Tìm hiểu 03 vụ việc có tranh chấp về hợp đồng dịch vụ

Trên đây là phần tìm hiểu của nhóm về 03 vụ việc có tranh chấp về dịch vụ. Qua phần tìm hiểu trên, nhóm đã hiểu thêm được về các vấn đề liên quan đến hợp đồng dịch vụ, thấy được nhiều vấn đề từ các quy định chung chung của pháp luật. Đòi hỏi khi xác lập giao dịch các bên phải thoa thuận đầy đủ và chi tiết để tránh xảy ra tranh chấp, việc quy định các điều khoản trong hợp đồng không rõ ràng giữa hai bên mang lại khó khăn cho cả hai bên khi thực hiện hợp đồng và khi xảy ra tranh chấp cũng khó mà giải quyết được.Từ đó đặt ra vấn đề phải hoàn thiện pháp luật hơn. Chính việc quy định chặt chẽ về pháp luật sẽ giúp cho việc áp dụng pháp luật trở nên dễ dàng hơn, kéo theo đó làm giảm số lượng các tranh chấp xảy ra.

doc19 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 25/02/2013 | Lượt xem: 4344 | Lượt tải: 11download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tìm hiểu 03 vụ việc có tranh chấp về hợp đồng dịch vụ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đề bài: Tìm hiểu 03 vụ việc có tranh chấp về hợp đồng dịch vụ Yêu cầu: - Có địa chỉ rõ ràng Tóm tắt vụ việc Những tranh chấp đó đã được Tòa án nào giải quyết hay chưa được Tòa án giải quyết? Bình luận của nhóm về quyết định của Tòa án (nếu có) Cách giải quyết vụ việc của nhóm LỜI MỞ ĐẦU Hiện nay, ở thành phố cũng như hầu hết nông thôn, mạng lưới dịch vụ phát triển tương đối mạnh mẽ để phục vụ cho nhu cầu của nhân dân. Điều đó chứng tỏ nền kinh tế đang trên đà phát triển và kéo theo đó là nhu cầu khách quan hình thức của các dịch vụ. Hợp đồng dịch vụ xuất hiện, đó là sự thỏa thuận của bên cung ứng dịch vụ và bên thuê dịch vụ. Bộ luật dân sự năm 2005 cũng đã có những quy định để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến hợp đồng dịch vụ. Trong bộ luật dân sự, hợp đồng dịch vụ là một loại hợp đồng dân sự. Nó mang các đặc điểm của hợp đồng dân sự và còn có những đặc điểm riêng biệt. Cũng bởi tính phổ biến của nó và những đặc điểm riêng mà các tranh chấp liên quan đến hợp đồng dịch vụ ngày càng nhiều và phức tạp hơn. Để hiểu hơn về các vấn đề liên quan đến hợp đồng dịch vụ - một loại hợp đồng dân sự phổ biến – cùng cới các tranh chấp liên quan đến loại hợp đồng này, nhóm em chọn đề tài 03: “Tìm hiểu 03 vụ việc có tranh chấp về hợp đồng dịch vụ”. NỘI DUNG Lí luận chung về hợp đồng dịch vụ Điều 518 BLDS 2005 đã đưa ra định nghĩa về hợp đồng dịch vụ như sau: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền công cho bên cung ứng dịch vụ” Qua định nghĩa trên ta thấy được các đặc điểm của hợp đồng dịch vụ : Thứ nhất, bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện các hành vi pháp lí nhất định và giao kết quả cho bên thuê dịch vụ. Như vậy, đối tượng của hợp đồng dịch vụ là công việc cụ thể, và công việc này phải là công việc có thể thực hiện được và không bị pháp luật cấm, không trái đạo đức xã hội. Thứ hai, đây là hợp đồng đền bù. Khi bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện công việc và mang lại kết quả như đã thỏa thuận thì bên thuê dịch vụ phải trả tiền công cho bên cung ứng dịch vụ. Đặc điểm thứ ba, hợp đồng dịch vụ là hợp đồng song vụ, Hai bên đều có quyền lợi và nghĩa vụ nhất định khi tham gia giao dịch. Bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện các hành vi pháp lí theo yêu cầu của bên thuê dịch vụ còn bên thuê dịch vụ có nghĩa vụ tiếp nhận kết quả công việc và trả tiền công cho bên cung ứng dịch vụ. Cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên đều được Bộ luật dân sự năm 2005 quy định tại các Điều 520 đến Điều 523. Theo Điều 520 BLDS thì bên thuê dịch vụ có nghĩa vụ cung cấp cho bên cung ứng dịch vụ thông tin, tài liệu, phương tiện để thực hiện nếu đối tượng của hợp đồng dịch vụ yêu cầu (dịch vụ pháp lí....). Và bên thuê dịch vụ còn có nghĩa vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ theo thỏa thuận. Quyền của bên thuê dịch vụ được quy định trong Điều 521, theo đó thì bên thuê có quyền yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc theo đúng chất lượng, số lượng, địa điểm và các thỏa thuận khác. Bên thuê dịch vụ còn có quyền hủy hợp đồng nếu bên cung ứng dịch vụ hoàn thành kết quả công việc không theo đúng như thỏa thuận hoặc hoàn thành công việc không đúng thời hạn và có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Còn đối với bên cung ứng dịch vụ, bên cung ứng dịch vụ có thế là cá nhân tổ chức dùng công sức của mình để hoàn thành, thực hiện một công việc do bên thuê dịch vụ chỉ định. Nghĩa vụ bên cung ứng dịch vụ là phải thực hiện công việc theo đúng số lượng, chất lượng, thời hạn, địa điểm và các thỏa thuận khác. Bên cung ứng dịch vụ còn phải tự mình thực hiện công việc, không được giao cho ai khác nếu không có sự đồng ý của bên thuê dịch vụ; phải bảo quản và giao cho bên thuê dịch vụ tài liệu và phương tiện được giao ngay sau khi hoàn thành công việc, phải bồi thường thiệt hại khi vi phạm hợp đồng,...(Điều 522 BLDS). Về quyền, bên cung ứng dịch vụ có quyền yêu cầu được cung cấp thông tin tài liệu từ bên thuê dịch vụ, được thay đổi điều kiện dịch vụ vì lợi ích của bên thuê dịch vụ mà không nhất định phải chờ ý kiến của bên thuê dịch vụ, nếu việc chờ ý kiến gây thiệt hại cho bên thuê dịch vụ thì phải báo ngay cho bên thuê dịch vụ, và có quyền yêu cầu bên thuê dịch vụ trả tiền dịch vụ (Điều 523 BLDS). Vụ việc có tranh chấp về hợp đồng dịch vụ Vụ việc thứ nhất: - Nguyên đơn: Nhà xuất bản lao động xã hội (NXB LĐXH, gọi tắt là NXB), trụ sở tại số 41 Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Nguyễn Đình Thiêm – giám đốc NXB LĐXH. - Bị đơn: Tạp chí thời trang Mỹ nghệ & Kim hoàn (TCTT MN&KH, gọi tắt là TCTT), trụ sở tại số 2B Lê Phụng Hiểu, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Người đại diện hợp pháp của bị đơn: ông Lê Ngọc Dũng – tổng biên tập TCTT MN&KH. Nội dung vụ việc như sau: Từ tháng 11/2000 đến tháng 8/2002, TCTT có ký 13 hợp đồng dịch vụ in ấn tạp chí (hàng tháng 1 kỳ) với công ty in LĐXH, tổng giá trị các hợp đồng là: 77.526.500đ. Trong các hợp đồng có quy định điều kiện thanh toán “...Nếu quá thời hạn thanh toán, số tiền chậm lãi sẽ tính theo lãi suất 2%/tháng”. Tạp chí thời trang mới trả tiền 2 hợp đồng còn 11 hợp đồng chưa thanh toán với công ty in. Ngày 24/2/2003, công ty in yêu cầu TCTT thanh toán nợ với tổng số tiền là 52.226.500đ. Ngày 25/2/2003, TCTT có công văn trả lời số 153/TC đề nghị gặp nhau đối chiếu lại kết quả in ấn và thanh lý hợp đồng. Ngày 28/2/2003, công ty in đưa ra các phương án trả nợ nhưng không nhận được trả lời của TCTT. Ngày 8/7/2003, công ty in LĐXH (đơn vị sáp nhập thành NXB LĐXH theo quyết định số 564/2003/QĐ-LĐXH ngày 07/5/2003 của bộ Lao động thương binh - xã hội) có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc TCTT thanh toán số nợ gốc và lãi của hợp đồng dịch vụ in ấn TCTT tính đến tháng 5/2003 là 63.028.600đ. Ngày 26/9/2003, NXB có công văn gửi TAND thành phố Hà Nội xác nhận tư cách pháp lý của công ty in đòi nợ đã khởi kiện. Ngày 28/10/2003, NXB LĐXH có đơn thay thế đơn ngày 8/7/2003 khởi kiện đòi nợ TCTT thanh toán số tiền 52.266.500đ. TCTT đã xác nhận chưa thanh toán một số hợp đồng. Tuy nhiên cơ quan này cũng trình bày là nhiều hợp đồng bị giao hàng chậm, tạp chí in không đảm bảo chất lượng nên nguyên đơn cũng phải bồi thường. Tổng cộng các khoản tiền mà TCTT đề nghị lên Tòa án là 214.600.000đ. Quyết định của Tòa án: Tại bản án kinh tế sơ thẩm số 10/KTST 20/4/2004, TAND thành phố Hà Nội quyết định: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của NXB LĐXH đối với TCTT. Buộc TCTT phải có trách nhiệm thanh toán cho NXB LĐXH các khoản sau: + Khoản nợ chưa thanh toán của 11 hợp đồng in tạp chí là 52.226.500đ + Khoản tiền lãi chậm thanh toán (được tính từ 1/3/2003 đến 31/3/2004 là 6.361.187đ Tổng cộng cả hai khoản trên, TCTT phải trả là: 58.587.687đ. + Chấp nhận yêu cầu phản tố của TCTT. Buộc NXB LĐXH phải trả khoản tiền in lịch Bảo tín đã nhận là: 5.334.000đ. Trừ đi hai khoản tiền thanh toán trên, buộc TCTT phải trả cho NXB số tiền: 53.253.687đ. + Bác yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm hợp đồng kinh tế của TCTT nêu ra đối với NXB. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự. - Ngày 28/4/2004, TCTT có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với lý do công ty in không thực hiện đúng các hợp đồng in tạp chí và không có tư cách pháp lý để khởi kiện tranh chấp hợp đồng. Tại bản án kinh tế phúc thẩm 157 ngày 16/9/2004, Tòa án phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội tuyên hủy bản án kinh tế sơ thẩm số 10/KTST ngày 20/4/2004 của TAND thành phố Hà Nội và đình chỉ việc giải quyết vụ án kinh tế; vì cho rằng: căn cứ vào quyết định số 564/2003/QĐ-LĐXH ngày 07/5/2003 của Bộ LĐTB&XH và căn cứ ngày làm đơn của NXB LĐXH ngày 28/10/2003 thì đơn khởi kiện ngày 08/7/2003 của công ty in là không có giá trị pháp lý và đơn khởi kiện của NXB LĐ-XH đã hết thời hiệu khởi kiện. - Ngày 3/12/2004, TAND thành phố Hà Nội có bản án số 1606/TA-KT đề nghị chánh án TATANDTC xét xử lại bản án sơ thẩm số 157 ngày 16/9/2004 của Tòa án phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội. Tại quyết định kháng nghị số 02/2005/KT-KN ngày 6/6/2005, chánh án TANDTC đã kháng nghị bản án kinh tế phúc thẩm ngày 16/9/2004 của Tòa án phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội với lý do Tòa án cấp phúc thẩm xác định thời hiệu khởi kiện không phù hợp thực tiễn và đề nghị HĐTP TANDTC xét xử giám đốc thẩm theo hướng hủy bản án kinh tế phúc thẩm nêu trên, giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm TANDTC xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật. Nhận xét, đánh giá của nhóm: Khoản tiền công ty in đòi nợ TCTT là của các hợp đồng in ấn được ký kết trước ngày có quyết định số 564/2003/QĐ-LĐXH ngày 07/5/2003 của Bộ lao động thương binh - xã hội về việc sáp nhập doanh nghiệp mới đối với công ty in LĐXH. Tuy trong đơn khởi kiện đầu tiên được làm là ngày 7/5/2003, là sau ngày có quyết định 6654/2003/ QĐ-LĐXH ngày 7/5/2003 của Bộ LĐ-TB&XH về việc sáp nhập thành doanh nghiệp mới là NXB LĐXH, nhưng trong thời gian này, doanh nghiệp mới chưa đủ điều kiện có thể hoạt động kinh doanh, tham gia tố tụng tại Tòa án. Bởi vì qua quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ của TAND thành phố Hà Nội thì: Tháng 8/2003, doanh nghiệp mới được cấp giấy phép đăng ký kinh doanh và đến 9/2003 mới có con dấu để giao dịch. Sau khi có đầy đủ tư cách pháp nhân, NXB LĐXH đã làm đơn ngày 28/10/2003 thay thế đơn khởi kiện ngày 8/7/2003 là đúng thủ tục. Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào quyết định số 564/2003/QĐ-LĐXH ngày 7/5/2003 của Bộ LĐTB&XH và căn cứ ngày làm đơn của NXB LĐXH ngày 28/10/2003 để cho rằng đơn khởi kiện ngày 8/7/2005 của công ty in là không có giá trị pháp lý và đơn khởi kiện của NXB LĐ-XH đã hết thời hiệu khởi kiện là không đúng. Bởi vì: theo điều 4 của hợp đồng thì các bên có thỏa thuận: “Nếu quá thời hạn thanh toán, số tiền chậm sẽ tính theo lãi suất 2%/tháng”. Như vậy, theo điều kiện thanh toán của hợp đồng này thì hai bên có thể thanh toán muộn, nhưng phải trả lãi chậm trả và cũng không quy định thời hạn trả chậm. Với thỏa thuận này thì có nghĩa là về mặt pháp lý, tranh chấp hợp đồng giữa hai bên vẫn còn tồn tại mặc dù hạn trả nợ trong hợp đồng đã hết. Do đó không thể kết luận đơn khởi kiện ngày 28/10/2003 của NXB là đã hết thời hiệu khởi kiện. Vì vậy, TAND thành phố Hà Nội chấp nhận thụ lý đơn kiện của NXB là hoàn toàn đúng pháp luật. Ý kiến giải quyết vụ án của nhóm: Theo quy định của pháp luật dân sự (khoản 2 Điều 95 BLDS 2005) thì việc công ty in LĐXH sáp nhập thành doanh nghiệp mới là NXB LĐXH thì tư cách pháp nhân của công ty in chấm dứt, mọi quyền và nghĩa vụ sẽ chuyển sang cho doanh nghiệp mới là NXB, nhưng tại thời điểm công ty in nộp đơn khởi kiện thì tư cách pháp nhân của doanh nghiệp mới chưa có, do đó về mặt pháp lý, phải đợi sau khi NXB hoàn thành các thủ tục pháp lý để có tư cách pháp nhân thì NXB sẽ là đơn vị làm đơn khởi kiện, và ngày 28/10/2003, NXB có đơn thay thế đơn ngày 8/7/2003 của công ty in khởi kiện đòi nợ TCTT là đúng pháp luật, còn không công nhận tư cách pháp lý của công ty in vì tư cách pháp nhân của công ty này đã chấm dứt từ thời điểm quyết định số 6654/2003 của Bộ LĐTB-XH có hiệu lực. Tuy nhiên, việc đơn khởi kiện của công ty in có giá trị pháp lý hay không thì hoàn khác, vì tại thời điểm giao kết hợp đồng với TCTT, công ty in là bên tham gia trực tiếp, những trình bày của công ty in trong đơn khởi kiện vẫn phải được xem xét, đánh giá, xác minh. Thụ lý đơn khởi kiện thay thế của NXB, vì lúc này NXB đã đủ tư cách pháp nhân và thời hiệu khởi kiện chưa hết (như đã phân tích ở trên). Xét xử phúc thẩm lại vụ án thì cần phải làm rõ một số tình tiết sau: Thứ nhất: cần xem xét, điều tra xác thực vấn đề mà TCTT trình bày là có nhiều hợp đồng bị công ty in giao hàng chậm, tạp chí in không đảm bảo chất lượng. Nếu có thật điều này thì công ty in cũng phải chịu một phân trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Không được bác yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm hợp đồng kinh tế của TCTT nêu ra đối với NXB khi chưa thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh. Thứ hai: Cần xem xét lại vấn đề thanh toán khoản nợ gốc và lãi, bằng việc đối chiếu với các bản hợp đồng (11 bản), đánh giá chính xác lại con số mà TCTT phải thanh toán cho NXB. Vì con số mà trước đó trong đơn khởi kiện đưa ra là 63.028.600đ, công ty in là người nắm rõ nội dung các bản hợp đồng, thời điểm thỏa thuận. Còn con số sau đó NXB đưa ra là 52.266.500đ; con số mà TAND thành phố Hà Nội yêu cầu TCTT phải thanh toán cuối cúng là 53.253.687đ. Như vậy, chứng tỏ việc xem xét, đánh giá để xác minh các con số trong các bản hợp đồng là chưa thống nhất, cần điều tra và xác minh lại. Vụ việc thứ 2: - Nguyên đơn: Doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Đức Thượng, trụ sở tại số 95 Phó Ðức Chính Phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh. - Bị đơn: Công ty xây dựng và ứng dụng Công Nghệ Mới, trụ sở chính tại Ấp Bình Hữu 2, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Chi nhánh tại 19, Trần Hưng Đạo, quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh. Tóm tắt vụ việc: Doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Đức Thượng trình bày: Năm 2004 nguyên đơn và bị đơn là Công ty xây dựng và ứng dụng Công Nghệ Mới có ký các hợp đồng như sau: Hợp đồng số 01/HĐKT ngày 28/02/2004 có nội dung: Nguyên đơn cho bị đơn thuê mướn thiết bị cơ giới (xe Ben và xe cuốc). Hợp đồng số 02/HĐKT ngày 10/03/2004 có nội dung: Nguyên đơn thực hiện việc đào đất kinh thượng hạ lưu âu tàu tắc thủ Cà Mau cho bị đơn. Thực hiện hợp đồng số 01/HĐKT nguyên đơn đã giao đầy đủ cho bị đơn thiết bị cơ giới. Ngày 17/9/2004, hai bên lập biên bản thanh lý thì nguyên đơn viết phiếu thu 75.000.000đ và hoá đơn giá trị gia tăng cho bị đơn và giao cho bị đơn, nhưng bị đơn chưa giao tiền nên nên hai bên có việc cự cãi nhau trong việc thanh toán hợp đồng nên nguyên đơn giật lại hoá đơn giá trị gia tăng còn phiếu thu chưa giật lại. Nguyên đơn kiện bị đơn đòi lại số tiền còn thiếu 75.000.000đ và tiền lãi do việc chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán từ tháng 11/2004 đến nay là 25 tháng với mức lãi suất nợ quá hạn theo quy định là 1,03%/tháng số tiền lãi sẽ là 75.000.000đ x 1,03%/tháng x 25 tháng = 19.312.500đ, tổng cộng nợ và lãi là 94.312.500đ. Riêng hợp đồng số 02/HĐKT bị đơn còn thiếu nguyên đơn 60.990.000đ, nguyên đơn kiện bị đơn đòi số tiền này và tiền lãi do việc chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán từ tháng 11/2004 đến nay là 25 tháng với mức lãi suất nợ quá hạn theo quy định là 1,03%/tháng số tiền lãi sẽ là 60.990.000đ x 1,03%/tháng x 25 tháng = 15.706.213đ, tổng cộng nợ và lãi là 76.701.213đ. Bị đơn Công ty xây dựng và ứng dụng Công Nghệ Mới trình bày: Xác nhận có ký hợp đồng số 01/HĐKT thuê mướn thiết bị và Hợp đồng số 02/HĐKT ngày 10/03/2004 thực hiện việc đào đất kinh thượng hạ lưu âu tàu tắc thủ Cà Mau cùng nguyên đơn Doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Đức Thượng, có ký biên bản thanh lý ngày 17/9/2004. Sau khi ký biên bản thanh lý hợp đồng số 01/HĐKT bị đơn đã trả cho nguyên đơn 75.000.000đ, nên nguyên đơn đã viết phiếu thu cho bị đơn coi như hợp đồng số 01/HĐKT bị đơn đã thanh lý xong cùng nguyên đơn. Nhưng nguyên đơn chưa giao hoá đơn giá trị gia tăng cho bị đơn, nay bị đơn đề nghị nguyên đơn giao hoá đơn giá trị gia tăng cho bị đơn. Riêng hợp đồng số 02/HĐKT bị đơn xác nhận còn thiếu nguyên đơn 60.990.000đ và đồng ý trả số tiền này cùng số tiền lãi theo quy định là 15.706.213đ, tổng cộng là 76.701.213đ cho nguyên đơn. Quyết định của Tòa án: Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 675/2006/KDTM-ST ngày 29/12/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 233 Luật thương mại năm 1997. Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn Doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Đức Thượng: 1/ Bác yêu cầu của nguyên đơn Doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Đức Thượng kiện bị đơn Công ty xây dựng và ứng dụng Công Nghệ Mới đòi lại số tiền còn thiếu 75.000.000đ theo hợp đồng số 01/HĐKT ngày 28/02/2004 và tiền lãi do việc chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán 19.312.500đ, tổng cộng là 94.312.500đ. Đồng thời phải xuất hoá đơn giá trị gia tăng của hợp đồng số 01/HĐKT ngày 28/02/2004 cho bị đơn Công ty xây dựng và ứng dụng Công Nghệ Mới. 2/ Bị đơn Công ty xây dựng và ứng dụng Công Nghệ Mới có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn Doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Đức Thượng số tiền nợ đào đất còn thiếu theo hợp đồng số 02/HĐKT ngày 10/03/2004, và tiền lãi do việc chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán từ tháng 11/2004 đến nay là 76.701.213đ, trong đó có tiền nợ là 60.995.000đ và tiền lãi là 15.706.213đ. Đồng thời nguyên đơn Doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Đức Thượng phải xuất hoá đơn giá trị gia tăng của hợp đồng số 02/HĐKT ngày 10/03/2004 cho bị đơn Công ty xây dựng và ứng dụng Công Nghệ Mới. Kể từ ngày nguyên đơn Doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Đức Thượng có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn Công ty xây dựng và ứng dụng Công Nghệ Mới không trả đủ số tiền nêu trên thì hàng tháng bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi tính theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Nhận xét của nhóm: Yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Đức Thượng đòi bị đơn Công ty xây dựng và ứng dụng công nghệ mới phải trả 75.000.000đ (Bảy mươi lăm triệu đồng) của hợp đồng số 1, cộng lãi xuất tính từ ngày 17/9/2004. Nguyên đơn cho rằng đã viết phiếu thu 75.000.000đ và hóa đơn VAT giao cho bị đơn. Nhưng bị đơn không nộp tiền, nên nguyên đơn lấy lại được hoá đơn VAT, còn phiếu thu bị đơn không trả lại. Phía bị đơn không đồng ý trả 75.000.000đ như yêu cầu của nguyên đơn, cho rằng mình đã trả đủ 75.000.000đ cho nguyên đơn bằng tiền mặt, có khấu trừ một số tiền tạm ứng trước đó. Sau khi đối chiếu còn lại 75.000.000đ ông đã trả đủ và nhận phiếu thu từ nguyên đơn (đã viết phiếu thu) còn chưa đưa hóa đơn VAT cho Công ty xây dựng cung ứng Công nghệ cao. Xét thấy nguyên đơn không đưa ra được bằng chứng gì để bác bỏ phiếu thu 75.000.000đ và đã ghi rõ “ nhận đủ tiền và ký nhận và đóng dấu”. Không có dấu hiệu giành giật phiếu thu và hóa đơn VAT như phía ông Thượng trình bày. Vì vậy, bản án sơ thẩm đã bác yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở. Đồng thời phía nguyên đơn phải xuất hóa đơn giá trị gia tăng của hợp đồng số 01/HĐKT ngày 28/02/2004 cho Công ty xây dựng và ứng dụng Công nghệ mới là thỏa đáng. Tuy nhiên bản án sơ thẩm không ghi rõ số tiền trên hóa đơn VAT là 189.000.000 đồng là thiếu sót. Bản án sơ thẩm buộc Doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Đức Thượng phải xuất hóa đơn giá trị gia tăng (VAT) của hóa đơn số 02/HĐKT ngày 10/03/2004 của Công ty xây dựng và ứng dụng công nghệ mới. Điều là đúng với quy định của pháp luật. Công ty xây dựng và ứng dụng công nghệ mới yêu cầu Doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Đức Thượng xuất hóa đơn VAT trên số 189.000.000đ, không phải trên Hợp đồng số 01/HĐKT- ngày 28/2/2004 chung chung, mà phải ghi rõ hóa đơn giá trị gia tăng của hợp đồng số 01 bằng số tiền 189.000.000đ như các bên đã công nhận và Doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Đức Thượng cũng đồng thừa nhận hoá đơn giá trị gia tăng của hợp đồng kinh tế số 01 là 189.000.000đ như yêu cầu của Công ty xây dựng và ứng dụng Công nghệ mới. Vì vậy, cần sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm. Cách giải quyết vụ việc của nhóm: Cần phải sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm: Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn Doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Đức Thượng: 1/ Bác yêu cầu của nguyên đơn Doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Đức Thượng kiện bị đơn Công ty xây dựng và ứng dụng Công Nghệ Mới đòi lại số tiền còn thiếu 75.000.000đ (Bảy mươi lăm triệu đồng) theo hợp đồng số 01/HĐKT ngày 28/02/2004 và tiền lãi do việc chậm trả là 19.312.500đ. Đồng thời phải xuất hoá đơn giá trị gia tăng của hợp đồng số 01/HĐKT ngày 28/02/2004 cho bị đơn Công ty xây dựng và ứng dụng Công Nghệ Mới trên số tiền 189.000.000đ (Một trăm tám mươi chín triệu đồng). 2/ Bị đơn Công ty xây dựng và ứng dụng Công Nghệ Mới có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn Doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Đức Thượng số tiền nợ đào đất còn thiếu theo hợp đồng số 02/HĐKT ngày 10/03/2004, và tiền lãi do việc chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Tổng cộng là 76.701.213đ (Bảy mươi sáu triệu bảy trăm lẻ một ngàn, hai trăm mười ba đồng), (trong đó tiền nợ là 60.995.000đ và lãi là 15.706.213đ). Đồng thời nguyên đơn Doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Đức Thượng phải xuất hoá đơn VAT của hợp đồng số 02/HĐKT ngày 10/03/2004 cho bị đơn Công ty xây dựng và ứng dụng Công Nghệ Mới. Vụ việc thứ 3: Nguyên đơn: Công ty cổ phần sản xuất thương mại Phúc Tiến, trụ sở: 75 tổ 3, cụm 1, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Bị đơn: Công ty xây lắp 386, trụ sở: 116 Vũ Xuân Thiều, quận Long Biên, Hà Nội. Tóm tắt vụ việc: Tại đơn khởi kiện ngày 22.01.2007 và bản tự khai , nguyên đơn Công ty cổ phần sản xuất thương mại Phúc Tiến, trình bày: Ngày 30.9.2003 nguyên đơn có ký với bị đơn – Công ty xây lắp 386 – Bộ quốc phòng – hợp đồng kinh tế số 53/HĐKT. Theo hợp đồng, nguyên đơn cung cấp lắp đặt cho bị đơn hệ thống nhà thép có trị giá 1.259.536.000 đồng (bao gồm cả VAT, chi phí vận chuyển, lắp đặt, hoàn thiện và bảo hành sản phẩm). Địa điểm lắp đặt là công trình của Xí nghiệp 199 - Công ty may 20 tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Thời hạn giao hàng là ngày 20.10.2003. Hợp đồng có hiệu lực đến hết ngày 31.12.2003. Đến ngày 01.8.2004 hai bên có biên bản đối chiếu xác nhận công nợ. Theo biên bản này bị đơn còn nợ nguyên đơn 304.580.902 đồng. Ngày 18.8.2006 bị đơn có công văn cam kết sẽ trả xong toàn bộ nợ trong tháng 9.2006 và đề nghị nguyên đơn giảm trừ nợ 45.000.000 đồng. Nhưng bị đơn không thực hiện được cam kết này. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nay nguyên đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết buộc bị đơn phải thanh toán nốt tiền hàng theo hợp đồng là 144.580.902 đồng, lãi phát sinh là trên 66 triệu đồng và không đồng ý giảm trừ 45.000.000 đồng . Phía bị đơn – Công ty 386 trình bày: Thời điểm 2003 ông Nguyễn Đăng Biên là cán bộ của công ty 386 có thực hiện hợp đồng kinh tế với Công ty Phúc Tiến, theo quy chế nhận khoán của Công ty giao. Qúa trình thực hiện hợp đồng, ông Biên phải tự chủ động thi công, cân đối vật tư, trả nợ khách hàng… Nếu có thua lỗ ông Biên phải tự chịu. Sau khi thực hiện xong hợp đồng, ông Biên có ký xác nhận công nợ với Công ty Phúc tiến. Công ty chưa kiểm tra lại nhưng cũng xác nhận vẫn còn một khoản nợ phải trả Công ty Phúc Tiến . Qua theo dõi việc thực hiện hợp đồng, Công ty biết ông Biên bị lỗ ở hợp đồng này. Theo công văn Công ty Phúc Tiến thông báo, ông Biên còn nợ 99.580.000 đồng .Sau khi đã được trừ 45.000.000 đồng. Công ty 386 đề nghị Công ty Phúc Tiến chia sẻ rủi ro, chấp nhận hướng giải quyết là Công ty 386 sẽ cho ông Biên vay số tiền 99.580.902 đồng để trả ngay Công ty Phúc Tiến. Còn lãi đề nghị Công ty Phúc Tiến miễn toàn bộ cho ông Biên . Tại phiên toà hôm nay nguyên đơn giữ yêu cầu đòi bị đơn nợ gốc; và lãi là 9.108.996 đồng và có bổ sung thêm yêu cầu đòi bồi thường chi phí thuê luật sư theo hợp đồng dịch vụ pháp lý là 14.500.000 đồng. Tổng cộng 168.198.498 đồng. Hợp đồng dịch vụ được nguyên đơn xuất trình tại phiên toà . Tại phiên toà bị đơn không đồng ý chịu trách nhiệm trả khoản nợ 144.580.902 đồng cho nguyên đơn. Theo bị đơn trách nhiệm đó thuộc về cá nhân ông Nguyễn Đăng Biên. Bị đơn vẫn giữ quan điểm các khoản tiền Công ty 386 đã trả nguyên đơn chỉ là tạm ứng. Đến nay bị đơn không có tài liệu giao dịch với nguyên đơn, không có biên bản thanh lý hợp đồng, mặc dù hợp đồng có quy định hiệu lực đến ngày 31.12.2003. Do việc thanh lý hợp đồng đén nay chưa thực hiện nên bị đơn chưa chấp nhận số liệu như nguyên đơn nêu. Bị đơn còn đề nghị với hợp đồng quy định thời hiệu như vậy nên hợp đồng này đến nay là vô hiệu . Phía bị đơn cũng công nhận đến nay chưa có văn bản nào yêu cầu nguyên đơn thanh lý hợp đồng, và cũng chưa có văn bản nào thắc mắc về khối lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá với nguyên đơn. Bị đơn còn xác nhận công trình đã được bàn giao cho Xí nghiệp 199 Công ty may 20 sử dụng từ tháng 4.2004. Bị đơn còn trình bày với trách nhiệm là cơ quan chủ quản của ông Nguyễn Đăng Biên, bị đơn đã đứng ra hỗ trợ ông Biên trả nợ. Đến nay khoản nợ còn một phần nhỏ của hợp đồng. Nhưng do ông Biên đang rất khó khăn nên không có khả năng trả nợ tiếp vì có một số công trình bị lỗ cùng công trình này. Còn Công ty cũng không thể hỗ trợ tiếp vì phải cân đối trong đơn vị . Quyết định của Tòa án: - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 29; điểm b khoản 1 Điều 33; Điều 131; Điều 159 và Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự. - Căn cứ Điều 237; Điều 306; Điều 319 và Điều 50 Luật Thương mại. - Căn cứ Nghị định 70/CP của Chính phủ quy định về án phí - Căn cứ Thông tư liên tịch số 01/TTLT của Bộ Tư pháp – Bộ Tài chính – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành án về tài sản. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần sản xuất thương mại Phúc Tiến đối với Công ty xây lắp 386. Buộc Công ty xây lắp 386 thanh toán cho Công ty cổ phần sản xuất thương mại Phúc Tiến theo hợp đồng số 53/HĐKT ngày 30.9.2003 gồm: - 144.580.902 đồng nợ gốc. - 9.108.996 đồng tiền lãi. - 14.500.000 đồng tiền chi phí pháp lý. Tổng cộng 168.189.498 đồng (một trăm sáu mươi tám triệu, một trăm tám mươi chín nghìn, bốn trăm chín mươi tám đồng). 2. Tuyên bố hợp đồng số 53/HĐKT ngày 30.9.2003 giữa Công ty cổ phần sản xuất thương mại Phúc Tiến và Công ty xây lắp 386 được thanh lý từ ngày 18.4.2007 . 3. Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự . 4. Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật nguyên đơn có yêu cầu thi hành án mà bị đơn chưa trả hết nợ thì hàng tháng bị đơn còn phải chịu lãi của số tiền phải thi hành theo mức lãi suất tín dụng quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định cho đến khi trả hết nợ. Ngoài ra Tòa án còn quy định về án phí và quyền kháng cáo. Bình luận của nhóm: 1. Ngày 30.9.2003 hai bên ký hợp đồng kinh tế số 53/HĐKT về việc cung cấp lắp đặt khung nhà thép, thời gian hết hiệu lực là 31.12.2003. Nhưng thực tế, đến ngày 01.8.2004 hai bên còn có biên bản đối chiếu công nợ và kể từ đó cho đến tháng 10.2006, các bên còn có các công văn trao đổi và bị đơn – Công ty xây lắp 386 – vẫn thanh toán tiền mua vật tư của hợp đồng cho Công ty Phúc Tiến – nguyên đơn. Chỉ đến ngày 23.12.2006, sau thông báo trả nợ cuối cùng thì bị đơn không trả được nợ nữa và đến ngày 10.01.2007 Công ty cổ phần Phúc Tiến có đơn khởi kiện. Do đó theo Điều 29, Điều 33 của Bộ luật tố tụng dân sự và thực hiện theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 32/2004/QH/11 của Quốc hội khoá 11 về việc thi hành Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết tranh chấp với quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng cung ứng lắp đặt theo Luật Thương mại như vậy là có cơ sở. 2. Đây là hợp đồng cung cấp ký từ tháng 9.2003 và việc thực hiện kéo dài đến tháng 10.2006 (nhưng bị đơn chưa thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán). Do đó, ngoài việc áp dụng Pháp lệnh hợp đồng kinh tế như hợp đồng đã viện đến, thì cần áp dụng Luật Thương mại năm 2004 và Bộ luật tố tụng dân sự. Trong vụ kiện này nguyên đơn đã có nhiều lần gia hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bị đơn. Lần cuối cùng là ngày 23.12.2006 mà bị đơn vẫn không thực hiện được. Tính đến ngày 10.01.2007 nguyên đơn khởi kiện vẫn nằm trong quy định tại Điều 319 Luật Thương mại cũng như Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó việc Tòa án áp dụng Luật thương mại và Bộ luật tố tụng dân sự là hợp lí. 3. Ông Biên là cán bộ trong Công ty 386 – bị đơn. Việc thực hiện cơ chế khoán như thế nào là việc nội bộ giữa ông Biên với bị đơn, hai bên tự giải quyết sau. Bởi lẽ bị đơn là pháp nhân độc lập, chủ thể của quan hệ kinh doanh thương mại; hợp đồng do đại diện theo pháp luật của bị đơn ký; việc trả tiền cũng do bị đơn chi trả thông qua tài khoản của mình tại ngân hàng. Do đó, bị đơn phải chịu trách nhiệm đến cùng với nguyên đơn về việc thanh toán tiền hàng theo hợp đồng đã ký. Vì vậy Toà án đã chấp nhận yêu cầu đòi tiền hàng của nguyên đơn đối với bị đơn. 4. Về số tiền nguyên đơn yêu cầu 144.580.902 đồng. Thấy rằng tại công văn số 97 ngày 05.9.2006 nguyên đơn đồng ý giảm trừ cho bị đơn 45.000.000 đồng với điều kiện bị đơn trả ngay số nợ còn lại trước ngày 30.9.2006, nếu bị đơn không thực hiện điều kiện thời gian trên thì sẽ không được giảm 45.000.000 đồng. Xét việc giảm trừ của bị đơn là có điều kiện, nhưng bị đơn không thực hiện được điều kiện đó nên đương nhiên việc giảm trừ mất hiệu lực. Toà án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn toàn bộ nợ gốc 144.580.902 đồng là có căn cứ, phù hợp pháp luật. 5. Về tiền lãi nguyên đơn đề nghị được tích lãi từ tháng 10.2006 đến phiên toà hôm nay, theo mức lãi suất 1,05%/tháng với số tiền 9.108.996 đồng như vậy là phù hợp với quy định của luật thương mại nên được chấp thuận. 6. Về vấn đề thanh lý hợp đồng, lẽ ra hai bên phải cùng nhau tiến hành thanh lý hợp đồng theo quy định của pháp luật. Nhưng do bị đơn vẫn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán, cho đến ngày 23.12.2006 mới không trả tiền nữa. Tuy nhiên đến nay chỉ còn một phần thanh toán cuối cùng của hợp đồng nên Toà án thấy cần xác định hợp đồng số 53/HĐKT nêu trên được thanh lý kể từ ngày hôm nay – 18.4.2007 . Cách giải quyết vụ việc của nhóm: Công ty cổ phần sản xuất thương mại Phúc Tiến, ngày 22.01.2007 trình bày: Ngày 30.9.2003 nguyên đơn có ký với bị đơn – Công ty xây lắp 386 – Bộ quốc phòng – hợp đồng kinh tế số 53/HĐKT. Theo hợp đồng, nguyên đơn cung cấp lắp đặt cho bị đơn hệ thống nhà thép có trị giá 1.259.536.000 đồng (bao gồm cả VAT, chi phí vận chuyển, lắp đặt, hoàn thiện và bảo hành sản phẩm). Địa điểm lắp đặt là công trình của Xí nghiệp 199 - Công ty may 20 tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Thời hạn giao hàng là ngày 20.10.2003. Hợp đồng có hiệu lực đến hết ngày 31.12.2003. Thế nhưng: Hợp đồng có hiệu lực đến ngày 31.12.2003, nhưng trên thực tế, theo biên bản đối chiếu công nợ giữa hai bên ngày 01.8.2004 thể hiện lô hàng (vật tư) cuối cùng nguyên đơn giao cho bị đơn vào ngày 21.02.2004; và ngày cuối cùng bị đơn thanh toán trước khi lập biên bản là ngày 24.4.2004 với số tiền 100 triệu đồng uỷ nhiệm chi qua ngân hàng. Cũng tại biên bản này hai bên đã xác định trị giá tài sản mà bị đơn đã thực hiện là 1.177.041.302 đồng; bị đơn đã thanh toán 872.460.400 đồng; còn phải thanh toán nốt 304.580.902 đồng. Tuy nhiên, biên bản đối chiếu công nợ cũng không qui định thời hạn cuối cùng bị đơn phải trả nguyên đơn số nợ trên, và bị đơn vẫn tiếp tục trả nợ. Theo khoản 1điều 522 BLDS quy định về nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ: “…1. Thực hiện công việc đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và các thỏa thuận khác.” Vì vậy việc giao hàng chậm thời gian của nguyên đơn cũng đã vi phạm hợp đồng dịch vụ mà hai bên đã kí kết. Nhưng bị đơn không đòi bồi thường nguyên đơn do đã vi phạm hợp đồng về thời hạn cung ứng dịch vụ. Vì vậy đến ngày 21.02.2004 lô hàng cuối cùng mới được nguyên đơn giao cho bị đơn. Xét thấy bên bị đơn đã bỏ qua cho mình về việc chậm trễ giao hàng nên bên nguyên đơn không đưa ra thời hạn cụ thể để bị đơn thanh toán số nợ trên sau khi cung ứng dịch vụ xong . Bên bị đơn vẫn tiếp tục trả nợ cho đến ngày 23.12.2006, sau thông báo trả nợ cuối cùng thì bị đơn không trả được nợ nữa thì nguyên đơn mới đâm đơn ra tòa. Phía bị đơn cũng công nhận đến nay chưa có văn bản nào yêu cầu nguyên đơn thanh lý hợp đồng, và cũng chưa có văn bản nào thắc mắc về khối lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá với nguyên đơn. Bị đơn còn xác nhận công trình đã được bàn giao cho Xí nghiệp 199 Công ty may 20 sử dụng từ tháng 4.2004. Tòa án thụ lý đơn của Công ty cổ phần sản xuất thương mại Phúc Tiến là đúng theo những quy định tại Điều 319, điểm e khoản 1 Điều 237 Bộ luật Thương mại. Tòa án áp dụng Điều 237 BLTM có nghĩa coi Công ty cổ phần sản xuất thương mại Phúc Tiến là dạng thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics. Theo Điều 233 BLTM: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao.” Thế nhưng Tòa án lại thụ lý đơn khởi kiện của Công ty cổ phần sản xuất thương mại Phúc Tiến theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 29 của Bộ luật tố tụng dân sự và thực hiện theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 32/2004/QH/11 của Quốc hội khoá 11. Theo như ý kiến của nhóm em thấy như vậy là không hợp lí. Đúng ra Toà án nhân dân thành phố Hà Nội phải thụ lý đơn khởi kiện của Công ty cổ phần sản xuất thương mại Phúc Tiến theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự. Tức là tranh chấp trong việc cung ứng hàng hóa chứ không phải tranh chấp trong mua bán hàng hóa. KẾT LUẬN Trên đây là phần tìm hiểu của nhóm về 03 vụ việc có tranh chấp về dịch vụ. Qua phần tìm hiểu trên, nhóm đã hiểu thêm được về các vấn đề liên quan đến hợp đồng dịch vụ, thấy được nhiều vấn đề từ các quy định chung chung của pháp luật. Đòi hỏi khi xác lập giao dịch các bên phải thoa thuận đầy đủ và chi tiết để tránh xảy ra tranh chấp, việc quy định các điều khoản trong hợp đồng không rõ ràng giữa hai bên mang lại khó khăn cho cả hai bên khi thực hiện hợp đồng và khi xảy ra tranh chấp cũng khó mà giải quyết được.Từ đó đặt ra vấn đề phải hoàn thiện pháp luật hơn. Chính việc quy định chặt chẽ về pháp luật sẽ giúp cho việc áp dụng pháp luật trở nên dễ dàng hơn, kéo theo đó làm giảm số lượng các tranh chấp xảy ra.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTìm hiểu 03 vụ việc có tranh chấp về hợp đồng dịch vụ.doc
Luận văn liên quan