Tìm hiểu việc tham gia bán hàng đa cấp của sinh viên

MỤC LỤC I.PHẦN MỞ ĐẦU . 2 1.Lý do chọn đề tài . 2 2.Mục đích . 2 3.Nhiệm vụ . 2 4.Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu . 3 5.Phương pháp nghiên cứu . 3 6.Tổng quan tình hình nghiên cứu 3 7.Tính mới và giá trị thực tiễn của đề tài . II.NỘI DUNG . A.TỔNG QUAN VỀ KINH DOANH THEO MẠNG . 1. Định nghĩa về kinh doanh theo mạng 5 2. Lịch sử hình thành và phát triển . 6 3.Các mô hình của kinh doanh đa cấp 8 4.Đặc điểm khác biệt của hình thức phân phối KDTM so với hình thức phân phối truyền thống . 11 5.Những ưu điểm của hình thức KDTM 11 6.Phân biệt mô hình KDTM với mô hình tháp ảo 12 B. MLM TẠI VIỆT NAM- TIỀM NĂNG, THỰC TRẠNG THAM GIA KINH DOANH ĐA CẤP TRONG SINH VIÊN VÀ GIẢI PHÁP 1.Quá trình du nhập của hình thức KDTM vào Việt Nam . 2.Luật pháp của nước Việt Nam về bán hàng đa cấp 4.Thực trạng 5.Đề xuất những giải pháp III.KẾT LUẬN

doc32 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 06/09/2013 | Lượt xem: 4451 | Lượt tải: 14download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tìm hiểu việc tham gia bán hàng đa cấp của sinh viên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n tuyển thêm phân phối viên ở dưới quyền của mình.Ở đây, phân phối viên cấp 1 quản lý tách nhóm và tuyển được hai phân phối viên khác ở dưới tầng 2 và mỗi phân phối viên này được tuyển thêm 3 phân phối viên khác.Tương tự như vậy, ở tầng 3,phân phối viên quản lý cấp 2 tách nhóm cũng đã tuyển được ba phân phối viên khác và mỗi phân phối viên này thì cũng tuyển được ba phân phối viên khác ở tầng dưới của mình. Sơ đồ: Phân phối viên lãnh đạo Pp viên quản lý cấp 1 đã tách nhóm Pp viên quản lý cấp 2 đã tách nhóm Ngoài hệ thống thế hệ, mô hình bậc thang thoát kinh tế còn tạo ra một hệ thống cấp bậc.Ở mỗi cấp bậc, nhà phân phối được hưởng hoa hồng cá nhân khác nhau,và hoa hồng đội nhóm cũng khác nhau tùy vào cấp bậc của nhà phân phối tuyến dưới.Vì thế, mô hình cho phép nhà phân phối hưởng không giới hạn thế hệ mà vẫn đảm bảo được tính công bằng.Đặc trưng của mô hình bậc thang thoát kinh tế là quản lý theo hệ thống cấp bậc,tức là (%) hoa hồng sẽ được phân chia theo hệ thống cấp bậc. Mỗi cấp bậc sẽ có mức hoa hồng riêng và hoa hồng khối lượng (giá trị thặng dư) sẽ được tính trên số dư từ % hoa hồng cao trừ đi % hoa hồng thấp hơn. Như vậy hệ thống luôn đảm bảo rằng nó tồn tại và công bằng.Khi các nhà phân phối trong mạng lưới tầng dưới của bạn đạt được trạng thái vượt cấp nhất định thì họ sẽ bứt ra khỏi nhóm cũ.Khi đó bạn sẽ không được nhận hoa hồng từ họ hay mạng lưới dưới của họ nữa.Tuy nhiên bạn vẫn sẽ nhận được một khoản lợi tức hoa hồng nhỏ từ khối lượng của nhóm các nhà phân phối đã tách ra và từ mạng lưới của họ. Mô hình nhị phân Mô hình này cho phép mỗi phân phối viên chỉ được tuyển thêm hai phân phối viên ở tầng 1, và bắt buộc hai nhánh của mình phải phát triển đồng đều ( nếu không thự hiện được điều này thì nhà phân phối sẽ không được chi trả hoa hồng hoặc chỉ được hưởng ở nhánh yếu hơn). Và mỗi phân phối viên ở tầng 1 chỉ được phép tuyển thêm 2 phân phối viên ở tầng 2.và tương tự như vậy mỗi phân phối viên ở tầng dưới được phép tuyển hai phân phối viên ở tần khác. Sơ đồ Phân phối viên Mô hình nhị phân này không giới hạn chiều sâu của mạng lưới và cho phép phân phối viên hưởng hoa hồng gián tiếp từ doanh số của tất cả các thành viên trong mạng lưới phía dưới của mình. Mô hình ma trận Mô hình này được nâng cấp từ mô hình nhị phân, nhà phân phối sẽ được tuyển nhiều hơn hai người.Tùy theo chính sách quy định, sơ đò hạn chế độ lớn và số người trong mức một của bạn.Giới hạn cách tổ chức mạng lưới của phân phối viên. Sơ đồ mô hình ma trận 3 nhân 3 Nhìn vào sơ đồ: phân phối viên đầu tiên được tuyển ba phân phối viên ở tầng 1.Sau đó mỗi phân phối viên ở tầng một chỉ được phép tuyển ba phân phối viên ở tầng 2.Và mỗi phân phối viên ở tầng 2 cũng chỉ được phép tuyển cho mình ba phân phối viên ở tầng 3.và mô hình này kết thúc ở đây tức là chỉ dừng lại ở thành quả của ba tầng phân phối viên ở dưới họ mà thôi. Theo mô hình, chỉ cho phép phân phối viên được đỡ đầu ba người ở tầng 1.Và phân phối viên được hưởng thù lao từ thành quả công việc của 3 tầng phân phối viên ở dưới họ. Đặc điểm khác biệt của hình thức KDTM so với phương thức phân phối truyền thống Lưu thông hàng hóa theo phương thức thông thường : hàng hóa được lưu chuyển qua các kênh phân phối trước khi tới tay người tiêu dùng chẳng hạn : từ nhà sản xuất đến các đại lý đến các người bán lẻ rồi sau đó tới người tiêu dùng. Những ưu điểm nổi bật của MLM Với hình thức KDTM: hàng hóa được chuyển trực tiếp tới tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua những nhà phân phối nằm trong cùng một mạng lưới kinh doanh. 5. Những ưu điểm của hình thức KDTM 5.1 Đối với người tiêu dùng Có nhiều lựa chọn và cơ hội được sử dụng hàng hóa chất lượng cao với giá cả phải chăng.Hàng hóa được chuyển trực tiếp từ nhà sản xuất tới nhà phân phối nên tránh được hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng.Ngoài ra , do tiết kiệm được chi phí trả cho các khâu trung gian, tiết kiệm chi phí cho việc quảng cáo, khuyến mãi nên giá cả thấp hơn. Có được quyền kinh doanh các sản phẩm chất lượng cao ( kinh doanh theo truyền thống người tiêu dùng không thể tham gia được, chỉ có các công ty tên tuổi mới có được quyền này). 5.2 Đối với xã hội Huy động được sức lao động và nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân đồng thời giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động (đặc biệt là những người từ tuổi 45 trở lên)… Kích thích tiêu dùng, tăng thị phần kinh doanh,góp phần nâng cao thu nhập, mặt bằng sống, cải thiện chất lượng cuộc sống. Phát huy tinh thần đoàn kết, tinh thần đồng đội hỗ trợ, giúp đỡ nhau cùng vươn tới thành công. Tăng khoản thu cho ngân sách nhà nước, tăng phúc lợi xã hội 5.3 Đối với doanh nghiệp phân phối hàng hóa theo hình thức KDTM Loại bỏ các khâu trung gian, tiết kiệm tối đa chi phí trong quá trình lưu thông phân phối hàng hóa, chi phí cho bộ máy hành chính, giảm thiểu chi phí quảng cáo. Tạo ra một mạng lưới người tiêu dùng trung thành, một hệ thống phân phối hàng hóa khổng lồ rộng khắp mọ nơi trên thế giới một cách nhanh chóng (vì phát triển theo cấp số nhân).Nhiều công ty KDTM vẫn có khả năng có được tốc độ tăng trưởng cao trong khủng hoảng kinh tế. 5.4 Đối với thành viên tham gia mạng lưới KDTM Các thành viên có thể coi đây là một công việc bán thời gian, ngoài giờ làm việc hành chính bên ngoài nên có thể dành thời gian rảnh để làm việc.Nếu các thành viên thật sự nỗ lực và có cách làm việc hiệu quả thì hoàn toàn có thể có được nguồn thu nhập làm thêm nhưng không hề nhỏ chút nào. Được quyền lựa chọn đối tác, lựa chọn đồng nghiệp. Hoàn toàn tự do, tự chủ trong công việc về thời gian, địa điểm, khối lượng công việc. Thành công không phụ thuộc vào giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn và công việc trước đó. Có cơ hội phát triển cá nhân, vận dụng khả năng sáng tạo và không cần nhiều vốn ban đầu, không phải mạo hiểm về tài chính hay bị ảnh hưởng từ các nhân tố bên ngoài. 6.Phân biệt KDTM với mô hình tháp ảo Điểm giống nhau: Cả hai đều sử dụng sức mạnh cảu cấp số nhân: mạng lưới càng về sau càng rộng ra.Cả hai đều có dòng tiền từ dưới lên và dòng giá trị khác từ trên xuống. Điểm khác nhau Kinh doanh theo mạng Mô hình tháp ảo Dòng giá trị đi xuống là sản phẩm hoặc dịch vụ có chất lượng cao, mang lại giá trị đích thực tương xứng với đồng tiền bỏ ra Dòng giá trị đi xuống chỉ có giá trị tạm thời trong mạng lưới vì được luân chuyển tử trên xuống dưới hoặc sản phẩm không có giá trị gì. Đóng lệ phí nhỏ nhưng được công ty trang bị cho tài liệu, dụng cụ làm việc, sản phẩm mẫu… Ngay từ khi gia nhập phải mua một số lượng hàng hóa mà chưa biết có khả năng bán lại được hay không.Hoặc phải đóng lệ phí gia nhập quá cao so với những gì nhận được khi đăng kí. Hàng hóa mua lúc đầu nếu đem bán ra thị trường mà bán được với mức giá thấp hơn giá mua sỉ ở công ty Phải bỏ tiền ra để mua một sản phẩm được quảng cáo với giá trên trời, nhưng giá trị thật của sản phẩm lại thấp và không được bảo đảm và hàng hóa không thể đem bán ra thị trường Người tham gia mạng lưới chỉ đơn thuần với mục đích sử dụng sản phẩm Người tham gia mạng lưới không với mục đích sử dụng thật sự mà chỉ với mục đích hưởng hoa hồng Công ty mua lại sản phẩm khi nhà phân phối không bán được hàng Công ty không mua lại sản phẩm khi nhà phân phối không bán được hàng Hàng hóa được bán đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng lúc người tiêu dùng bỏ tiền ra để mua sản phẩm Hàng hóa chỉ quanh quẩn trong nội bộ các nhà phân phối mà không lưu thông đến tay người tiêu dùng thật sự.Người ở tầng trên được nhận hoa hồng nhờ việc người ở tầng dưới giữ hàng. Đảm bảo tính dân chủ : người vào sau vẫn có khả năng nhận được mức hoa hồng cao hơn người vào trước khi họ nỗ lực làm việc, mở rộng mạng lưới. Không đảm bảo tính dân chủ trong doanh nghiệp: người vào trước mời gọi người khác tham gia, khi mạng lưới phát triển ra thì họ không cần làm gì cả nhưng hàng tháng vẫn được nhận hoa hồng Trong công ty được huấn luyện, nói về luân lý, đạo đức kinh doanh, nhân cách, ý chí Đưa ra những lời hứa hẹn làm giàu nhanh chóng và dễ dàng. B. MLM TẠI VIỆT NAM- TIỀM NĂNG, THỰC TRẠNG THAM GIA KINH DOANH ĐA CẤP TRONG SINH VIÊN VÀ GIẢI PHÁP. 1. Quá trình du nhập của hình thức KDTM vào Việt Nam Từ những năm 1998-1999, KDTM bắt đầu du nhập vào Việt Nam và đạt được doanh thu cao trong hai, ba năm đầu với tốc độ tăng trưởng 20-30%.Đầu tiên Bán hàng đa cấp xuất hiện ở TP.Hồ Chí Minh năm 1998, do một nhóm người từ Đài Loan sang liên doanh với Công ty Incomex.KDTM phát triển quá mạnh mẽ khiến cho lợi nhuận quảng cáo của các báo đài,truyền hình có thể bị ảnh hưởng, cộng thêm nhiều công ty lừa đảo núp bóng kinh doanh đa cấp và một bộ phận không nhỏ nhà phân phối sai trái đã làm cho dư luận bắt đầu lên tiếng phản đối KDTM. Đến cuối năm 2004, tại Việt Nam có khoảng 20 công ty KDTM phân phối sản phẩm chủ yếu về ngành chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp. 1/7/2005 ,luật cạnh tranh có hiệu lực thi hành trong đó có những điều khoản quy định về KDTM 24/8/2005 nghị định 110/2005/NĐ-CP về kinh doanh đa cấp của thủ tướng chính phủ được ban hành đã tạo ra một hành lang pháp lý để bảo vệ các công ty và nhà phân phối chân chính 8/11/2005 , Bộ thương mại ban hành thông tư hướng dẫn một số nội dung tại nghị định 110/2005/NĐ-CP về quản lý bán hàng đa câp Năm 2009,hiệp hội bán hàng đa câp của Việt Nam được thành lập và bổ nhiệm bà Trương Thị Nhi ( giám đốc công ty TNHH Lô Hội, nhà đại diện tại Việt Nam của tập đoàn Forever Living Products Hoa Kỳ) là chủ tịch nhiệm kỳ 2009-2014. Ngày 31/3/2010 , Hiệp hội bán hàng đa cấp tại Việt Nam, MLMA chính thức ra mắt tại Hà Nội Luật pháp của nước Việt Nam về bán hàng đa cấp Dưới đây chỉ là một vài phần điển hình mà nhóm nêu ra từ trong Luật cạnh tranh và nghị định 110/2005/NĐ-CP của chính phủ Theo khoản 11 Điều 13 luật cạnh tranh thì bán hàng đa cấp là một hình thức tiếp thị bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện sau đây Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp gồm nhiều cấp,nhiều nhánh khác nhau. Hàng hóa được người tham gia bán hàng đa cấp tiếp thị trực tiếp cho người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa điểm khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc người tham gia. Người tham gia bán hàng đa cấp được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia bán hàng đa cấp cấp dưới trong mạng lưới cảu mình tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận. Theo điều 48 chương 3 luật cạnh tranh về bán hàng đa cấp bất chính có quy định cấm các doanh nghiệp có những hành vi sau đây nhằm thu lợi bất chính từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hóa ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp. Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại. Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp Cung cấp thông tin gian dối về việc lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham gia. Những hành vi bị cấm của doanh nghiệp bán hàng đa cấp Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp. Yêu cầu người muốn tham gia phải mua một số lượng hàng hóa ban đầu để được quyền tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp. Yêu cầu người muốn tham gia phải trả tiền hoặc trả bất kì khoản phí nào dưới hình thức khóa học, hội thảo, hoạt động xã hội hay các hoạt động tương tự khác để được quyền thamgia vào mạng lưới bán hàng đa cấp, trừ tiền mua tài liệu… Không cam kết cho người tham gia trả lại hàng hóa và nhận lại khoản tiền đã chuyển cho doanh nghiệp Cản trở người tham gia trả lại hàng hóa phát sinh từ việc chấm dứt hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp. Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác từ việc dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp. Từ chối chi trả không có lý do chính đáng các khoản tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác mà người tham gia có quyền hưởng. Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp. Cung cấp thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp. Điều kiện cấp giấy đăng kí tổ chức bán hàng đa cấp: Khi doanh nghiệp hội đủ những điều kiện sau đây Đã thực hiện kí quỹ theo quy định Kinh doanh hàng hóa phù hợp với nghành nghề ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp. Có đủ điều kiện kinh doanh hoặc được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật trong trường hợp kinh doanh hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa kinh doanh có điều kiện. Có chương trình bán hàng minh bạch và không trái pháp luật. Có chương trình đào tạo người tham gia rõ ràng. Hàng hóa được kinh doanh trong bán hàng đa cấp Tất cả hàng hóa đều được kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp ngoại trừ những trường hợp sau đây: Thứ nhất:hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa cấm lưu thông,Danh mục hàng hóa hạn chế kinh doanh,hàng nhập lậu theo quy định của pháp luật. Thứ hai:hàng hóa lá thuốc phòng chữa bệnh cho con người,các loại vắcxin, sinh phẩm; trang thiết bị y tế và dụng cụ y tế: các loại thuốc thú y ( bao gồm cả thuốc thú y thủy sản) ; thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn trong lĩnh vực gia dụng và y tế; nguyên liệu làm thuốc chữa bệnh; các loại hóa chất độc hại và sản phẩm có hóa chất độc hại theo quy định của pháp luật. Hàng hóa được kinh doanh đa cấp phải đáp ứng các điều kiện Đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật. Đảm bảo rõ ràng, hợp pháp về ngồn gốc, xuất xứ, tính năng, công dụng của hàng hóa. Có nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật. Tiềm năng phát triển của ngành KDTM ở Việt Nam. Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào với dân số cả nước gần 86 triệu người (Tính đến ngày ngày 1/4/2009, dân số của Việt Nam: 85.789.573 người), là nước đông dân thứ 13 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á. Trong đó số người trong độ tuổi lao động tăng nhanh và chiếm một tỉ lệ cao khoảng 67% dân số cả nước. Cơ cấu Dân số vàng ở nước ta bắt đầu đầu xuất hiện từ năm 2010 và kết thúc vào năm 2040, kéo dài trong khoảng 30 năm. Rõ ràng Việt Nam đang có thế mạnh lớn về nguồn lực lao động. Trong gần 86 triệu người ở Việt Nam thì nông dân chiếm gần khoảng 73% dân số cả nước. Điều này cho thấy nông dân vẫn là lực lượng lao động xã hội chiếm tỉ lệ cao nhất Về nguồn nhân lực công nhân thì hiện nay số lượng giai cấp công nhân Việt Nam có khoảng 5 triệu người, chiếm 6% dân số cả nước. Tỷ lệ công nhân có tay nghề cao lại chiếm tỷ lệ thấp so với đội  ngũ công nhân nói chung. Số công nhân có trình độ văn hóa, tay nghề, kĩ thuật rất ít. Theo thống kê công nhân có trình độ cao đẳng, đại học ở nước ta chiếm khoảng 3,3% đội ngũ công nhân nói chung. Chính vì trình độ văn hoá tay nghề thấp nên đa số công nhân không đáp ứng tốt yêu cầu công việc. Điều này dẫn đến sự mất cân đối về lao động ở các doanh nghiệp. Doanh nghiệp không thiếu người nhưng lại thiếu những công nhân có tay nghề để đảm bảo những khâu kĩ thuật quan trọng trong dây chuyền sản xuất.Vậy nên có một lượng lao động nhàn rỗi trong xã hội và có thể tham gia bán hàng đa cấp, vì nghành kinh doanh này không đòi hỏi trình độ cao. Việt Nam những năm gần đây đội ngũ trí thức tăng nhanh, chỉ tính riêng số sinh viên cũng đã cho thấy sự tăng nhanh vượt bậc. Năm 2003-2004 tổng số sinh viên đại học và cao đẳng là 1.131.030 sinh viên đến năm 2007- 2008 tăng lên 1.603.484 sinh viên. Năm 2008 nước ta có 275 trường Trung cấp chuyên nghiệp, 209 trường cao đẳng, 160 trường Đại học và có tới 27.900 trường phổ thông, 226 trường dân tộc nội trú. Nhìn vào những con số này cho thấy lực lượng trí thức và công chức thực sự là một nguồn lực quan trọng đối với sự phát triển kinh tế đất nước. Nhưng thực tế vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề. Hàng năm lượng sinh viên ra trường lớn nhưng số sinh viên có việc làm lại ít. Theo thống kê có đến 63% sinh viên ra trường không có việc làm, số có việc làm thì cũng có người làm việc không đúng ngành được học.Đây cũng là một thị trường lao động đầy tiềm năng để giúp phát triển ngành KDTM. Thực trạng 4.1 Tổng quan về việc tham gia bán hàng đa cấp trong sinh viên đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh qua khảo sát của nhóm Trong tổng số 130 phiếu khảo sát thì có 30 bạn tham gia bán hàng đa cấp và làm chủ yếu cho công ty Hưng Thời Đại, Lô Hội, Avon, Oriflame.Trong đó có khảo sát về các yếu tố liên quan tới việc tham gia vào các công ty này.Nhìn chung thì các yếu tố đều được đánh giá cao và thu được những kết quả cụ thể như sau: Thứ nhất: 21/30 bạn hài lòng với phong cách làm việc ở các công ty mình đang tham gia chiếm tỉ lệ 70% Bảng 1.1 PHONG CÁCH LÀM VIỆC Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid it hai long 3 10.0 10.0 10.0 binh thuong 6 20.0 20.0 30.0 hai long 13 43.3 43.3 73.3 rat hai long 8 26.7 26.7 100.0 Total 30 100.0 100.0 Thứ hai Khi đánh giá về chất lượng sản phẩm của công ty mà các bạn đang tham gia, có 22/30 bạn đánh giá ở mức hài lòng trên mức hài lòng. Bảng 1.2 CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM CÔNG TY Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid binh thuong 8 26.7 26.7 26.7 Hai long 13 43.3 43.3 70.0 Rat hai long 9 30.0 30.0 100.0 Total 30 100.0 100.0 Thứ 3 Có 24/30 đánh giá ở mức độ hài lòng và trên hài lòng đối với những khóa học kỹ năng mà các công ty KDTM cung cấp khi các bạn tham gia làm việc cho công ty. Bảng 1.3 KHÓA HỌC KĨ NĂNG Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid binh thuong 6 20.0 20.0 20.0 Hai long 16 53.3 53.3 73.3 Rat hai long 8 26.7 26.7 100.0 Total 30 100.0 100.0 Thứ 4 21/30 bạn đánh giá về hình thức trả hoa hồng của các công ty KDTM ở mức độ hài lòng và trên hài lòng. Bảng 1.4 HÌNH THỨC HOA HỒNG Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid khong hai long 1 3.3 3.3 3.3 it hai long 2 6.7 6.7 10.0 Binh thuong 6 20.0 20.0 30.0 hai long 9 30.0 30.0 60.0 Rat hai long 12 40.0 40.0 100.0 Total 30 100.0 100.0 Thứ 5 Có 16/30 bạn đánh giá về các hình thưc ưu đãi của công ty ở mức rất hài lòng và trên hài hòng. Bảng 1.5 ƯU ĐÃI CÔNG TY Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid It hai long 3 10.0 10.0 10.0 binh thuong 11 36.7 36.7 46.7 Hai long 4 13.3 13.3 60.0 Rat hai long 12 40.0 40.0 100.0 Total 30 100.0 100.0 Thứ 6 Về kết quả học tập khi tham gia vào bán hàng đa cấp.23/30 bạn có kết quả học tập ở mức trung bình tới khá.Số lượng đạt kết quả giỏi rất thấp 6/30 bạn. Bảng 1.6 ĐIỂM TRUNG BÌNH HỌC KÌ Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Duoi 6,0 1 3.3 3.3 3.3 6,0 den duoi 7,0 17 56.7 56.7 60.0 Tu 7,0 den duoi 8,0 6 20.0 20.0 80.0 Từ 8,0 trở lên 6 20.0 20.0 100.0 Total 30 100.0 100.0 Từ kết quả trên có thể thấy sinh viên tham gia bán hàng đa cấp vẫn có thể học tập bình thường, tuy nhiên kết quả học tập không được cao (chiếm 60%). Qua phỏng vấn một số sinh viên có kết quả học tập cao (mà đang tham gia bán hàng đa cấp) thì các bạn đều giành thời gian không quá nhiều cho bán hàng đa cấp, chỉ khoảng 3 buổi/Tuần và làm việc trong thời gian rảnh rỗi là nhiều, khoản thu nhập không lớn nhưng trang trải được một phần nào đó chi phí cho bản thân. Mối tương quan về việc không tham gia bán hàng đa cấp và việc tìm hiểu về ngành nghề kinh doanh này. Thứ nhất Qua khảo sát thì nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến quyết định không tham gia là do ảnh hưởng của dư luận(48%),tiếp theo là không phù hợp(38%), tiếp theo là do tập trung vào việc học (25%) Bảng 1.7 Mối tương quan về việc không tham gia bán hàng đa cấp và việc tìm hiểu về ngành nghề kinh doanh này. Nguyen nhan khong tham gia ban hang da cap anh huong cua du luan khong co dieu kien tham gia khong thich hop tap trung vao viec hoc Count Row N % Count Row N % Count Row N % Count Row N % nganh Tai chinh- tien te- tin dung 7 38.9% 1 5.6% 5 27.8% 5 27.8% quan tri kinh doanh – maketing 7 36.8% 1 5.3% 8 42.1% 3 15.8% Khoa hoc xa hoi 8 50.0% 3 18.8% 4 25.0% 1 6.2% Nhan van 9 45.0% 1 5.0% 6 30.0% 4 20.0% khoa hoc tu nhien 5 33.3% 1 6.7% 5 33.3% 4 26.7% Luat 1 12.5% 0 .0% 2 25.0% 5 62.5% Khac 11 42.3% 4 15.4% 8 30.8% 3 11.5% Total 48 39.3% 11 9.0% 38 31.1% 25 20.5% Nhận xét: Đa số sinh viên không tham gia bán hàng đa cấp vì dư luận và cảm thấy không thích hợp ( chiếm tỉ lệ 69,4%). Qua tìm hiểu thì nhóm có rút ra ý sau : Các sinh viên Luật thường thì biết rõ về hình thức kinh doanh bán hàng đa cấp thông qua Luật Cạnh Tranh và cảm thấy không an toàn nên rất ít tham gia, tập trung vào việc học là chủ yếu (62,5%) Thứ 2 Bảng 1.8 VIỆC TÌM HIỂU BÁN HÀNG ĐA CẤP CỦA CÁC KHỐI NGÀNH tim hieu ve ban hang da cap co biet va da tim hieu chi biet va khong tim hieu Total Count Row N % Count Row N % Count Row N % truong Khoi Kinh te 22 42.3% 30 57.7% 52 100.0% Khoi Xa hoi nhan van 9 25.7% 26 74.3% 35 100.0% Khoi Phap ly 3 60.0% 2 40.0% 5 100.0% Khoi Khoa hoc tu nhien 9 42.9% 12 57.1% 21 100.0% Khoi nganh khac 7 41.2% 10 58.8% 17 100.0% Dựa vào Bảng 1.8 ta có thể thấy khối XH-NV chiếm tỉ lê cao nhất về chỉ biết mà không tìm hiểu bán hàng đa cấp ( Chiếm 74,3%) Còn lại tỉ lệ giữa tìm hiểu và không tìm hiểu đang sàn sàn ngang nhau, không chênh lệch cao.Chứng tỏ hiểu biết của sinh viên ĐHQG TP.HCM về bán hàng đa cấp cũng chưa nhiều. Thứ 3 Bảng 1.9 MỨC ĐỘ BIẾT VÀ TÌM HIỂU Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Khong hieu lam 33 25.4 25.4 25.4 binh thuong 62 47.7 47.7 73.1 hieu ro 27 20.8 20.8 93.8 Hieu rat ro va can ke 8 6.2 6.2 100.0 Total 130 100.0 100.0 Với mẫu 130 sinh viên, thì mức độ tìm hiểu đã thống kê được còn thấp (Chiếm 73,1%) Điều này hợp lí với bảng số liệu 1.8 Thứ 4 Bảng 1.10 NGUỒN TÌM HIỂU VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Internet- tap chi- thoi su 44 33.8 33.8 33.8 nguoi than, ban be 63 48.5 48.5 82.3 thanh vien cong ty ban hang da cap 16 12.3 12.3 94.6 Khac 7 5.4 5.4 100.0 Total 130 100.0 100.0 Nhận xét: Các thông số ở bản trên cho thấy những kì thị của xã hội đối với loại hình này còn rất cao,chiếm tới 86 %(ảnh hưởng dư luận và không phù hợp).Nguyên nhân là do ảnh hưởng của những bê bối của các công ty bán hàng đa cấp trong thời kì đầu xâm nhập vào Việt Nam,chưa có hành lang pháp lí kĩ lưỡng nên xã hội,đặc biệt là các bạn sinh viên luôn có cái nhìn khắt khe đối mới hình thức này dù mức độ hiểu biết của các bạn còn rất thấp về loại hình này(73,1 % là không hiểu lắm và hiểu bình thường).Chứng tỏ các bạn chưa có sự tham gia,tìm tòi loại hình này mà chủ yếu qua người thân,bạn bè và các thành viên bán hàng đa cấp là các kiến thức phiến diện,chủ quan,mang bản chất cá nhân rất lớn,vì thế kì thị của xã hội với loại hình này luôn là rất cao. Vì thế,để thay đổi quan niệm của xã hội về loại hình này thì việc khuyến khích tìm tòi cũng như tìm hiểu tài liệu chính xác của các bạn sinh viên là rất quan trọng ! Ngoài những số liệu trên, nhóm thực hiện phỏng vấn sâu nhiều bạn sinh viên.Qua tìm hiểu 30 bạn sinh viên cho thấy, mức hoa hồng của các bạn phụ thuộc rất nhiều vào độ tích cực của các bạn trong công việc và nhóm của mình. Đối với những bạn sinh viên tham gia dưới 3 đến 4 buổi /1 tuần thì mức hoa hồng cũng chỉ khoảng dưới 1 triệu. Đối với những sinh viên tham gia và duy trì lâu dài mật độ công việc 3-5 h/1 ngày thì mức hoa hồng được trả cao hơn. Khi tham gia bán hàng đa cấp, các bạn sinh viên cũng đánh đổi rất nhiều. Quan hệ bạn bè bị thu hẹp thay vào đó là quan hệ nhóm bán hàng được tăng lên, gắn bó hơn 4.2 Đặc trưng cơ bản về cách thức hoạt động, tổ chức và quản lý của MLM tại Việt Nam. Đặc trưng cơ bản của các công ty bán hàng đa cấp ở Việt Nam là hệ thống phân phối theo cấp bậc Hầu hết,các công ty tiêu thụ sẽ thiết lập một mạng lưới thành viên tham gia và các thành viên hoạt động dựa trên phần thù lao (hoa hồng) mà công ty trả cho họ nếu giới thiệu thêm được thành viên mới, hoặc bán được hàng. Chẳng hạn, nếu một người nào đó là thành viên (tầng 1) của công ty, và bán được sản phẩm thì sẽ được hưởng thù lao trực tiếp, còn nếu không bán được hàng thì có thể giới thiệu thêm người thứ 2 tham gia vào mạng lưới (tầng 2) và hưởng thù lao gián tiếp. Và cứ thế, nếu giới thiệu được càng nhiều người tham gia thì mức thù lao tích lũy càng lớn. Các công ty bán hàng đa cấp Việt Nam không có các hệ thống nhà máy sản xuất mà chủ yếu là tiến hành nhập khẩu sản phẩm đặc biệt từ nước ngoài,do đó,yếu tố về giá là không khách quan,là một yếu tố ảnh hưởng tới định kiến xã hội. Hình thức bán hàng của các công ty MLM chủ yếu dựa trên sự lan truyền của các thành viên đăng kí của công ty chứ không thông qua đại lý như kiểu bán hàng truyền thống(hầu hết sản phẩm tiêu dùng tập trung ở các thành phố lớn. Kênh bán lẻ được hình thành thông qua một mạng lưới vô cùng phức tạp, chủ yếu là các cửa hàng bán đồ trong khu vực dân cư, các gian hàng trong chợ, và các cửa hàng ven đường, mặc dù kênh phân phối truyền thống này đang thay đổi nhanh theo chiều hướng chuyển thành các cửa hàng đại lý chiết khấu quy mô ). Mô hình MLM của Việt Nam không có sự khác biệt so với bản gốc của nó,mà chỉ khác biệt về hệ thống tiền hoa hồng và cấp bậc khác nhau do từng công ty tự đưa ra. Các công ty này hầu như là công ty trách nhiệm hữu hạn,hệ thống quản lý không rõ ràng nên sẽ xảy ra nguy hiểm cho các thành viên khi công ty phá sản,hay bị truy tố . Về sản phẩm Công ty Sản phẩm TNHH-SX Hưng Thời Đại Máy móc, trang sức, phụ trang, dụng cụ.Xuất xứ Trung Quốc TNHH Lô Hội Thực phẩm chức năng, Mỹ phẩm, Hàng tiêu dùng,. Xuất xứ Hoa Kỳ. TNHH mỹ phẩm Avon Mỹ phẩm. Xuất xứ Philipin TNHH mỹ phẩm Oriflame Mỹ phẩm.Xuất xứ Thụy Điển 4.3 Những đóng góp của MLM đối với nền kinh tế Việt Nam Kết quả hoạt động kinh doanh của 19 doanh nghiệp được Sở Công Thương Hà Nội cấp giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp tính đến hết tháng 12 năm 2008 như sau: Tổng doanh thu của các doanh nghiệp và chi nhánh đạt trên 370 tỷ đồng. Tổng số thành viên tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp trên địa bàn là 56.776 người. Tổng mức thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân nộp vào ngân sách nhà nước đạt trên 58,8 tỷ đồng. Tính đến hết năm 2009, với sự hoạt động của 32 công ty bán hàng đa cấp hiện thu hút gần 700.000 nhà phân phối, mang lại doanh thu hàng năm hơn 2.100 tỷ đồng (tăng 150% so với năm 2008), đóng góp gần 660 tỷ đồng thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân vào ngân sách nhà nước và trên 5 tỉ đồng cho các hoạt động xã hội, từ thiện. “Các sản phẩm được đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp tính đến thời điểm hiện tại khoảng 1.000 mặt hàng, chủ yếu là thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, hàng tiêu dùng đã góp phần làm đa dạng thị trường hàng hóa và phục vụ cho lợi ích người dân” MLMA hiện tại gồm các doanh nghiệp thành viên: Công ty TNHH Thương mại Lô Hội (TPHCM), Công ty CP Kim Đô (TPHCM), Công ty CP Thương mại Merro (TP.Hà Nội), Công ty TNHH SX-TM Hưng Thời Đại (TPHCM), Công ty TNHH TM-DV Vĩnh Nhật Quang (TPHCM), Công ty CP Liên kết Việt Nam – Vinalink Group (TP.Hà Nội), Công ty TNHH Thương mại Bảo Lan Thiên Sư (TPHCM), Công ty CP Quốc tế Tân Đại Trạch (TP.Hà Nội), Công ty CP Quốc tế Việt – Am (TPHCM), Công ty TNHH Thế giới Toàn Mỹ (TPHCM), Công ty TNHH Tân Hy Vọng (TPHCM), Công ty TNHH 1TV Xuất Nhập khẩu VI NALINH, Công ty TNHH Tầm Nhìn Việt Nam (TP.Hà Nội), Công ty CP Liên kết Tri thức (TP.Hà Nội), Công ty TNHH Thiên Ngọc Minh Uy, Công ty TNHH Dược phẩm Điền Thảo Đường, Công ty TNHH Thương mại YAHGO (TP.Hà Nội), Công ty TNHH FFI Việt Nam(TP.Hà Nội). 4.4 Mặt trái và những khuyết tật còn tồn tại trong kinh doanh đa cấp tại Việt Nam Về giá cả Vì những sản phẩm của các công ty KDTM đều là những sản phẩm rất độc đáo, đôi khi độc quyền và không được bán phổ biến rộng rãi trên thị trường nên người tiêu dùng khó có thể so sánh được giá cả của sản phẩm và kiểm soát được tính chân thực trong quảng cáo về sản phẩm của các công ty KDTM.Các phân phối viên trong công ty KDTM có thể vì lợi ích cá nhân, vì muốn lôi kéo càng nhiều người tham gia vào mạng lưới bán hàng của mình chính vì vậy những phân phối viên nói quá, nói sai đi về tính năng và công dụng của hàng hóa. Việc bán hàng đa cấp thường được sử dụng để tiêu thụ các sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài như Hoa Kỳ, Trung Quốc,… là những sản phẩm mà người tiêu dùng Việt Nam chưa từng biết đến trước đó. Điều đó cho thấy, các thông tin về công dụng, về thành phần, về nguồn gốc… của sản phẩm gần như chưa từng được kiểm định trong thói quen sử dụng và trong các kết luận của giới chuyên môn. Thậm chí, có những sản phẩm mà các cơ quan chức năng chưa biết xếp vào loại nào, thực phẩm hay thuốc chữa bệnh, hoặc chưa có một tên gọi thống nhất để có thể nêu rõ được công dụng hoặc tác hại của nó. Về quản lý Kinh doanh đa cấp vào Việt Nam từ năm 1998, nhưng mãi đến năm 2005, Chính phủ mới ban hành Nghị định 110 thừa nhận tính hợp pháp. Nhiều đơn vị tổ chức bán hàng đa cấp, chưa được cấp phép, nhưng hoạt động lén lút, nên cũng không dễ phát hiện. Đối với những đơn vị có phép, cơ quan chức năng cũng vấp phải nhiều khó khăn vì khó phân biệt giữa “vô tình” hay “cố ý” vi phạm. Nhiều công ty làm ăn bất chính đã núp dưới chiêu bài bán hàng đa cấp, lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin của nhiều người , thổi phồng sự thật về lợi ích kinh tế của việc tham gia vào mạng lưới để tuyển càng nhiều tuyến dưới càng tốt, kiếm lợi từ sự gia nhập của người mới và sản phẫm cũng chỉ tiêu thụ quanh quẩn trong mạng lưới những nhà phân phối tham gia. Về doanh nghiệp Các doanh nghiệp bán hàng đa cấp tại Việt Nam hiện nay chỉ là những doanh nghiệp phân phối sản phẩm được sản xuất từ nước ngoài. Nói cách khác, các công ty nước ngoài sản xuất sản phẩm tổ chức mạng lưới đa cấp và thực hiện việc truyền tiêu đa cấp thông qua các công ty trong nước. Thông thường, các công ty trong nước sẽ ký các hợp đồng phân phối độc quyền với công ty nước ngoài, sau đó dưới sự hướng dẫn của chuyên gia nước ngoài do doanh nghiệp sản xuất gửi đến, công ty phân phối của Việt Nam sẽ thiết lập mạng lưới đa cấp và đào tạo đội ngũ người tham gia cũng như thúc đẩy sự vận hành của mạng lưới này. Cách thức tổ chức theo kiểu liên kết như trên đã giúp cho các nhà sản xuất nước ngoài thoát được mọi trách nhiệm về chất lượng sản phẩm khi tiêu thụ cũng như các trách nhiệm khác đối với mạng đa cấp. Các công ty KDTM bất chính thường sử dụng các thủ đoạn tác động đến bản tính hám lợi của người tham gia, thông thường là những khu vực dân cư có đời sống khó khăn, ít thông tin, trình độ dân trí không cao, những tầng lớp dân cư có thời gian nhàn rỗi nhiều, là những đối tượng dễ tác động và có nhiều cơ hội thực hiện việc truyền tiêu bằng biện pháp rỉ tai. Là một quốc gia có tỷ lệ nông nghiệp chiếm đa số trong cơ cấu kinh tế cũng như việc phân bố dân cư, những đối tượng nói trên chủ yếu tập trung ở nông thôn, có thu nhập không cao, đa số còn nghèo. Do đó, hậu quả xảy ra khi có sự bất chính trong bán hàng đa cấp sẽ là rất lớn đối với đời sống kinh tế – xã hội. Về người tham gia: Tính độc lập trong hoạt động của người tham gia đặt ra một vài vấn đề cho việc xác định trách nhiệm. Trong bán hàng đa cấp, người tham gia tiến hành tiếp thị để bán lẻ sản phẩm một cách độc lập. Người tiêu dùng cuối cùng sẽ chỉ biết đến người đã trực tiếp giới thiệu và bán sản phẩm cho họ, là người tham gia. Do đó, việc đổ trách nhiệm qua lại giữa người tham gia và doanh nghiệp bán hàng đa cấp rất dễ xảy ra. Đề xuất những giải pháp 5.1 Từ phía chính phủ Tăng cường cung cấp thông tin về sản phẩm, hình thức KDTM, phương pháp phân biệt đúng hình thức KDTM chân chính và lừa đảo qua các kênh phương tiện thông tin đại chúng như báo,đài, tạp chí, tivi, cán bộ địa phương để nâng cao hiểu biết, trình độ tiêu dùng cho người dân đặc biệt là những người dân ở vùng sâu, vùng xa, giai cấp công nhân có trình độ học vấn không cao và dễ bị lừa Ngoài bộ luật : Luật cạnh tranh và nghị định 110/2005/NĐ-CP của chính phủ đưa ra để quản lý hình thức KDTM thì việc kiểm định chất lượng, thông tin, giá cả sản phẩm của các công ty KDTM là việc quan trọng nhất.Cụ thể Về chất lượng : Đa số sản phẩm của các công ty KDTM hiện nay đều có nguồn gốc từ Trung Quốc, Đài Loan và là những sản phẩm chức năng, chăm sóc liên ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của con người.Việc kiểm tra cần phải có chuyên gia thuộc chuyên ngành, và để xác đúng được chất lượng của sản phẩm, chuyên gia kiểm định phải đứng đắn không vì vụ lợi cá nhân, hoàn cảnh mà ảnh hưởng tới việc công bố kết quả chất lượng thật của sản phẩm.Điều đó vẫn xảy ra trong thực tế ở Việt Nam qua nhiều vụ việc kiểm định chất lượng.Vậy cần phải nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo từ các trường : giảm bớt hình thức học nặng lý thuyết mà tăng cường thực hành; và nâng cao sự chọn lọc, chất lượng trong việc tuyển chuyên gia kiểm định chất lượng của nhà nước. Về giá cả: Dựa vào kiểm định chất lượng để định mức giá phù hợp cho lợi ích của công ty và người tiêu dùng.Ngoài ra để công ty không phá giá, cũng cần phải kiểm tra sự minh bạch trong báo cáo kế toán , tài chính của các công ty. Về thông tin sản phẩm: Kiểm soát các công ty KDTM về cách mà họ giới thiệu sản phẩm cho người khác.Việc này rất khó, vì mỗi người có một cách giới thiệu khác nhau, và không thể kiểm soát được người ta sẽ nói cái gì.Chỉ có thể hạn chế việc này bằng cách kiểm soát các chương trình quảng cáo đang diễn ra tràn lan, tự do, sai sự thật trên các kênh truyền hình.mà thay vào đó là những chương trình cung cấp thông tin về sự thật công dụng, chất lượng và những khả năng gây hại của sản phẩm Đưa ra những tiêu chuẩn cụ thể về chất lượng,chỉ tiêu kỹ thuật…để kiểm tra hàng hóa trước khi nhập vào nước. Cập nhật nhanh chóng những công ty chân chính và công ty lừa đảo Phải có sự cứng rắn của pháp luật ,chống các hoạt động chui,phi pháp. 5.2 Đối với doanh nghiệp Sản phẩm và phân phối viên là linh hồn của doanh nghiệp vì vậy: Tăng cường nâng cao chất lượng “thật” của sản phẩm nhờ những khoản tiết kiệm được từ chi phí quảng cáo, kho bãi, thuê văn phòng… đúng như bản chất của KDTM thay vì thổi phồng thông tin về tính năng và công dụng.Vì khách hàng họ là những người tiêu dùng thông minh, sản phẩm của công ty sẽ sớm bị loại bỏ khỏi thị trường nếu tính năng chỉ mang tính chất ảo. Đào tạo đội ngũ các nhà phân phối bằng các khóa học kỹ năng để nhà phân phối nâng cao khả năng làm việc.Nhưng tuyệt đối không phải là liên tục đưa ra những lời hứa hẹn ảo về tiềm năng kinh tế lớn khi tham gia ngành này. Kiểm soát mạng lưới bằng nhiều phương pháp để tránh trường hợp vì lợi ích cá nhân mà làm thành viên hoạt động theo Về hình thức bán hàng theo cấp bậc,hệ thống cấp bậc không nên quá nhiều,việc này cũng tương tự như một hình thức “lấy tiền trong túi” của các thành viên cấp dưới mà không cần lao động của cấp trên. Về hình thức hoa hồng,cần có giới hạn tổng cộng hoa hồng nhận được trên một người để đảm bảo sự công bằng,ai cũng phải hoạt động liên tục để hưởng lương chính đáng 5.3 Đối với người tham gia là sinh viên Đối với người tham gia, tự nâng cao yếu tố đạo đức kinh doanh của mình là quan trọng nhất, bởi vì họ không chỉ là người phân phối sản phẩm mà còn là những người trực tiếp tiêu thụ sản phẩm.Đặc biệt là sinh viên, các bạn thuộc tầng lớp trí thức ,trực tiếp phát xây dựng đất nước,thì lại càng phải thật khách quan, thận trọng giữa mặt tốt, xấu khi quyết định lựa chọn công ty để tham gia, có tham gia hay không. Các sinh viên cần tổ chức những buổi hội thảo , buổi tìm hiểu pháp luật để cung cấp thông tin về hình thức kinh doanh này cho những người mới bước chân vào đại học, tự do và tự chủ trong hành động. Phải tìm hiểu kỹ về hình thức mua hàng, tính hợp pháp khi trả lại sản phẩm, III.KẾT LUẬN: MLM là hình thức kinh doanh hợp pháp hay bất hợp pháp ở Việt Nam Tùy vào mỗi công ty. Hầu hết mọi hoạt động của công ty đều phải dựa trên luật pháp của quốc gia sở tại.Ở Việt Nam trong những năm MLM mới du nhập vào Việt Nam,nhà nước chưa có điều luật điều chỉnh kịp thời, nên dẫn tới việc nhiều công ty đã lách luật,lừa đảo, làm biến tướng hình thức kinh doanh này.Gây ra không ít mất mát cho những người tham gia bán hàng và sử dụng sản phẩm không phù hợp với số tiền bỏ ra. MLM có thể hoạt động một cách hợp pháp, đúng nguyên tắc và đạo đức, nhưng đồng thời nó cũng có thể hoạt động một cách bất hợp pháp và vô đạo đức.Hãy cẩn thận chọn cho mình một công ty để tham gia “trong thời đại thông tin lan tràn hiện nay” Việc không ủng hộ hay ủng hộ của hình thức bán hàng này vẫn còn là điều tranh cãi ở khắp mọi nơi,tuy nhiên,mọi người đặc biệt là sinh viên cần có cái nhìn rõ ràng , cẩn thận về hình thức này cũng như tiềm năng,triển vọng của nó trước khi quyết định gắn bó với nó vì lợi ích trước mắt trong những khía cạnh đang gây nhiều tranh cãi như sau. Thứ nhất :Đây là ngành đưa ra một con đường mới để kiếm được nhiều tiền.Bằng chứng là có rất nhiều công ty KDTM đã thành công ở nước ngoài như AMWAY, Pre-Paid Legal , Excel Communications , NuSkin ….. .Nhưng mọi người cần phải suy nghĩ kỹ trước vấn đề “ngành kinh doanh này sẽ mang lại cơ hội kiếm được lợi ích không giới hạn hơn bất kỳ một ngành kinh doanh truyền thống, chuyên nghiệp và cổ điển cũ”.Nhìn vào một vài sự thật lịch sử giữa các công ty KDTM lớn nhất thế giới.Trong công ty lớn nhất về ngành KDTM_Amway, chỉ có 0,5% nhà phân phối trở thành đại lý trực tiếp(tức trở thành những thue lĩnh và có thu nhập cao) trong khi thu nhập thuần bình quân trước thuế của tất cả các nhà phân phối khác chỉ là 40$ một tháng.Theo báo cáo hàng năm của công ty Pre-Paid Legal với SEC hơn ½ nhà phân phối và khách hàng từ bỏ công ty mỗi năm và số người này lại được thay thế bởi những nhà phân phối đầy hy vọng mới.Công ty NuSkin cũng có tới 50-70% nhà phân phối từ bỏ việc trong một năm.Cấu trúc của công ty KDTM chỉ mang lại thành công tài chính cho một tỷ lệ rất nhỏ các nhà phân phối mà họ phải là người tới sớm nhất.Trong hệ thống có hàng ngàn người ở tuyến dưới , tuyến trên,khả năng ai cũng đạt được thành công lớn như những lời hứa hẹn sự thật không có.Bạn cần phải có thu nhập gấp 1000 lần hiện tại để có thể bằng với mức của người thứ 1000 phía trước.và những người phía sau còn phải cố gắng gấp đôi bạn.Một hệ thống rất lớn và cồng kềnh. Thứ 2: Về bản chất thì KDTM là một công việc bán thời gian.Bạn có thể làm việc này vào thời gian rảnh.Nhưng không thể khẳng định vấn đề “ đây là một công việc mà chỉ sau vài tuần bạn có thể tạo ra một lượng thu nhập rất lớn và số tiền ngày càng gia tăng”.Như đã phân tích ở trên để đạt được mức thu nhập cao như thế thì bạn cần phải nỗ lực và tốn rất nhiều thời gian, và chuyện đây là công việc bán thời gian không còn đúng như ý nghĩa của nó nữa.Kinh nghiệm của hàng ngàn người trong nhiều thập kỉ qua đã chứng minh việc thành công trong KDTM cần hầu như toàn bộ thời gian của một người, sự kiên trì hơn, tốn thời gian nhiều hơn mức thời gian rảnh rỗi của họ .Hình thức kinh doanh này thấy được tâm lý con người muốn làm giàu độc lập và nhanh chóng nhưng chỉ mất thời gian nhàn rỗi nên đã nắm đươc sự điều khiển và nắm giữ toàn bộ thời gian của con người và đòi hỏi mọi người phải tuân thủ cứng nhắc theo chương trình Thứ 3: “KDTM thì phổ biến nhất và là phương thức hiệu quả mới để mang sản phẩm tới thị trường.Khách hàng thích mua sản phẩm theo kiểu 1 người giới thiệu với 1 người trong mô hình KDTM”.Hình thức phân phối sản phẩm trực tiếp từ người này này tới người khác đã cũ và không thực sự hiệu quả.Vì khách hàng phải thay đổi thói quen mua sắm một cách mạnh mẽ, hạn chế những sự lựa chọn của mình, và gặp phải nhiều bất cập trong lúc làm việc, quản lý với người thân và bạn bè thân thiết. Thứ 4: “Sau này tất cả những sản phẩm sẽ được bán theo kiểu KDT_một hình thức maketing mới.Những cửa hàng bán lẻ, trung tâm thương mại và hầu hết mọi hình thức quảng cáo sẽ được thay thế hoàn toàn bằng KDTM”.Thật sự KDTM đã có từ cuối những năm 1960.Ngày nay hình thức vẫn chiếm ít hơn 1% doanh thu bán lẻ tại Mỹ.Năm 2000,theo số liệu của phòng Thương mại Mỹ,tổng doanh thu bán lẻ là 3.232 tỷ USD, tổng doanh thu của ngành KDTM là 10 tỷ USD, chỉ chiếm 1/3 của 1% trong tổng số và hầu hết lượng doanh thu đó được tính từ lượng sản phẩm được mua bởi những nhà phân phối mới đầy hy vọng làm giàu.Nghành KDTM không chỉ có doanh thu không đáng kể, mà còn thất bại trong nhiều yếu tố then chốt trong việc duy trì khách hàng.Hầu hết khách hàng không mua sản phẩm lần nữa khi họ không còn tìm kiếm cơ hội kinh doanh owr công ty KDTM nữa.Có nghĩa là hình thức KDTM không tạo ra được lòng trung thành đối với thương hiệu của mình. Hình thức KDTM không thể thay thế các hình thức maketing khác và cạnh tranh không hợp pháp Hơn nữa, KDTM đại diện cho phương án đầu tư mới mà sử dụng ngôn ngữ tiếp thị và bán hàng của sản phẩm.Sản phẩm thật ở đây là mối quan hệ phân phối mà được bán cùng với những lời hứa hẹn xuyên tạc và phóng đại về mức thu nhập.Mọi người mua sản phẩm để đảm bảo vị trí của mình trong hệ thống bán hàng kim tự tháp đó. Một khả năng luôn luôn được phô bày là bạn sẽ trở nên giàu có không phải từ nỗ lực của bản thân mà từ những người sẽ tham gia vào tuyến dưới của bạn. Sự tăng trưởng của KDTM không phải là biểu hiện của giá trị mà nó mang lại cho nền kinh tế, khách hàng và nhà phân phối mà là của nỗi sợ hãi và mất an ninh kinh tế ở mức cao và gia tăng mong đợi giàu có nhanh chóng và dễ dàng. KDTM tăng trưởng theo cách của thị trường cổ phiếu, hợp pháp hóa cờ bạc và xổ số. Thứ 5: “Bạn dễ dang đạt được thành công với hình thức KDTM.Bạn bè và người thân là những khách hàng tương lai.Ai ủng hộ bạn sẽ trở thành những khách hàng trong đời của bạn”. Mặc dù việc mua sản phẩm theo hình thức KDTM bản chất là thực sự bạn thích và thấy cần sản phẩm thì mới mua, nhưng những lợi ích từ việc hưởng hoa hồng không thể không ảnh hưởng tới quyết định mua hàng và tham gia vào mạng lưới.Việc thương mại hóa những mối quan hệ với bạn bè và người thân hay sử dụng phương thức lãnh đạo thân thiện được yêu cầu trong chương trình tiếp thị KDTM là một nhân tố phá hủy cộng đồng và không lành mạnh cho những cá nhân tham gia.Làm giàu dựa trên quan hệ gia đình và sự trung thành của bạn bè để xây dựng sự nghiệp có thể phá hủy một nền tảng xã hội. Điều đó tạo căng thẳng cho những mối quan hệ mà có thể bạn không bao giờ có lại được sự ủng hộ, sự trung thành.Ngoài khía cạnh phá hủy xã hội, kinh nghiêm chứng tỏ rằng rất ít người thích hay ủng hộ việc bị níu kéo, mời mọc từ bạn bè và người thân để mua sản phẩm. Thứ 6 “KDTM là một con đường khác trong cuộc sống mang lại hạnh phúc và sự sung túc.Nó là phương tiện để đạt được tất cả những điều tốt đẹp trong cuộc sống” Sự hấp dẫn nhất của ngành kinh doanh đa cấp như đã được trình bày trong tài liệu ngành công nghiệp cũng như các buổi phỏng vấn tuyển dụng là một hình thức dại dột nhất trong chủ nghĩa duy vật. Tài sản của 100 công ty trên thực tế làm bẽ mặt những vị luật sư tư vấn ngành KDTM bởi những lời hứa thái quá về sự giàu có và sang trọng. Những lời hứa này được đưa ra như những chiếc vé cho sự đầy đủ, giàu có của cá nhân. Sự hấp dẫn về giàu có và vẻ sang trọng ngày càng tăng của ngành kinh doanh này mâu thuẫn với khát vọng thật sự của con người về một công việc có ý nghỉa và mãn nguyện, trong đó họ có một tài năng đặc biệt hoặc sở thích. Nói tóm lại, văn hóa kinh doanh loại hình này làm trệch hướng nhiều người từ những giá trị mang tính cá nhân và khao khát để thể hiện tài năng đặc biệt và nguyện vọng của họ Thứ 7: “KDTM phương án lựa chọn tốt nhất để làm chủ doanh nghiệp và đạt được sự độc lập kinh tế”. Thật ra thì KDTM không thật sự là bạn tự làm chủ doanh nghiệp.Việc sở hữu một mạng lưới phân phối KDTM chỉ là ảo ảnh.Một vài công ty KDTM cấm nhà phân phối điều hành thêm những tuyến khác.Hầu hết các hợp đồng trong công ty KDTM kết thúc mối quan hệ phân phối dễ dàng và nhanh chóng cho công ty.Tuyến dưới có thể bị loại bỏ bang nhiều cách khác nhau.Người tham gia KDTM đòi hỏi phải tuân thủ cứng nhắc mô hình bán hàng của họ, không độc lập và cá tính.Nhà phân phối của công ty KDTM không phải là doanh nhân và chỉ là người tham gia vào một hệ thống thứ bậc phức tạp và nắm một chút quyền kiểm soát. Tóm lại: Dù làm bất cứ nghề gì thì ai cũng cần phải cố gắng và nỗ lực thì mới đạt được thành công.Không có một công việc nào có thể dễ dàng thành công và nhanh chóng mà chỉ trong thời gian ngắn ngủi. Các bạn sinh viên cần tỉnh táo để tránh việc đánh đổi tương lai lâu dài bằng lợi ích trước mắt.Hình thức kinh doanh theo mạng chỉ thực sự tốt khi nó được thực thi theo đúng nghĩa của nó, không phải như ở hầu hết các công ty ở Việt Nam, hứa hẹn một tương lai sung túc và sự giàu có nhanh chóng, một mức hoa hồng hấp dẫn và những lợi ích kinh tế để thu hút người tham gia.KDTM ở Việt Nam dù thật sự là hàng hóa được bán chứ không chỉ lưu chuyển từ cấp trên xuống cấp dưới nhưng cách tiếp thị như vậy là hoàn toàn sai lệch. Sinh viên chỉ nên tham gia để tìm hiểu, học hỏi và nhận thức đúng sự thật khách quan.Không nên nghỉ học chỉ để tham giá bán hàng đa cấp. Bán hàng đa cấp thực sự là môi trường tuyệt vời để sinh viên chúng ta trải nghiệm cuộc sống, tích lũy kinh nghiệm và hướng đến thành công. Đừng bỏ lỡ những cũng hãy cẩn thận khi tiếp xúc với bán hàng đa cấp khi chưa hiểu kĩ. PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: Nguồn: Thống kê của Bộ Giáo Dục SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 3 (34) NĂM 2006 Sách : False Profits: Seeking Financial and Spiritual Deliverance in Multi-level Marketing and Pyramid Schemes _ Robert Fitzpatrick. Tủ sách chuyên nghiệp kinh doanh theo mạng- NXB Văn hóa thông tin Sách khởi nghiệp từ …kinh doanh theo mạng – NXB lao động. Làn sóng thứ 3- Kỷ nguyên mới trong nghành kinh doanh theo mạng, Richard Poe ,(người dịch Cù Hoàng Đức) Sách : Dạy con làm giàu ( Rich dad poor dad) tập XI – Trường dạy kinh doanh cho những người thích giúp đỡ người khác ( Business school for people who like helping people) Robert T.Kiyosaki & Sharon L. Lecher- Goldpress Publishing, LLC, Hoa KỲ) Mô hình kinh doanh đa cấp đâu chỉ toàn mặt xấu ( Thông tư 19/2005/TT-BTM của Bộ thương mại hướng dẫn quản lý hoạt động bán hàng đa cấp ( Quyết định số 103/2007/QĐ-UBND ban hành quy chế phối hợp quản lý bán hàng đa cấp ( Nghị dịnh 110/2005/NĐ-CP Ra mắt hiệp hội bán hàng đa cấp Việt Nam ( , PHIẾU KHẢO SÁT : BẢN KHẢO SÁT Xin chào các bạn Hiện nay chúng mình đang tiến hành nghiên cứu đề tài “tìm hiểu việc tham gia bán hàng đa cấp của sinh viên” , sự giúp đỡ của các bạn là yếu tố quan trọng để giúp nhóm mình có thể hoàn thành đề tài này và đưa ra 1 cái nhìn tổng quan nhất về tình hình việc tham gia bán hàng đa cấp của sinh viên. Rất mong nhận được sự góp ý nhiệt tình của các bạn... Thông tin cá nhân 1. Bạn hiện đang là sinh viên trường……………………………………………………………………... 2. Năm thứ………………………………………………………………………………........................... 3. Ngành học của bạn là…………………………………………………………………………………... 4. Bạn có biết hay đã từng tìm hiểu về hình thức kinh doanh theo mạng chưa ? 1.¨ Có biết và đã tìm hiểu 2.¨ Chỉ biết và không tìm hiểu 5. Bạn biết và tìm hiểu thông tin về các công ty và hình thức bán hàng đa cấp qua nguồn nào ? 1.¨ Internet, tạp chí, thời sự. 3.¨ Thành viên công ty bán hàng đa cấp 2.¨ Người thân, bạn bè 4.¨ Khác………………………………………. 5.Mức độ biết và tìm hiểu của bạn ? 1.¨ Không hiểu lắm. 3.¨ Hiểu rõ. 2.¨ Bình thường. 4.¨Hiểu rất rõ và cặn kẽ mọi vấn đề 6.Bạn có tham gia bán hàng đa cấp không ? 1.¨Đang tham gia 3.¨Dự định 2.¨Đã từng 4.¨Không (Nếu ở câu 6 bạn chọn đáp án A hoặc B thì trả lời tiếp từ câu 7.1 đến 7.8) (Nếu chọn C thì trả lời tiếp câu 8 đến câu 9) (Nếu chọn D thì trả lời tiếp câu 10) 7.1)Mục đích chính của bạn khi tham gia vào các công ty bán hàng đa cấp là gì ? 1.¨Tăng thu nhập 3.¨Rèn luyện các kĩ năng mềm 2.¨Bổ trợ kiến thức chuyên ngành 4.¨Mục tiêu khác :…………….. 7.2)Bạn dành khoảng bao nhiêu thời gian trong tuần để tham gia các công ty bán hàng đa cấp................................................................... 7.3) Tên công ty bạn đang tham gia và sản phẩm mà công ty đang bán là …………………………………………………………………………………………………………….. 7.4)Đánh giá của bạn về 1 số yếu tố sau như thế nào ? Đánh giá Yếu tố Không hài lòng Ít hài lòng Bình thường Hài lòng Rất hài lòng Phong cách làm việc Chất lượng sản phẩm cty Khóa học kĩ năng Hình thức hoa hồng Ưu đãi của công ty 7.5)Điểm trung bình học kì mà bạn tham gia làm việc tại công ty là: 1.¨Dưới 6.0 3.¨từ 6.0 – dưới 7.0 2.¨Từ 7.0-dưới 8.0 4.¨Từ 8.0 trở lên 7.6)Hoa hồng trung bình hàng tháng mà bạn nhận được từ công ty là……………………………. 7.7) Bạn nhận được những thành quả tốt và những ảnh hưởng không tốt gì khi tham gia các công ty Mặt tốt …………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… Mặt không tốt ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………. 7.8)Theo bạn thì yếu tố nào là động lực chính để bạn quyết định làm việc cho công ty lâu dài 1.¨ Cơ hội thăng tiến trong tương lai 3.¨ Môi trường làm việc phù hợp 2.¨ Tiền lương 4.¨ Học hỏi kinh nghiệm *** 8.Mục tiêu chính của bạn nếu tham gia vào bán hàng đa cấp là gì ? 1.¨Tăng thu nhập 3.¨Rèn luyện các kĩ năng mềm 2.¨Bổ trợ kiến thức chuyên ngành 4.¨Mục tiêu khác :…………….. 9.Yếu tố nào ảnh hưởng lớn nhất tới dự định tham gia vào các công ty bán hàng đa cấp của bạn? 1.¨ Thời gian 3.¨ Dư luận 2.¨ Kinh phí 4.¨ Lòng tin *** 10.Nguyên nhân bạn không tham gia các công ty kinh doanh đa cấp là 1.¨Ảnh hưởng của dư luận 3.¨ Không thích hợp với bạn 2.¨Không có điều kiện tham gia 4.¨ Tập trung vào việc học Chân thành cảm ơn các bạn rất nhiều ^__^

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNghin c7913u vi7879c tham gia bn hng 273a c7845p c7911a sinh vi.doc
  • jpgIMG_1038.jpg
  • docPhieu dieu tra.doc
Luận văn liên quan