Tính chất tượng trưng trong thơ dâng của Tagore

PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài. Sau khi tập “thơ dâng” (gitanjali) đat giải nobel (1913), tên tuổi Tagore bắt đầu lừng danh và ông trở thành nhà thơ nổi tiếng của thế giới. từ đó việc nghiên cứu R. Tagore càng trở nên sâu rộng.Vấn đề nghiên cứu Tagore ở các nước Anh, Pháp, Nga, Ân . hình thành từ đó. Ơ Việt Nam, đề cập đến Tagore sớm nhắt, có lẽ vào năm 1942 trên báo “Nam phong” số 81,84.Việc nghiên cứu và giảng dạy thơ Tagore còn mới mẻ và ít ỏi. Nghiên cứu thi pháp thơ Tagore còn ít, hầu như người ta nói nhiều về thơ và cuộc đời ông. Như vậy, đứng ở góc độ nghiên cứu thơ Tagore, nhìn chung các công trình nghiên cứu mới bàn về cái được biểu hiện- thế giới được miêu tả trong thơ Tagore. Các nhà nghiên cứu khai thác kĩ nội dung chủ nghĩa nhân đạo, đề cập đến cảm hứng tôn giáo - triết học trong thơ ông. Những vấn đề nhủ điểm nhìn nghệ thuật của cái tôi trữ tình, bút pháp hướng nội, thủ pháp nghệ thuật gần như rất ít đề cập đến . MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 2. Mục đích của đề tài 3. Phạm vi tài liệu 4. Phương pháp nghiên cứu 5. Kết cấu niên luận Phần nội dụng Chương 1: Khái quát chủ nghĩa tượng trưng trong thơ 1. Chủ nghĩa tượng trưng và tượng trưng 2. Tượng trưng trong quan điểm sáng tác của Tagore Chương II. Tượng trưng trong “Thơ Dâng” của Tagore 1. Tượng trưng trong các thể loại của Tagore 2. Tượng trưng trong “Thơ Dâng” 3. Nhạc tính trong “Thơ Dâng” Phần Kết luận Tài liệu tham khảo

doc25 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 07/09/2013 | Lượt xem: 4558 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tính chất tượng trưng trong thơ dâng của Tagore, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA VĂN HỌC --------------- NIÊN LUẬN TÍNH CHẤT TƯỢNG TRƯNG TRONG THƠ DÂNG CỦA TAGORE Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Phương Liên Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thu Lớp : K50-Văn học Hà Nội -2007 PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài. Sau khi tập “thơ dâng” (gitanjali) đat giải nobel (1913), tên tuổi Tagore bắt đầu lừng danh và ông trở thành nhà thơ nổi tiếng của thế giới. từ đó việc nghiên cứu R. Tagore càng trở nên sâu rộng.Vấn đề nghiên cứu Tagore ở các nước Anh, Pháp, Nga, Ân... hình thành từ đó. Ơ Việt Nam, đề cập đến Tagore sớm nhắt, có lẽ vào năm 1942 trên báo “Nam phong” số 81,84.Việc nghiên cứu và giảng dạy thơ Tagore còn mới mẻ và ít ỏi. Nghiên cứu thi pháp thơ Tagore còn ít, hầu như người ta nói nhiều về thơ và cuộc đời ông. Như vậy, đứng ở góc độ nghiên cứu thơ Tagore, nhìn chung các công trình nghiên cứu mới bàn về cái được biểu hiện- thế giới được miêu tả trong thơ Tagore. Các nhà nghiên cứu khai thác kĩ nội dung chủ nghĩa nhân đạo, đề cập đến cảm hứng tôn giáo - triết học trong thơ ông. Những vấn đề nhủ điểm nhìn nghệ thuật của cái tôi trữ tình, bút pháp hướng nội, thủ pháp nghệ thuật gần như rất ít đề cập đến. 2.Mục đích của đề tài Với đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ đong góp thêm cho việc tìm hiểu đặc sắc nghệ thuât trong thơ Tagore nói chung và tập thơ “thơ Dâng” nói riêng. Đồng thời chúng tôi mong muốn giúp bạn đọc sẽ hiểu sâu hơn về tập thơ nổi tiếng này của R.Tagore. 3. Phạm vi tài liệu Tài liệu chính được sử dụng là tập “Thơ Dâng” (bản dịch tiếng anh và bản dịh tiengs việt của Dặng Anh Đào), Tago văn và người, nhà xuất bản văn hóa thông tin. Ngoài ra còn sử dụng một số sách lí luận, phê bình, các tài liệu tạp chí nghiên cứu. 4. Phương pháp nghiên cứu - Khảo sát trên văn bản và thống kê so sánh. 5. Kết cấu niên luận -Phần mở dầu -Phần nội dung gồm hai chương - Phần kết luận PHẦN NỘI DUNG Chương I: Khái quát chủ nghĩa tượng trưng trong thơ 1. Chủ nghĩa tượng trưng và tượng trưng Theo từ điển văn học chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa tượng trưng là một trào lưu nghệ thuật và một quan điểm triết học- mỹ học. ở cuối thế kỉ XIX nảy sinh như một khuynh hướng văn học ở Pháp những năm 60, 70. Với Bôđơle, Veclen, Lenmo...sau đó lan rộng thành một hiện tượng văn hóa ở toàn châu Âu. Bao gồm cả sân khấu và hội họa, âm nhạc. Ơ Nga, chủ nghĩa tượng trưng nảy sinh từ những năm 90 với Mixki, Merozkopxki và đầu thế kỉ XX với Blok, Belui. Các nhà tượng trưng biểu hiện một cách độc đáo cảm quan về thời đại khủng hoảng xã hội của tư sản, khủng hoảng của đời sống văn hóa của tư tưởng, của ngôn ngữ. Nhà thơ Pháp Moorrea- người đã nêu thuật ngữ “chủ nghĩa tượng trưng” trong tuyên ngôn tượng trưng khẳng định rằng: Thi ca tượng trưng biểu hiện trước hết “những tư tưởng nguyên thủy” nó là kẻ thù “sự mô tả khách quan”. Hình tượng tượng trưng là đa nghĩa bất định, nó ghi nhận sự tồn tại “của khu vực bí ẩn”, của những cái vô hình, những thế lực định mệnh. Do chỗ âm nhạc hơn hẳn các nghệ thuật khacstrong việc truyền đạt những sắc thái, những bán âm, nên tượng trưng nghệ thuật cũng mang nhạc tính. Chủ nghĩa tượng trưng yêu cầu thơ “ trước hết phải có nhạc tính”( Veclen). Quan niệm tượng trưng như là hình tượng có khả năng không chỉ biểu đạt những sự tương hợp của các khách thể và hiện tượng, mà trước hết có khả năng truyền đạt nội dung thể nghiệm của ý thức, do vậy ở các tac phẩm của những người theo trường phái này, biểu tượng vật thể thực được đan bện chặt với các thủ pháp gây ấn tượng. Lối sáng tác của chủ nghĩa tượng trưng- với tính liên tưởng, lối nói bóng gió với vai trò đặc biệt của văn cảnh đã góp phần cách tân và mở rộng ý thức nghệ thuật. Vai trò chủ đạo trong nhận thức và sang tác nghệ thuật của chủ nghĩa tượng trưng là trực giác- được đồng nhất với sự bừng ngộ thần bí, với sự khải thị, với trạng thái kích động cao. Cũng theo Từ điển văn học, tượng trưng là khái niệm vừa mang nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Với nghĩa rộng, tượng trưng là một phạm trù phổ quát của mỹ học, được xác lập thông qua việc đối chiếu hai phạm trù kề cận: một phía là hình tượng nghệ thuật, một phía là kí hiệu. Tượng trưng là hình tượng được hiểu ở bình diện kí hiệu, và là kí hiệu chứa tính đa nghĩa của hình tượng. Mọi tượng trưng đều là hình tượng (và hình tượng đều là tượng trưng ở những mức khác nhau) nếu ở hình tượng ấy luôn luôn hiện diện một nghĩa nào đó, tuy hòa với hình tượng nhưng không bị đồng nhất hoàn toàn vào hình tượng. Hình tượng khách thể và hàm nghĩa chiều sâu là hai cực không tách rời nhau của tượng trưng (bởi vì tách khỏi hình tượng thì nghĩa sẽ mất tính biểu hiện, mà tách khỏi nghĩa thì hình tượng sẽ bị phân rã thành các yếu tố) nhưng tượng trưng được bộc lộ chính là qua cả sự phân li lẫn sự liên kết giữa chúng. Nhập vào tượng trưng, hình tượng sẽ trở nên “trong suốt”, nghĩa sẽ “soi rọi” qua nó, trở thành nghĩa hàm, có chiều sâu, có viễn cảnh. Nghĩa của tượng trưng là cái không thể giải mã bằng nỗ lực lí trí, nó đòi hỏi sự thâm nhập. Đây chính là sự khác biệt căn bản của tượng trưng so với phúng dụ. ở tượng trưng không tồn tại một nghĩa nào đó dưới một vài định thức duy lí để có thể đem đặt và sau đó rút ra khỏi hình tượng.Tượng trưng là hình tượng mà” phải được hiểu như nó vốn là vậy, và chỉ nhờ thế mới nắm bắt được cái mà nó biểu đạt” (F.WScheking). Cấu trúc của tượng trưng thường nhằm làm cho mỗi hiện tượng đơn lẻ được thấm nhuần tính chất “khởi thủy”, thông qua đó đem lại một hình tượng hoàn chỉnh về thế giới. Cấu trúc của tượng trưng là đa tầng và có dự tính đến nỗ lực của tâm thức của người tiếp nhận. Hàm nghĩa của tượng trưng không phải là cái có sẵn mà như một xu thế động. Hàm nghĩa naỳ không thể nắm được nhờ phân tích, quy thành một định thức đơn trị, chỉ có thể soi rọi đối sánh nó với những kết hợp mang tính tượng xa hơn, có sự sáng rõ của lí tính hơn, nhưng không đạt tới khái niệm thuần khiết. Học thuyết tượng trưng của phái Platon, mô tả mọi thứ nhìn thấy được như là tượng trưng và thực thể nhìn thấy được như là tượng trưng của bản chất thượng đế vốn sâu kín, vô định, không hiển thị vì vậy những tầng nấc thấp của trật tự thứ bậc thế giới tái tạo theo lối tượng trưng hình ảnh của những tầng nấc tối cao, khiến trí óc có thể đi lên theo thang bậc hàm nghĩa. Theo nghĩa hẹp tượng trưng là một dạng chuyển nghĩa (cùng loại với phúng dụ). Sự tiếp hợp của hai bình diện - nội dung “vật thể” của hình tượng và nghĩa bóng của nó- có thể hoặc là hiển nhiên (khi hai bình diện đều có mặt trong văn bản).Khi đó sẽ có một đối sánh tượng trưng, hoặc là ẩn kín. Khi đó sự ám chỉ sẽ nằm ở mạch ngầm văn bản và toàn bộ tác phẩm sẽ mang ý nghĩa tượng trưng. Ơ mức giới hạn, mỗi yếu tố của hệ thống nghệ thuật ( ẩn dụ, tỉ dụ, tả cảnh...) đều có thể trở thành tượng trưng được hay không là do một loạt dấu hiệu : a. Độ cô đúc của khái quát nghệ thuật b. Dụng ý của tác giả muốn lộ ra ý nghĩa tượng trưng của các điều mình muốn miêu tả. c. Văn cảnh tác phẩm, khi ý nghĩa tượng trưng của một vài yếu tố hình tượng lộ ra, bất chấp ý định của tác giả, điều này được xác nhận thêm khi xem xét toàn bộ hệ thống sáng tác của nhà văn. Đôi khi ý nghĩa tượng trưng của một yếu tố cụ thể lại là tín hiệu về một “lời giải”,được nhấn mạnh khi đó có thể coi yếu tố này như một mô tip hoặc chủ đạo. d. Văn cảnh văn học của thời đại và văn hóa Trong văn xuôi, ta thấy tượng trưng dược thể hiện ở chi tiết truyện, qua tình tiết truyện, có thể cả tình huống truyện nữa. Thử dừng lại ở tình huống -tượng trưng trong truyện ngắn. Tình huống tượng trưng là kiểu tình huống trong đó cái ý nghĩa của hình tượng sự bộc lộ chủ đề rất kín đáo, thậm chí có khi bị phủ một lớp sương mù huyền hoặc. theo nghĩa rộng thì tượng trưng là hình tượng được biểu hiện ở bình diện kí hiệu, là kí hiệu chứa tính đa nghĩa của hình tượng, vừa không đồng nhất hoàn toàn với hình tượng. Ví dụ trong truyện ngắn “Phiên chợ Giat” của Nguyễn Minh Châu, có cái nét nhòe mơ hồ, cái không xác định của hình tượng và là một thế giới quyện nhòe của hư và thực, đó là những kí hiệu riêng của nhà văn. Trong truyện ngắn này “giấc mơ” như là hình tượng chính “thức giấc vì một giấc mơ”, “trong cơn mơ ngủ”, “thức giấc vì một giấc mơ”. như thế giấc mơ đã trở thành một tình huống tượng trưng trong thiên truyện này. Như vậy, tượng trưng trong văn học rất đa dạng nó như một phương tiện để tác giả truyền tải ý đồ nghệ thuật của mình. Tượng trưng trong thơ càng phong phú hơn, hầu hết các nhà thơ đều coi thủ pháp nghệ thuật như một thành công cho tác phẩm, vì đặc trưng của thơ là gợi nhiều hơn tả nên các nhà thơ sử dụng hình ảnh càng cô đọng càng súc tích thì tính biểu trưng càng cao. Ví dụ trong thơ Hàn Mặc Tủ hình ảnh “ánh trăng” dường như tượng trưng cho cả con người cũng như phong cách sáng tác của nhà thơ. Trong thơ Tagore ta thấy thủ pháp tượng trưng dường như có trong mọi bài thơ, mọi hình ảnh thơ. 2.Tượng trưng trong quan điểm sáng tác của Tagore Tagore cho rằng “mọi ý tưởng trừu tượng đều không có chỗ trong nghệ thuật thật sự nơi mà muốn được chấp nhận thì phải dưới dạng ngụy trang nhân cách hóa. Đó là lí do vì sao thơ ca đã cố chọn từ ngữ có các phẩm chất sống động- những từ ngữ không chỉ để thông tin thuần túy, mà đã biến nhập trong tim ta, mà hình dáng chưa bị mài mòn vì đã thường xuyên trên thị trường”(Nghệ thuật là gì?, trích từ tuyển tập văn học Ân Độ, tr.384). Tagore khuyến khích việc lựa chọn từ ngữ vì việc lựa chọn từ ngữ sống động sẽ tạo được thông tin tối đa của tác phẩm, ông viết: “trong thi pháp, trong từ ngữ và ý nghĩ của tôi, tôi buông thả theo lối tự do phóng túng”(My life).Nhưng về chất liệu trong tác phẩm, ông cho rằng phải bắt nguồn từ hiện thực, từ cái “có” của thế giới: “nhiệm vụ của người nghệ sĩ là nhắn nhủ với thế giới rằng chúng ta lớn lên trong hiên thực, bằng các hiện thực mà chúng ta thể hiện”(Tôn giáo của nhà thơ). BằNG các tác phẩm của mình Tagore đã chứng minh cho quan điểm trên, các tác phẩm văn xuôi của Tagore đều xuất phát từ đất nước ấn Độ, đó là những người phụ nữ, hay là thiên nhiên của Ân Độ “nhiệm vụ của người nghệ sĩ là tuyên bố lòng tin của mình vào cái có vĩnh cửu để nói: “tôi tin có một lí tưởng quanh quẩn trên trái đất và thẩm thấu vào trái đất cái lí tưởng của thiên đường kia không phải chỉ là kết quả tượng tượng mà là thực tiễn cuối cùng trong đó mọi thứ sống và chuyển động”(Tôn giáo của nhà thơ). Ông còn nhận thấy vai trò quan trọng của nhịp điiệu “có vần, câu thơ dừng lai mà không chấm dứt, từ ngữ lặng đi mà âm nhạc kéo dài”.Theo ông, chúng ta cần phải có một thứ trung gian để biểu đạt tình cảm của mình: “loài người vốn có những chất thơ trong trái tim mình nên họ cần thể hiện tình cảm của họ càng hoàn chỉnh càng tốt. Muốn như vậy, họ cần có một thứ trung gian, mềm mại và sinh động, từ thời đại này đến thời đại khác, trở thành của riêng họ”. nhưng cái trung gian đó phải là cái do mình tạo ra chứ không phải sao chép hay vay mượn : “không một nhà thơ nào lại đi vay mượn thứ trung gian làm sẵn từ một cửa hàng đáng kính nào đó. Anh ta không những có hạt giống riêng của mình mà còn phải làm mảnh đất của mình nữa”. Như vậy, Tagore đã kết hợp cả hiện thực lẫn huyền ảo trong thủ pháp tượng trưng trong sáng tác của mình, ông có nhưng quan niệm đổi mới so với các nhà tượng trưng trước đó. CHƯƠNG II. TƯỢNG TRƯNG TRONG “THƠ DÂNG” CỦA TAGORE. 1. Tượng trưng trong các thể loại của Tagore. - Trong kịch. Có nhiều cách để phân loại kịch của Tagore. Có thể chia theo giai đoạn sáng tác, chia theo ngôn ngữ sáng tác hoặc chai theo hình ảnh của các lớp nghĩa được chúng biểu đạt. Nếu chia theo hình ảnh và các lớp nghĩa biểu đạt, ta thấy những vở kịch mang tính tượng trưng cao như “Post office” - Bưu điện; Theo Cycle of Spring- vòng tuần hoàn hảo của mùa xuân; Red Orleanders - Trúc đào đủ. Để có thể đánh giá chính xác về những vở kịch mang tính tượng trưng của Tagore, chúng ta cần phải phân biệt giữa những biểu tượng thuần túy và những biểu tượng mang tính điển hình khác. Một tác phẩm tượng trưng gồm có hai lớp nghĩa: Lớp nghĩa trên bề mặt và lớp nghĩa khác được ngầm ẩn bên trong. Lớp nghĩa trên bề mặt tương đối rõ ràng trong khi lớp nghĩa ngầm ẩn thường được gợi ý gián tiếp. Trong những vở kịch tượng trưng thì hai lớp nghĩa này không hòa lẫn vào nhau mà biểu lộ song song với nhau. Trong “The Cycle of Sping - Vong tuần hoàn của mùa Xuân” ý tưởng chính của vở kịch là sự thay đổi của mùa đông. Trong vở kịch ra vẻ bề ngoài của mùa xuân. Cái cũ biến đổi dần dần để tạo thành cái mới. Tất cả những nghi lê, những quy luật thiên nhiên, những bài ca điệu vũ của vở kịch, chúng ta thấy được kết cục tất yếu rằng mùa đông buộc phải chấm dứt và mùa xuân nhất định phải ra đời. Vở kịch gồm một loạt các nhân vật mang tính chất biểu tượng. Nhân vật Minstel mù về thể chất thì mù nhưng ông lại có thể nhìn thấy mọi điều bằng toàn bộ cơ thể và tâm hồn mình. Còn Chandra là biểu tượng của tuổi trẻ và cuộc sống. Còn ông già mù Minstel là nhà tiên tri của cái mới đang tới. Hầu hết trong các vở kịch của Tagore, ông đều lấy nhân vật với những hành động và tính cách của họ để biểu tượng cho tư tưởng mà ông muốn chuyển tải lại cho người đọc. 2. Tượng trưng trong “Thơ Dâng” Tagore. 2.1. Hình ảnh “người thầy, Thượng đế…” Xuất hiện trong Thơ Dâng rất nhiều nhà thơ sử dụng hình ảnh này như một nhân vật để nói chuyện, gửi gắm tâm tình của mình. Người đã tạo tôi vô tận; đó là ý thích của người (Thou host made me endles, such is thy pleasure) (Thơ Dâng, bài 1). Nhà thơ đã sử dụng những thuật ngữ của tôn giáo để đưa vào thơ mình.ất nhiều học giả phương Tây đã hiểu nhầm nhà thơ là một con chiên sùng đạo. Tiến sĩ A. Aronson viết: “Khi những bài thơ của Tagore” lần đầu tiên xuất hiện tỏng các bản dịch bằng tiếng Anh, nhiều người tin rằng triết học hay sự huyền bí của Tagore là kết quả của ảnh hưởng của Thiên chúa giáo đối với ông cũng như đối với phần lớn nước ấn Độ”. Tuy nhiên, đây là một sự đánh giá sai về thơ của Tagore. Chính Tagore đã viết: “Tôi không thuộc về tôn giáo nào cả mà cũng khôgn nghiêng về đức tin đặc biệt nào. Có điều khi Thượng đế sinh ra tôi, thì chính người đã trở thành tôi rồi”. Ngày nay, người triển khai con người tôi trong cuộc sống và nâng niu con người tôi với nhiều sinh lực và vẻ đẹp khác nhau trong thế giới này. Chính sự kiện tôi hiện hữu đã mang lại trong nó lòng yêu thương vĩnh cửu rồi”. “Chúa, người’ trong “Thơ Dâng” được Tagore quan niệm chính là cuộc đời. Thượng đế ở đây chính là vị “chúa Trời”. Nếu như trong kinh thánh của Thiên chúa giáo, hình ảnh chúa là siêu hình, là tối cao thì trong thơ Tagore, hình ảnh “chúa, thượng đế” chính là hình ảnh của niềm vui (Ananda), hình ảnh của tình yêu (Kama), hình ảnh của sự lao động, hình ảnh của cuộc đời. Vì vậy, màu sắc tôn giáo trong “Thơ Dâng” chỉ còn tồn tại ở hình thức, ở phương tiện biểu hiện chứ không phải ở chốn cao xa vĩnh hằng nữa mà “chúa” chính là cuộc sống đang hiện hữu quanh mỗi con người, là cuộc sống lao động hàng ngày của con người: - Mở mắt ra nhìn, anh sẽ thấy Thượng đế anh thờ không phải ngồi phía trước!. Người ở nơi kia, nơi nông dân đang vật lộn cùng đất nước, nơi công nhân đang xẻ đá làm đường. Bằng sự lí giải sáng tạo, minh bạch, Tagore đã tước bỏ uy quyền tuyệt đối của Chúa, kéo Chúa từ cõi vĩnh hằng xuống mặt đất, biến chúa thành những người lao động bình thường. Ông kêu gọi con người để chúng ta nhận thức: Chúa Trời nằm trong việc chúng ta biến cuộc đời mình cho sự phục vụ nhân loại. Vì vậy khi đọc thơ tác giả, chúng ta không nên đồng nhất “người, chúa” theo quan điểm của tôn giáo siêu hình nào. Theo quan điểm của Tagore “Chúa, người” chính là một ẩn dụ, tượng trưng về mặt cõi “chân phúc”, mang hơi thở ấm áp cuộc đời. 2.2. Hình ảnh “Ly rượu” (the Vessel) Tượng trưng trong thơ của Tagore có ở mỗi bài thơ, mỗi hình ảnh - Nhà thơ chỉ chớp lấy một hình ảnh, để làm biểu tượng cho cả thơ. Hình ảnh mang tính tượng trưng cao nhất có lẽ là hình ảnh “chiếc ly tràn đầy”. Qua khảo sát và đối chiếu với bản gốc của Thơ Dâng, ta thấy hình ảnh này được lặp lại ở các bài: 1,65,73,90. - Cái ly mảnh khảnh này Người không ngớt rót vơi đi và không ngớt lại rót đầy sự sống mới. (This frail vessel thou emptiest again and again, anh fillest it ever with fresh life). (Thơ Dâng, bài 1) - Trước khi vị khánh đến thăm tôi sẽ đặt cái ly đầy tràn cuộc sống tôi dâng (Oh, i with set before my guest the full vesel of my life). (Thơ Dâng, bài 90) - Thượng đế, rượu thiêng nào Người uống trong cốc này đời tôi tràn đầy. (Thơ Dâng, bài 65) Tagore dùng hình ảnh “chiếc ly” cho việc truyền đạt tư tưởng của mình. “Chiếc ly” trong đạo thiên chúa tượng trưng cho cái linh thiêng nhất vì lý do đó là nơi chứa mình và Máu Giêsu. Còn Tagore sử dụng hình ảnh “chiếc ly” mang đậm màu sắc tôn giáo. Có nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng Tagore đã “đắm mình vào Kinh Tân ước” và “câu chuyện của chúa Giêsu” (Edward Thompson) [2]ư\. Nhưng Tagore đã khẳng định rằng “Tôn giáo của ông là tôn giáo con người”. Chính vì vậy hình ảnh “chiếc ly” ở đây chính là cộng đồng, là cuộc sống thực tâị. Sự sống được Tagore ví như ly rượu tràn đầy đã được cuộc sống rót đầy ắp cuộc đời. Có nhiều nhà phê bình đã nhận xét rằng Tagore và Hafiz - nhà thơ thần bí của đạo Hồi, đều uống từ một cốc rượu đầy của nghệ thuật: họ đều chịu sự lôi cuốn mạnh mẽ của vũ trụ bao la bên ngoài, cả hai đều bị thôi thúc phải đáp trả một tiếng gọi từ người yêu Thần thánh - Chúa trời bất diệt, họ đều sống trong một thế giới tràn ngập tình yêu thần thánh - chúa trời bất diệt, họ đều sống trong một thế giới tràn ngập tình yêu và niềm vui, nơi họ đã vươn lên một thế giới của cái vô tận và vĩnh hằng. Cả hai nhà thơ đều muốn liên tục đổ rượu tình vào cái cốc của cuộc sống thậm chí ngay cả khi sắp phải từ bò trái đất này. Nhà thơ dùng hình ảnh “chiếc ly” - cái cụ thể để nói lên cuộc sống, nói đến cuộc đời. Cuộc sống ta chỉ nhận thức được một chút ít trong cái bể mênh mông ấy. Vì vậy cuộc sống cứ tràn vào tâm hồn chúng ta còn “người” cứ rót mãi rót mãi không ngừng nghỉ. Cuộc sống thì rộng lớn còn con người thì nhỏ bé vô cùng, nhưng khi sống hết mình, sống với cuộc đời thực tại chúng ta cũng dẽ tạo cho mình một cuộc sống có “thiên đường ngay giữa trần gian” (Theo Tagore). Tagore đã thấy cuộc đời ông là một minh chứng, ông đã dành gần như cả cuộc đời cho việc đi khắp thế giới để ủng hộ hòa bình thế giới, ủng hộ các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Tagore luôn trân trọng từng giờ, từng phút của cuộc sống. Còn trong lao động nghệ thuật. Tagore. Tagore đã đem cái tài năng, đêm toàn bộ sức lực của mình để tạo ra những bài thơ hay, những bông hoa đẹp dâng hiến cho cuộc đời. Để rồi, đến lúc “thần chết” có gõ cửa ông vân mang niềm vui sống cho Người, đem “cái ly tràn đầy cuộc sống tôi dâng”. Với hình ảnh này, Tagore đã tạo cho mình một tâm cao mới. Ông đã dùng hình ảnh của Tôn giáo để biểu đạt tư tưởng của mình, sở dĩ như vậy vì: ở Ấn Độ do thiên nhiên khắc nghiệt, do văn hóa (nhiều tôn giáo), chiến tranh, chế độ phân biệt đẳng cấp, nên tôn giáo là cứu cánh duy nhất của họ, vì vậy Tagore đã dùng hình ảnh của tôn giáo (tiêu biểu là Thiên chúa giáo) để truyền tải tư tưởng của mình. Qua hình ảnh này, nhà thơ đã nâng hình ảnh “chiếc ly lên một hình tượng tượng trưng, một triết lý sống: Con người chỉ là hữa hạn, cuộc sống là cái vô tận. 2.3 “Chiếc sáo sậy” (The Flute of a reed) Bên cạnh hình tượng “Chiếc ly tràn đầy” ta còn thấy hình ảnh “chiếc sáo sậy” được nhà thơ sử dụng như một hình tượng. Hình ảnh “chiếc sáo”- The Flute xuất hiện bốn lần trong tập thơ (bài 1; 7 ; 74; 79) - Chiếc sáo nhỏ bằng lau sậy này, Người đã đem nó đi qua đồi, qua lũng và qua lòng sáo, Người đã thổi những điệu khúc mãi mãi mới hoài. (This little flute of a reed thou hast carrier over hills and dales, and hast breathd through) - Chỉ xin để tôi biến đời mình thành bình dị và thẳng ngay như chiếc sáo sậy để Người phả đầy âm nhạc vào trong. (Only let me make my life simple and straigh, like a flute of a reed for thee to fill with music) Một lần nữa, nhà thơ đã sử dụng hình ảnh “chiếc sáo sậy” để biểu trưng cho sự sống, cho cuộc đời. Cuộc đời là những bản tình ca, những giai điệu đẹp. ở đời có cả những bài ca buồn, bài ca vui nhưng Người sẽ không vì thế mà không làm mới chúng. Tagore đã so sánh thế giới của chúng ta với một hình ảnh mang tính nghệ thuật cao. Ông đã coi cuộc sống trên trái đất này như những bài ca và như “một sự biểu lộ cái đẹp”. Những giai điệu cuộc đời được cuộc sống không ngừng làm mới, vì vậy nhà thơ đã ao ước mình sẽ là “chiếc sáo sậy để Người phả đầy âm nhạc vào trong”. Tagore đã rất nâng niu, trân trọng cuộc sống, ông sẵn sàng mở tâm hồn mình để đón nhận, mọi biến cố của cuộc đời cho dù cuộc sống có những lúc khó khăn, có những khúc khuỷu và ông vẫn muốn sống cuộc đời bình dị, thẳng ngay như “chiếc sáo sậy”. Qua hình tượng này, nhà thơ một lần nữa khẳng định lại tình yêu say đắm đối với cuộc đời, như Xuân Diệu viết: “thi sĩ có nhạc tâm hồn, ngân vang như tiêng quản huyền, trang nghiêm như khúc thiều ca, bay bổng như ống sáo trời” (Xuân Diệu, trích theo luân văn Tiến sĩ của Nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Hạnh về “Qua thơ Dâng của Tagore”). Tagore đã sử dụng thủ pháp ẩn dụ và liên tưởng qua hình ảnh “chiếc sáo sậy” để nói tời triết lý sống,“chiếc sáo sậy” ở đây chính là cuộc sống thực trên trần gian này. Cuộc sống tự nó tạo ra vô vàn điều phong phú, tự nó tạo ra hàng ngàn bài ca khác nhau. Cuộc đời luôn có hạnh phúc xen lẫn với nỗi buồn, nhưng “Chúa Đời” vẫn mang đi reo rắc khắp nơi (qua đồi, qua lũng). Triết lý sâu xa của hình ảnh này là: Tình trạng chung của con người bị cầm tù trong những giới hạn hữu hình và vô hình của chính mình, của xã hội, chỉ khi con người thoát khỏi ách cầm tù ấy thì nhận thức của con người mới được mở rộng, giải phóng. 2.4 “ánh sáng” và “bụi đất” ( The light and the dust) Trong “Thơ Dâng” Tagore đã “tự họa chân dung họa sĩ bằn những từ ngữ, âm thanh với hai chất liệu tưởng như đối nghịch - “ánh sáng” và “bụi đất” ( The light and the dust), nhưng chúng được nhà thơ kết hợp rất hài hòa. Qua hai hình tượng này ta thấy thế giới vừa thực, vừa ảo qua “trạng thái nội cảm”(Hegel) qua “cái nhìn bên trong” (Vugôxki) của thi sĩ. Qua khảo sát ta thấy “ánh sáng” (light) xuất hiện khoảng 3/10 tổng số bài (14, 15,19,27,30...) còn “bụi đất” (the dust) chiếm khoảng 1/10 tổng số bài trong “Thơ Dâng”. Tần suất của hai hình ảnh này được lặp lại nhiều lần cho thấy khuynh hướng của Tagore. Trong Thơ Tagore “các dáng dấp, các màu sắc huyền diệu kia chỉ là cái vỏ ngoài như cái áo cà sa khoác trên vai người trần tục” [3], cốt lõi của hiện thực được bao bọc, viền giác bên ngoài một lớp huyền ảo. Chính vì vậy hai hình ảnh này mang tính chất tượng trưng cao. Hầu hết các bài thơ trong tập thơ đều xuất hiện “ánh sáng”, đặc biệt trong bài số 57, điệp từ “ánh sáng” được lặp lại 8 lần: -ánh sáng, ánh sáng của ta, ngập tràn thế giới; Hôn mí mắt xoa dịu con tim - ánh sáng! (light my light, the world-filling light, the eye-kissing light, heart-sweetening light). Hay lời mở đầu của bài 27: - ánh sáng, ồ ánh sáng đâu rồi? Hãy lấy lửa thèm muốn nhóm ánh sáng lên nào! (Light, oh where is the light? kindle it with the burning fire of desire!) Và kết thúc bài 27 là câu: -Đừng để thời gian trôi đi trong bóng tối. Hãy thắp sáng đèn tình yêu bằng cuộc sống của ngươi. (let not the hours pass by in the dark. Kindle the lamp of love with thy life). Tagore đã dùng “chất liệu ánh sáng” từ nguần mạch của hồn cổ điển Veda-Upanisad - Biểu thị một khát vọng yêu đời “Từ nơi tối tăm đưa ta ra nơi ánh sáng” (thơ Veda). “Đêm tối đã tan-ánh sáng đã chiếu-ánh sáng dọn đường cho mặt trời tiến bước-chúng ta tới một nhân loại lâu dài” (thi tụng Rạng Đông-Rig Veda). Nếu như ánh sáng của thơ cổ Veda là ánh sáng thần linh, của tôn giáo siêu hình thì “ánh sáng” trong thơ Tagore là ánh sáng của cuộc đời, ánh sáng của tình yêu cuộc sống. ánh sáng trong thơ Tagore tượng trưng cho chân lý, tình yêu, cuộc đời. ánh sáng của tình yêu sẽ xoa dịu mọi con tim khổ đau, ánh sáng cuộc đời sẽ soi rọi mọi tâm hồn, ánh sáng của chân lý hướng con người đến ý thiện. Chính ánh sáng tình yêu giúp con người khám phá ra cả niềm vui vô tận. Tagore nói: “Hãy để cho tình yêu tràn ngập nỗi buồn đó thắp sáng lên trong đôi mắt bạn”. Nhà thơ sử dụng ánh sáng như thể khẳng định sức mạnh của tình yêu, của chân lý. Nhưng “ánh sáng” trong thơ Tagore bao giờ cũng hòa với “bụi đất”. “Bụi đất” và “ánh sáng” như hòa làm một, bản sắc tâm hồn, tiềm năng sáng tạo và khả năng đồng hóa hiện thực của ông bộc lộ ở dạng thể cấu trúc phân cực này. Hai hình tượng trên kết hợp với nhau tượng trưng cho “cái Tôi” - cái tôi của khát vọng giải phóng cá tính, cởi bỏ mọi ràng buộc, trả con người về bản chất tự nhiên: Tình yêu và ý thiện. “Bụi đất” ở đây tượng trưng cho bản chất thực của cuộc đời, là cuộc sống thực của con người: - Mẹ, nếu tách con khỏi bụi trần gian trong lành, ngăn không cho con vào hội chợ tưng bừng của nhân sinh bình dị, áo quần mẹ cho sẽ ràng buộc vô ích. (Mother. it is no again thy bondage of finery, if it keeps one shut off from the heath full dust of the earth, if it rod one of the right of entrance to the great fair of common human” (Thơ Dâng - Bài 8) Nếu cuộc đời con người tách khỏi cuộc sống thì đời nhạt nhẽo đến nhường nào, cũng như vậy nhà văn nếu như không cống hiến tài năng cho cuộc đời thì cuộc sống đó thật vô ích. “Bụi trần gian” tượng trưng cho cuộc đời thực của con người. Nếu mỗi cá nhân tách khỏi cuộc sống thì cũng giống như “áo quần mẹ cho sẽ ràng buộc vô ích” nâng hình ảnh “chiếc ly lên một hình tượng tượng trưng, một triết lý sống: Con người chỉ là hữa hạn, cuộc sống là cái vô tận tách khỏi cuộc sống rộn ràng ấy thì cũng giống như “áo quần mẹ cho sẽ buộc ràng vô ích”. “Bụi đất” trong “Thơ Dâng” được Tagore sử dụng để tượng trưng cho cõi vĩnh hằng, nơi mà con người đến sau khi chết: - khi tôi ngồi bên vệ đường, mệt nhoài, hổn hển, khi tôi nằm ngủ trong đất bụi, xin cho tôi luôn cảm thấy cuộc hành trình trước mặt dài dặc vẫn còn nguyên - đừng để tôi quên dù trong giây (When I sit by bed the roadside, tired and parting, when I spead my bed low in the dust, let me ever feel that long journey is still before me, let me nông thôn for get for amoment). (Thơ Dâng, bài 79) Vì yêu say đắm cuộc sống nên nhà thơ đã mong muốn tiếp tục hành trình của cộng đồng dù có khi “nằm ngủ trong đất bụi”. “Bụi đất” tròng Thơ Dâng được nhắc lại tới 14 lần nhưng mỗi bài, chúng đều có ý nghĩa riêng. Đó có thể là bụi đất của thiên nhiên, đó cũng có thể là “bụi trần gian” tức cuộc sống thường ngày”. Với việc kết hợp hai hình ảnh “ánh sáng” và “đất bụi”, Tagore đã đưa ra một nhận định: “Cuộc đời là một thế giới sinh động, phong phú như “bụi đất” nhưng cũng không kém phần lung linh, huyền ảo như “ánh sáng mặt trời”! đó chính là một triết lý về nhân sinh vũ trụ. Qua hai hình ảnh này, Tagore như muốn nói tới một điều nữa: Chỉ có tình yêu và cuộc đời thực tại là đáng trân trọng. Sự xuất hiện hai hình ảnh tượng trưng này trong “Thơ Dâng” đã tạo cho toàn tập thơ có một màu sắc lung linh huyền ảo. “ánh sáng” làm nổi bật “bụi đất” và “bụi đất” lại hòa quyện với “ánh sáng” Bút pháp hiện thực và huyền ảo này đã góp phần tạo nên thế giới nghệ thuật Tagore- một thế giới phong phú mà vẫn không kém phần lung linh. 2.5- Hình ảnh thiên nhiên. Thiên nhiên hình như luôn luôn tồn tại trong sáng tác của Tagore trong “Thơ Dâng” thiên nhiên được sử dụng hết sức linh hoạt, mang tính cá thể hóa cao độ, luôn gắn liền với những trạng thái cảm xúc cụ thể của nhà thơ. Có nhiều lúc, thiên nhiên lại xuất hiện thành một chuỗi hình ảnh, dưới dạng những định ngữ mở rộng, mang ý nghĩa biểu tượng đa tầng, đa nghĩa. Với việc vận dụng thơ văn xuôi, Tagore đã tự do trong việc lựa chọn, tổ chức hình ảnh thơ để diễn đạt ý đồ nghệ thuật của mình. Trong “Thơ Dâng” không xuất hiện loại hình ảnh nào làm biểu tượng cho cả hai thơ, nhưng ý nghĩa biểu tượng thì hình ảnh nào cũng chứa đựng. Cảm xúc, tư tưởng nhà thơ không được chuyển tải qua một hình ảnh, mọt biểu tượng nào cụ thể, mà thấm đẫm một cách tự nhiên vào thế giới hình tượng, giọng điệu bài thơ. Kết quả thống kê cho thấy có 56 loại hình ảnh thiên nhiên khác nhau trong “Thơ Dâng”. Và có thể chia làm 3 nhóm. Nhóm 1: Hình ảnh thiên nhiên thuộc về vũ trụ như: Bầu trời (xuất hiện 29 lần), bóng tối (37 lần); mây (14 lần)… Nhóm 2: Những hình ảnh chỉ động thực vật: ngọn cỏ (9 lần); bông hoa (32 lần); bụi đất (14 lần); Rừng cây (13 lần). Nhóm 3: những hình ảnh chỉ sự vận động của thời gian như: Mùa xuân, mùa hè, ban mai (19 lần); mùa thu (6 lần)… Tất cả các hình ảnh này Tagore không sử dụng lặp lại như một môtip mà luôn gắn với những khoảnh khắc những trạng thái cảm xúc cụ thể của một cái tôi trữ tình đang đắm chìm tỏng dòng suy tưởng miên man. Những hình ảnh thiên nhiên trong “thơ Dâng” đều có nguồn gốc từ Ấn Độ), không hề có sự vay mượn ngoại lai. Tagore từng nói: “Thơ ca Ấn Độ không lấy những lại cỏ cây, thú vật, sông núi… và những nhân vật thần thoại mà không thuộc nguồn gốc Ấn Độ làm hình tượng đó là một trong những điểm khác biệt của thơ ca Ấn Độ. Với thơ ca châu Âu. Điều này cho thấy, việc sử dụng thiên nhiên truyền thống thơ ca Ấn Độ, gắn lièn với một ý thức dân tộc sâu sắc của nhà thơ. Thiên nhiên trong “Thơ Dâng” rất phong phú và đa dạng nó biểu hiện cho sự hoàn mỹ của thực tại. Những hình ảnh thiên nhiên thoạt nhìn rời rạc, được liên kết với nhau trong mộ ý niệm toàn thể, đã trở thành một “Phương tiện thông giao” thể hiện tiếng nói trữ tình - triết lý thâm trầm, tinh tế của nhà thơ. Thế giới thiên nhiên trong “Thơ Dâng” đa dạng phong phú, vừa có những hình ảnh kỳ vĩ như “bầu trời, mặt đất, trái đất…” lại vừa có những sinh linh bé bỏng như “bông hoa, cánh bướm”. Đó cũng là sự thể hiện một triết lý: tất cả những cái gì có trong thế giới đều có chỗ đứng trong vũ trụ với một tinh thần hòa hợp, bình đẳng: “Trong sân chầu vũ trụ Chiếc lá cỏ bình thường Cũng ngồi chung một thảm Với mặt trời và sao sáng trong đêm” (Đào Xuan Quý dịch). Đó cũng là một triết lý sâu sắc mà Tagore muốn nói tới: “Với tất cả mọi sự, dấu tôn quý hay ti tiện, thân hay sơ, hình tượng này hữu tướng hay vô tướng, chúng ta phải giữ mối quan hệ bình đẳng bằng tình thương bất tận, không được chuát sâu hận, không được sát hại”. Đó là triết lý chứa đựng một tình cảm khoan hào phổ độ đối với tất cả chúng sinh của Tagore. Triết lý này còn mang đậm chất thơ, chất thơ từ bản thân cuộc sống, từ tâm hồn thi nhân. Những hình ảnh thiên nhiên xuất hiện với tần số cao trong “Thơ Dâng”, qua khảo sát hầu hết là những danh từ chỉ chung, có tính chất trừu tượng. Hình ảnh “bông hoa” xuất hiện 32 lần (24; 96; 48; 52; 20; 69; 75…), trong khi đó hình ảnh cụ thể như: Hoa lệ, hoa nhài, hoa hồng… chỉ xuất hiện trên dưới 2 lần. Điều này nói tới một cách nhìn đời sống của Tagore đó là: hướng tới cái vô tận, trừu tượng, có ý nghĩa phổ quát, ít chú ý đến cái cụ thể, nhất thời. Nhưng nói như thế cũng không phải là nhà thơ không chú ý đến cái cụ thể. Chúng ta hãy dừng lại ở hình tượng “hoa sen” (lotus). Hình tượng “hoa sen” xuất hiện 5 lần trong tập thơ (bài 20; 24; 58; 96; 98). Hình tượng “hoa sen” tồn tại như một biểu tượng độc lập, chứa đựng trong nó tầng nghĩa riêng biệt. “Hoa sen” không phải là một biểu tượng mới mẻ trong tôn giáo, thơ ca Ấn Độ. Người Ấn xem “hoa sen” tượng trưng cho con người, bởi lẽ cũng như hoa sen - đâm rễ vào đất, mọc thân trong nước, nở hoa trong không khí dưới tia nắng mặt trời, con người cũng thế, thân thể của con người có nền đất, có tâm lý phát triển trong không khí, lĩnh vực của tinh thần. Tâm hồn của con người được biểu tượng bằng hình ảnh hoa sen có chia cánh, chín thành ba cụm. Mỗi cụm nưh vậy hợp với một chiều kích tâm linh. Chiều thứ nhất là nhận thức, thứ hai là tình yêu, thứ ba là sức mạnh, ở giữa có “liên bảo” (vật báu của hoa sen), biểu tượng đó tính chất thần thánh của con người, và nó chỉ được phát lộ khi con người có sự phát triển đầy đủ tâm linh. Với cách hiểu này, Tagore đã sử dụng biểu tượng đó trên tinh thần sáng tạo lại, mang đến một dáng dấp cụ thể, gắn liền với khoảnh khắc riêng biệt: - Vào hôm hoa sen nở, hỡi ôi! Tâm trí tôi lang thang vớ vẩn nên tôi chẳng biết. (On the day when the lotus bloomed, alas, my mind was straying, and i knew is not” (Thơ Dâng, bài 20) - Tôi đã nếm hương mật trong lòng bông sen đang xòe cánh trên đại dương ánh sáng, và như thế tôi hạnh phúc lắm rồi-Xin nhơ lời tôi dạy trước lúc chia tay. (I have tasted of the huddden honey of this lotus that expands on the ocean of light, and thus am I blessed let this be my palting word) (Thơ Dâng, bài 96) - “Hoa sen” ở đây không chỉ tượng trưng cho con người mà được nâng lên tầm cao mới: Đó chính là cuộc đời, cuộc đời như những bông hoa sen tràn đầy hương sắc và nhà thơ đã nếm “hương sắc” của nó trên “đại dương ánh sáng”. Đọc “Thơ Dâng” ta nhận thấy sự phong phú, đa dạng của thiên nhiên, nó tác động trực tiếp đến thị giác, cảm giác nhưng lại rất ít gặp những hình ảnh tác động đến thính giác. Và ngay cả những hình ảnh thị giác cũng rất ít sắc màu rõ ràng. Kết quả cho thấy: chỉ có bốn loại tính từ chỉ sắc màu xuất hiện 18 lần trong 14 bài thơ (21, 22, 23, 27, 41, 45, 48, 50, 54, 59, 67, 72, 87, 98). Trong số đó, tình từ chỉ màu vàng (yellow, golden) có tần số lặp lại cao nhất (9 lần), màu đen (black) 3 lần, màu xanh (green, blue) 5 lần, màu nâu (brown) chỉ có một lần. Điều này cho thấy, trong lối biểu hiện tượng trưng dường như Tagore không quan tâm tới tính tương ứng giữa các giác quan. Mặt khác nó cũng không có gì tương đồng với nguyên tắc “thi trung hữu họa” trong thơ ca nhiều nước phương Đông bởi một cái nhìn sâu vào nội giới thiên nhiên của thi nhân. Về cơ bản, các hình ảnh thiên nhiên ở đây đều đã được ảo hóa trong một thế giới siêu thực, nhuốn màu sắc tôn giáo. Như vậy có thể thấy trong quan điểm nghệ thuật của mình, Tagore đã không tuyệt đối hóa sự đối lập giữa thiên nhiên và nghệ thuật. Với ông, thiên nhiên là hiện thân của cái đẹp muôn màu, vĩnh hằng, là một phần của cuộc sống con người, là hiện thân của thượng đế - “Người tình tối thượng”. Mối cảm tình đặc biệt mà ông dành cho thiên nhiên vì vậy cũng chính là thể hiện một tình yêu thiết tha, sâu sắc đối với con người và cuộc sống. “Tôi yêu thiên nhiên không phải vì đường cong xinh xinh của cánh hồng, mà vì bông hoa hồng là ngôn ngữ của tình yêu” (Đời tôi). Những câu thơ đầu tiên trong cuộc đời thi sĩ của Tagore đơn giản chỉ là ghi lại những hiện tượng thiên nhiên bình thường “trời mưa, lá rụng”. Vậy mà với ông, đằng sau đó là cả một thế giới tinh thần huyền diệu, chứa đựng bao điều bí ẩn của đất trời, kiếp nhân sinh. Với Thơ Dâng, những hình ảnh thiên nhiên ấy đã được hồi sinh, tái tạo với muôn vàn hình thù, hương sắc nói hộ những tiếng thì thầm muôn đời của con người trong một sự sáng tạo vĩnh hằng. Và đó cũng là điều mà ông gọi là “Tôn giáo của nhà thơ”. 3. Nhạc tính trong tập “Thơ Dâng”. Nhà thơ W.Yeast đã viết trong lời giới thiệu mở đầu tập thơ “Thơ Dâng”, xuất bản lần đầu tại Anh: “Những bài thơ trữ tình này-Những ông bạn người ấn Độ của tôi nói cho tôi hay là ở nguyên bản nhịp điệu rất du dương, vì màu sắc rất tế nhị, không sao dịch được và về âm luật thì đầy những khám phá mới mẻ-đã mở rộng trước mắt tôi một thế giới mà suốt cả cuộc đời tôi từng mơ ước” (Mười nhà thơ thế kỷ, NXB Tác phẩm mới). Trong tập thơ mỗi hình ảnh, mỗi câu đều chứa đầy nhạc tính. Người đọc có thể nhận ra tập thơ không làm theo một công thức nào cả mà là những câu thơ văn xuôi. Nhưng độc giả vẫn thấy những câu thơ rất nhịp nhàng và uyển chuyển, đó chính là do nhạc tính có trong hình ảnh thơ, từ ngữ của câu thơ. Tagore từng viết: “Trong thư pháp, trong từ ngữ và ý nghĩa của tôi, tôi buông thả theo lối tự do, phóng túng” (My life). Nhịp điệu dường như trở thành một quan điểm sáng tác của thi sĩ. Trong hồi ức “Tagore kể về mình” ông viết: “Ngay từ lúc mới tập đọc tôi đã nhận thấy vai trò quan trọng của vần điệu. Có vần, câu thơ dừng lại mà không chấm dứt. Từ ngữ lặng đi mà âm nhạc kéo dài”. Hay khi còn nhỏ ông được nghe bài hát kể về một nhân vật chuẩn bị thành hôn - Nàng có ngọc quý trang điểm từ đầu đến gót chân, có thể làm cho cái đầu lớn tuổi và khỏe mạnh hơn ông cũng phải choáng váng nhưng cái làm cho nhà thơ thích thú nhất đó là sự lôi cuốn của nhịp điệu. Thủ pháp tượng trưng kết hợp nhạc tính trong mỗi câu thơ, mỗi bài thơ càng làm cho Tagore trở thành nhà thơ bậc thầy của thể loại thơ văn xuôi. Nguyễn Văn Hai trong bài viết: “Câu chuyện con số trong thơ và nhạc trong thi ca” đăng trên tạp chí Tri tân viết:"Như A.Gide chỉ có thể cảm thấy vẻ đẹp trong thơ Tagore thôi chứ không thể nào diễn dịch nổi, hồi ấy tôi cũng cảm thấy lời nhạc trong thơ chứ không làm sao diễn dịch nổi”. Có thể nói Tagore là nhà thơ sáng tạo ra những bài thơ, câu thơ đẹp một cách mẫu mực, “nhà thi sĩ là người tưởng tượng kỳ diệu, nhãn lực dị thường và có tài đem diễn ra lời văn đẹp đẽ cảm sâu và động xa” (Tagore văn và đời) KẾT LUẬN Tatsuo Morimoto, một nghiên cứu gia người Nhật đã không sai khi nhận xét về Tagore. “Ông được gọi là Leonardo da Vina của thời Phục hưng Ấn Độ. Nhưng ông không phải là con người chỉ biết mơ mộng, ngồi nhàn rỗi trong chiếc ghế dựa của mình mà ca hát về vẻ đẹp thiên nhiên và bí ẩn của đời sống con người… ông là, như Gandli vẫn gọi rất đúng “Người lính canh vĩ đại của nhân gian” mà đôi mát đồng cảm luôn luôn theo dõi định mệnh của Ấn Độ và thế giới”. Với tập “Thơ Dâng”, R.Tagore đã thực sự thành công trong phương diện nghệ thuật, đặc biệt là thủ pháp tượng trưng. Qua bài phân tích trên, tôi xin được rút ra một vài nhận xét sau: 1. Tagore thường dùng hình ảnh cụ thể (chiếc sáo - flute; ly rượu - the Vessel) để nói tới cuộc sống con người và cuộc đời nói chung. 2. Thông qua thủ pháp tượng trưng nói riêng và những biện pháp nghệ thuật khác, Tagore đã tạo ra trong tập thơ “Thư Dâng” những triết lý sâu xa. Và muốn hiểu được chúng thì người đọc phải tĩnh tâm, phải suy nghĩ mới phát hiện được vẻ đẹp mang tầm vóc vũ trụ con người (niềm vui trong lao động sáng tạo; sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên) ở đằng sau lớp vỏ ngôn từ có dáng vẻ thần bí siêu hình. 3. Tagore đã tạo ra cho tập thơ có nhạc điệu riêng. Đó là nhạc điệu du dương êm dịu mượt mà đầy chất trữ tình nhưng cũng hết sức thâm trầm, sâu sắc, đầy trí tuệ suy tư. Đọc “Thơ Dâng” ta như bước vào thế giới thơ ông - một thế giới đẹp, bình dị mà cũng rất đỗi bí ẩn cao siêu - ta sẽ xiết bao kinh ngạc, như một du khách trong sương mù bảng lảng cứ dần khám phá ra bao bí ẩn có thực ở đời: “Chúng ta không hề bị ngây ngất vì vẻ kì lạ của nó, chúng ta ngây ngất vì đã bắt gặp hình ảnh của chính chúng ta” (Will Durant, lịch sửvăn minh Ấn Độ, Nxb Văn hóa). TÀI LIỆU THAM KHẢO Lưu Đức Trung, R.TAGORE Tuyển tập tác phẩm (Tập II), NXB Lao Động trung tâm văn hóa ngôn ngữ đông tây. Đỗ Thu Hà, Tagore văn và người, NXB Văn hóa Thông tin Bùi Việt Thắng, Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Tạp chí Văn học số 9, năm 2000. Số 6 năm 2000 Từ điển văn học, Nxb Thế giới. MỤC LỤC Trang PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Mục đích của đề tài 1 3. Phạm vi tài liệu 2 4. Phương pháp nghiên cứu 2 5. Kết cấu niên luận 2 Phần nội dụng Chương 1: Khái quát chủ nghĩa tượng trưng trong thơ 3 1. Chủ nghĩa tượng trưng và tượng trưng 3 2. Tượng trưng trong quan điểm sáng tác của Tagore 7 Chương II. Tượng trưng trong “Thơ Dâng” của Tagore 9 1. Tượng trưng trong các thể loại của Tagore 9 2. Tượng trưng trong “Thơ Dâng” 10 3. Nhạc tính trong “Thơ Dâng” 23 Phần Kết luận 25 Tài liệu tham khảo 27

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTính chất tượng trưng trong thơ dâng của Tagore.doc