Tìm hiểu và đánh giá một số quy định của pháp luật về nhượng quyền thương mại. Thực tiễn áp dụng ở Việt Nam - Phương hướng hoàn thiện

MỤC LỤC A - LỜI MỞ ĐẦU B - NỘI DUNG CHÍNH TRANG I - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 1 – Khái niệm nhượng quyền thương mại 1 2 – Đặc điểm của hoạt động NQTM 2 3 - Ý nghĩa của hoạt động NQTM .3 II - QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI. 1 - Hệ thống pháp luật điều chỉnh NQTM 4 2 - Quy định của luật về NQTM trong luật thương mại và các văn bản hướng dẫn .5 3 - Quy định về NQTM trong các văn bản pháp luật khác .11 III - THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM. 1. Trên thế giới .12 2. Tại Việt Nam 13 IV - MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 14 C – KẾT LUẬN I - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI. 1 – Khái niệm nhượng quyền thương mại. Trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn, bất kì khái niệm nào cũng đều có những cách hiểu khác nhau. Trên thế giới đã có nhiều định nghĩa về NQTM được đưa ra dựa trên quan điểm cụ thể của các nhà làm luật tại mỗi nước. Tuy nhiên, tựu chung lại thì NQTM hiểu theo nghĩa chung nhất là việc một Bên độc lập (Bên nhận) phân phối (marketing) sản phẩm, hoặc dịch vụ dưới nhãn hiệu hàng hóa, các đối tượng khác của các quyền sở hữu trí tuệ, và hệ thống kinh doanh đồng bộ do một Bên khác (Bên giao) phát triển và sở hữu; để được phép làm việc này, Bên nhận phải trả những phí và chấp nhận một số hạn chế do Bên giao quy định. Tại điều 284 luật thương mại 2005, pháp luật Việt nam đã lần đầu tiên đưa ra một định nghĩa chính thức về NQTM theo đó: “Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây: 1. Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền; 2. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh”. Khái niệm NQTM được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam khá tương đồng với pháp luật các nước. Có thể thấy NQTM theo Mục 8 của Luật Thương Mại 2005 được hiểu là “bán quyền thương mại”. Quan hệ này được tạo lập bởi ít nhất là hai bên chủ thể: bên nhượng quyền (là bên có quyền sở hữu đối với “quyền thương mại”) và bên nhận quyền (là bên độc lập, muốn kinh doanh bằng “quyền thương mại” của bên nhượng quyền). Các bên trong quan hệ thoả thuận: bên nhượng quyền trao cho bên nhận “quyền kinh doanh” bao gồm quyền sử dụng mô hình, kỹ thuật kinh doanh sản phẩm, dịch vụ dưới thương hiệu của mình và nhận lại một khoản phí hay % doanh thu. Tuy nhiên, việc trao quyền này không có nghĩa là bên nhượng quyền trở thành chủ sở hữu chung của những quyền này, mà chỉ được phép khai thác những quyền này trong một khoảng thời gian xác định mà thôi. Bên nhận quyền được khai thác những quyền này phải đáp ứng những điều kiện và chịu sự kiểm soát của bên nhượng quyền .

doc19 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 25/02/2013 | Lượt xem: 1777 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tìm hiểu và đánh giá một số quy định của pháp luật về nhượng quyền thương mại. Thực tiễn áp dụng ở Việt Nam - Phương hướng hoàn thiện, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
I - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI. 1 – Khái niệm nhượng quyền thương mại. Trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn, bất kì khái niệm nào cũng đều có những cách hiểu khác nhau. Trên thế giới đã có nhiều định nghĩa về NQTM được đưa ra dựa trên quan điểm cụ thể của các nhà làm luật tại mỗi nước. Tuy nhiên, tựu chung lại thì NQTM hiểu theo nghĩa chung nhất là việc một Bên độc lập (Bên nhận) phân phối (marketing) sản phẩm, hoặc dịch vụ dưới nhãn hiệu hàng hóa, các đối tượng khác của các quyền sở hữu trí tuệ, và hệ thống kinh doanh đồng bộ do một Bên khác (Bên giao) phát triển và sở hữu; để được phép làm việc này, Bên nhận phải trả những phí và chấp nhận một số hạn chế do Bên giao quy định. Tại điều 284 luật thương mại 2005, pháp luật Việt nam đã lần đầu tiên đưa ra một định nghĩa chính thức về NQTM theo đó: “Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây: 1. Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền; 2. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh”. 2 – Đặc điểm của hoạt động NQTM Theo như khái niệm ở trên thì NQTMcó những đặc điểm sau: Về chủ thể Chủ thể của quan hệ NQTM bao gồm bên nhượng quyền và bên nhận quyền. Các chủ thể này có thể là cá nhân hoặc pháp nhân, là công dân trong nước hoặc người nước ngoài. Trong thực tế đa số các bên tham gia quan hệ NQTM là thương nhân. Tuy nhiên, cũng có khi họ không phải là thương nhân, đặc biệt là khi NQTM diễn ra trong lĩnh vực nông nghiệp, thủ công và hành nghề tự do ( Ví dụ: hoạt động của nhà tư vấn về hôn nhân được thực hiện bởi một bên nhận quyền). Có thể có hai bên hoặc nhiều bên tham gia vào quan hệ NQTM. Bên nhượng quyền và bên nhận quyền có tư cách pháp lý độc lập với nhau và tự chịu trách nhiệm đối với những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình. Về đối tượng Đối tượng của NQTM là quyền thương mại. Nội dung của khái niệm quyền thương mại phát triển rất phong phú và có mối liên hệ đặc biệt với các đối tượng sở hữu trí tuệ. Nội dung của quyền thương mại có thể khác nhau tùy thuộc vào từng loại hình NQTM và thỏa thuận giữa các bên. Nó có thể bao gồm quyền sử dụng các tài sản trí tuệ như tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa/dịch vụ, bí mật kinh doanh ... và quyền kinh doanh theo mô hình, với phương thức quản lý, đào tạo, tiếp thi sản phẩm của bên nhượng quyền .. NQTM là hoạt động kinh doanh theo mô hình thống nhất, theo đó bên nhận quyền phải tuân thủ mô hình NQTM. Trong hoạt động NQTM, bên nhượng quyền và các bên nhận quyền cũng tiến hành kinh doanh trên cơ sở cùng khai thác quyền thương mại. Điều đó tạo ra một hệ thống thống nhất. Tính thống nhất thể hiện ở thống nhất về hành động và thống nhất về lợi ích của bên nhượng quyền và các bên nhận quyền. Ví dụ: Để đảm bảo chất lượng sản phẩm nhà nhượng quyền KFC quy định 11 loại gia vị trong món gà rán của KFC là thành phần bắt buộc mà các bên nhận quyền phải mua từ bên nhượng quyền. Như vậy, mặc dù độc lập với nhau về tư cách pháp lý, bên nhượng quyền và bên nhận quyền vẫn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Để đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống NQTM, đảm bảo bên nhận quyền sẽ là một “bản sao” hoàn hảo của mình, bên nhượng quyền phải có sự hỗ trợ và kiểm soát thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình kinh doanh của bên nhận quyền. Hoạt động của hệ thống NQTM thường dẫn tới một hệ quả làm bóp méo cạnh tranh. Hợp đồng NQTM có thể có quy định về vấn đề phân chia thị trường, bao gồm phân định lãnh thổ (khu vực kinh doanh) và phân chia khách hàng như: cấm bên nhận quyền quảng cáo ngoài phạm vi kinh doanh của mình, cấm bên nhận quyền bán lại hàng mang nhãn hiệu của bên nhượng quyền cho các nhà bán lẻ không phải là thành viên của hệ thống NQTM; cấm bên nhận quyền bán lại hàng không mang nhãn hiệu của bên nhượng quyền...Ngoài ra hợp đồng NQTM còn thường có các quy định về việc ấn định giá bán cho các thành viên của hệ thống NQTM, các quy định ràng buộc bên nhận quyền nhằm duy trì tính đặc trưng và uy tín của hệ thống NQTM. Những quy định này của hợp đồng NQTM thường dẫn Bản chất Trong thời gian trước đây ở Việt Nam nhượng quyền thương mại được coi như là một dạng hoạt động chuyển giao công nghệ và chịu sự điều chỉnh của luật về chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên về bản chất nhượng quyền thương mại và chuyển giao công nghệ là hai hoạt động khác biệt. Nhượng quyền thương mại chính là việc nhượng quyền kinh doanh kèm theo đó là uy tín, nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, khẩu hiệu, biểu tượng kinh doanh cũng như các kiến thức, bí quyết kinh doanh dây truyền thiết bị công nghệ cho một thương nhân. Trên cơ sở đó thương nhân nhận quyền thương mại phát triển một cơ sở kinh doanh mới, một cơ sở có thể bán, sản xuất kinh doanh một loại hàng hóa nhất định hoặc cung cấp các dịch vụ có cùng chất lượng, hình thức, phương thức phục vụ như thương nhân nhượng quyền và dưới thương hiệu của thương nhân nhượng quyền. Hay nói cách khác “nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại nhằm mở rộng hệ thống kinh doanh của bên nhượng quyền thông qua việc chia sẻ quyền kinh doanh trên cùng một thương hiệu cho bên nhận quyền”. Ngược lại chuyển giao công nghệ thực chất là việc chuyển giao các kiến thức kỹ thuật từ người có kiến thức cho một người khác, trên cơ sở đó người nhận kiến thức khai thác các giá trị của công nghệ sản xuất ra hàng hóa sản phẩm theo ý kiến chủ quan của mình chứ không phải theo một khuôn mẫu, quy định nào từ phía bên chuyển giao công nghệ. Xuất phát từ sự khác biệt về bản chất đó, cho nên khi sử dụng các văn bản pháp luật về chuyển giao công nghệ điều chỉnh việc nhượng quyền thương mại đã tạo ra một số vấn đề bất cập trong thực tiễn, nhận thức được những vấn đề bất cập đó, đồng thời để đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn cuộc sống và tiến trình hội nhập, Luật Thương mại 2005 đã chính thức bổ sung thêm một số hoạt động thương mại vào phạm vi điều chỉnh đó là nhượng quyền thương mại. Đây là chế định góp phần hoàn thiện pháp luật về thương mại nói chung và nhượng quyền thương mại nói riêng. Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại độc lập, có những nét đặc thù so với chuyển giao công nghệ. Dưới góc độ kinh doanh, nó là một hình thức tiếp thị và phân phối hàng hóa, dịch vụ rất hiệu quả, theo đó, bên nhận quyền được cấp quyền kinh doanh một loại sản phẩm hoặc dịch vụ phù hợp với các tiêu chuẩn, hệ thống, phương thức đã được bên nhượng quyền thiết lập với sự trợ giúp, huấn luyện và kiểm soát của bêm nhượng quyền. Đổi lại, bên nhận quyền phải trả phí nhượng quyền và phí bản quyền cho bên nhượng quyền. Ý nghĩa của hoạt động nhượng quyền thương mại * Đối với bên nhượng quyền: + Mở rộng được hệ thống kinh doanh mà không phải đầu tư nhiều và vẫn nằm trong sự điều tiết, kiểm soát của mình. Do tính đặc thù của nhượng quyền thương mại là bên nhận quyền thương mại luôn chịu sự kiểm soát của bên nhượng quyền thương mại. + Thu được một khoản lợi nhuận không nhỏ từ việc nhượng quyền cho bên nhận quyền vì khi nhượng quyền, bên nhận quyền phải trả tiền bản quyền thuê thương hiệu và tiền phí để được kinh doanh với tên và hệ thống của bên nhượng quyền. Đồng thời bên nhận quyền phải mua sản phẩm, nguyên liệu của bên nhượng quyền nhờ đó mà bên nhượng quyền có thể tối đa hoá thu nhập của mình. + Cải thiện được hệ thống phân phối. + Thúc đẩy việc quảng bá thương hiệu. Khi sử dụng hình thức nhượng quyền, bên nhượng quyền sẽ tạo được những lợi thế trong việc quảng cáo, quảng bá thương hiệu của mình. Mở rộng kinh doanh và sự xuất hiện ở khắp nơi của chuỗi cửa hàng sẽ đưa hình ảnh về sản phẩm đi sâu vào tâm trí khách hàng một cách dễ dàng hơn.Bên cạnh đó, vì chi phí quảng cáo sẽ được trải rộng cho rất nhiều cửa hàng, cho nên, chi phí quảng cáo cho một đơn vị kinh doanh là rất nhỏ. Điều này giúp bên nhượng quyền xây dựng được một ngân sách quảng cáo lớn. Đây là một lợi thế cạnh tranh mà khó có đối thủ cạnh tranh nào có khả năng vượt qua. Hoạt động quảng cáo càng hiệu quả, hình ảnh về sản phẩm, thương hiệu càng được nâng cao, giá trị vô hình của công ty càng lớn sẽ mang lại nhiều thuận lợi cho bên nhận quyền khi sử dụng nhãn hiệu, thương hiệu của bên nhượng quyền. Và như thế cả bên nhượng quền và bên nhận quyền ngày càng thu được nhiều lợi nhuận từ việc áp dụng hình thức kinh doanh nhượng quyền. + Hạn chế khả năng cạnh tranh của các đối thủ. * Đối với bên nhận quyền: + Tận dụng được nguồn lực, tiết kiệm được chi phí và thời gian trong việc xây dựng một mô hình kinh doanh đào tạo đội ngũ quản lý hay xây dựng một thương hiệu trên thị trường. + Giảm thiểu rủi ro: Mục đích chủ yếu của nhượng quyền chính là giảm thiểu rủi ro. Việc mở cửa hàng, cơ sở kinh doanh mới có rất nhiều rủi ro và tỷ lệ thất bại cao. Lý do chính của tỷ lệ thất bại cao là do người quản lý là những người mới bước vào nghề, không có kinh nghiệm và phải mất nhiều thời gian cho việc học hỏi các đặc trưng riêng của từng loại hình kinh doanh. Khi tham gia vào hệ thống nhượng quyền, bên nhận quyền sẽ được huấn luyện, đào tạo và truyền đạt các kinh nghiệm quản lý, bí quyết thành công của các loại hình kinh doanh đặc thù mà bên nhượng quyền đã tích luỹ được từ những lần trải nghiệm trên thị trường tức là họ kinh doanh theo một mô hình quản lý có sẵn. Bên nhận quyền không phải trải qua giai đoạn xây dựng và phát triển ban đầu. Bên nhượng quyền sẽ hướng dẫn bên nhận quyền các nguyên tắc chung. + Được mua nguyên liệu, sản phẩm với giá ưu đãi: bên nhượng quyền luôn có những ưu đãi đặc biệt về cung cấp sản phẩm, nguyên liệu cho bên bên nhận quyền. Do đó, bên nhận quyền được mua sản phẩm hoặc nguyên liệu với khối lượng lớn theo một tỷ lệ khấu hao đầy hấp dẫn. Giá của các sản phẩm, nguyên liệu đầu vào thấp sẽ là một trong những lợi thế cạnh tranh lớn. Nếu trên thị trường có những biến động lớn như việc khan hiếm nguồn hàng thì bên nhượng quyền sẽ ưu tiên phân phối cho bên nhận quyền trước. Điều này giúp cho bên nhận quyền ổn định đầu vào, tránh được những tổn thất từ biến động thị trường. + Rất phù hợp với những thương nhân có quy mô kinh doanh vừa và nhỏ vì mức cạnh tranh của các thương nhân này nếu tự mình xây dựng các thương hiệu cho riêng mình thì sẽ rất khó khăn. THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1. Trên thế giới Nhượng quyền thương mại được thế giới nhìn nhận là khởi nguồn tại Mỹ nhưng thực tế đã hình thành trước đó tại Trung Quốc với hình thức có 2 – 3 điểm bán lẻ cùng hình thức tại một số địa điểm khác nhau cùng kinh doanh. Năm 1840, các nhà sản xuất bia của Đức cho phép một vài quán bia quyền bán sản phẩm của họ. Năm 1851, lần đầu tiên trên thế giới nhà sản xuất máy khâu Singer của Mỹ ký cho thực hiện hợp đồng nhượng quyền kinh doanh. Singer đã ký hợp đồng nhượng quyền và trở thành người tiên phong trong việc thoả thuận hình thức nhượng quyền. Năm 1880 bắt đầu nhượng quyền bán sản phẩm cho các đại lý độc quyền trong lĩnh vực xe hơi, dầu lửa, gas. Trong thời gian này, phạm vi hoạt động nhượng quyền chỉ là chuyển quyền phân phối và bán sản phẩm của các nhà sản xuất. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, hình thức này đã thực sự phát triển rất mạnh mẽ. Sự bùng nổ dân số sau chiến tranh đã kéo theo sự tăng vọt nhu cầu về các loại sản phẩm và dịch vụ và lúc này, nhượng quyền đã trở thành mô hình kinh doanh thích hợp để phát triển nhanh chóng trong ngành công nghiệp thức ăn nhanh và khách sạn. Vào thập niên 60-70, nhượng quyền bùng nổ và phát triển mạnh ở Mỹ, Anh và một số nước khác. IFA cho hay, nhượng quyền kinh doanh thương hiệu riêng ở khu vực châu Á đã tạo doanh thu hơn 50 tỷ USD mỗi năm. Ở Thái Lan số hợp đồng nhượng quyền đang tăng rất nhanh, trong đó có tới 67% thuộc khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, với số vốn ban đầu cho mỗi hợp đồng 20.000-65.000 USD. Bộ thương mại công bố chương trình khuyến khích và quảng bá thương hiệu nội địa ra thị trường quốc tế qua nhượng quyền thương mại. Được hỗ trợ đào tạo trung và ngắn hạn về công nghệ nhượng quyền thương mại. Bước đầu: năm 2004 đạt 25 triệu Baht, năm 2005 tăng 10% tương tự các năm tiếp theo. Tại Nhật Bản, nhượng quyền thương mại phát triển mạnh từ năm 1996, đến năm 2004 đã có 1.074 hệ thống nhượng quyền thương mại và 220.710 cửa hàng nhận quyền thương mại, doanh thu từ công nghệ nhượng quyền thương mại là khoảng 150 tỉ USD, tăng trưởng hàng năm 7%. Từ năm 1980, nhượng quyền thương mại vào Trung Quốc. Đến năm 2004, nước này đã có 2.100 hệ thống nhượng quyền (nhiều nhất thế giới), với 120.000 cửa hàng nhượng quyền trong 60 lĩnh vực khác nhau. Biểu đồ tăng trưởng hoạt động nhượng quyền của Trung Quốc dựng đứng kể từ khi nước này gia nhập WTO. Từ năm 2000, tại Trung Quốc, bình quân mỗi năm hệ thống nhượng quyền tăng 38% vượt xa mức tăng trưởng 10%/năm của hàng tiêu dùng, các cửa hàng nhận nhượng quyền tăng 55%. Đặc biệt, hệ thống nhượng quyền thương mại của doanh nghiệp Trung Quốc cạnh tranh ngang hàng với thương hiệu nhượng quyền nổi tiếng của nước ngoài. Ở Malaysia, nhìn thấy lợi ích của nhượng quyền thương mại từ 1992, Chính phủ thành lập chương trình quốc gia về chuyển nhượng (Franchise Development Programe - FDP) với 2 mục tiêu: Gia tăng số doanh nghiệp bán / mua nhượng quyền thương mại; Thúc đẩy phát triển những sản phẩm / dịch vụ đặc thù nội địa thông qua nhượng quyền thương mại. Ở Úc, tổng cửa hàng nhượng quyền thương mại khoảng 54.000, đóng góp 12% vào GDP và tạo hàng trăm ngàn việc làm cho người lao động. 2. Tại Việt Nam Giữa thập niên 90, ở nước ta đã có một vài doanh nghiệp kinh doanh thiết bị lọc nước do Việt kiều về đầu tư đã đưa ra hình thức nhượng quyền thương mại, nhưng thị trường lúc bấy giờ chưa thực sự sôi động và bản thân thương hiệu của các doanh nghiệp đó cũng chưa mấy nổi tiếng nên đã không thành công. Mãi đến 3 - 4 năm trở lại đây, hình thức nhượng quyền thương mại mới rục rịch trở lại với các thương hiệu tên tuổi như Kinh Đô, Trung Nguyên, Lotteria, Phở 24... Theo ông Patrick Ho Lock Yin - Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Kinh Đô, đến nay Kinh Đô có mạng lưới 150 nhà phân phối và trên 30.000 điểm bán lẻ rộng khắp trên cả nước với nhiều chủng loại sản phẩm bánh, kẹo. Trong đó, có nhiều cửa hàng Kinh Đô đã áp dụng phương thức nhượng quyền thương mại. Còn đối với Công ty cà phê Trung Nguyên, đây là thương hiệu cà phê số 1 và cũng là doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên áp dụng mô hình kinh doanh nhượng quyền thương mại. Hiện Trung Nguyên đã có 1.000 quán cà phê ở Việt Nam, Singapore, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc và đang tiếp tục phát triển tại Mỹ, Đức, Australia thông qua phương thức nhượng quyền thương mại này. Theo phân tích của chương trình dự báo bán lẻ tại TP.HCM, cơ hội kinh doanh nhượng quyền thương mại ở Việt Nam rất lớn do có các yếu tố: kinh tế vẫn đang trong giai đoạn tăng trưởng tốt; các trung tâm mua sắm, đô thị, khu thương mại dịch vụ... còn phân bố rải rác, thích hợp để các thương hiệu mạnh phát triển chuỗi - hệ thống bán hàng; với thị trường tiềm năng hơn 84 triệu dân, hạ tầng dịch vụ ngày càng hoàn thiện và tâm lý kinh doanh thích làm chủ của người Việt Nam trong điều kiện vốn và kinh nghiệm đều có giới hạn thì kinh doanh nhượng quyền là phương pháp thích hợp nhất I - NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI. Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động nhượng quyền thương mại, nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản điều chỉnh quan hệ nhượng quyền thương mại. Quan hệ nhượng quyền thương mại rất phức tạp, phụ thuộc vào đối tượng “ quyền thương mại” được chuyển giao đến mức độ như thế nào mà mỗi hợp đồng nhượng quyền thương mại có thể có những đặc trưng riêng và đặt ra những yêu cầu riêng cho việc áp dụng pháp luật. Vì vậy pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại cũng rất đa dạng và phong phú. Có thể tìm thấy những quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ nhượng quyền thương mại trong nhiều văn bản như tại: +Bộ luật dân sự 2005 +Luật thương mại 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành là Nghị định 35/2006/NĐ_CP, Thông tư Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) số 09/2006/TT_BTM ngày 25-05-2006 +Luật sở hữu trí tuệ 2005 +Luật chuyển giao công nghệ 2006 +Luật cạnh tranh 2004 1. Quy định của pháp luật về nhượng quyền thương mại trong Luật thương mại và các văn bản hướng dẫn. -Trong Luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn thì điều chỉnh trực tiếp hoạt động nhượng quyền thương mại và vấn đề nhượng quyền thương mại được ghi nhận từ Điều 284 đến Điều 291 trong Luật thương mại. Luật Thương mại mới chỉ đề cập những vấn đề chung nhất về nhượng quyền thương mại, đó là các quyền và nghĩa vụ của thương nhân nhượng quyền và thương nhân nhận quyền; nhượng quyền lại cho bên thứ 3; đăng ký nhượng quyền thương mại. Khi thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại thì tại điều 286 và điều 287 có quy định về quyền và nghĩa vụ của thương nhân nhượng quyền như sau: “Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân nhượng quyền có các quyền sau đây: 1. Nhận tiền nhượng quyền; 2. Tổ chức quảng cáo cho hệ thống nhượng quyền thương mại và mạng lưới nhượng quyền thương mại; 3. Kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất hoạt động của bên nhận quyền nhằm bảo đảm sự thống nhất của hệ thống nhượng quyền thương mại và sự ổn định về chất lượng hàng hoá, dịch vụ.” (Điều 286) “Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân nhượng quyền có các nghĩa vụ sau đây: 1. Cung cấp tài liệu hướng dẫn về hệ thống nhượng quyền thương mại cho bên nhận quyền; 2. Đào tạo ban đầu và cung cấp trợ giúp kỹ thuật thường xuyên cho thương nhân nhận quyền để điều hành hoạt động theo đúng hệ thống nhượng quyền thương mại 3. Thiết kế và sắp xếp địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ bằng chi phí của thương nhân nhận quyền 4. Bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng được ghi trong hợp đồng nhượng quyền; 5. Đối xử bình đẳng với các thương nhân nhận quyền trong hệ thống nhượng quyền thương mại.” (Điều 287) Quyền và nghĩa vụ của bên nhận quyền được quy định như sau:  “Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân nhận quyền có các quyền sau đây: 1. Yêu cầu thương nhân nhượng quyền cung cấp đầy đủ trợ giúp kỹ thuật có liên quan đến hệ thống nhượng quyền thương mại; 2. Yêu cầu thương nhân nhượng quyền đối xử bình đẳng với các thương nhân nhận quyền khác trong hệ thống nhượng quyền thương mại.” (Điều288) “Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân nhận quyền có các nghĩa vụ sau đây: 1. Trả tiền nhượng quyền và các khoản thanh toán khác theo hợp đồng nhượng quyền thương mại; 2. Đầu tư đủ cơ sở vật chất, nguồn tài chính và nhân lực để tiếp nhận các quyền và bí quyết kinh doanh mà bên nhượng quyền chuyển giao; 3. Chấp nhận sự kiểm soát, giám sát và hướng dẫn của bên nhượng quyền; tuân thủ các yêu cầu về thiết kế, sắp xếp địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ của thương nhân nhượng quyền; 4. Giữ bí mật về bí quyết kinh doanh đã được nhượng quyền, kể cả sau khi hợp đồng nhượng quyền thương mại kết thúc hoặc chấm dứt; 5. Ngừng sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh và các quyền sở hữu trí tuệ khác (nếu có) hoặc hệ thống của bên nhượng quyền khi kết thúc hoặc chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại; 6. Điều hành hoạt động phù hợp với hệ thống nhượng quyền thương mại; 7. Không được nhượng quyền lại trong trường hợp không có sự chấp thuận của bên nhượng quyền.” (Điều 289) Những quyền và nghĩa vụ trên chỉ là những quyền và nghĩa vụ cơ bản trong hoạt động nhượng quyền thương mại, nó mới chỉ dừng lại bên nhận quyền, bên nhượng quyền và bên thứ ba như quy định tại điều 290 “1. Bên nhận quyền có quyền nhượng quyền lại cho bên thứ ba (gọi là bên nhận lại quyền) nếu được sự chấp thuận của bên nhượng quyền. 2. Bên nhận lại quyền có các quyền và nghĩa vụ của bên nhận quyền quy định tại Điều 288 và Điều 289 của Luật này.” Chứ nó chưa đề cập một cách chi tiết các vấn đề như nhượng quyền thương mại trong nước và nhượng quyền thương mại ở nước ngoài, các điều kiện nhượng quyền thương mại đối với các bên… Ngày 31 tháng 3 năm 2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 35/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại. Nghị định này là văn bản pháp luật đầu tiên cụ thể hoá các quy định về nhượng quyền thương mại trong Luật Thương mại năm 2005. Nghị định áp dụng với thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài tham gia vào hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam. Để đảm bảo thực thi tốt các cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực phân phối, Nghị định cũng quy định đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyên hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá, ngoài việc tuân thủ Nghị định, chỉ được thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại đối với những mặt hàng mà doanh nghiệp đó được kinh doanh dịch vụ phân phối theo cam kết quốc tế của Việt Nam. Nghị định cũng đưa ra quy định về điều kiện đối với bên nhượng quyền và bên nhận quyền, trong đó điều kiện quan trọng nhất là hệ thống kinh doanh mà bên nhượng quyền dự kiến dùng để nhượng quyền phải hoạt động ở Việt Nam tối thiểu là 01 năm. “Thương nhân được phép cấp quyền thương mại khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: 1. Hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã được hoạt động ít nhất 01 năm. Trường hợp thương nhân Việt Nam là Bên nhận quyền sơ cấp từ Bên nhượng quyền nước ngoài, thương nhân Việt Nam đó phải kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại ít nhất 01 năm ở Việt Nam trước khi tiến hành cấp lại quyền thương mại. 2. Đã đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại với cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 18 của Nghị định này. 3. Hàng hoá, dịch vụ kinh doanh thuộc đối tượng của quyền thương mại không vi phạm quy định tại Điều 7 của Nghị định này” (Điều 5: Điều kiện với bên nhượng quyền) “Thương nhân được phép nhận quyền thương mại khi có đăng ký kinh doanh ngành nghề phù hợp với đối tượng của quyền thương mại” (Điều 6: Điều kiện với bên nhận quyền) Ngoài ra, Nghị định cũng quy định chi tiết về cơ chế cung cấp thông tin, theo đó bên dự kiến nhận quyền sẽ có ít nhất là 15 ngày, nếu các bên không có thoả thuận khác, để xem xét toàn bộ tài liệu về hoạt động nhượng quyền (bao gồm bản sao hợp đồng mẫu, bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại) trước khi ký hợp đồng nhượng quyền thương mại: “Điều 8. Trách nhiệm cung cấp thông tin của Bên nhượng quyền 1. Bên nhượng quyền có trách nhiệm cung cấp bản sao hợp đồng nhượng quyền thương mại mẫu và bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại của mình cho bên dự kiến nhận quyền ít nhất là 15 ngày làm việc trước khi ký kết hợp đồng nhượng quyền thương mại nếu các bên không có thỏa thuận khác. Các nội dung bắt buộc của bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại do Bộ Thương mại quy định và công bố. 2. Bên nhượng quyền có trách nhiệm thông báo ngay cho tất cả các Bên nhận quyền về mọi thay đổi quan trọng trong hệ thống nhượng quyền thương mại làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại của Bên nhận quyền. 3. Nếu quyền thương mại là quyền thương mại chung thì ngoài việc cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 1 Điều này, Bên nhượng quyền thứ cấp còn phải cung cấp cho bên dự kiến nhận quyền bằng văn bản các nội dung sau đây: a) Thông tin về Bên nhượng quyền đã cấp quyền thương mại cho mình; b) Nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại chung; c) Cách xử lý các hợp đồng nhượng quyền thương mại thứ cấp trong trường hợp chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại chung.” “Điều 9. Trách nhiệm cung cấp thông tin của bên dự kiến nhận quyền Bên dự kiến nhận quyền phải cung cấp cho Bên nhượng quyền các thông tin mà Bên nhượng quyền yêu cầu một cách hợp lý để quyết định việc trao quyền thương mại cho Bên dự kiến nhận quyền.” Với mục đích đơn giản hoá các thủ tục hành chính nhưng vẫn đảm bảo sự quản lý của Nhà nước, Nghị định đưa ra cơ chế đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại của thương nhân vào Sổ đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại. “Cơ quan có thẩm quyền đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại có trách nhiệm đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại của thương nhân vào Sổ đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại và thông báo bằng văn bản cho thương nhân về việc đăng ký đó” (khoản 2 Điều 17). Bên dự kiến nhượng quyền, trước khi tiến hành hoạt động nhượng quyền, chỉ cần đăng ký với cơ quan có thẩm quyền theo một trình tự thủ tục đơn giản, minh bạch. Theo Nghị định, Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) là cơ quan đăng ký đối với các hoạt động nhượng quyền từ nước ngoài vào Việt Nam, bao gồm cả hoạt động nhượng quyền từ Khu chế xuất, Khu phi thuế quan hoặc khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam vào lãnh thổ Việt Nam và ngược lại. Sở Thương mại, Sở Thương mại Du lịch là cơ quan đăng ký đối với các hoạt động nhượng quyền còn lại trong lãnh thổ Việt Nam. “1. Bộ Thương mại thực hiện đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại sau đây: a) Nhượng quyền thương mại từ nước ngoài vào Việt Nam, bao gồm cả hoạt động nhượng quyền thương mại từ Khu chế xuất, Khu phi thuế quan hoặc các khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam vào lãnh thổ Việt Nam; b) Nhượng quyền thương mại từ Việt Nam ra nước ngoài, bao gồm cả hoạt động nhượng quyền thương mại từ lãnh thổ Việt Nam vào Khu chế xuất, Khu phi thuế quan hoặc các khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam. 2. Sở Thương mại, Sở Thương mại Du lịch tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thương nhân dự kiến nhượng quyền đăng ký kinh doanh thực hiện đăng ký đối với hoạt động nhượng quyền thương mại trong nước trừ hoạt động chuyển giao qua ranh giới Khu chế xuất, Khu phi thuế quan hoặc các khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam” (Điều 18) Bên cạnh đó từ Điều 24 đến Điều 26 của Nghị định đã đưa ra vấn đề vi phạm pháp luật trong nhượng quyền thương mại và thẩm quyền xử lý trong đó liệt kê 9 hành vi vi phạm là: “a) Kinh doanh nhượng quyền thương mại khi chưa đủ điều kiện quy định; b) Nhượng quyền thương mại đối với những hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh; c) Vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin trong hoạt động nhượng quyền thương mại quy định tại Nghị định này; d) Thông tin trong bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại có nội dung không trung thực; đ) Vi phạm quy định về đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại; e) Vi phạm quy định về thông báo trong hoạt động nhượng quyền thương mại; g) Không nộp thuế theo quy định của pháp luật mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; h) Không chấp hành các yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi tiến hành kiểm tra, thanh tra; i) Vi phạm các quy định khác của Nghị định này” Nghị định cũng quy định về thủ tục đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại và được cụ thể hóa trong Thông tư 09/2006/TT_BTM. Theo đó thương nhân dự kiến nhượng quyền thương mại phải lập hố sơ đề nghị nhượng quyền thương mại bao gồm: a) Đơn đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại theo mẫu b) Bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại theo mẫu c) Bản sao có công chứng Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đầu tư trong trường hợp nhượng quyền thương mại từ Việt Nam ra nước ngoài; bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đương của thương nhân nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền nơi thương nhân nước ngoài thành lập xác nhận trong trường hợp nhượng quyền thương mại từ nước ngoài vào Việt nam; d) Bản sao có công chứng văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam hoặc tại nước ngoài trong trường hợp có chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp đã được cấp văn bằng bảo hộ; đ) Giấy tờ chứng minh sự chấp thuận về việc cho phép nhượng quyền lại của bên nhượng quyền ban đầu trong trường hợp thương nhân đăng ký hoạt động nhượng quyền là bên nhượng quyền thứ cấp; Nếu các giấy tờ nói trên được thể hiện bằng tiếng nước ngoài thì phải được dịch ra tiếng Việt và được công chứng bởi cơ quan công chứng trong nước hoặc phải được cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài chứng nhận và thực hiện việc hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam. Sau khi lập xong hồ sơ đề nghị đăng ký nhượng quyền thương mại, thương nhân dự kiến nhượng quyền thương mại phải gửi hồ sơ đố đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ khi nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm qưuyền nói trên thực hiện đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại vào Sổ đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mạivà thông báo bằng văn bản cho thương nhân về việc đăng ký đó. Trong trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ hoặc chưa hợp lệ, trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải có văn bản thông báo để bên dự kiến nhượng quyền thương mại bổ sung hoàn chỉnh hồ sơ. Sau khi hết thời hạn nói trên mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ chối việc đăng ký thì phải thông báo bằng văn bản cho bên dự kiến nhượng quyền và nêu rõ lý do. Một điểm quan trọng trong Nghị định là quy định cụ thể về hợp đồng nhượng quyền thương mại. Theo đó hợp đồng phải được lập bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tương đương và nội dung của hợp đồng được quy định tại Điều 11 “Trong trường hợp các bên lựa chọn áp dụng luật Việt Nam, hợp đồng nhượng quyền thương mại có thể có các nội dung chủ yếu sau đây: 1. Nội dung của quyền thương mại. 2. Quyền, nghĩa vụ của Bên nhượng quyền. 3. Quyền, nghĩa vụ của Bên nhận quyền. 4. Giá cả, phí nhượng quyền định kỳ và phương thức thanh toán. 5. Thời hạn hiệu lực của hợp đồng. 6. Gia hạn, chấm dứt hợp đồng và giải quyết tranh chấp.” Thời hạn của hợp đồng do các bên thỏa thuận,hết thời hạn các bên có thể thỏa thuận gia hạn hợp đồng. Đồng thời các bên cũng có thể thỏa thuận chấm dứt hợp đông trước thời hạn hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng như quy định tại Điều 16 “1. Bên nhận quyền có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại trong trường hợp Bên nhượng quyền vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 287 của Luật Thương mại. 2. Bên nhượng quyền có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại trong các trường hợp sau đây: a) Bên nhận quyền không còn Giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đương mà theo quy định của pháp luật Bên nhận quyền phải có để tiến hành công việc kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại. b) Bên nhận quyền bị giải thể hoặc bị phá sản theo quy định của pháp luật Việt Nam. c) Bên nhận quyền vi phạm pháp luật nghiêm trọng có khả năng gây thiệt hại lớn cho uy tín của hệ thống nhượng quyền thương mại. d) Bên nhận quyền không khắc phục những vi phạm không cơ bản trong hợp đồng nhượng quyền thương mại trong một thời gian hợp lý, mặc dù đã nhận được thông báo bằng văn bản yêu cầu khắc phục vi phạm đó từ Bên nhượng quyền” 2. Quy định pháp luật về nhượng quyền thương mại trong các văn bản khác -Trong Bộ luật dân sự do tính chất là một bộ luật gốc quy định tất cả các quan hệ về tài sản và nhân thân trong đời sống kinh tế xã hội, trong đó có quan hệ nhượng quyền thương mại. Bởi lẽ, “quyền thương mại” thực chất là một loại tài sản đặc biệt của thương nhân và việc “nhượng quyền thương mại” thực chất chỉ là việc cho thuê tài sản đặc biệt này thôi. -Đối tượng của nhượng quyền thương mại thường chứa đựng cả các đối tượng của sở hữu công nghiệp được chuyển giao kèm theo như tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền… Nếu đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại được chuyển giao bao gồm cả chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp thì phần chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp trong hợp đồng nhượng quyền thương mại chịu sự điều chỉnh của pháp luật về sở hữu công nghiệp tức sẽ có sự điều chỉnh của Luật sở hữu trí tuệ và Luật chuyển giao công nghệ. -Trong hoạt động nhượng quyền thương mại các bên thường có thỏa thuận về các nội dung nhằm duy trì tính đồng nhất và thống nhất của hệ thống nhượng quyền, về vấn đề phân chia thị trường, ấn định giá bán sản phẩm… những thỏa thuận đố đều có thể dẫn tới việc gây hạn chế cạnh tranh và điều này có thể rơi vào “tầm ngắm” của pháp luật về cạnh tranh.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTìm hiểu và đánh giá một số quy định của pháp luật về nhượng quyền thương mạiThực tiễn áp dụng ở Việt Nam - phương hướng hoàn thiện.doc
Luận văn liên quan