là Inđônêxia ở vùng hải đảo và Việt Nam ở vùng bán đảo Đông Dương. Hợp tác giữa ASEAN với Việt Nam sẽ kéo theo mối quan hệ tốt đẹp giữa hiệp hội với các nước khác trên bán đảo Đông Dương. Vấn đề Campuchia là nguyên nhân chủ yếu gây mất ổn định khu vực, đã tạo ra sự phân hoá giữa các nước ASEAN trong những năm 1979 – 1991. Sự xích lại gần nhau giữa Việt Nam và ASEAN có thêm những nhân tố mới bởi thái độ của Việt Nam kiên trì chính sách đàm phán để giải quyết mọi tranh chấp về lãnh thổ với các nước láng giềng. Tính đến năm 2006, Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng trên tất cả các lĩnh vực hợp tác của Hiệp hội, góp phần quan trọng vào việc triển khai thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng và Nhà nước; củng cố xu thế hoà bình, ổn định và hợp tác ở khu vực có lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Những đóng góp cụ thể của Việt Nam là: tổ chức thành công Hội nghị Cấp cao ASEAN-6 tại Hà Nội (12/1998), giúp ASEAN duy trì đoàn kết, hợp tác và củng cố vị thế quốc tế trong lúc Hiệp hội đang ở thời điểm khó khăn nhất do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm 1997, nhất là việc hoàn tất ý tưởng một ASEAN- 10; thông qua Chương trình Hành động Hà Nội (HPA) để thực hiện Tầm nhìn ASEAN 2020. Từ tháng 7/2000 – 7/2001, Việt Nam đã hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch ủy ban Thường trực ASEAN; tổ chức thành công Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 34 (AMM-34) và các Hội nghị liên quan. Các Bộ/ngành của Việt Nam cũng đăng cai nhiều Hội nghị cấp Bộ trưởng và cấp Quan chức cao cấp (SOM) về kinh tế và hợp tác chuyên ngành. Việt Nam cũng đã đăng cai và tổ chức thành công Hội nghị Liên minh Nghị viện ASEAN (AIPO) tháng 9/2002.... Tháng 11/2007, Lãnh đạo các nước thành viên Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á ký Hiến chương ASEAN tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 13 tổ chức tại Xingapo, đánh dấu một mốc lịch sử trong quá trình phát triển của Hiệp hội. Kể từ đây, Việt Nam đã chính thức cam kết thực hiện một văn kiện pháp lý quan trọng nhất và toàn diện nhất của ASEAN, làm cơ sở cho mọi hoạt 9 động và ứng xử trong ASEAN. Sự kiện Việt Nam là một trong 5 nước ASEAN sớm phê chuẩn Hiến chương ASEAN còn thể hiện cam kết mạnh mẽ và tích cực của Việt Nam đối với ASEAN và một minh chứng quan trọng về chính sách tích cực, chủ động hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam2. Cùng với các nước ASEAN, Việt Nam đã tham gia tích cực vào việc xây dựng Hiến chương ASEAN ngay từ những ngày đầu. Trong quá trình soạn thảo Hiến chương, Việt Nam đã góp phần bảo vệ những mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của Hiệp hội như các mục tiêu hòa bình, ổn định và liên kết khu vực, thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN; các nguyên tắc cơ bản như đồng thuận và không can thiệp, khẳng định tính chất liên chính phủ của Hiệp hội; và một số nguyên tắc mới như các thành viên không được sử dụng lãnh thổ của một nước thành viên để chống lại một nước thành viên khác. Những đóng góp của Việt Nam đã góp phần định hướng quan trọng trong quá trình soạn thảo nội dung Hiến chương, tạo điều kiện để Hiến chương đáp ứng tốt hơn những yêu cầu đặt ra cho ASEAN trong giai đoạn phát triển mới, được bạn bè hoan nghênh và đánh giá cao. Những đóng góp trên là sự tiếp nối của quá trình tham gia tích cực và đóng góp to lớn của Việt Nam kể từ khi gia nhập ASEAN tháng 7/1995. Trong hơn 14 năm qua, với dân số hơn 84 triệu người và vị trí địa-chiến lược và địa- kinh tế quan trọng, chính trị - xã hội ổn định, thế và lực ngày càng gia tăng và chính sách đối ngoại rộng mở, Việt Nam được các nước ASEAN và các đối tác bên ngoài nhìn nhận là thành viên đóng vai trò tích cực đối với hòa bình, hợp tác và phát triển trong ASEAN. 2, GÓP PHẦN GIỮ VAI TRÒ ĐIỀU PHỐI QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI GIỮA ASEAN VỚI BÊN NGOÀI VÀ CÁC CƯỜNG QUỐC Trong hợp tác giữa ASEAN và các bên Đối thoại, Việt Nam cùng với các nước ASEAN thúc đẩy nhiều biện pháp nhằm mở rộng và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ đối ngoại của ASEAN thông qua các cơ chế và diễn đàn như ASEAN+1, ASEAN+3, Cấp cao Đông Á, Diễn đàn Khu vực ASEAN. Sự tham gia một cách có hiệu quả trong ASEAN đã góp phần quan trọng trong việc mở rộng hợp tác của ASEAN với các đối tác bên ngoài, nhất là các đối tác và láng giềng của Việt Nam. Điều này được thể hiện bằng việc Việt Nam đã góp phần làm tăng mối quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc, ASEAN và Liên Bang Nga, ASEAN và Ấn Độ, ASEAN và EU, ASEAN - Liên Hợp Quốc, ASEAN và Mỹ…. 2 10 Năm 1995, khi vừa mới gia nhập ASEAN, Việt Nam đã được giao làm điều phối viên của ASEAN với Niu Dilân. Năm 1996, Việt Nam được tín nhiệm giao làm điều phối quan hệ cuả ASEAN với Nga. Với vai trò điều phối, Việt Nam đã tổ chức được cuộc họp Uỷ Ban hợp tác chung ASEAN – Nga và đã đưa ra được phương hướng giải quyết khó khăn cho Nga bởi lẽ trong thời gian này Nga đã gặp nhiều khó khăn về tài chính, và việc này đã được công đồng ASEAN đánh giá cao. Từ năm 1997 đến 2000, Việt Nam là điều phối quan hệ đối thoại của ASEAN với Nhật Bản, Việt Nam đã vận động tích cực với Nhật Bản để nước này có nhiều hỗ trợ, giúp đỡ đối với các nước thành viên mới. Từ năm 2000 – 2003, Việt Nam đảm nhiệm điều phối quan hệ với của ASEAN với Mỹ. Ngoài ra, Việt Nam còn tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác ASEAN +3: Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản thúc đẩy hợp tác với các nước này. Là nứơc tổ chức thành công Hội nghị cấp cao ASEAN 5 (Hà Nội, 10/2004) Việt Nam đã chia sẻ với Lào về kinh nghiệm tổ chức cấp cao, cùng các nước ASEAN khác tích cực phối hợp và giúp đỡ Lào về các mặt trên tinh thần ASEAN, góp phần vào thành công của Hội Nghị. Tại các Hội nghị ngoại trưởng lần thứ 40 (Philipin, 2007), các nước ASEAN đã chúc mừng Việt Nam vừa trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới và khẳng định công nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường3. Các nước ASEAN và nhiều nước đối thoại cũng bày tỏ ủng hộ Việt Nam ứng cử làm thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009. Về kết quả chính của Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 40 và các Hội nghị liên quan (AMM-40/PMC/ARF-14) là hoạt động quan trọng nhất hàng năm của Ngoại trưởng các nước ASEAN và các nước đối thoại, nhưng có ý nghĩa đặc biệt vì diễn ra đúng vào dịp các nước ASEAN đang tiến hành nhiều hoạt động kỷ niệm tròn 40 năm ngày thành lập Hiệp hội (8/8/1967-8/8/2007). Hội nghị đã đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần tăng cường đoàn kết và hợp tác ASEAN cũng như đẩy mạnh hợp tác giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài, thúc đẩy tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN. 3, ĐÓNG GÓP QUAN TRỌNG CHO SỰ HÌNH THÀNH CÁC SÁNG KIẾN CƠ CHẾ HỢP TÁC MỚI CỦA ASEAN Thực tiễn cho thấy, ASEAN là một tổ chức hợp tác khu vực có sức sống mạnh mẽ và khả năng thích ứng nhanh chóng với những biến đổi của thời cuộc. Tuy còn nhiều khó khăn và thách thức, song ASEAN đang đứng trước những 3 Hội nghị ngoại trưởng lần thứ 40 tại Philipin từ 30/7 – 2/8/2007, 11 tiền đề thuận lợi để thực hiện thành công mục tiêu xây dựng Cộng đồng. Đó là kết quả hợp tác và liên kết khu vực của hơn 4 thập kỷ qua, tầm nhìn chung và quyết tâm chính trị mạnh mẽ của các nước thành viên, cùng với những quyết sách và lộ trình đúng đắn. Hiến chương ASEAN sẽ đưa đến sự đổi mới đáng kể về bộ máy tổ chức và phương thức hoạt động của Hiệp hội, giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác ASEAN. Chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng rằng ASEAN sẽ đạt được các mục tiêu lớn đã đề ra cho giai đoạn phát triển mới. Thời gian Việt Nam tham gia ASEAN tuy chưa phải là dài, song chúng ta có thể tự hào về những đóng góp quan trọng và dấu ấn Việt Nam. Trong 14 năm qua, Việt Nam đã đóng góp quan trọng trong việc xác định các phương hướng hợp tác và tương lai phát triển cũng như trong các quyết sách lớn của ASEAN, góp phần tăng cường đoàn kết và hợp tác cũng như nâng cao vai trò và vị thế quốc tế của Hiệp hội. Các nước ASEAN khác và các đối tác bên ngoài đều nhìn nhận Việt Nam là một thành viên tích cực và có đóng góp quan trọng đối với sự phát triển và trưởng thành của ASEAN. Thông qua tham gia hợp tác ASEAN, chúng ta đã thu được nhiều kết quả to lớn và lợi ích thiết thực, hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu an ninh và phát triển cũng như nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Tham gia vào Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để duy trì vài trò đầu tàu của ASEAN tại diễn đàn phù hợp với lợi ích của các nước thành viên; hội nhập vào Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA); Việt Nam cùng các nước ASEAN đề ra những sáng kiến mới nhằm khắc phục nhiều mặt yếu kém và trị trệ; Việt Nam đã góp phần mở rộng và phát triển số thành viên ASEAN từ 7 nước lên 10 nước; tham gia tích cực vào các khuôn khổ hợp tác khu vực Diễn đàn Hợp tác Á – Âu (ASEM); tăng cường các quan hệ kinh tế thương mại, đầu tư... và giao lưu phát triển văn hoá, thể thao... với các nước ASEAN khác. Đáng lưu ý Việt Nam đã đăng cai tổ chức thành công Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN (tháng 12/1998) và Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 33 (12-16/9/2001) tại Hà Nội. Không những thế, Việt Nam còn là quốc gia luôn có sáng kiến hay đưa ra trong các cuộc họp. Tại Hội nghị APEC-11 “Thế giới của sự khác biệt: Đối tác vì tương lai” tổ chức tại Bangkok, Thái Lan (20- 21/10/2003), Việt Nam đã đưa ra hai sáng kiến: thứ nhất, cần tăng cường hợp tác đầu tư cho cân bằng với hợp tác thương mại nhằm thúc đẩy đầu tư nội khối APEC, trong đó dành ưu tiên đầu tư vào ASEAN; thứ hai, đưa ra một số biện pháp cụ thể triển khai kế hoạch hành động hỗ trợ các doanh nghiệp vừa, nhỏ và “siêu nhỏ”, trong đó có việc đề xuất thành lập Quỹ xây dựng năng lực hỗ trợ 12 các doanh nghiệp “siêu nhỏ”4. Chỉ 4 năm sau khi gia nhập APEC, Việt Nam đã đề xuất đăng cai Hội nghị cấp cao APEC-14 vào năm 2006 và được APEC ủng hộ. Việt Nam đã tham gia tích cực vào các chương trình hợp tác, liên kết kinh tế như Hiệp định đầu tư ASEAN (AIA), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)... đồng thời đưa ra sáng kiến phát triển kinh tế các vùng nghèo liên quốc gia dọc hành lang Đông-Tây (WEC), thúc đẩy tam giác phát triển Việt Nam – Campuchia – Lào thu hẹp khoảng cách giữa các nước trong khối. Sau khi kênh ngoại giao không chính thức của ASEAN ra đời và đi vào hoạt động (1995), Việt Nam đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo, góp phần thúc đẩy một cơ chế mà thông qua đó định hướng cho các chính phủ và các cơ quan liên chính phủ trong việc giải quyết các vấn đề an ninh – chính trị của khu vực. Kênh 2 là một kênh có vai trò quan trọng trong hoạt động của ASEAN, ra đời vào tháng 8/1995. Kênh 2 về thực chất được xem là kênh phi chính phủ, không chính thức, có tác dụng tham khảo ý kiến và tư vấn cho kênh 1, kênh chính phủ, kênh chính thức. Với kênh 2 đã góp phần thúc đẩy một cơ chế mà thông qua đó, các học giả các quan chức với tư cách cá nhân có thể thảo luận về các vấn đề an ninh, chính trị của khu vực, thiết lập các mối liên hệ với những thiết chế và tổ chức thuộc khu vực và các khu vực khác trên thế giới nhằm trao đổi thông tin, quan điểm và kinh nghiệm về phương thức xử lý các vấn đề cũng như hợp tác an ninh chính trị khu vực.Việt Nam đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo của kênh 2, đóng góp quan trọng vào việc tăng cường hợp tác giữa ASEAN với các nước đối thoại, nâng cao vị thế ASEAN trên trường quốc tế. 4, VAI TRÒ CỦA VIỆT NAM TRONG HỢP TÁC AN NINH – TƯ PHÁP Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM Á Việt Nam là đất nước đã trải qua hơn 30 năm chiến tranh nên chúng ta hiểu rất rõ giá trị của hoà bình, an ninh và ổn định khu vực đối với sự phát triển của đất nước. Vì vậy, sau khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã triển khai các hoạt động thiết thực nhằm góp phần xây dựng Đông Nam Á thành khu vực ổn định, hoà bình và phát triển thịnh vượng. Năm 1995, Việt Nam đã tham gia ký kết và phê chuẩn Hiệp ước Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân, có hiệu lực từ năm 1997. Khi đảm nhiệm vai trò chủ tịc ASC và ARF, Việt Nam đã chủ động nêu sáng kiến và tổ chức thành công cuộc họp tham khảo ý kiến giữa ASEAN và 5 nước có vũ khí hạt nhân 4 Báo điện tử Đảng CSVN 13 (Mỹ, Trung Quốc, Nga, Anh, Pháp) về một số nôi dung trong nghị quyết thư để vận động các nước này sớm tham gia nghị định thư SEANWFZ. Khi chiến tranh lạnh kết thúc trước những khoảng chống quyền lực do Mỹ và Liên Xô để lại sau khi rút khỏi khu vực trước sự lớn mạnh của Trung Quốc và trước nguy cơ bất ổn của khu vực Biển Đông có tranh chấp và những khu vực lân cận của ASEAN (như bán đảo Triều Tiên, eo biển Đài Loan...) ASEAN đã thiết lập Diễn đàn khu vực ASEAN vào năm 1994 nhằm lôi kéo tất cả các nước lớn ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương tham gia đối thoại và xây dựng lòng tin với ASEAN.Về vấn đề Biển Đông, Việt Nam và các nước ASEAN nhất trí cần thông qua thương lượng để giải quyết hoà bình các tranh chấp khi cần thì có tiếng nói chung nhưng không tạo thành cục diện liên minh chống Trung Quốc. Việt Nam đã nêu ra sáng kiến về xây dựng “Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông” giữa ASEAN và Trung Quốc và đã cùng các nước ASEAN đấu tranh thương lượng với Trung Quốc, đã đạt được tuyên bố và quy tắc ứng xử ở Biển Đông năm 2002. Ngày 19-20/9/2005, Hội nghị Bộ trưởng tư pháp ASEAN lần thứ 6 đã diễn ra tại Hà Nội với sự tham gia của đại diện 10 quốc gia thành viên. Đây là lần đầu tiên VN đăng cai. Chủ đề của hội nghị là tăng cường hợp tác trong lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự và thương mại5. Đây là lĩnh vực hợp tác mới rất quan trọng và tạo cơ sở pháp lý cho việc thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ về kinh tế, thương mại và đầu tư giữa các nước ASEAN trong thời gian tới. Giao lưu dân sự và thương mại giữa các doanh nghiệp, cá nhân các nước thành viên ASEAN đang rất cần có sự hỗ trợ về mặt pháp lý để đảm bảo an toàn cho quan hệ thương mại, dân sự. Điều này cũng giảm thiểu những chi phí pháp lý không cần thiết trong quá trình mở rộng giao lưu trong khối. Sáng kiến về tăng cường hợp tác về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại của Việt Nam là rất hữu ích và kịp thời, được đánh giá cao . Đề cập tới vai trò của Việt Nam trong việc tăng cường hợp tác tư pháp giữa các nước thành viên ASEAN, Ông Wilfrido V. Villacorta, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á khẳng định Việt Nam là thành viên tích cực trong lĩnh vực này. Việt Nam hiện là một thành viên của tất cả các tổ chức cũng như các cơ quan hoạch định chính sách của ASEAN như Ủy ban Thường trực ASEAN và Hội nghị Quan chức Cấp cao. Hội nghị lần thứ 12 quan chức pháp luật cao cấp các nước ASEAN (ASLOM 12) đã diễn ra trong các ngày 17-18/10/2008 tại Brunei Darussalam với sự tham dự của các đoàn đại biểu 10 nước thành viên. Đại diện của Dự án 5 14 về chống buôn bán người khu vực ASEAN cũng tham dự cuộc họp với tư cách là khách mời quan trọng. Đoàn Việt Nam tham dự ngay từ phiên họp đầu tiên của ASLOM 12 và đã có những đóng góp tích cực trong suốt quá trình Hội nghị, bao gồm cả việc trình bày các Báo cáo của Việt Nam; tham gia soạn thảo và hoàn tất các Văn kiện của ASLOM trình Hội nghị Bộ trưởng6. Ngoài ra, trong ngày họp đầu tiên của Hội nghị, Đoàn Việt Nam cũng đã trình bày báo cáo tiến độ triển khai Đề án/đề xuất về tăng cường tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại (Đề án) và kết quả Diễn đàn pháp luật ASEAN lần thứ 4 về tăng cường tương trợ tư pháp về dân sự và thương mại giữa các nước ASEAN (Diễn đàn) do Việt Nam đăng cai tổ chức tại Hà Nội tháng 4.2008. IV. ĐÁNH GIÁ Việt Nam có được vị thế ngày càng vững mạnh trên trường quốc tế và đặc biệt là ở khu vực Đông Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng như đã kể ra ở mức độ khái quát nhất trên đây là do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau cùng tác động, trong đó có hai nguyên nhân quan trọng và cơ bản nhất. Thứ nhất, đó là Việt Nam đã thực hiện có hiệu quả cao đường lối đối ngoại rộng mở và đúng đắn phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hoá và khu vực hoá hiện nay. Thứ hai, các đối tác của Việt Nam trong đó có các nước ASEAN đều đã nhìn thấy hiện thực và tiềm năng phát triển của Việt Nam ở tất cả mọi lĩnh vực mà họ có thể hợp tác cùng phát triển, trong đó trước hết là các lợi ích về phát triển kinh tế và nâng cao vị thế chính trị ở khu vực và trên thế giới, vì như đã biết Việt Nam là quốc gia có vị trí tiền đồn về an ninh chính trị đối ngoại ở Đông Nam Á và hơn thế nữa Việt Nam đang là “miền đất hứa” có nhiều tiềm năng về các nguồn lực tài nguyên, lao động và lại đang rất ổn định về chính trị-xã hội... Kết quả lớn nhất khi tham gia vào ASEAN là tạo môi trường khu vực có lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thúc đẩy xu thế hoà bình, ổn định và hợp tác để phát triển, mở rộng hợp tác có hiệu quả giữa nước ta đối với các nước ASEAN và các bên đối tác trên cơ sở song phương và đa phương; đồng thời nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trong khu vực và trên thế giới. Với vai trò, vị trí đang được củng cố trong hợp tác chính trị - an ninh của ASEAN, ta cần phải tiếp tục nắm giữ vai trò chủ động linh hoạt để đảm bảo vị thế và lợi ích của ta trong khuôn khổ hợp tác này. V. KẾT LUẬN 6 Báo điện tử Bộ Tư pháp 15 Thành công của ASEAN trong 42 năm qua là do sự tụ hội của nhiều nhân tố, nhưng trước hết đó là sự chia sẻ nhiều lợi ích cơ bản cũng như tầm nhìn, quyết tâm chính trị mạnh mẽ và những nỗ lực không mệt mỏi của các nước thành viên. Nguyện vọng chung thiết tha về một khu vực Đông Nam Á hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển đã tạo động lực và sức mạnh cho cả 10 nước khu vực phát huy những điểm tương đồng, vượt qua những khác biệt về chính trị, kinh tế, văn hóa cũng như những rào cản do lịch sử để lại, gắn kết dưới mái nhà chung ASEAN, cùng nhau tạo dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho mỗi nước cũng như cả khu vực. Bước sang thế kỷ 21, tình hình khu vực và thế giới đang chứng kiến những thay đổi to lớn và nhanh chóng, mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng kèm theo không ít thách thức đối với mọi quốc gia. Để kịp thích ứng với tình hình mới, trên cơ sở những thành quả đã đạt được trong hơn 4 thập kỷ qua, ASEAN một lần nữa lại tự điều chỉnh và đổi mới. Hướng đi cho tương lai của Hiệp hội đã được các nước thành viên nhất trí xác định rõ ràng, đó là phải đẩy nhanh liên kết nội khối, hướng tới mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 và dựa trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN. 16 CHÚ THÍCH ASEAN: Association of South East Asia Nations ARF: Asean Regional Forum PMC: Asean Post – Ministerial Conference AMM: Asean Ministerial Meeting IAI: Initiative for Asean Integration HPA: Hanoi Plan of Action AEM: Asean Economic Ministers AIA: Asean Investment Area AICO: Asean Industrial Cooperation ASEM: Asia- Europe Summit Meeting AFTA: Asean Free Trade Area APEC: Asia – Pacific Economic Copperation AFSA: Asean Framework Agreemant on Services SOM: Senior Officials Meeting EAS: East Asia Summit ASC: Asean Security Community ALSOM: Asean Senior Law Officials Meeting SEANWFZ: Southeast Asian Nuclear – Weapon – Free Zone Treaty ALAWMM: Asean Law Ministers Meeting AIPO: Asean Inter – Parliamentary Organization 17 TÀI LIỆU THAM KHẢO - , Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam. - Trang Web Đài Tiếng Nói Việt Nam. - Bộ Ngoại Giao Việt Nam. - - - Tạp chí “Phát triển khoa học và công nghệ”, tập 10, số 7, 7/2007 - “Vai trò của Việt Nam trong hợp tác chính trị - an ninh ASEAN 10 năm qua” Trang 138, cuốn “Việt Nam trong ASEAN nhìn lại và hướng tới”, của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện nghiên cứu Đông Nam Á, do Phạm Đức Thành, Trần Khánh chủ biên. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. - “Việt Nam – ASEAN Quan hệ song phương và đa phương”, Vũ Dương Minh chủ biên. Nhà xuất bản Xã hội Chính trị Quốc gia. - “Vai trò của Việt Nam trong ASEAN”, Trung tâm Dữ kiện – Tư liệu Thông Tấn Xã Việt Nam. Nhà xuất bản thông tấn. - “Về vấn đề đổi mới tư duy trong hoạt động đối ngoại Việt Nam” – Vũ Dương Huân, trang 183, Giáo trình Chính Sách Đối Ngoại Việt Nam, tập 2. - “Bước phát triển tư duy đối ngoại của Đảng trong quan hệ các nước láng giềng và khu vực thời kỳ đổi mới” - Nguyễn Thị Mai Hoa, trang 294, Giáo trình Chính Sách Đối Ngoại Việt Nam, Tâp 2.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftran_thai_thao_9604.pdf