Tính chất hai mặt của toàn cầu hóa hiện nay với tương lai của chủ nghĩa tư bản và triển vọng của chủ nghĩa xã hội

MỞ ĐẦU 01 Chương1: TOÀN CẦU HÓA VÀ TÍNH CHẤT HAI MẶT CỦA TOÀN CẦU HÓA 03 1.1. Quan niệm về toàn cầu hóa 03 1.2. Tính chất hai mặt của toàn cầu hóa 05 Chương 2: TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY VỚI TƯƠNG LAI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN VÀ TRIỂN VỌNG CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 08 2.1. Toàn cầu hóa hiện nay với tương lai của chủ nghĩa tư bản 08 2.2. Toàn cầu hóa hiện nay và triển vọng của chủ nghĩa xã hội 17 2.3. Thái độ và hành động của Việt Nam trước toàn cầu hóa trên con đường xây dựng CNXH 22 KẾT LUẬN 25 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 26 MỞ ĐẦU Toàn cầu hóa là xu thế khách quan, là quá trình tất yếu. Nó diễn ra trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết là trên lĩnh vực kinh tế. Toàn cầu hóa kinh tế thúc đẩy rất nhanh, rất mạnh sự phát triển và xã hội hóa các lực lượng sản xuất, đưa lại sự tăng trưởng kinh tế cao. Toàn cầu hóa tạo sự truyền bá và chuyển giao trên quy mô ngày càng lớn những thành quả mới, những đột phá sáng tạo về khoa học và công nghệ, về tổ chức và quản lý, về sản xuất và kinh doanh, đưa kiến thức và kinh nghiệm đến với các quốc gia, dân tộc. Trào lưu chủ nghĩa tự do mớira đời (các đại diện tiêu biểu là R. Ri-gân và M. Thát-chơ), trở thành căn cứ lý luận để chủ nghĩa tư bản (CNTB) lũng đoạn quốc tế bành trướng ra toàn cầu. Sự bùng nổ mạng lưới các công ty xuyên quốc gia và internet làm cho thị trường toàn cầu trở thành công xưởng toàn cầu, tạo cơ sở vật chất to lớn để CNTB thực hiện tham vọng lũng đoạn, khống chế toàn cầu. Các chủ trương của chủ nghĩa tự do mới được thực hiện mạnh mẽ đem lại một bước phát triển mới trong CNTB, song những mâu thuẫn vốn có của nó lại bộc lộ trầm trọng thêm. Có thể nói, chủ nghĩa tư bản thực hiện được một bước phát triển thì cũng tạo ra những gì không dung được với chính nó. Từ góc nhìn này, chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa thực sự là "chủ nghĩa tư bản chống chủ nghĩa tư bản", là "chủ nghĩa tư bản hướng tới hậu tư bản, phi tư bản". Xu hướng vận động khách quan của CNTB trong xu thế toàn cầu hóa tiếp tục chuẩn bị tiền đề không chỉ vật chất - kỹ thuật, mà cả những nhân tố hợp lý trong thiết chế chính trị, nhà nước cho chủ nghĩa xã hội. Việt Nam là một nước đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), nhờ quá trình toàn cầu hóa, chúng ta có lợi thế của nước đi sau để "đi tắt, đón đầu” trong một số lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ. Chúng ta có điều kiện thuận lợi để mở rộng thương mại quốc tế, thu hút đầu tư và nguồn lực bên ngoài nhằm phát triển các ngành sản xuất mà ta có lợi thế, qua đó, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Cùng với những thuận lợi trên, toàn cầu hóa cũng đang có những tác động xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội nước ta. Với ý nghĩa đó, tôi chọn vấn đề: “tính chất hai mặt của toàn cầu hóa hiện nay với tương lai của chủ nghĩa tư bản và triển vọng của chủ nghĩa xã hội” làm đề tài tiểu luận hết môn của mình. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 1. PGS. TS. Nguyễn An Ninh (2005), Đề cương bài giảng: Toàn cầu hóa và triển vọng của chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia. 2. PGS.TS. Nguyễn An Ninh (2006), Về triển vọng của chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 3. GS. Trần Xuân Trường (2009), Vận mệnh lịch sử của chủ nghĩa tư bản, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 4. GS.TS. Nguyễn Trọng Chuẩn (2009), GS.TSKH. Inkple Yni cop (đồng chủ biên), Vận mệnh lịch sử của chủ nghĩa xã hội, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội. 5. PGS.TS. Nguyễn An Ninh (2010), Những nhân tố mới tác động đến triển vọng của chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 6. GS.TS. Vũ Văn Hiền (2010), Nhận thức về thời đại ngày nay, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

doc26 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 29/01/2013 | Lượt xem: 6668 | Lượt tải: 25download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tính chất hai mặt của toàn cầu hóa hiện nay với tương lai của chủ nghĩa tư bản và triển vọng của chủ nghĩa xã hội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ội dung của toàn cầu hoá đã có từ lâu trong quan niệm về các vấn đề toàn cầu, hoặc về các thể chế quốc tế hoá, người ta nhận thấy việc sử dụng vàng làm bản vị trao đổi (Gold Standard, 1870) giữa các loại tiền tệ cùng với sự bành trướng của đế quốc Anh hồi thế kỷ XIX đã có ý nghĩa như một sự khởi đầu TCH. Khi mở rộng quan niệm về toàn cầu hoá ra ngoài các nội dung thương mại, người ta lại thấy cuộc vượt biển tìm ra châu Mỹ của Christopher Columbus năm 1492, hay chuyến thám hiểm vòng quanh thế giới của Ferdinand Magellan năm 1522 cũng chính là những hình thức rất điển hình của toàn cầu hoá. Nhưng nếu công nhận Columbus hay Magellan là thủy tổ của hiện tượng toàn cầu hoá, thì cũng tương tự như thế, người ta khó có thể phủ nhận, TCH phải chăng đã bắt đầu từ khi các “thương nhân lạc đà” vào thế kỷ thứ 2 trước công nguyên khai thông “con đường tơ lụa” với chiều dài khoảng 7000 cây số nối liền phương Đông với phương Tây. Quả thực, việc xác định thời điểm xuất hiện TCH ở hầu hết các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp đều có những lý lẽ khó bác bẻ. Nhưng nếu kéo lùi lịch sử TCH đến tận “con đường tơ lụa” thì vấn đề sẽ trở nên kém ý nghĩa hoặc chuyển sang ý nghĩa khác. Bởi vậy, tôi chú ý đến ý kiến của Thomas L. Friedman (dù chỉ là một nhà báo, nhưng uy tín của ông khi phát ngôn về những vấn đề toàn cầu thì chính học giả uyên bác Joseph E. Stiglitz cũng phải coi là có giá trị). Trong “Chiếc Lexus và cây ôliu” 1999, Friedman chọn thời điểm bức tường Berlin sụp đổ năm 1989 và dùng hình tượng “thế giới tròn 10 tuổi” để chỉ TCH với sự mới mẻ của nó. Trong “Thế giới phẳng: Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ XXI”, 2005, Friedman tiếp tục khẳng định ý nghĩa của giai đoạn lịch sử hiện đại này bằng việc chọn thời điểm năm 2000 với sự ra đời của Internet và thương mại điện tử làm mốc để đánh giá. Theo Friedman, hiện thời thế giới đang ở trong giai đoạn TCH “ba chấm không” (3.0). Nghĩa là, “chúng ta đang ở trong một hệ thống quốc tế mới. Hệ thống này có logic, có quy luật, có áp lực và có động lực riêng của nó - nó đáng được gọi bằng cái tên riêng - TCH” [6. tr. 26-27]. Như vậy, toàn cầu hóa đã bắt đầu từ khá sớm chứ không phải chỉ ở vài thập niên gần đây. Cách đây 158 năm, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: "Đại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế giới, thị trường mà việc tìm ra châu Mỹ đã chuẩn bị sẵn. Thị trường thế giới thúc đẩy cho thương nghiệp, hàng hải, những phương tiện giao thông tiến bộ phát triển mau chóng lạ thường...". Đó chính là quá trình quốc tế hóa - giai đoạn trước của toàn cầu hóa. Như vậy, toàn cầu hoá trước hết là một quá trình kinh tế và kỹ thuật - công nghệ; đồng thời, là một quá trình kinh tế - xã hội và quá trình chính trị - xã hội, vừa tạo ra những lợi ích chung, những thể chế phổ biến, vừa chứa đựng nhiều lợi ích, khuynh hướng khác nhau, mâu thuẫn nhau giữa các chủ thể tham gia. Bởi vậy, toàn cầu hoá là một quá trình vừa hợp tác rộng mở, vừa đấu tranh gay gắt, phức tạp giữa các quốc gia, tập đoàn, cộng đồng, cá nhân... với nhau. Mặc dù không hề mất đi cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, nhưng “đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc”. 1.2. Tính chất hai mặt của toàn cầu hóa Nếu nhìn tổng thể quá trình phát triển của nền kinh tế quốc tế, thì chính các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật - công nghệ đóng vai trò to lớn làm tăng nhanh chóng thu nhập thế giới, đồng thời thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới. Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVI, thu nhập thế giới hàng năm chỉ hơi nhích lên, nhưng từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX đã tăng khoảng 50%. Sau đó, trong một thế kỷ (1850 - 1950) nó đã tăng gấp 3 lần. Và chỉ trong nửa cuối thế kỷ 20 (1950 - 2000) lại tăng gấp 3 lần nữa. Thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, mọi hoạt động thương mại, tài chính, tiền tệ, đầu tư đều tăng nhanh. Từ 1990 đến 1997, tăng trưởng khối lượng xuất khẩu thế giới hàng năm đạt 7% đạt trong khi tăng trưởng GDP thế giới chỉ đạt 3%. Lượng tiền trao đổi qua các giao dịch tài chính quốc tế hàng ngày trên thế giới năm 1986 mới ở mức 200 tỉ USD thì đến năm 1996 đã lên tới 1.500 tỉ USD (nay lên tới 3.500 tỷ USD). Từ năm 1991 đến 1997, đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng tăng 10%. Năm 1990 tổng số các công ty xuyên quốc gia là 35.000 với 150.000 chi nhánh thì đến 1997 đã lên tới 53.000 công ty với 450.000 chi nhánh hoạt động trên khắp thế giới. Đấy là những nhân tố thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế thế giới, tạo điều kiện ít nhiều thuận lợi cho các nước tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa do sự phân công chuyên sâu trong hợp tác quốc tế. Nhưng vì toàn cầu hóa mang tính chất tư bản chủ nghĩa rõ rệt "khi mà các nước tư bản chủ nghĩa giàu có nhất, các công ty tư bản xuyên quốc gia đang nắm trong tay những nguồn lực vật chất và phương tiện hùng mạnh nhất để tác động lên toàn thế giới như vốn, kỹ thuật, công nghệ, các tổ chức và thể chế kinh tế, tài chính, tiền tệ, thương mại quốc tế. Họ nắm cả những phương tiện hùng mạnh nhất trong lĩnh vực sản xuất tinh thần và tác động tinh thần, cả những nguồn lực quan trọng nhất về chất xám ....", thì rõ ràng quá trình toàn cầu hóa có nhiều bất lợi cho các nước nghèo và đang phát triển. Nếu như trước đây, sự tăng trưởng của nền kinh tế thế giới còn dựa trên nguồn nguyên nhiên liệu, các nước nghèo và đang phát triển còn nhiều lợi thế đấu tranh, thì ngày nay nhân tố tri thức, cùng phương tiện truyền thông ngày càng đóng vai trò quan trọng lại nằm trong tay các nước phát triển giàu có. Và toàn cầu hóa không những không tạo ra mức sống đồng đều cho mọi người, mọi quốc gia, mọi khu vực mà ngược lại nó làm cho hố ngăn cách giàu nghèo ngày càng sâu rộng, bất bình đẳng ngày càng lớn. Theo chương trình Liên hợp quốc về phát triển (PNUD) thì cuối những năm 90, 85% thu nhập thế giới rơi vào túi 1/5 số người giàu nhất (trong khi vào những năm 60 họ mới chiếm 70%), 1/5 số người nghèo nhất chỉ chiếm 1,4% (những năm 60 còn chiếm 2,3%). Khóa họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên hợp quốc diễn ra ở Giơnevơ mới đây đã kết luận "nghèo đói, sự không đồng đều và tình trạng mất an ninh đã tăng lên trên thế giới kể từ khi toàn cầu hóa được khởi động". Cách đây 5 năm, số người nghèo là 1 tỷ nay đã lên tới 1,2 tỷ. Các nước công nghiệp hóa giàu hơn các nước nghèo nhất tới 74 lần. Trong 30 nước nghèo nhất, thu nhập bình quân thực tế đầu người đã giảm đi trong 35 năm qua. Tài sản của 3 nước giàu nhất thế giới lớn hơn tổng sản phẩm quốc dân nội địa của các nước kém phát triển nhất cộng lại với số dân lên tới 600 triệu người. Còn theo báo cáo của Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (CNUCED), thì trong số 644 tỷ USD đầu tư quốc tế, 2/3 vào Mỹ và Liên minh châu Âu, tất cả các nước đang phát triển chỉ thu hút được 1/3, trong đó cả lục địa châu Phi chỉ nhận được 8,3 tỷ USD tức chỉ chiếm 1,3%. Thực chất "các nhà đầu tư quốc tế chủ yếu đến từ các nước phát triển và động cơ của họ là lợi nhuận kinh tế chứ không phải là giúp các nước đang phát triển tăng trưởng bền vững”. Những năm 90, toàn cầu hóa có giúp cho tuổi thọ trung bình tăng lên và nạn mù chữ giảm đi phần nào. Nhưng những người mắc bệnh Aids lại tăng gấp đôi chỉ trong thời gian từ 1990 - 1997. Đến năm 1997 vẫn còn 850 triệu người lớn tuổi không biết đọc, biết viết; 1/3 tỷ người vẫn không được sử dụng nước sạch; 1/7 trẻ em ở độ tuổi đi học vẫn không được đến trường; 160 triệu trẻ em bị suy dinh dưỡng và số trẻ em phải làm việc nặng nhọc còn nhiều hơn thế. Gánh nặng nợ nần chồng chất cũng làm cho các nước nghèo và kém phát triển khó tranh thủ được những thuận lợi của toàn cầu hóa. Sự mở cửa biên giới do hội nhập vào tiến trình toàn cầu hóa còn có nguy cơ làm gia tăng tình trạng buôn lậu vũ khí, ma tuý và làm trôi nổi số nhân công có tay nghề cao. Chẳng hạn, năm 1998 hơn 250.000 lao động châu Phi tay nghề cao sang làm việc tại châu Âu và Hoa Kỳ (10), và nếu tính toàn bộ các nước đang phát triển thì con số đó phải lên tới hàng triệu. Nạn chảy máu chất xám này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình hội nhập và phát triển của các nước nghèo và đang phát triển. Toàn cầu hóa cũng tác động mạnh đến việc hoạch định chính sách quốc gia của từng nước vì các Nhà nước sẽ khó khăn hơn trong việc thiết kế chính sách kinh tế xã hội của mình dưới con mắt xoi mói của các thị trường kinh tế và tài chính đã được toàn cầu hóa. Các nước chịu sức ép lớn buộc phải đặt các thoả thuận đa phương lên trên chính sách quốc gia. Chính vì thế mà toàn cầu hóa diễn ra với "bao nhiêu mâu thuẫn đủ loại, cực kỳ phức tạp, đan xen. Đó là mâu thuẫn giữa một bên là quyền lực và lợi ích chi phối, thao túng của những thế lực tư bản quốc tế, các nước tư bản chủ nghĩa với một bên là chủ quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc. Đó là mâu thuẫn ngay trong lòng các nước tư bản chủ nghĩa, giữa các tập đoàn tư bản với nhau. Đó là mâu thuẫn giữa tăng trưởng của cải với phân phối không công bằng dẫn tới phân cực giàu nghèo ngày càng tăng giữa các quốc gia và trong mỗi nước, giữa trung tâm với ngoại vi, giữa Bắc với Nam. Đó là mâu thuẫn giữa kinh tế tăng trưởng với văn hóa, đạo đức xã hội suy đồi do tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường toàn cầu hóa. Đó là mâu thuẫn giữa hợp tác và đấu tranh. Là mâu thuẫn giữa xã hội với thiên nhiên biểu hiện ở hiểm hoạ ngày càng tăng và mâu thuẫn cho đời sống con người do tàn phá môi trường sinh thái. Tóm lại, toàn cầu hóa là một quá trình tất yếu và những lợi ích mà nó mang lại là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng đặt ra muôn vàn khó khăn, thách thức và mâu thuẫn cho các quốc gia đặc biệt là các nước nghèo và các nước đang phát triển. Chương 2 TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY VỚI TƯƠNG LAI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN VÀ TRIỂN VỌNG CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 2.1. Toàn cầu hóa hiện nay với tương lai của chủ nghĩa tư bản 2.1.1. Toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, xét về không gian tồn tại của nó, là sự tiếp tục quá trình xã hội hóa lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng cách mở rộng kiểu sản xuất tư bản chủ nghĩa ra toàn cầu. Quá trình xã hội hóa LLSX tư bản chủ nghĩa, trên bình diện không gian kinh tế có hai trình độ là quốc tế hóa và toàn cầu hóa hiện nay. Ở thế kỷ XIX, những cuộc cách mạng trong sản xuất và quá trình công nghiệp hóa lần thứ nhất, những phát kiến địa lý và sự mở rộng thị trường của chủ nghĩa tư bản… đã thúc đẩy và làm cho LLSX định hình rõ tính chất quốc tế. Lần này, từ giữa thế kỷ XX và cả những năm xắp tới của thế kỷ XXI, cuộc cách mạng công cụ sản xuất mà nòng cột là những thành tựu khoa học và công nghệ mới đang thâm nhập và làm cho LLSX của nhân loại đại tới một trình độ mới. Quá trình liên kết, phụ thuộc lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, mậu dịch, tài chính tiền tệ giữa các nước tăng vọt; nguyên tắc kinh tế thị trường chi phối hầu hết nền kinh tế; mức độ tham gia phân công lao động quốc tế và khả năng chiếm lĩnh thị trường thế giới đang là những yếu tố xác định vị thế kinh tế của mỗi nước trong toàn cầu hóa kinh tế. 2.1.2. Toàn cầu hóa kinh tế hiện nay đang có sự lặp lại những logic của quốc tế hóa ở những thế kỷ trước, song với một trình độ cao hơn và cũng đặt ra những vấn đề chính trị - xã hội gay gắt hơn với chủ nghĩa tư bản. Hiện nay, công nghệ thông tin với chức năng trợ lực, khai phóng… năng lực tư duy cho con người cùng với các thành tựu khoa học và công nghệ khác chắc chắn sẽ tạo ra một tiền đề rộng lớn cho phát triển lực lượng sản xuất. Hệ dẫn truyền của nó hiện nay gồm những nguyên tắc của kinh tế thị trường và những thiết chế kinh tế - xã hội còn mang đậm dấu ấn của chủ nghĩa tư bản. Vấn đề là ở chỗ hệ dẫn truyền ấy liệu có phù hợp cới toàn cầu hóa kinh tế hiện đại. Toàn cầu hóa hiện nay, cũng như ở các thế kỷ trước, trước tiên là một hiện tượng kinh tế nhưng không thuần túy kinh tế, mà xen vào đó, chi phối nó là nhiều yếu tố chính trị, văn hóa, xã hội nhưng có nội dung, hình thức mức độ, xu hướng khác. Trên phương diện chính trị - xã hội, toàn cầu hóa kinh tế đang là sự phát triển mới của LLSX hiện đại lấy chủ nghĩa tư bản làm “hệ dẫn truyền”, điều này đồng nghĩa với sự bành trướng kiểu sản xuất – trao đổi – tiêu thụ hàng hóa tư bản chủ nghĩa ra toàn cầu. Lưu thông kinh tế toàn cầu, phân công lao động toàn cầu đang diễn ra với nhiều quốc gia đang có chế độ chính trị - xã hội khác nhau; song về cơ bản những nguyên tắc điều phối quan hệ kinh tế quốc tế đang dựa trên những thiết chế và chế định của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Ba chủ thể lợi ích nổi bật hiện nay là các nhà nước – dân tộc (mà chủ yếu là các nước tư bản lớn); các công ty xuyên quốc gia và các thiết chế kinh tế toàn cầu như WTO, WB, IMF… đang chi phối toàn cầu hóa kinh tế và làm nên phương diện chính trị - xã hội của nó. Hiệu quả kinh tế và hệ quả xã hội của quá trình toàn cầu hóa kinh tế hiện nay không chỉ phụ thuộc vào tầm vóc, công năng của nó mà còn bị chi phối sâu sắc bởi phương diện này. Nổi lên trong đời sống chính trị - xã hội quốc tế hiện đại là những vấn đề chính trị - xã hội mà toàn cầu hóa kinh tế đang đặt ra. Trên thực tế. toàn cầu hóa kinh tế hiện nay đang trong trạng thái không bình thường mà giới nghiên cứu diến đạt tính chất ấy bằng nhiều cách khác nhau, như “tính đồng đẳng”, “ngoài vòng kiểm soát”… Bản chất của những hiện tượng ấy là mất bình đẳng về lợi ích giữa các nước phát triển (mà chủ yếu là nhóm G7) với các nước đang phát triển; sự can thiệp thô bạo của chủ nghĩa đế quốc vào chủ quyền quốc gia, dân tộc độc lập, bản sắc văn hóa của những nước “đang chuyển đổi” nền kinh tế theo hướng hội nhập toàn cầu hóa kinh tế; mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và chất lượng của phát triển xã hội chưa được giải quyết hài hòa. Những vấn đề chính trị - xã hội đó khách quan đặt ra nhu cầu là toàn cầu hóa kinh tế cần có một môi trường, một hệ điều tiết chính trị - xã hội khác để nó phát triển trong bình đẳng và tiến bộ. Không giải quyết được những vấn đề này, chính bản thân quá trình bành trướng LLSX theo bề rộng cũng bị cản trở. Các hiện tượng “phản toàn cầu hóa” là ví dụ điển hình. Trong hai mươi năm tới, quá trình bành trướng theo bề rộng của LLSX TBCN với sức mạnh như là “một cơn hồng thủy” sẽ cuốn hút theo tiến trình của nó nhiều quốc gia đang trong “quá trình chuyển đổi”. Có hai sức mạnh tạo nên lực cuốn hút này, một là logic của quá trình xã hội hóa LLSX, và hai là sức mạnh kinh tế mang nhiều tính cưỡng bức của những nước tư bản chủ nghĩa phát triển đang cố gắng “tạo ra một thế giới theo hình ảnh của nó”. Hai sức mạnh đó tạo nên hai chiều hướng phát triển khác nhau sau đây: Thứ nhất: quá trình xã hội hóa LLSX là tất yếu của tiến bộ xã hội, của văn minh; nó không chấp nhận thái độ đầy mâu thuẩn của các nước tư bản chủ nghĩa phát triển (mà đứng đầu là Mỹ); vừa muốn các nước đang phát triển đi theo con đường tư bản chủ nghĩa thông qua quá trình toàn cầu hóa kinh tế, lại vừa không muốn họ trở thành đối thủ cạnh tranh mới của mình. Thực tế cũng không chấp nhận mô hình phát triển theo kiểu “chủ nghĩa quốc gia”, “đóng cửa”, “tự lực – tự cường”, hoặc tư duy phi biện chứng trong nhận thức một thời; đối lập tuyệt đối với những thành quả văn minh được tạo ra trong CNTB. Sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân mang bản chất quốc tế và nó không hề xa lạ với những hiện tượng quốc tế phản ánh tiến bộ xã hội. Chủ động hội nhập quá trình toàn cầu hóa kinh tế không chỉ là một tiền đề để phát triển kinh tế mà còn là một tiến trình hợp với logic phát triển. Thứ hai: đối với các nước đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, toàn cầu hóa kinh tế hiện nay đặt ra thách thức nhiêu hơn là cơ hội. Các nước đang phát triển theo định hướng XHCN tham gia phân công lao động quốc tế, hội nhập quốc tế với trình độ thấp hơn rất nhiều, lại phải chấp nhận những ‘luật chơi” hiện còn đậm dấu ấn tư bản chủ nghĩa, sẽ phải trả một giá không rẻ nếu để chệch hướng trong khi hội nhập kinh tế thế giới. Chệch hướng lớn nhất đối với CNXH hiện thực khi tham gia toàn cầu hóa hiện nay là quên mất vai trò lịch sử trao cho là tạo nên một kiểu phát triển mới thông qua toàn cầu hóa kinh tế. Chủ nghĩa xã hội phải tham gia chủ động và tích cực vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế vì triển vọng phát triển của nó và vì tương lai của toàn cầu hóa trên chất lượng mới; bình đẳng giữa các quốc gia và không còn chế độ người bóc lột người. Giá trị thực tiễn lớn nhất mà chủ nghĩa xã hội hiện thực mang lại là tham gia vào một quá trình kinh tế quốc tế, hiện đang còn mang đậm dấu ấn của chủ nghĩa tư bản, để neu lên một kinh nghiệm thực tiễn cho việc giải quyết, trên một cơ sở mới, những vấn đề của toàn cầu hóa hiện nay. Không nên quên một điều rằng, ngay trong thời kỳ chiến tranh lạnh trước đây, khi thế giới được phân thành hai hệ thống khá biệt lập cả về chính trị và kinh tế thì những giá trị của chủ nghĩa xã hội hiện thực vẫn bằng mọi cách thâm nhập vào chủ nghĩa tư bản và làm cho nó phải có những điều chỉnh theo hướng dân chủ hóa; rất có thể trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, những chân giá trị của các nước đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ thông qua cái kinh tế mà tiềm nhập và tạo nên những tiến hóa trong lòng chủ nghĩa tư bản. Toàn cầu hóa đã chuẩn bị thêm một bước mới về điều kiện vật chất, kinh tế, xã hội, văn hóa cho chủ nghĩa xã hội trong tương lai. 2.1.3. Toàn cầu hóa kinh tế cũng đẩy nhanh quá trình tới hạn của chủ nghĩa tư bản. Hiện nay, toàn cầu hóa kinh tế đang mang đậm dấu ấn của chủ nghĩa tư bản, song “tính đảo ngược luôn tồn tại trong lịch sử. Đặc biệt là đảo ngược, từ phản động thoái bộ sang đi lên và tiến bộ, từ phá hủy sang xây dựng, từ hủy diệt sang khôi phục và tăng trưởng, từ vô nhân đạo sang văn minh”. “Từ chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa rồi chủ nghĩa cộng sản toàn cầu hóa sẽ là một quá trình lịch sử lâu dài, quanh co song biện chứng đã vạch ra, cái xu thế lớn này là không thể đảo ngược. Không được lãng quên xu thế đó trong khi chủ nghĩa xã hội hội nhập kinh tế quốc tế. Sự bành trướng theo chiều rộng của chủ nghĩa tư bản hiện đại một mặt tiếp tục nỗ lực của chủ nghĩa tư bản, mà Mác và Ăng ghen đã vạch ra, là ‘tạo ra một thế giới theo hình ảnh của nó”, mặc khác nó cũng nằm chung trong logic của sự phát triển hiện đại là “lịch sử ngày càng trở thành lịch sử thế giới” – từ hai góc độ này, sự phát triển theo hướng toàn cầu của LLSX hiện đại vừa là một thức tế phản ánh khả năng biến đổi của chủ nghĩa tư bản, vừa là một hiện tượng mang tính quy luật phát triển của kinh tế hiện đại. Từ quá trình bành trướng theo chiều rộng này của LLSX TBCN, đối với nhiều quốc gia đang phát triển, toàn cầu hóa tạo điều kiện khai thác nhiều tiềm năng kinh tế, phát huy được nhiều lợi thế so sánh thông qua phân công lao động quốc tế và là một tác động quan trọng khiến cho cơ chế kinh tế của nhiều quốc gia dần chuyển đổi theo cơ chế kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. nó thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở những nước còn lạc hậu, lôi cuốn họ tham gia sâu hơn vào quá trình xã hội hóa LLSX của thế giới hiện đại. Tính toàn cầu của chủ nghĩa tư bản hiện đại, theo tư tưởng của C. Mác chưa kết thúc quá trình của nó chừng nào mà những LLSX, mà chế độ xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển, còn chưa phát triển… Từ phương diện này, toàn cầu hóa kinh tế cũng làm rõ dần tất yếu kinh tế về quá trình tới hạn của chủ nghĩa tư bản. Nó khai triển mâu thuẩn cơ bản của phương thức sản xuất TBCN đến mọi ngõ ngách của thế giới qua những biểu hiện của xã hội đa dạng. Đó là mâu thuẩn giữa giai cấp công nhân hiện đại đang bị CNTB toàn cầu bóc lột giá trị thặng dư với mọt giai cấp tư sản “ngày càng trở nên là giai cấp thừa” trong sản xuất xã hội; đó là mâu thuẩn giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển, giữa các nước giàu và nước nghèo hay phương Bắc và phương Nam, giữa trung tâm và ngoại vi; đó là mâu thuẫn của lợi ích từng quốc gia, dân tộc với lợi ích của các tập đoàn tư bản; giữa các nước phát triển và đang phát triển…Tất cả đều mang bản chất hoặc là sự phản ánh mâu thuẩn cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Sự phát triển của LLSX hiện đại đang vươn tới quy mô toàn cầu nhưng bị chặn lại. Một phương thức sản xuất khi đã tới giới hạn tự nhiên của nó sẽ bắt đầu quá trình “tự chết”, tự phủ định. Chủ nghĩa tư bản hiện đại với tư cách là một hiện tượng lịch sử càng phát triển nhanh bao nhiêu thì càng mau tới hạn bấy nhiêu. Từ thực tiễn của sản xuất hiện đại, nhu cầu có một toàn cầu hóa trên trình độ mới đang hiện rõ và mầm mống của một phương thức sản xuất mới cũng đang lớn dần, đó là phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. 2.1.4. Khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay và điều chỉnh chiến lược của chủ nghĩa tư bản. Khủng hoảng kinh tế của CNTB không phải là điều mới lạ nhưng khủng hoảng kinh tế hiện nay có tính mới. Ít ai ngờ là nó đến nhanh và có sức tàn phá với mức độ hủy diệt như vầy đối với cơ chế quan trọng nhất của CNTB – cơ chế tài chính. Cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay với mức độ trầm trọng và với quy mô toàn cầu. Các trung tâm kinh tế lớn nhất như Mỹ, Nhật Bản, liên minh Châu Âu cùng lần lượt rơi vào suy thoái khủng hoảng trong mootj thời gian ngắn. Hậu quả của nền kinh tế thế giới là nghiêm trọng và đa diện. Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ Mỹ được ví như “Trận Trân Châu Cảng về kinh tế” hay “cơn đại hồng thủy”. Nó làm rung chuyển toàn bộ nền kinh tế thế giới…Rất có thể, diện mạo tương lai của nền kinh tế - tài chính thế giới sẽ thay đổi sau cuộc khủng hoảng này. Hệ lụy khác cũng rất trầm trọng. Trong bản báo cáo về lao động trên thế giới năm 2009, ILO dự báo rằng trong năm 2010, toàn thế giới có 230 triệu người không có việc làm…. Với tiến trình toàn cầu hóa, đây cũng là sự phá sản của mô hình “chủ nghĩa tự do” mới. Quan niệm chủ đạo của lý thuyết này là đẩy mạnh hoạt động của thị trường tự do, khuyến khích tư nhân hóa và hạn chế sự can thiệp, kiểm soát của nhà nước. Chủ nghĩa tự do mới và hệ thống kinh tế do nó dẫn dắt được thể hiện tập trung nhất trong hệ thống tài chính, đã đem lại sự phát triển bột phát cùng với nhiều sự tàn phá ghê gớm ở mức độ vượt quá tầm kiểm soát đối với kinh tế của CNTB. Lý thuyết ấy đã sụp đổ sau gần 30 năm vận hành. “Thị trường tự do, toàn cầu hóa và phi điều tiết đã phát triển trên toàn cầu trong 30 năm qua, thời đại đó nay đã chấm dứt và một thời đại mới đã đến. Hội nhập tài chính và kinh tế toàn cầu đang đảo chiều. Vai trò của nhà nước cùng với sự bảo hộ thương mại và tài chính đang gia tăng” (Roger C.Altman: Những hậu quả địa chính trị xa hơn của khủng hoảng tài chính, Báo Nhân dân, ngày 25/6/2009). Chủ nghĩa tư bản từ cuộc khủng hoảng này chắc chắn sẽ có những điều chỉnh chiến lược. Và một hệ quả khác là, toàn cầu hóa hiện đang mang đậm tính chất tư bản chủ nghĩa hiện nay sẽ không thể như cũ. CNTB độc quyền nhà nước vài thập niên gần đây đã dần chuyển thành CNTB độc quyền xuyên quốc gia thông qua toàn cầu hóa kinh tế. Trong quá trình này, các công ty độc quyền xuyên quốc gia là lực lượng thao túng thị trường quốc tế (Hiện nay khoảng 500 công ty xuyên quốc gia đang chiếm 1/3 GDP của thế giới, thâu tóm 70% đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), 2/3 mậu dịch quốc tế và trên 70% hợp đồng chuyển nhượng công nghệ). Hỗ trợ cho các công ty này là các định chế toàn cầu do CNTB thao túng như Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB) và các thỏa thuận về thuế quan điều chỉnh thương mại như Hiệp định chung về thuế quan (GATT)… Cùng với nó, tiến trình khu vực hóa cũng đang được xúc tiến mạnh mẽ dẫn đến sự ra đời của Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC), Khu vực tự do Bắc Mỹ, và Diễn đàn kinh tế khu vực châu Á – Thái Bình Dương (AFEC)… Sức phát triển của LLSX, của nền kinh tế toàn cầu… đã làm nảy sinh nhiều mối quan hệ kinh tế và buộc chủ nghĩa tư bản độc quyền xuyên quốc gia phải mở rộng GATT. Bởi thế, năm 1994, tiếp nối GATT, “Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ra đời. Như vậy, xét về thể chế và thiết chế kinh tế, trong vòng hai thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã liên tục thay đổi, mà WTO là nổ lực lớn nhất. Thực tế trên đây chỉ ra hai thuộc tính cơ bản của toàn cầu hóa kinh tế. Một mặt, nó thể hiện tính tiên tiến của LLSX hiện đại; thúc đẩy sự phân công lao động và hợp tác quốc tế, phát triển nền sản xuất xã hội, thúc đẩy sự phụ thuộc lẫn nhau giữa nền kinh tế các nước. Mặt khác nó thể hiện bản chất của CNTB độc quyền xuyên quốc gia; luôn luôn tìm cách mở rộng tư bản để tăng cường bóc lột và truyền bá phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Theo đó, trong cách nhìn duy vật biện chứng về lịch sử, nó sẽ mang lại tác động hai chiều với triển vọng của CNXH: một là, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình xã hội hóa LLSX – nguyên nhân sâu xa cho sự xuất hiện một hình thái kinh tế-xã hội sẽ phủ định CNTB; hai là, tạo ra những tác động thách thức, những tình huống cho quá trình phát triển của CNXH. Nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay, về cơ bản, vẫn không nằm ngoài nguyên nhân mà C.Mác đã từng phát hiện: Đó là mâu thuẩn giữa sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của LLSX trên quy mô toàn cầu với quan hệ sản xuất và các quyền lực tư bản đã tỏ ra thiếu hiệu quả và mất khả năng kiểm soát đối với các hình thức tổ chức kinh doanh do chính các quyền lực đó tạo ra; rằng sự mở rộng quá mức của tự do hóa và các vấn đề toàn cầu đang mâu thuẩn sâu sắc với các chủ thể quản trị mang tính quốc gia; rằng sự buông lỏng vai trò và thiếu khả năng kiểm soát của các nhà nước đang làm cho tính vô chính phủ của thị trường lấn át, thậm chí có thể đe dọa đến sự tồn vong của cả hệ thống kinh tế- xã hội tư bản. Kinh nghiệm cho thấy, cứ sau mỗi cuộc khủng hoảng, CNTB dường như lại sửa chữa cơ cấu và cơ chế, qua đó nó lấy lại sức sinh tồn mới. Đồng thời, sau mỗi cuộc khủng hoảng, lý luận cũ được điều chỉnh hoặc thay bằng lý luận mới. Song, vấn đề là ở chỗ, dường như các thất bại của thị trường không được sửa chữa bằng các năng lực quản trị nhiều bất cập của nhà nước tư bản và ngược lại, các thất bại của nhà nước lại không dễ khắc phục khi thị trường đã mang tính chỉnh thể toàn cầu, nhiều tương tác và khó dự đoán. Đây chính là biện chứng của sự phát triển mới mà phương pháp của mác vẫn giữ nguyên giá trị, giúp chúng ta nhận diện một cách tổng thể mối tương tác giữa chu kỳ phát triển với các vấn đề cơ cấu, thể chế đang diễn ra đồng thời. Điều chỉnh cơ cấu của CNTB sẽ diễn ra trên diện rộng. Với cuộc khủng hoảng lần này, sẽ diễn ra cả một quá trình cơ cấu lại nền kinh tế ở phạm vi toàn cầu. Đó có thể là quá trình cơ cấu lại nền sản xuất theo hướng tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường do khủng hoảng kinh tế còn đi đôi với khủng hoảng năng lượng và khủng hoảng khí hậu, môi trường. Đó sẽ là quá trình cơ cấu lại hệ thống tài chính tiền tệ song song với quá trình cơ cấu lại cơ chế quản lý, giám sát trong từng quốc gia và trên toàn cầu. Đó còn là điều chỉnh lại mối tương quan giữa chính sách hướng mạnh ra xuất khẩu và chính sách coi trọng thị trường nội địa. “Khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay như một phép thử với mọi nền kinh tế và mọi tổ chức chính trị - xã hội. Người ta đã thấy được những giới hạn của chủ nghĩa tư bản trong quá trình phát triển” (Nguyễn An Ninh: các Đảng cộng sản và cánh tả với sứ mệnh bảo vệ người lao động trong cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, Tạp chí Cộng sản, tháng 11/2009). Cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế thế giới đang diễn ra vô vùng gay gắt hiện nay, càng làm rõ một sự thật rằng, ngay cả khi chủ nghĩa tư bản tự điều chỉnh, đang nắm trong tay những nguồn lực to lớn về kinh tế, tài chính, khoa học, kỹ thuật, công nghệ…thì nó lại rới vào những vấn đề nan giải mới, bộc lộ những bất lực mới, không sao giải quyết được. Cuộc khủng hoảng đang diễn ra là một minh chứng rõ ràng cho một nhận định rằng, chủ nghĩa tư bản không phải là chế độ có khả năng khắc phục, giải quyết được những vấn đề toàn cầu ngày càng trở nên gay gắt hiện nay, những nguy cơ đe dọa cuộc sống của nhân loại. “Mỗi bước đi tự điều chỉnh và thích nghi của chủ nghĩa tư bản lại bộc lộ rõ những mâu thuẩn nội tại cực kỳ sâu sắc trong lòng chế độ đó, rằng chủ nghĩa tư bản đang chống lại chính chủ nghĩa tư bản. Những tiền đề cho sự phủ định chủ nghĩa tư bản đang ngày càng chín muồi trong lòng CNTB” Tô Huy Rứa: Cách mạng Tháng Mười Nga và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay, Báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 6/11/2009) Toàn cầu hóa hiện in đậm dấu ấn của chủ nghĩa tư bản vẫn chưa cạn kiệt những không gian, nguồn lực và toan tính để phát triển, song rõ ràng là nó không thể tiếp tục như cũ được nữa. Từ sự biến đổi về kinh tế, chính trị hiện nay của chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa, có thể rút ra những nhận xét sau đây: Thứ nhất, CNTB trong xu thế toàn cầu hóa còn khả năng phát triển kinh tế- xã hội, nhất là chuyển sản xuất sang chiều sâu như hiện nay. Sở hữu tư nhân, lợi ích tư nhân vẫn còn là động lực lâu dài của phát triển kinh tế nói chung trong CNTB. Thứ hai, sự thích ứng của CNTB thông qua những điều chỉnh về nhiều mặt, không vượt được giới hạn lợi ích tư sản. Kinh tế-xã hội phát triển được một bước thì mâu thuẩn giữa tư bản và lao động lại bộc lộ ra có quy mô rộng lớn hơn và đi vào chiều sâu hơn, không thể có cách triệt để trong khuôn khổ CNTB. Ba là, CNTB toàn cầu hóa tạo ra được nền kinh tế tri thức, chuyển mạnh được sản xuất ở trình độ cơ khí sang tin học hóa và từ đây, quá trình toàn cầu hóa kinh tế ngày càng phát triển. Nhưng toàn cầu hóa, bên cạnh mặt tíc cực , thì do sự gia tăng khống chế của CNTB lũng đoạn toàn cầu với mạng lưới đồ sộ vươn rộng khắp hành tinh của các tổ chức tư bản độc quyền xuyên quốc gia, thực sự là một quá trình đầy mâu thuẩn, hàm chứa sự bất bình đẳng mà phần bất lợi đang thuộc về các nước đang phát triển với nguy cơ tụt hậu ngày càng xa. Thứ tư, CNTB thực hiện được một bước phát triển thì cũng tạo ra những gì không dung được với chính nó. Từ góc nhìn này thì CNTB toàn cầu hóa thực sự là “chủ nghĩa tư bản chống chủ nghĩa tư bản”, là “chủ nghĩa tư bản hướng tới hậu tư bản, phi tư bản”. Chiến tranh, bạo lực, sự bất bình đẳng, môi sinh, phát triển vì con người…biết bao nhiêu vấn đề có tính sống cần phải khắc phục trong các lĩnh vực trên, và sự khắc phục này về cơ bản là khắc phục chính CNTB toàn cầu hóa. Như vậy, những biện pháp điều chỉnh của CNTB không làm thay đổi bản chất của nó. Tuy nhiên, xu hướng vận động khách quan của CNTB trong xu thế toàn cầu hóa tiếp tục chuẩn bị tiền đề không chỉ vật chất - kỹ thuật, mà cả những nhân tố hợp lý trong thiết chế chính trị, nhà nước cho chủ nghĩa xã hội. Trên góc nhìn này, xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng chính là sự hiện thực hóa cái lô-gic phát triển của lực lượng sản xuất và nền văn minh mà nhân loại đạt được trong CNTB. Toàn bộ tình hình như đã nêu làm cho việc thay thế chế độ tư bản để mở đường cho sự phát triển xã hội trở thành vấn đề thời sự của lịch sử đương đại. Bước đi tùy thuộc hoàn cảnh cụ thể, nhưng đó là xu thế lịch sử không thể đảo ngược. 2.2. Toàn cầu hóa hiện nay và triển vọng của chủ nghĩa xã hội 2.2.1. Phương pháp nhận thức về triển vọng của chủ nghĩa xã hội Thứ nhất: Chủ nghĩa Mác – Lênin nhận thức về triển vọng của CNXH như một xu hướng phát triển tất yếu của lịch sử. Triển vọng của CNXH trước tiên được chuẩn bị từ quá trình tự phủ định của chủ nghĩa tư bản. Quá trình đó được hình thành một cách tự phát trong lòng xã hội tư bản dưới hai xu hướng: phát triển và khủng hoảng. Theo Mác, mỗi bước phát triển của chủ nghĩa tư bản (cả về lực lượng sản xuất, cả về quan hệ sản xuất) dù muốn hay không , đều tạo nên những tiền đề cho một quá trình phủ định nó: “Thời kỳ tư sản của lịch sử có sứ mệnh tạo ra cơ sở vật chất cho một thế giới mới: một mặt, phát triển những sự giao dịch thế giới dựa trên sự phụ thuộc lẫn nhau của tất cả loài người, cũng như phát triển những phương tiện của sự giao dịch đó; mặt khác, phát triển các lực lượng sản xuất của con người và đảm bảo biến nền sản xuất vật chất thành sự thống trị đối với các lực lượng cuae thiên nhiên nhờ vào khoa học…”1. Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, Mác đánh giá cao vai trò cách mạng của khoa học và kỷ thuật: “Hơi nước, điện và máy dệt tự động là những người cách mạng nguy hiểm hơn rất nhiều, ngay cả khi so với những công nhân Barbes, Raspail và Blanqui” 2. Đề cập đến ý nghĩa hiện tượng xã hội hóa của sở hữu tư bản chủ nghĩa, Mác viết: “ Đó… là điểm quá độ tất nhiên để tư bản lại chuyển thành sở hữu của những người sản xuất, nhưng không phải với tu cách là sở hữu tu nhân của những người sản xuất riêng lẻ nữa mà với tư cách là sở hữu của những người sản xuất liên hiệp, thành sở hữu xã hội trực tiếp”3 “Các hợp tác lao động chỉ ra rằng, đến một giai đoạn phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất và của những hình thái sản xuất xã hội tương ứng với lực lượng sản xuất đó, thì tất nhiên là một phương thức sản xuất mới sẽ nảy sinh ra và phát triển trên cơ sở phương thức sản xuất cũ”. Mặt khác sự bất lực trong quản lý xã hội của giai cấp tư sản, “những cuộc nổi loạn của lực lượng sản xuất hiện đại chống lại những quan hệ sản xuất hiện hành”, những bất công, tệ nạn xã hội… cũng là những biểu hiện trực tiếp cho quá trình tạo ra những nhân tố phủ định của chủ nghĩa tư bản. Hai xu hướng phát triển và khủng hoảng này đan xen vào nhau trong mọi giai đoạn của chủ nghĩa tư bản. Lênin viết: “Trong thời đại chủ nghĩa tư bản, ngành công nghiệp nào đó, một số tầng lớp nào đó trong giai cấp tư sản, một số nước nào đó đều biểu hiện hoặc ít, hoặc nhiều, khi thì xu hướng này, khi thì xu hướng kia” (V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.27, tr.536); chủ nghĩa tư bản là xã hội cần phải thay thế, và những tiền đề cho chủ nghĩa xã hội đang được tích lũy ngày càng đầy đủ ngay trong lòng nó. Triển vọng của chủ nghĩa xã hội là thể hiện một xu thế lịch sử được hình thành từ trong lòng xã hội tư bản. Nó đang được chủ nghĩa tư bản xác định theo một logic là Mác đã vạch ra: chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó phủ định xã hội hiện tồn. Thứ hai: triển vọng của chủ nghĩa xã hội được chủ nghĩa Mác-Lênin vạch ra qua những nhu cầu chính trị - xã hội thường trực của nhân loại (độc lập, dân chủ, công bằng…). Những nhu cầu thực tiễn này tuy gắn với những khát vọng của con người, song không hoàn toàn chủ quan hay duy tâm, bởi vì thiếu chúng thì lực lượng sản xuất bị kìm hãm và xã hội cũng không thể phát triển bình thường được. Lịch sử đã cho thấy, sự phát triển chậm chạp của những hình thái kinh tế-xã hội trước chủ nghĩa tư bản không phải do lực lượng sản xuất nhỏ bé, lạc hậu mà do nhu cầu trên không được giải quyết thỏa đáng cho đa số nhân dân lao động. Những nhu cầu chính trị - xã hội đó suy cho cùng, cũng mang tính hiện thực khách quan vì nó là sự phản ánh cái tất yếu của kinh tế. Hơn nữa nhận thức này còn phản ánh tính chủ động tự giác của con người trong phát triển hiện đại. Chính sự phát triển cao của kinh tế - xã hội đã tạo ra cơ sở để con người có thể chủ động nhận thức và định hướng cho tương lai của mình. Nhu cầu phát triển dân chủ trước tiên được giải quyết bằng phương thức cách mạng: đập tan nhà nước tư sản, thiết lập và giữ vững nhà nước xã hội chủ nghĩa để tạo ra tiền đề chính trị cơ bản nhất cho nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và là bước tiến đầu tiên trong quá trình hiện thực hóa triển vọng của CNXH. Nhu cầu này còn được thể hiện qua quá trình tiệm tiến, tích lũy về lượng trong cuộc đấu tranh vì dân chủ trong xã hội ... Thứ ba: Triển vọng của CNXH được chủ nghĩa Mác – Lênin nhận thức qua những tình huống chính trị xã hội trong quá trình giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Thứ tư: Lý luận về sự kế tiếp của các hình thái kinh tế - Xã hội của Mác chỉ ra cái logic căn bản của lịch sử và triển vọng của nó. Triển vọng của CNXH mang tính tất yếu và được xác định cụ thể bởi những đặc trưng cơ bản chứ không hề mơ hồ, vô định. CNXH có những đặc trưng phân biệt với chủ nghĩa tư bản. Những đặc trưng cơ bản của CNXH là dựa trên cơ sở của lực lượng sản xuất phát triển cao có đủ năng lực sản xuất để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của mọi thành viên trong xã hội; quan hệ sản xuất chủ đạo của xã hội XHCN đươc xây dựng trên cơ sở chế độ công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu, nguyên tắc phân phối cơ bản là phân phối theo lao động; Nhà nước của nó là nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, quyền lực cao nhất thuộc về nhân dân lao động mà nòng cốt là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa; kểu tổ chức của nó dựa trên nguyên tắc lao động hòa bình “bình đẳng giữa các dân tộc và trong quan hệ xã hội…Những đặc trưng của CNXH “không phải là một lý tưởng mà hiện thực cần phải khuôn theo”, mà là những giải pháp từ hiện thực để giải quyết những vấn đề thự tiễn mà chủ nghĩa tư bản không thể giải quyết trong khuôn khổ của nó. Với ý nghĩa đó, “Chủ nghĩa cộng sản là hình thức tất yếu và là nguyên tắc kiên quyết của tương lai sắp tới” (Mác và Ăng ghen: Toàn tập, Sđd, t.42, tr.183). Mặt khác, trong quá trình vận dụng những nguyên lý, đặc trưng của CNXH, các nhà kinh điển cũng đề cao tính sinh động, sự sáng tạo khi hiện thực hóa triển vọng của chủ nghĩa xã hội. Chẳng hạn, về vấn đề mô hình xây dựng CNXH, Lênin viết: “Bất cứ một người xã hội chủ nghĩa biết suy nghĩ nào viết về những triển vọng của tương lai, cũng không bao giờ dám có ý nghĩ cho rằng chúng ta có thể căn cứ vào một sự chỉ dẫn nào đấy đã có sẵn từ trước mà định ra được ngay và xây dựng được ngay một lúc những hình thức tổ chức của một xã hội mới” (V.I.Lênin:Toàn tập, Sđd, t.36, tr.469). Triển vọng của CNXH dần hiện rõ trên thực tiễn và được hoàn thiện từ thực tiến. “Những hình thức tổ chức xã hội mới” là đa dạng tùy theo sự quy định của thực tiến ở mỗi nước. “tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mối dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội” (Sđd, t.36, tr.160) Trên đây là những phương pháp cơ bản để chủ nghĩa Mác-Lênin xác định triển vọng của chủ nghĩa xã hội. Tính toàn vẹn của vấn đề này chỉ có thể được giải quyết khi nhận thức bằng các phương pháp cơ bản đó. Quan niệm về triển vọng của chủ nghĩa xã hội được hiểu là: Triển vọng của chủ nghĩa xã hội là biểu hiện của xu thế thời đại tiến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Xu thế này đang được hiện thực hóa trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nhiều nước, đang hàng ngày, hàng giờ tác động vào chủ nghĩa tư bản để phát triển nó, phủ định nó và thông qua vai trò tự giác, tích cực sáng tạo của các chủ thể đang tham gia vào đời sống xã hội hiện đại mà hạt nhân là giai cấp công nhân và các đảng cộng sản. Triển vọng của chủ nghĩa xã hội chính là quá trình hiện thực hóa sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân. Triển vọng của chủ nghĩa xã hội còn là nhu cầu của quá trình phát triển nhanh, bền vững và nhân bản đang dần chín muồi trong thực tiễn và trong tư duy của nhân loại. 2.2.2. Toàn cầu hóa hiện nay và triển vọng của chủ nghĩa xã hội Khi mô hình của CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, không ít người có thiện chí với CNXH đã băn khoăn lo lắng về số phận của những nước XHCN còn lại; còn kẻ thù thì hí hửng dự báo về ngày tận số của chủ nghĩa cộng sản, của “những đứa con côi cút của chủ nghĩa xã hội” như Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba…Trên thực tế, không ít khó khăn to lớn đã đặt ra với những nước này. Nổi bật trong số đó là vấn đề nhận thức lại khả năng phát triển theo định hướng XHCN. Công cuộc đổi mới tư duy, tự do tư tưởng đã làm nảy sinh nhiều cuộc tranh luận. Có hai trọng điểm trong quá trình tìm tòi này: Thứ nhất là sự lựa chọn con đường phát triển tiến lên CNXH và thứ hai, vấn đề cách thức, quá trình đi lên CNXH của mỗi quốc gia. Toàn cầu hóa kinh tế và dân chủ hóa xã hội đang tạo những tiền đề khách quan cho sự phủ định CNTB đồng thời cũng khẳng định triển vọng của CNXH ở thế kỷ XXI. Vấn đề còn lại là làm thế nào để hiện thực hóa nhu cầu ấy? Câu trả lời đang được làm rõ từ thực tiễn của những nước đang phát triển theo định hướng XHCN. Từ 2- 3 thập kỷ trở lại đây, chủ nghĩa xã hội lại chứng minh sức sống và tính ưu việt của mình thông qua quá trình cải cách, đổi mới và phát triển. Với cường quốc Trung Quốc chiếm gần 1/5 dân số thế giới, liên tục dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng kinh tế suốt gần 30 năm qua, hiện đứng thứ 2 về GDP toàn cầu; với Việt Nam đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đang sẵn sàng là bạn và đối tác tin cậy của các nước; với Cuba kiên định và sáng tạo trong vòng tay ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của bè bạn khắp năm châu; với sự phục hồi và hoạt động của phong trào cộng sản quốc tế gồm gần 80 đảng, trên 80 triệu đảng viên, chủ nghĩa xã hội và phong trào cộng sản quốc tế vẫn là một lực lượng chính trị đi tiên phong trong nhiều mục tiêu của thời đại; là niềm hy vọng của đông đảo nhân dân lao động toàn thế giới; là một chủ thể quan hệ quốc tế mà không thế lực nào có thể bỏ qua trong những tính toán chiến lược toàn cầu. Con đường chủ nghĩa xã hội do Cách mạng Tháng Mười Nga mở ra từ năm 1917 không chỉ là của giai cấp vô sản, mà là con đường của các tầng lớp lao động, lực lượng cách mạng, các dân tộc bị bóc lột, áp bức và nhân loại tiến bộ, cho nên đó là con đường của thế kỷ XXI. Chân lý này đang được minh chứng sinh động ở nhiều nơi trên thế giới, tiêu biểu là ở Mỹ La tinh và đất nước Vênêzuêla tươi đẹp, nơi phong trào cánh tả đang dấy lên thành một cao trào mới và đang nhiệt tình kiến tạo chủ nghĩa xã hội của thế kỷ XXI. Phía trước ắt hẳn còn nhiều chông gai, thậm chí cả những bước lùi tạm thời, nhưng nhân dân thế giới sẽ tiếp tục tìm kiếm những hình thức khác nhau đi đến một thế giới khác, ở đó, chủ nghĩa tư bản không phải là sự lựa chọn, càng không là một tất yếu. Cuộc đấu tranh tự giác ấy của lao động toàn thế giới sẽ buộc sự vận động của các mâu thuẫn nội tại trong lòng chủ nghĩa tư bản trở thành khuynh hướng lịch sử tiến lên chủ nghĩa xã hội. 2.3. Thái độ và hành động của Việt Nam trước toàn cầu hóa trên con đường xây dựng CNXH Việt Nam đã thực hiện chính sách "Đổi mới" từ hơn 20 năm nay và đã đạt được những thành tựu đáng phấn khởi: "kinh tế phát triển nhanh; tổng sản phẩm quốc dân trong nước tăng gấp đôi; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và năng lực sản xuất (một số sản phẩm quan trọng) tăng hơn trước; đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Nền kinh tế từ chỗ thiếu lương thực và hàng tiêu dùng đến chỗ có dư; từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN; từ chỗ chủ yếu có 2 thành phần kinh tế chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo. Văn hóa - xã hội có những tiến bộ mới; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng an ninh được giữ vững. Quan hệ đối ngoại mở rộng". Coi tụt hậu là nguy cơ lớn nhất, Việt Nam tiếp tục quá trình đổi mới, mở cửa, "khẳng định và nhất quán chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa trong hội nhập kinh tế quốc tế", "tranh thủ các thời cơ để hội nhập" trong khi "xác định độc lập, tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất cơ bản, bảo đảm sự bền vững của độc lập, tự chủ về chính trị" trên "nguyên tắc bao trùm là bảo đảm giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng XHCN, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường; hợp tác bình đẳng cùng có lợi, chống lại sự áp đặt không công bằng, không bình đẳng". Việt Nam ý thức được rằng toàn cầu hóa là một quá trình đầy mâu thuẫn (như đã nêu ở phần I), mà mâu thuẫn đặc trưng cho các nước đi theo con đường phát triển chủ nghĩa xã hội là ngoài độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia bị đụng chạm, còn có sức ép của xu hướng tư bản chủ nghĩa mà toàn cầu hóa chi phối, khống chế đòi phải tự do hóa, tư nhân hóa kinh tế, mở toang cánh cửa kinh tế để từ đó đi đến chuyển hóa chế độ chính trị. Do đó, Việt Nam chủ trương chủ động "hội nhập" và xác định quá trình hội nhập là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh. Việt Nam không bao giờ ảo tưởng rằng các nước tư bản, đặc biệt là các nước tư bản phát triển nhất, lại hỗ trợ cho mình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ngay khi tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, Tổng thống Hoa Kỳ Bin Clinton cũng thẳng thừng nói rằng sẽ chuyển hóa Việt Nam như họ đã từng chuyển hóa Liên Xô, Đông Âu trước đây. Các nước đầu tư vào Việt Nam cũng luôn đòi hỏi Việt Nam phải cải cách hơn nữa, phải tạo môi trường đầu tư thuận lợi hơn nữa... họ không bao giờ bằng lòng với những cố gắng của Việt Nam. Họ đòi Việt Nam phải nhanh chóng tư nhân hóa nhằm xóa bỏ sự chủ đạo của kinh tế nhà nước, cơ sở của định hướng XHCN. Họ khuyến khích dân chủ hóa, luôn vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người... Là một nước kém phát triển tiến lên chủ nghĩa xã hội không qua con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, Việt Nam phải tính tóan kỹ cách thức hội nhập, mở cửa sao cho không "chệch hướng XHCN", để vừa tranh thủ tối đa các cơ hội và loại trừ, hạn chế hết mức những rủi ro và cạm bẫy. Lênin từng nói "giai cấp vô sản buộc phải để cho chủ nghĩa tư bản tham gia vào sự nghiệp của mình" (Lênin: Toàn tập, trang 25, và trang 141), và các nước kém phát triển như Việt Nam lại càng cần phải "học hỏi" và "tranh thủ" chủ nghĩa tư bản về phương thức quản lý, về nguồn vốn và kỹ thuật, công nghệ... tức là Việt Nam có thể "mượn tiền đề từ các nước tư bản phát triển" để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Và chúng ta tin tưởng rằng chúng ta sẽ không bị chệch hướng, bởi vì : - Sự nghiệp "đổi mới", "hội nhập", "mở cửa" của Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo nhằm mục tiêu xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. - Chúng ta "đổi mới", "hội nhập", "mở cửa" với mục đích giải phóng lực lượng sản xuất, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. - Chuyển từ nền kinh tế hai thành phần sang nền kinh tế nhiều thành phần, từ chế độ công hữu đơn nhất sang nhiều loại hình sở hữu, lấy công hữu làm nền tảng, chính là sử dụng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. - Việt Nam vận dụng cơ chế thị trường kết hợp với kế hoạch hướng dẫn để vận hành nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. - Cùng với chính sách phát huy tối đa nội lực, Việt Nam thực hiện chính sách "mở cửa", "hội nhập" với tất cả các nước trên thế giới để thu hút ngoại lực nhằm đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong khi hội nhập, mở cửa, chúng ta vẫn giáo dục vận động nhân dân và có những chính sách đúng đắn nhằm bảo tồn nền văn hóa và bản sắc dân tộc. Đồng thời chúng ta kiên quyết đấu tranh chống lại những ý đồ can thiệp vào công việc nội bộ dưới mọi biểu hiện của "diễn biến hoà bình". Chúng ta đã từng trả giá cho việc bị bao vây cấm vận về kinh tế và cô lập về chính trị. Nền kinh tế nước ta đã từng rơi vào khủng hoảng trầm trọng kéo theo nhiều khó khăn, tiêu cực xã hội. Hơn ai hết chúng ta lại thấm nhuần bài học "kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại" và với tinh thần "chủ động và sáng tạo" trong sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, việc tham gia vào quá trình toàn cầu hóa sẽ giúp chúng ta lợi dụng được sự phân công lao động quốc tế mới và nếu biết đi tắt đón đầu một số ngành mũi nhọn hợp với khả năng và trình độ của ta, chắc chắn chúng ta sẽ tranh thủ được những cơ hội mà toàn cầu hóa tạo ra. KẾT LUẬN Toàn cầu hóa là quy luật phát triển khách quan của nền kinh tế thế giới. Nó bắt nguồn từ quá trình quốc tế hóa lực lượng sản xuất dưới tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu, là tiến trình lịch sử, nó đang và sẽ cuốn hút hầu hết các nước trên thế giới vào guồng máy của nó. Chủ nghĩa tư bản trong tiến trình phát triển của mình đã tạo ra quá trình toàn cầu hóa, nhờ đó CNTB đã có sự phát triển vượt bậc. Tuy nhiên, sự phát triển đó lại càng nhanh đưa CNTB đến với những giới hạn không thể vượt qua. Thế kỷ XXI đặt ra nội dung và yêu cầu mới cho mục tiêu phát triển. Đó là sự phát triển trong hoà bình và tự do; phát triển hài hoà giữa vật chất và tinh thần; phát triển trong công bằng và dân chủ; phát triển bền vững và nhân văn; sự phát triển của mỗi người, mỗi nhóm xã hội, mỗi giai cấp, tập đoàn, mỗi quốc gia, dân tộc phải là điều kiện tích cực cho sự phát triển của những người khác và toàn bộ loài người. Khuôn khổ này của sự phát triển không thể tương dung với giới hạn chật hẹp của hình thái kinh tế- xã hội tư bản chủ nghĩa, cái hình thái chỉ có thể tồn tại và vận động được nhờ giá trị thặng dư thông qua bóc lột lao động, nhờ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng lớn, nhờ đầu cơ tài chính và chiến tranh,v.v... Trong bối cảnh hiện nay, các nước XHCN đang có rất nhiều thuận lợi cho sự phát triển của mình, quá trình toàn cầu hóa cho phép các nước này “phát triển rút ngắn”, “đi tắt đón đầu”…Mặc dù vậy, không nên quên rằng bên cạnh thời cơ vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua. Là một trong những nước đang phát triển theo định hướng XHCN, Việt Nam sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Những thay đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và tinh thần theo hướng ngày càng tốt đẹp hơn đã làm cho đa số người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước./. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. PGS. TS. Nguyễn An Ninh (2005), Đề cương bài giảng: Toàn cầu hóa và triển vọng của chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia. PGS.TS. Nguyễn An Ninh (2006), Về triển vọng của chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. GS. Trần Xuân Trường (2009), Vận mệnh lịch sử của chủ nghĩa tư bản, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội. GS.TS. Nguyễn Trọng Chuẩn (2009), GS.TSKH. Inkple Yni cop (đồng chủ biên), Vận mệnh lịch sử của chủ nghĩa xã hội, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội. PGS.TS. Nguyễn An Ninh (2010), Những nhân tố mới tác động đến triển vọng của chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. GS.TS. Vũ Văn Hiền (2010), Nhận thức về thời đại ngày nay, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTính chất hai mặt của toàn cầu hóa hiện nay với tương lai của chủ nghĩa tư bản và triển vọng của chủ nghĩa xã hội.doc