Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn 2006-2008 và giải pháp tạo công ăn việc làm

Lý do chọn đề tài : Ở những nước khác, một trong những công cụ chính đối phó với thất nghiệp là bảo hiểm thất nghiệp, nhằm hỗ trợ tài chính cho người lao động để giúp họ có thể tồn tại một cách lương thiện trong thời gian tìm việc làm khác. Bởi vì thất nghiệp tăng số người không có công ăn việc làm nhiều , gắn liền với sự gia tăng tệ nạn xã hội : như cờ bạc , trộm cắp làm xói mòn niềm tin của nhiều người , phá vỡ nếp sống lành mạnh , gây tổn thương mối quan hệ làng xóm , gây tổn thương về mặt tâm lý dẫn đến mất an ninh trật tự công cộng . Rất tiếc, hệ thống bảo hiểm thất nghiệp chưa hoạt động ở Việt Nam và nếu có thì cũng sẽ chỉ bảo hiểm cho một bộ phận nhỏ của lực lượng lao động Việt Nam; vốn có một tỷ trọng lớn là lực lượng lao động từ nông thôn ra, trình độ học vấn thấp , phần lớn trong số đó lại làm việc trong các doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ, nhiều khi mang tính gia đình. Do đó khó có thể kiểm soát được tình hình liên quan đến người lao động chứ chưa nói đến chuyện bảo hiểm thất nghiệp. Cũng như nhiều nơi trên thế giới, tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam đã trở thành sự kiện thời sự với những tin tức xuất hiện hầu như hàng ngày trên các phương tiện truyền thông về một doanh nghiệp nào đó, một khu công nghiệp nào đó đã và đang định sa thải bao nhiêu công nhân. Kèm theo đó, những phóng sự, những bài viết về thực trạng cuộc sống bi đát của những công nhân ngoại tỉnh mất việc càng làm u ám thêm vấn đề thất nghiệp và việc làm trong cơn khủng hoảng. Chính vì những vấn đề trên mà em chọn ngiên cứu đề tài : Tình hình thất nghiệp ở VN trong giai đoạn 2006-2008 và giải pháp tạo công ăn việc làm . 2 – Mục tiêu nghiên cứu : Làm rõ lý luận về thất nghiệp, thất nghiệp cơ cấu đồng thời phân tích thực trạng để nhận dạng, tìm những nguyên nhân và các nhân tố ảnh hưởng tình hình thất nghiệp ở VN trong giai đoạn 2006-2008 . Đề xuất các giải pháp, chính sách thích hợp nhằm hạn chế thất nghiệp, thất nghiệp cơ cấu và giải quyết việc làm cho từng loại lao động thất nghiệp tương ứng cho giai đoạn tới. 3 - Phương pháp nghiên cứu : Trong phạm vi đề tài này, chủ yếu sử dụng các phương pháp sau: ã Thu thập số liệu thứ cấp từ bảng dữ liệu bao gồm : Doanh thu thuần / Vốn sản xuất / Số doanh nghiệp / Số lao động / Dân số / Tỷ lệ thất nghiệp của các doanh nghiệp năm 2000 trên trang web của tổng cục thống kê . ã Từ tài liệu sách, báo, website trên internet. ã Phương pháp mô tả . ã Dùng các bảng biểu, đồ thị mô tả chỉ tiêu cần thiết cho việc phân tích . 4- Phạm vi nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đặc điểm của mô hình chỉ dựa số liệu có sẵn trong tập dữ liệu mẫu tìm mô hình thích hợp và kiểm định mức độ sai số của mô hình . Để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh sản xuất của các doanh nghiệp trên toàn lãnh thổ Việt Nam năm 2000 có liên quan đến thất nghiệp và giải pháp tạo công ăn việc làm . Cụ thể là nghiên cứu sự ảnh hưởng các yếu tố:Vốn doanh nghiệp , Số doanh nghiệp, Số lao động, Dân số, Tỷ lệ thất nghiệp trong nước có liên quan đến doanh thu thuần của doanh nghiệp.

doc23 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 22/04/2013 | Lượt xem: 3286 | Lượt tải: 14download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn 2006-2008 và giải pháp tạo công ăn việc làm, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU Lý do chọn đề tài . 2- Mục tiêu nghiên cứu 3- Phương pháp nghiên cứu . 4- Phạm vi nghiên cứu . 5- Bố cục báo cáo Chương I : Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương II : Giải pháp tạo công ăn việc làm trong giai đoạn hiện nay Chương III : Kết luận . CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU . A : CƠ SỞ LÝ THUYẾT . 1- Khái niệm về thất nghiệp . 2- Tỉ lệ thất nghiệp . 3- Tác động thất nghiệp và việc làm . Thực trạng thất nghiệp ở VN . Nguyên nhân thất nghiệp ở VN . B : MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU . 1- Khái niệm của các biến 2- Mô tả lý thuyết sơ bộ . Dữ liệu mẫu điều tra. Xử lý số liệu . Diễn dịch kết quả . CHƯƠNG II : GIẢI PHÁP TẠO CÔNG ĂN VIỆC LÀM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY . CHƯƠNG III : KẾT LUẬN . Hạn chế. Gợi ý hướng nghiên cứu thêm . TÀI LIỆU SỬ DỤNG THAM KHẢO . PHỤ LỤC CÁC BẢNG BIỂU . &&&&&&&& GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU Lý do chọn đề tài : Ở những nước khác, một trong những công cụ chính đối phó với thất nghiệp là bảo hiểm thất nghiệp, nhằm hỗ trợ tài chính cho người lao động để giúp họ có thể tồn tại một cách lương thiện trong thời gian tìm việc làm khác. Bởi vì thất nghiệp tăng số người không có công ăn việc làm nhiều , gắn liền với sự gia tăng tệ nạn xã hội : như cờ bạc , trộm cắp … làm xói mòn niềm tin của nhiều người , phá vỡ nếp sống lành mạnh , gây tổn thương mối quan hệ làng xóm , gây tổn thương về mặt tâm lý dẫn đến mất an ninh trật tự công cộng . Rất tiếc, hệ thống bảo hiểm thất nghiệp chưa hoạt động ở Việt Nam và nếu có thì cũng sẽ chỉ bảo hiểm cho một bộ phận nhỏ của lực lượng lao động Việt Nam; vốn có một tỷ trọng lớn là lực lượng lao động từ nông thôn ra, trình độ học vấn thấp , phần lớn trong số đó lại làm việc trong các doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ, nhiều khi mang tính gia đình. Do đó khó có thể kiểm soát được tình hình liên quan đến người lao động chứ chưa nói đến chuyện bảo hiểm thất nghiệp. Cũng như nhiều nơi trên thế giới, tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam đã trở thành sự kiện thời sự với những tin tức xuất hiện hầu như hàng ngày trên các phương tiện truyền thông về một doanh nghiệp nào đó, một khu công nghiệp nào đó đã và đang định sa thải bao nhiêu công nhân. Kèm theo đó, những phóng sự, những bài viết về thực trạng cuộc sống bi đát của những công nhân ngoại tỉnh mất việc càng làm u ám thêm vấn đề thất nghiệp và việc làm trong cơn khủng hoảng.  Chính vì những vấn đề trên mà em chọn ngiên cứu đề tài : Tình hình thất nghiệp ở VN trong giai đoạn 2006-2008 và giải pháp tạo công ăn việc làm . 2 – Mục tiêu nghiên cứu : Làm rõ lý luận về thất nghiệp, thất nghiệp cơ cấu đồng thời phân tích thực trạng để nhận dạng, tìm những nguyên nhân và các nhân tố ảnh hưởng tình hình thất nghiệp ở VN trong giai đoạn 2006-2008 . Đề xuất các giải pháp, chính sách thích hợp nhằm hạn chế thất nghiệp, thất nghiệp cơ cấu và giải quyết việc làm cho từng loại lao động thất nghiệp tương ứng cho giai đoạn tới. 3 - Phương pháp nghiên cứu : Trong phạm vi đề tài này, chủ yếu sử dụng các phương pháp sau: Thu thập số liệu thứ cấp từ bảng dữ liệu bao gồm : Doanh thu thuần / Vốn sản xuất / Số doanh nghiệp / Số lao động / Dân số / Tỷ lệ thất nghiệp của các doanh nghiệp năm 2000 trên trang web của tổng cục thống kê . Từ tài liệu sách, báo, website trên internet. Phương pháp mô tả . Dùng các bảng biểu, đồ thị mô tả chỉ tiêu cần thiết cho việc phân tích . 4- Phạm vi nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đặc điểm của mô hình chỉ dựa số liệu có sẵn trong tập dữ liệu mẫu tìm mô hình thích hợp và kiểm định mức độ sai số của mô hình . Để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh sản xuất của các doanh nghiệp trên toàn lãnh thổ Việt Nam năm 2000 có liên quan đến thất nghiệp và giải pháp tạo công ăn việc làm . Cụ thể là nghiên cứu sự ảnh hưởng các yếu tố:Vốn doanh nghiệp , Số doanh nghiệp, Số lao động, Dân số, Tỷ lệ thất nghiệp trong nước có liên quan đến doanh thu thuần của doanh nghiệp. 5- Bố cục báo cáo : CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU : A : CƠ SỞ LÝ THUYẾT : 1 - Khái niệm về thất nghiệp : Thất nghiệp có 2 dạng: Thất nghiệp toàn phần và thất nghiệp bán phần. Thất nghiệp theo định nghĩa của ILO là thất nghiệp toàn phần. Thất nghiệp bán phần hay còn gọi là thiếu việc làm ở nhiều nước thường được dùng để chỉ những lao động làm việc dưới 20 đến 35 giờ/tuần và vẫn có nhu cầu làm thêm giờ.   Còn theo lý thuyết thì thất nghiệp được chia làm nhiều loại như sau: Thất nghiệp tự nhiên: Tỷ lệ thất nghiệp đương nhiên bởi luôn có một số người trong giai đoạn chuyển từ chỗ làm này sang chỗ khác. Thất nghiệp cơ cấu: Do sự không tương thích của phân bố lao động và phân bố chỗ làm Người thất nghiệp không muốn hoặc không thể thay đổi nơi ở hoặc chuyển đổi kỹ năng. Thất nghiệp chu kỳ: Khi tổng cầu lao động thấp hơn tổng cung lao động ở giai đoạn suy thoái của chu kỳ kinh tế. Thất nghiệp kỹ thuật: do việc thay thế công nhân bằng máy móc hoặc công nghệ tiên tiến hơn. Thất nghiệp thông thường: Khi thu nhập thực tế xuống dưới mức chấp nhận được. Thất nghiệp theo học thuyết Mark: Là mức cần thiết để thúc đẩy công nhân làm việc và giữ mức lương thấp . Thất nghiệp theo mùa: Khi công việc phụ thuộc vào nhu cầu theo thời tiết. Tỉ lệ thất nghiệp : Tỷ lệ thất nghiệp là một chỉ tiêu phản ánh khái quát tình trạng thất nghiệp của một quốc gia .Có nhiều quan niệm khác nhau về nội dung và phương pháp tính toán để nó có khả năng biểu hiện đúng và đầy đủ thực chất của tình trạng thất nghiệp , nhất là các nước đang phát triển . Tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam được Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội công bố trong những năm qua và được Tổng cục Thống kê thống kê trong hai năm lại đây thực ra chỉ được tính cho khu vực thành thị, cho những người trong độ tuổi từ 15 - 60 đối với nam và 15 - 55 đối với nữ. Người thất nghiệp cần phải hiểu là những người tại thời điểm điều tra không đi làm, đang có nhu cầu tìm việc làm và nếu có việc làm là phải đi làm ngay . Tuy nhiên, để đánh giá về tình hình lao động và việc làm trong nền kinh tế, chúng ta cần biết thêm một tiêu chí khác là tỷ lệ lao động thiếu việc làm. Đây là tiêu chí quan trọng được tính cho cả lao động ở khu vực nông thôn và thành thị nhưng chưa được công bố từ trước đến nay. Theo thống kê chưa chính thức , VN có có khoảng 2,2 triệu người thất nghiệp. Trong đó có nhiều cư dân thành thị ở các thành phố lớn và chủ yếu ở độ tuổi thanh niên .Ngoài ra , còn có tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng và phổ biến ở nông thôn . Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị ước tính 4,65% (năm 2007 là 4,64%). So với tổng số người lao động ở thành thị là 11.372.000 người thì con số này là 528.798 người. Đây chỉ là con số thất nghiệp trong nhóm người tham gia hoạt động kinh tế, chưa tính đến nhóm người không tham gia hoạt động kinh tế như làm nội trợ, mất khả năng lao động, đang đi học... Năm 2006, tỷ lệ thanh niên đô thị thất nghiệp ở độ tuổi 15 – 34 là 5,1%. Năm 2007, tỷ lệ này là 8,5% và năm 2008 đã lên 9,3%, chiếm gần 61% trong tổng số người thất nghiệp . Nước ta có khoảng 70% dân cư và lao động sống ở nông thôn, hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nên nạn thất nghiệp che dấu hay gọi là thất nghiệp theo mùa lại trở thành phổ biến. Rất nhiều nông dân vẫn phải gắn bó với nông nghiệp, gắn bó với đất đai để tồn tại với mức thu nhập và năng suất lao động thấp. Khi vào vụ gieo trồng hoặc thu hoạch, người nông dân tập trung làm việc khoảng 4 – 5 tháng trong năm. Thời gian còn lại họ kéo nhau lên thành phố tìm kiếm việc làm tạm thời hoặc đi làm ăn xa. Mặt khác, theo tập quán của người Việt Nam, trong nhiều gia đình, con em của họ vẫn phải sống cùng bố mẹ, nhận sự trợ giúp từ gia đình hoặc tham gia phụ giúp việc cho bố mẹ… thì đây cũng là nhóm đối tượng “thất nghiệp che dấu”. Ước tính trong thập kỷ tới mỗi năm sẽ có 1 – 1.5 triệu người bước vào tuổi lao động và tỷ lệ tăng của lực lượng lao động sẽ cao hơn tỷ lệ tăng dân số .Một vài năm trở lại đây , lực lượng lao động đã tăng 2,25%- 2,5 % mỗi năm so với mức tăng dân số là 1.2% - 1,25% . Tác động thất nghiệp và việc làm : Dân số đông tạo nên thị trường lao động nội địa thuận lợi nên nguồn nhân lực trở thành yếu tố hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế đất nước . Tuy nhiên , sự phát triển dân số quá nhanh đã trở thành gánh nặng và khó khăn cho chính phủ trong việc cải thiện cơ hội tìm hiểu việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống ngày một tốt hơn . Do việc quản lý thị trường lao động ở nước ta còn chưa được chặt chẽ, đến nay cũng chưa có một hệ thống đăng ký việc làm cho từng người lao động từ cấp trung ương đến xã phường, cho nên số lượng cụ thể về người thất nghiệp ở từng thời kỳ, từng địa bàn cũng chỉ mang tính tương đối. Vì vậy, việc phân tích thị trường lao động, việc thực hiện các biện pháp của chính sách việc làm và chính sách thị trường lao động cũng như đánh giá hiệu quả của nó chưa được chính xác. Thất nghiệp và thiếu việc làm đang là vấn đề mang tính toàn cầu trong bối cảnh khủng hoảng và suy giảm kinh tế thế giới hiện nay. Chính vì vậy, việc tìm hiểu về tác động ảnh hưởng thất nghiệp, các đặc trưng riêng ở Việt Nam để từ đó có các các chính sách thích hợp tạo việc làm là rất cần thiết. Theo báo cáo của Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số nhà ở Trung ương, tính đến 0 giờ ngày 1/4/2009, tổng dân số của Việt Nam là 85.789.573 người, trong đó dân cư khu vực thành thị là 25.347.262 người (chiếm 29,6%) và 60.415.311 người (chiếm 70,4%) thuộc khu vực nông thôn. Với số dân này, Việt Nam là nước đông dân thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á (sau Inđônêxia và Philippin) và đứng thứ 13 trong số những nước đông dân nhất thế giới. Sau 10 năm dân số nước ta tăng thêm 9,470 triệu người (bình quân mỗi năm tăng 947 nghìn người). Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giữa 2 cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 và năm 2009 là 1,2% năm. Dân số thành thị tăng 3,4%; dân số nông thôn tăng 0,4% . Đây là kết quả của quá trình di dân từ nông thôn ra thành thị và quá trình đô thị hóa nhanh chóng ở các thành phố lớn . Tổng cục Thống kê sẽ tiến hành riêng một cuộc điều tra về thất nghiệp trong tháng 9.2009 ,theo số liệu sơ bộ hiện có khoảng 2,2 triệu người không có việc làm .Người lao động nước ta có đặc điểm : 70% sống ở nông thôn . 60% đang làm trong lĩnh vực nhà nước . 14% lao động làm việc trong khu vực nhà nước . 10% lao động tiểu thủ công nghiệp . 90% lao động thủ công . Tỷ lệ dân số nông thôn tập trung ở hai vùng Duyên hải Bắc trung bộ (23%) và Đồng bằng sông Cửu Long (25%).Thường di dân ra các thành phố đô thị tìm việc làm . Sự tập trung dân số cao vào đô thị, đầu tiên sẽ dẫn đến sự “ô nhiễm do mật độ” ở các đô thị . Như chúng ta đã thấy hiện nay tại các đô thị lớn của Việt Nam như TP.HCM, TP Hà Nội, và một số đô thị loại 1, loại 2, thậm chí loại 3, trong mọi lĩnh vực: kiến trúc, giao thông, thoát nước, thải rác, giáo dục, y tế, các tệ nạn xã hội, giá cả tăng vọt, đời sống khó khăn… Nhà nước sẽ phải tiếp tục đầu tư chỉnh trang, nâng tầng cao, mở rộng đô thị, phát triển các kết cấu hạ tầng kinh tế – kỹ thuật – xã hội. Sự đổ xô về thành thị trong mười năm gần đây đã khiến nông thôn thiếu lao động, mặc dù giá công lao động tại nông thôn hiện nay nhiều nơi còn cao hơn giá lao động tại thành thị. Những yếu tố cần thiết của lao động trong một xã hội công nghiệp hiện đại chúng ta cũng còn thiếu: Phong cách làm việc hiệp đồng, năng lực làm việc theo nhóm... Điều này chính bà Nguyễn Thị Kim Ngân Bộ trưởng Bộ LĐ TB& XH cũng nhìn nhận, là do người lao động Việt Nam chịu ảnh hưởng của lao động sản xuất nhỏ, manh mún để lại.(6) Chính vì chất lượng lao động thấp dẫn đến chất lượng việc làm cũng thấp. Hiện nay Việt Nam còn thiếu nhiều nhân lực trình độ cao trong các ngành, lĩnh vực quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến việc đạt được tốc độ tăng trưởng cao. Đó là các lĩnh vực về nghiên cứu hoạch định chính sách, tư vấn luật pháp, giảng viên đại học và dạy nghề, chuyên gia cao cấp về quản trị doanh nghiệp, tài chính, ngân hàng, thương mại quốc tế và lao động kỹ thuật trình độ cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, điều khiển và tự động hoá, công nghệ sinh học, dầu khí, năng lượng, kể cả thiếu chuyên gia kỹ thuật trình độ cao trong các doanh nghiệp .(6) Thực trạng thất nghiệp ở VN : Trong lịch sử loài người, thất nghiệp chỉ xuất hiện trong xã hội tư bản. Ở xã hội cộng đồng nguyên thủy, việc phải duy trì trật tự trong bầy đàn buộc mọi thành viên phải đóng góp lao động và được làm việc. Trong xã hội phong kiến châu Âu, truyền đời đất đai đảm bảo rằng con người luôn có việc làm. Ngay cả trong xã hội nô lệ, chủ nô cũng không bao giờ để tài sản ( nô lệ ) của họ rỗi rãi trong thời gian dài. Các nền kinh tế theo học thuyết Mác-Lênin cố gắng tạo việc làm cho mọi cá nhân, thậm chí là phình to bộ máy nếu cần thiết .Thực tế này có thể gọi là thất nghiệp một phần hay thất nghiệp ẩn nhưng đảm bảo cá nhân vẫn có thu nhập từ lao động. Trong xã hội tư bản, giới chủ chạy theo mục đích tối thượng là lợi nhuận, mặt khác họ không phải chịu trách nhiệm cho việc sa thải người lao động, do đó họ vui lòng chấp nhận tình trạng thất nghiệp, thậm chí kiếm lợi từ tình trạng thất nghiệp. Người lao động không có các nguồn lực sản xuất trong tay để tự lao động phải chấp nhận đi làm thuê hoặc thất nghiệp. Năm 2006 VN có số dân là 84,136 triệu người , trong đó có 43 triệu người đang tuổi lao động .Năm 2008 dân số là 86,210 triệu người và số người ở tuổi lao động là 44 triệu người . Nguồn nhân lực dồi dào , co ý thức lao động cần cù , năng động nắm bắt nhanh khoa học kỷ thuật tiên tiến . Hơn 20 triệu người ít nhất đã tốt nghiệp trung học hay trung học dạy nghề trở lên . Đây là nguồn nhân lực quan trọng cho sự phát triển , tăng trưởng GDP tại VN và tham gia lao động quốc tế. Trong toàn bộ nền kinh tế , tỷ lệ lao động đã qua đào tạo hiện nay còn thấp , khoảng 4 triệu người , chỉ chiếm 10,5% lực lượng lao động .Điều này , cho thấy lực lượng lao động hiện nay chưa có thể đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn này . Trong số lao động đã qua đào tạo thì cơ cấu , trình độ và ngành nghề còn nhiều bất cập trước yêu cầu công nghiệp hóa , hiện đại hóa …Số người có trình độ trên đại học chỉ chiếm 1,2% trên số người có trình đô đại học . Những vùng đông dân cư như Duyên hải Bắc trung bộ chiếm 23% , Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 25% thì qui mô lao động có trình độ hay được đào tạo nghề nghiệp lại yếu và thiếu . Duyên hải Bắc trung bộ chỉ chiếm 15% và Đồng bằng sông Cửu Long 8% . Về cơ cấu ngành nghề , lao động đã qua đào tạo thường tập trung chủ yếu ở viện nghiên cứu , các đơn vị hành chánh sự nghiệp và ngành giáo dục . Lĩnh vực sản xuất vật chất có tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp . Đặc biệt trong nông nghiệp , ngành sản xuất lớn nhất chỉ có 9,15% lao động được đào tạo trong 70% lao động nông thôn . Ở vùng Tây nguyên , miền núi chỉ có 3,51% lao động đã được đào tạo .Nhiều lĩnh vực còn thiếu rất nhiều cán bộ giỏi , cán bộ quản lý , cán bộ am hiểu công nghệ cao , tiên tiến … Điều đó dẫn đến thực trạng nơi thừa không hết , nơi thiếu chẳng lần ra . Nguyên nhân thất nghiệp ở VN: Trong những năm vừa qua, cùng với nhịp độ tăng trưởng cao của nền kinh tế quốc dân, sự thu hút mạnh mẽ các nguồn đầu tư từ nước ngoài, sự hình thành các khu công nghiệp mới với công nghệ hiện đại, chúng ta mới đề cập nhiều đến loại hình thất nghiệp cơ cấu, nhất là nhu cầu lao động qua đào tạo, có trình độ chuyên môn, trình độ tay nghề hay trình độ quản lý cao. Ngoài lý do khủng hoảng kinh tế, một nguyên nhân quan trọng khác là trình độ lao động thấp. Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, tỷ lệ thanh niên chưa qua đào tạo ở đô thị là 44%, ở nông thôn là trên 70%.Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề năm 2000 là 13,4%, năm 2006 là 20% và năm 2008 là 24%, tương đương với trên 1,5 triệu người. Tuy tỷ lệ có tăng lên nhưng con số này vẫn còn quá ít so với tổng số lao động trong độ tuổi là 44,1 triệu người . Một dạng thất nghiệp phổ biến và còn kéo dài trong suốt quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta cũng như ở các nước đang phát triển khác và đặc biệt với một nước có cơ cấu dân số trẻ hoá như ở Việt Nam là tình trạng thất nghiệp sức lao động phụ thuộc với quy mô lớn . Điều đó có nghĩa là chúng ta luôn thiếu chỗ làm việc hay tổng cung lao động luôn vượt cao so với tổng cầu. Nói cách khác, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, tốc độ tăng chỗ làm việc mới luôn thấp hơn tốc độ tăng dân số bước vào tuổi lao động và có nhu cầu lao động. Sự tồn tích của một bộ phân lao động trẻ, kể cả đã qua đào tạo, có trình độ chuyên môn hoặc chưa qua đào tạo, đang thất nghiệp, từ năm này qua năm khác là một thách thức cần giải quyết từ góc độ kinh tế vĩ mô kể cả trước mắt cũng như lâu dài. Thất nghiệp thừa hoặc thất nghiệp tồn đọng xuất phát từ thất nghiệp chuyển đổi do người thất nghiệp không thể hoặc rất khó có thể được giới thiệu một chỗ làm việc mới như người thất nghiệp chỉ còn vài năm nữa đủ tuổi nghỉ hưu, người thất nghiệp hạn chế về năng lực làm việc, bị suy giảm sức khoẻ hoặc có đạo đức nghề nghiệp kém và khó có thể xoá bỏ khỏi danh sách tồn đọng của thất nghiệp. Thất nghiệp che dấu chủ yếu diễn ra trong ngành nông nghiệp ở các nước đang phát triển do giới hạn năng suất lao động còn thấp kém.Năng suất lao động của Việt Nam cũng còn rất thấp so với các nước trong khu vực, chỉ bằng khoảng 55% so với Trung Quốc, 35% so với Thái Lan, 15% so với Malaysia và khoảng 5-6% so với Hàn Quốc. Mặc dù lao động Việt Nam được đánh giá là nguồn cung dồi dào và giá rẻ, song do năng suất thấp và đang thiếu nguồn nhân lực trình độ cao nên chúng ta đang phải đối mặt với nguy cơ giảm sức cạnh tranh và tính hấp dẫn của lao động. Thất nghiệp thời vận hay thất nghiệp chu kỳ là loại hình thất nghiệp xuất hiện theo sự dao động của chu kỳ hoạt động kinh tế của mỗi quốc gia và trong bối cảnh hiện nay, loại hình thất nghiệp này đang có xu hướng gia tăng. Theo cảnh báo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay có thể còn nghiêm trọng hơn cuộc đại suy thoái 1929 - 1933, làm cho số người thất nghiệp trên thế giới có thể lên đến mức kỷ lục, tăng từ 190 triệu năm 2007 lên 210 triệu vào cuối 2009. Các ngành sử dụng nhiều lao động như xây dựng, kinh doanh bất động sản, tài chính – ngân hàng, dịch vụ, du lịch, công nghiệp ô tô... sẽ chịu nhiều tác động nhất . Đây là dạng thất nghiệp kinh tế vĩ mô, có tính bao trùm lên và tác động mạnh mẽ đến các loại hình thất nghiệp khác. Thất nghiệp cơ cấu xảy ra khi cung của những loại lao động nhất định theo giới tính, nghề nghiệp, trình độ chuyên môn hay ở từng vùng , vượt hơn cầu lao động cùng loại và không biến chuyển kịp để tìm kiếm việc làm ngắn hạn.Có hai điều kiện dẫn tới thất nghiệp cơ cấu là: Cung của một loại lao động nhất định lớn hơn cầu về cùng loại lao động đó và sự hạn chế về tính lưu chuyển của lao động. Thất nghiệp xuất khẩu. Khi một quốc gia phá giá đồng tiền để tăng xuất khẩu sẽ làm các nước khác tăng thất nghiệp do tăng nhập khẩu hàng hoá khiến doanh nghiệp trong nước đình đốn; hoặc khi một nước sử dụng số lượng lớn lao động nước ngoài, kinh tế gặp khó khăn phải sa thải lao động và buộc họ trở về quê hương làm gia tăng số lượng người thất nghiệp xuất khẩu. Ở Việt Nam, thất nghiệp cũng bao gồm các loại hình nêu trên. Tuy nhiên do đặc điểm kinh tế – chính trị - xã hội và dân số mà các nguyên nhân thất nghiệp cũng như phạm vi và đối tượng thất nghiệp có sự khác nhau cả về mức độ, quy mô và thời gian thất nghiệp. Cho nên khi xem xét dạng thất nghiệp và nguyên nhân thất nghiệp, người ta khó có thể giải thích một cách đầy đủ theo quan hệ nhân quả giản đơn nghĩa là từ nguyên nhân này thì dẫn đến dạng thất nghiệp tương ứng kia hoặc ngược lại mà thực tế luôn thấy có sự giao nhau, sự tác động tương hỗ lẫn nhau giữa các nguyên nhân và một người thất nghiệp có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Điều đó có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản lý khi xem xét các giải pháp mang tính toàn diện và đồng bộ nhằm hạn chế hay thu hẹp nạn thất nghiệp đang diễn ra. B : MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU : 1 – Khái niệm của các biến : Doanh thu thuần là tổng thu nhập của doanh nghiệp do tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, cung cấp các dịch vụ bên ngoài sau khi trừ đi các khoản thuế tiêu thụ và trừ các khoản giảm trừ. Doanh thu thuần không bao gồm: • Doanh thu hoạt động tài chính • Doanh thu các hoạt động bất thường Doanh nghiệp : Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.  Lao động của doanh nghiệp là toàn bộ số lao động do doanh nghiệp quản lý, sử dụng, trả lương và trả công. Lao động của doanh nghiệp không bao gồm : • Những người nhận vật liệu của doanh nghiệp về làm tại gia đình họ • Những người đang trong thời gian học nghề của trường, trung tâm gửi đến thực tập mà doanh nghiệp không quản lý và không trả lương. • Những người lao động của các liên doanh gửi đến mà doanh nghiệp không quản lý và không trả lương. Với các doanh nghiệp tư nhân thì những thành viên trong gia đình tham gia quản lý sản xuất hoặc trực tiếp sản xuất nhưng không nhận tiền lương tiền công, thu nhập của họ là thu nhập hỗn hợp cũng được tính là thu nhập của doanh nghiệp. Nguồn vốn: Là toàn bộ số vốn của doanh nghiệp được hình thành từ các nguồn khác nhau: • Nguồn vốn chủ sở hữu: Là toàn bộ nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp, của các thành viên trong công ty liên doanh, hoặc các cổ đông trong công ty cổ phần, kinh phí quản lý do các doanh nghiệp trực thuộc nộp lên. • Nợ phải trả: Là tổng các khoản nợ phát sinh mà doanh nghiệp phải trả, phải thanh toán cho các chủ nợ, bao gồm nợ tiền vay, các khoản nợ phải trả cho người bán, cho Nhà nước, các khoản phải trả cho công nhân viên và các khoản phải trả khác . Tỷ lệ thất nghiệp : Khái niệm “thất nghiệp” của Tổng cục Thống kê được hiểu theo chuẩn thất nghiệp của Tổ chức lao động thế giới (ILO), tức phải hội đủ 3 điều kiện: Trong 7 ngày qua không làm một công việc gì từ một giờ trở lên mà có thu nhập; người đó đang đi xin việc; nếu có việc thì sẵn sàng làm ngay. Dân số : Mật độ dân số là số người trên đơn vị diện tích (có thể gồm hay không gồm các vùng canh tác hay các vùng có tiềm năng sản xuất). Thông thường nó có thể được tính cho một vùng , thành phố , quốc gia , một đơn vị lãnh thổ hay toàn thế giới . 2- Mô tả lý thuyết sơ bộ: Xuất phát từ mối quan hệ giữa Số doanh nghiệp, Vốn sản xuất, Số lao động , Dân số , Tỷ lệ thất nghiệp với Doanh thu thuần . Ta xác định: Biến phụ thuộc: Doanh thu thuần Biến độc lập: Vốn sản xuất, Số doanh nghiệp, Số lao động,Tỷ lệ thất nghiệp , Dân số . Dựa trên khuôn khổ lý thuyết, ta nhận thấy rằng Doanh thu thuần có quan hệ đồng biến với các biến số : Vốn sản xuất, Số doanh nghiệp, Dân số , Tỷ lệ thất nghiệp . và nghịch biến với biến số Số lao động . Nhận xét này sẽ được kiểm định bằng các phương pháp nghiên cứu trình bày phần trên. Từ đó cho phép ta rút ra kết luận cũng như đề xuất các giải pháp tăng doanh thu thuần cho các doanh nghiệp , phát triển mở rộng số lượng doanh nghiệp các tỉnh, thành trên cả nước là bước tiền đề tạo công ăn việc làm và giảm tình trạng thất nghiệp. Dữ liệu mẫu điều tra: Nguồn từ trang web của Tổng cục thống kê: Tham khảo bảng dữ liệu thứ cấp số 9 đính kèm ở phụ lục . Xử lý số liệu: Xét hệ số tương quan giữa các biến bằng hàm Correlation trong phần mềm Excel ta được bảng dữ liệu số 6 (tham khảo phụ lục đính kèm). Ta có 2 mô hình hạn chế MR ( bảng dữ liệu mô hình ESSR 1 , 3 ) đều có tStat của các biến độc lập > 1.96 . Ta quyết định chọn Mô hình bảng dữ liệu số 1(mô hình hạn chế MR) bằng cách khảo sát mối quan hệ giữa biến phụ thuộc “Doanh thu thuần” và biến độc lập “Số doanh nghiệp” , “số lao động “.”Tỷ lệ thất nghiệp” , “Dân số”. Phương trình tổng quát có dạng: y= a +bx Mô hình hạn chế MR: (tham khảo bảng dữ liệu số 1 thuộc phụ lục đính kèm), cho ta các thông số tương quan sau: tstat = 2.7157283 , 6.5330575 , 2.2268761 ,-2.122409 > tc (t tra bảng) =1.96, nên mô hình “Doanh thu thuần”, “Số doanh nghiệp”, “Số lao động “”Tỷ lệ thất nghiệp” , “Dân số” tương quan , có ý nghĩa thống kê. Phương trình tuyến tính thể hiện mối quan hệ giữa “Doanh Thu thuần” và “ Số doanh nghiệp” , “Số lao động “”Tỷ lệ thất nghiệp” , “Dân số” như sau: Doanh thu thuần = -15905.01294 + 0.313791*Số doanh nghiệp + 0.205469* Số lao động + 2690.508947* Tỷ lệ thất nghiệp - 3.8693642* Dân Số . Điều này có nghĩa rằng: Khi số doanh nghiệp tăng lên 1 doanh nghiệp thì doanh thu thuần tăng thêm 0, 313 tỷ đồng. Khi số lao động tăng lên 1000 lao động thì doanh thu thuần tăng thêm 0, 205 tỷ đồng . Khi tỷ lệ thất nghiệp tăng lên 1% thì doanh thu thuần tăng thêm 2690, 05 tỷ đồng . Khi dân số tăng thêm 1000 người thì doanh thu thuần giảm 3,869 tỷ đồng Vậy ta cần tiếp tục nghiên cứu xem doanh thu thuần có bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: Vốn sản xuất , Số doanh nghiệp , Số lao động, Tỷ lệ thất nghiệp bằng cách xem xét mô hình mở rộng (MU) sau: Mô hình mở rộng (MU): Mô hình “Doanh thu thuần”-“ Vốn sản xuất” , “Số doanh nghiệp”-“ Dân số “- “Số lao động”- “ Tỷ lệ thất nghiệp” –(tham khảo bảng dữ liệu số 5 thuộc phụ lục đính kèm). Theo kết quả mô hình trên, ta có: t stat của Tỷ lệ thất nghiệp = 0.277, Dân số = -1.06326 1.96 Vậy ta tiến hành kiểm định F. Từ mô hình hạn chế (MR)và mô hình mở rộng (MU) cho ta các thông số sau: ESSR 3255776577 ESSU 1377351790 k 6 m 5 n 61 Ftính toán 75.008697 Ftra bảng 2.3860699 F tính toán > F tra bảng Mô hình có ý nghĩa thống kê Mô hình ước lượng: Doanh thu thuần = -2713.383261 + 0.358341*Vốn sản xuất + 6.212994*Số doanh nghiệp - 1.310416*Dân số + 0.108692*Số lao động + 390.353011*Tỷ lệ thất nghiệp 5- Diễn dịch kết quả : Diễn dịch kết quả mô hình mở rộng (MU) ( bảng dữ liệu mô hình số 5 ). Phương trình tuyến tính giữa Doanh thu thuần và Vốn sản xuất, Số doanh nghiệp, Dân số , Số lao động,Tỷ lệ thất nghiệp giúp ta hiểu rõ mức độ ảnh hưởng cùa từng yếu tố đến doanh thu thuần tác động thế nào đến giải pháp tạo công ăn việc làm như sau: • Cứ một tỷ đồng vốn tăng thêm sẽ góp phần gia tăng thêm 0,358 tỷ đồng doanh thu thuần . • Cứ 1 doanh nghiệp tăng thêm sẽ góp phần gia tăng thêm 6,21 tỷ đồng doanh thu thuần . • Nếu dân số 1 tăng thêm 1000 người sẽ giảm đi 1,310 tỷ đồng doanh thu thuần . • Cứ 1000 người lao động tham gia vào quá trình sản xuất sẽ giúp doanh thu thuần tăng 0,108 tỷ đồng. • Cứ 1% tỷ lệ thất nghiệp tăng thêm sẽ làm tăng doanh thu thuần là 390 tỷ đồng . CHƯƠNG II : GIẢI PHÁP TẠO CÔNG ĂN VIỆC LÀM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY : Kể từ năm 2000 khu vực quốc doanh đã tạo ra 4 triệu việc làm, tức là 9-10% tổng số việc làm trong toàn xã hội. Trong khu vực công, doanh nghiệp quốc doanh tạo ra 19 triệu việc làm trong năm 2006, bằng 4% tổng số việc làm trong xã hội, và bằng 284% số lao động trong doanh nghiệp nói chung (kể cả công tư và đầu tư nước ngoài).  Số lao động có việc làm trong doanh nghiệp quốc doanh không những giảm tương đối mà còn cả tuyệt đối ( Bảng A).  Bảng A Lao động trong khu vực công và doanh nghiệp quốc doanh  2000 2003 2004 2005 2006 2007 Tổng lao động  (ngàn) 37610 40574 41586 42527 43339 44172 Khu vực công 9,3% 9,9% 9,9% 9,5% 9,1% 9,0% Khu vực tư 89,7% 88,1% 87,8% 87,8% 87,8% 87,5% Lao động trong doanh nghiệp (ngàn) 3538 3933 5770 6238 6722 Doanh nghiệp quốc doanh (ngàn) 2089 2114 2250 2038 1907 Doanh nghiệp quốc doanh 59,1% 53,8% 39,0% 32,7% 28,4% Doanh nghiệp tư nội địa 29,4% 33,8% 42,9% 47,8% 50,1% Doanh nghiệp FDI 39,2% 36,8% 42,2% 41,0% 42,9% Thay đổi trong lao động (ngàn) 396 1837 467 485 Doanh nghiệp quốc doanh 26 136 -213 -131 Doanh nghiệp tư nội địa 289 1146 504 391 Doanh nghiệp FDI 82 556 176 225  Nguồn: Tổng cục Thống kê và Viện Quản lý trung ương Việt Nam.  Mặc dù tạo ra ít công ăn việc làm như thế nhưng khu vực công đã nhận được một tỷ lệ vốn đầu tư rất lớn.  Khu vực công thường chiếm hơn 45% vốn đầu tư của cả nền kinh tế, trừ năm 2007 là năm mà tỷ lệ này giảm bất ngờ xuống dưới 40%; điều này xảy ra chỉ vì vốn FDI tăng lên bất ngờ. (Bảng B)   Năm 2007 với GDP là 71,5 tỷ USD đã có  32,6 tỷ USD dành cho đầu tư. Khoảng 15 tỷ USD hay 18% GDP là đầu tư vào vào khu vực công. Đầu tư vào doanh nghiệp quốc doanh không được công bố nhưng có thể ước lượng là vào khoảng 8 tỷ USD, bằng 11% GDP vào năm 2007 .Đây là con số rất lớn so với 17 tỷ USD đầu tư vào toàn bộ vào khu vực tư nhân, bao gồm toàn bộ các hoạt động kinh tế gia đình các doanh nghiệp tư, nơi chúng là khu vực tạo ra 80% việc làm cho toàn xã hội.   Bảng B Tỷ lệ vốn và tích lũy của khu vực công và của nền kinh tế  2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Tỷ lệ phần chia của khu vực công trong tổng vốn đầu tư (%) 59,8 57,3 52,9 48,1 47,1 45,7 39,9 Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP (%) 35,4 37,4 39,0 40,7 40,9 41,5 45,9 Tỷ lệ tích lũy so với GDP (%) 31,2 33,2 35,4 35,5 35,6 36,8 41,6 Nguồn: Tổng cục Thống kê, Vốn đầu tư thường lớn hơn tích lũy vì có chi tiêu như đền bù không tạo ra của cải. Từ lâu, khu vực doanh nghiệp nhà nước đã có nhiều biểu hiện của sự trì trệ trong nền kinh tế nếu như so sánh với doanh nghiệp tư nhân. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sản lượng doanh nghiệp quốc doanh trong công nghiệp chỉ tăng có 6,4%  trong 9 tháng đầu năm 2008 so với 29,5% của khu vực tư nhân nội địa và 17,9% của khu vực FDI.(7) Ở Việt Nam, tỷ lệ lao động thiếu việc làm thường cao hơn nhiều so với tỷ lệ thất nghiệp; trong đó tỷ lệ thiếu việc làm nông thôn thường cao hơn thành thị. Với cách hiểu như vậy, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam hiện nay là 4,65%, tăng 0,01% so với năm 2007. Trong khi đó, tỷ lệ lao động thiếu việc làm hiện nay là 5,1%, tăng 0,2% so với năm 2007. Đáng chú ý, tỷ lệ thiếu việc làm nông thôn lên tới 6,1%, trong khi tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 2,3%. Qua ba bảng số liệu trên đây cho ta thấy chính phủ nên chú trọng hổ trợ đầu tư vào khu vục tư nhân nội địa , và kinh tế gia đình là nơi nhanh chóng tạo ra nhiều việc làm cho toàn xã hội trong thời gian nhanh nhất .Đặc biệt chú trọng tạo điều kiện phát triển ở những vùng miền có tỷ trọng doanh thu thuần thấp như Tây nguyên (2%) , Trung du miều núi (5%), Duyên hải Bắc trung bộ (10%), Đồng bằng sông Cửu Long (11%). Một số quốc gia hiện nay có những sáng kiến như trợ cấp một tỷ lệ nhất định trong quỹ lương ở các doanh nghiệp. Họ cũng có thể hỗ trợ doanh nghiệp trong nghĩa vụ nộp bảo hiểm xã hội, quỹ lương hưu v.v… mà mục đích không gì khác ngoài việc giúp doanh nghiệp cắt giảm được chi phí nhân lực liên quan mà không cần phải sa thải nhân công. Bên cạnh đó, những biện pháp gián tiếp khác như cắt giảm thuế tiêu thụ cũng giúp giảm gánh nặng chi tiêu cho người tiêu dùng với hy vọng rằng tổng cầu sẽ được duy trì ở mức khả dĩ, tác động tích cực ngược lại đến doanh nghiệp và do đó giảm thiểu được nạn sa thải nhân lực do sản xuất kinh doanh đình đốn. Tất cả những biện pháp này đều làm gia tăng chi tiêu Chính phủ và do đó làm tăng thâm hụt ngân sách, vốn đã ở mức không nên thâm thủng hơn và kéo dài hơn ở Việt Nam . Ở đây có sự đánh đổi giữa các mục tiêu ưu tiên trong bối cảnh tiềm lực tài chính của Chính phủ cực kỳ eo hẹp: hoặc là ưu tiên cho đầu tư như gói kích cầu đầu tư , hoặc là ưu tiên cho ngăn ngừa và giảm thiểu sa thải nhân công ở các doanh nghiệp. Hai mục tiêu này không nhất thiết là có quan hệ hữu cơ với nhau. Tăng đầu tư nhưng là đầu tư cho những ngành thâm dụng vốn vừa không giúp doanh nghiệp giảm được chi phí sản xuất kinh doanh vừa không tạo ra thêm nhiều việc làm mới để thu hút lao động bị sa thải ở những doanh nghiệp khác. Thậm chí, cho dù tăng đầu tư vào những ngành thâm dụng lao động, tình hình thất nghiệp không chắc đã được cải thiện bởi doanh nghiệp có tuyển thêm nhân công và mở rộng sản xuất hay không còn phụ thuộc vào tình hình thị trường, là điều mà chẳng ai dám chắc chắn được trong lúc này . Ngược lại, ngăn ngừa và giảm thiểu sa thải nhân công ở các doanh nghiệp với các biện pháp cắt giảm chi phí nhân công cho doanh nghiệp như nói ở trên chỉ giúp họ duy trì được quy mô sản xuất kinh doanh hiện có, và đây cũng đã là một cố gắng lớn. Thêm nữa, tương tự như bảo hiểm thất nghiệp, các biện pháp này nếu có áp dụng thì cũng chỉ áp dụng được đối với khối doanh nghiệp chính thống, với cái nghĩa là Chính phủ có thể kiểm soát được tình hình sản xuất kinh doanh thông qua các chế độ báo cáo, và các nghĩa vụ giao nộp, đóng góp, chứ không phải là các doanh nghiệp nhỏ, gia đình mà tình hình hoạt động kinh doanh là một ẩn số chẳng bao giờ có lời giải. Một biện pháp khác thường được nói đến mỗi khi có tình trạng thất nghiệp gia tăng là biện pháp tái đào tạo nhân lực, được tiến hành bởi Chính phủ hoặc doanh nghiệp. Nhưng lối thoát này cũng ít mang lại hiệu quả, ít nhất vì hệ thống đào tạo nói chung của Việt Nam ngay trong thời bình thường cũng đã quá nhiều chuyện để nói, chưa kể đến việc này cũng lại liên quan đến túi tiền của nhà nước, của doanh nghiệp, vốn không còn dư dả chút nào. Ngoài những biện pháp ít nhiều động chạm đến vấn đề tiền nong như trên, có lẽ chỉ còn một biện pháp ít tốn kém hơn là thông qua các tổ chức công đoàn thuyết phục người lao động và chủ doanh nghiệp chấp nhận một mức cắt giảm trong tiền lương để duy trì số công ăn việc làm trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, biện pháp này cũng lại chỉ được áp dụng được ở những nơi có tổ chức công đoàn và vẫn còn hoạt động! Cùng với tăng cường giám sát việc thực hiện các giải pháp trong thực tế, Chính phủ cần chú trọng hơn nữa đến chính sách đào tạo việc làm thích hợp cho người lao động, đặc biệt là lao động nông thôn để họ có thể bắt kịp với sự biến đổi nhanh về nhu cầu lao động của nền kinh tế. Con số 73% người lao động thất nghiệp và thiếu việc làm hiện nay là những người không qua đào tạo” thực sự là điều đáng lưu tâm đối với các cơ quan có chức năng đào tạo nghề cho người lao động. Từ cuối năm 2008 đến nay, Chính phủ đã có những giải pháp tổng thể, kịp thời như Giải pháp chống suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng và đảm bảo an sinh xã hội, giải pháp kích cầu đầu tư, tiêu dùng… để thúc đẩy sản xuất phát triển trở lại, tạo thêm việc làm cho người lao động. Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm cho hay, hàng năm Việt Nam giải quyết được việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động, tăng dần tỷ trọng trọng lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, giảm đáng kể tỉ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên, chúng ta đang phải đối mặt với nhiều vấn đề trong lĩnh vực việc làm. Đó là nhu cầu việc làm, đặc biệt là việc làm ổn định cho lực lượng lao động trẻ vẫn là một vấn đề bức xúc trong xã hội; trên 50% lao động làm nông nghiệp, phần đông chưa qua đào tạo, giá trị một ngày công lao động rất thấp, nguy cơ mất việc làm và thiếu việc làm là rất lớn, khoảng cách giàu nghèo gia tăng. Ông nhấn mạnh, giải quyết việc làm ổn định và thực hiện tốt việc bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động sẽ là nhân tố quyết định để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động dồi dào. Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm cũng đề cập đến mục tiêu cụ thể: tạo việc làm mới cho 8 triệu lao động (trong 5 năm 2006 - 2010), đảm bảo việc làm cho 49,5 triệu lao động và giảm tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống dưới 5% vào năm 2010. (6) Để đạt được những mục tiêu trên , nhà nước cần thực hiện đồng bộ hàng loạt giải pháp chủ yếu như sau : • Huy động mọi nguồn lực để tạo cho môi trường phát triển kinh tế , có khả năng đột biến , nhanh chóng tạo ra việc làm mới hường xuyên đáp ứng được nhu cầu của số đông lao động thất nghiệp . Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân những năm sắp tới từ 6-8% /năm . Là yêu cầu bức thiết trong giai đoạn hiện nay , vừa tăng trưởng kinh tế không quá nóng , vừa chống lạm phát vừa tạo công ăn việc làm nhằm giảm tỉ lệ thất nghiệp . • Trong điều kiện khoảng 70% lực lượng lao động nông nghiệp đang thiếu việc làm trầm trọng , thì giải pháp tốt nhất là từng bước dồn sức phát triển Nông –lâm –Ngư nghiệp gắn với công nghệ chế biến theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa . Phát triển hơn nữa ngành dịch vụ phi nông nghiệp , ngành nghề truyền thống hổ trợ và xử dụng lao động nông thôn lúc nông nhàn . Phát triển giống cây trồng , vật nuôi có giá trị kinh tế cao , có khả năng xuất khẩu và tăng thu nhập . • Để đầu tư phát triển ngành nghề công nhiệp , chú trọng hổ trợ công nghiệp chế biến , công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu . Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng : về dầu khí , cơ khí điện tử , phân bón, hóa . Đầu tư xây dựng và cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ thiết thực và cần thiết cho phát triển kinh tế . • Phát triển ngành dịch vụ , trong đó tập trung vào các lĩnh vực vận tải thông tin liên lạc , thương mại , dịch vụ , các dịch vụ tài chính , ngân hàng , công nghệ , pháp lý .. • Để có được tốc độ phát triển trên nhằm tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động , phải có chính sách huy động tối đa các nguồn vốn bên ngoài , tăng nhanh đầu tư phát triển toàn xã hội , đưa tỷ lệ này đạt khoảng 45% GDP năm 2010 ( năm 2009 tỷ lệ nầy là 42,6% ) • Tạo môi trường pháp lý đồng bộ khuyến khích kiến tạo và duy trì chỗ làm việc , khuyến khích tự tạo việc làm . Bộ lao động của nước ta là cơ sở pháp ý căn bản của vấn đề việc làm . Tuy nhiên để khuyến khích mọi người tham gia tự tạo việc làm khả thi trong cuộc sống , thì nhà nước cần chỉ đạo các bộ liên quan như bộ đầu tư , tài chính … phối hợp với bộ lao động nghiên cứu những văn bản hướng dẫn liên quan nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho họ thực hiện . + Trong thời gian trước mắt , cần ban hành các chính sách và cơ chế cụ thể về những việc như : Khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất sử dụng lao động nữ , sử dụng lao động là người khuyết tật và miễn giảm thuế cho những doanh nghiệp này . Hổ trợ các cơ sở sản xuất của thương bệnh binh , người khuyết tật . Ban hành chính sách bảo hiểm thất nghiệp . Tập trung phần vốn tín dụng từ quỹ quốc gia về việc làm với lãi suất ưu đãi cho các đối tượng là doanh nghiệp nhỏ và vừa có đông lao động hay hội phụ nữ, đoàn thể thanh niên , tổ hội giúp nhau vượt khó , thoát nghèo .. Hổ trợ một phần kinh phí đào tạo nghề cho lao động thuộc diện chính sách ưu đãi , gia đình lao động thuộc đối tượng có ý chí vươn lên thoát nghèo Tổ chức các chương trình đào lại nghề của lao động cho phù hợp với thời kỳ sau khủng hoảng . Chọn những ngành nghề tương ứng mà xã hội đang cần. Phát triển nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm . + Trung tâm dịch vụ việc làm là một đơn vị sự nghiệp hoạt động vì mục tiêu xã hội . Nó là chiếc cầu rất quan trọng và không thể thiếu giữa cung và cầu lao động . Chức năng cơ bản của nó là tư vấn , cung cấp thông tin cho người lao động và xử dụng lao động về những vấn đề có liên quan đến việc làm ., giới thiệu việc làm , cung ứng lao động , dạy nghề gắn với việc làm của các tổ chức sản xuất có quy mô thích hợp để tận dụng năng lực thiết bị thực hành . Tổ chức thường xuyên hội chợ việc làm nhằm tạo thêm nhiều cơ hội cho người chưa có việc làm . Trung tâm sẽ là cấu nối giữa chính quyền và người lao động là cách gián tiếp giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp . CHƯƠNG III : KẾT LUẬN : Một số chuyên gia kinh tế trên thế giới cho biết, để đáp ứng công ăn việc làm cho số lao động tại Việt Nam thì tăng trưởng kinh tế Việt Nam cần đạt trên 8%/năm. Con số này đang là viễn tưởng đối với sự “ốm yếu” của kinh tế trong nước.” Tốc độ tăng trưởng tụt từ mức trên 8% xuống còn 5%-6% trong năm nay tất yếu sẽ làm tăng con số thất nghiệp. Tuy tốc độ tăng trưởng như vậy trong năm 2009 vẫn là một tốc độ tăng trưởng tương đối cao đáng mơ ước với nhiều nền kinh tế trên thế giới, và bản thân nó cho thấy tình trạng thất nghiệp trên thực tế có lẽ không đến mức trầm trọng và bi quan như những gì nhiều đang cảm nhận. Tuy nhiên , thực tế nạn thất nghiệp đang có xu hướng gia tăng, dù ít hay nhiều một cách tương đối, đòi hỏi Chính phủ phải có những đối sách hữu hiệu hơn, ngoài những biện pháp nêu ở trên. Sau cùng, dẫu vẫn biết rằng vấn đề thất nghiệp gia tăng là một u nhọt trong xã hội nếu không kiểm soát được và để vỡ ra thì sẽ gây ra nhiều biến chứng, nhưng đôi khi phải chấp nhận nó như là hậu quả của một sự điều chỉnh tất yếu trong những giai đoạn đi xuống của chu kỳ kinh tế vì chúng ta không có nhiều lựa chọn khả thi, và trong số đó, kết quả lại phụ thuộc vào năng lực xử lý vấn đề của Chính phủ, cũng như những đặc thù của nền kinh tế mà để giải quyết chúng theo hướng tích cực thì cần những chuyển biến lớn . - Hạn chế : - Do số liệu thống kê thất nghiệp chưa có số chính thức từ trang web thống kê nên việc nghiên cứu chưa có tính chính xác cao . - Thời gian nghiên cứu ngắn ( một tháng ) , tính chất đề tài trong phạm vi môn học PP nghiên cứu nên phần nội dung không đi sâu vào chi tiết . - Do trình độ còn hạn chế nên nhận định và trình bày nội dung có phần chưa đầy đủ . 2 - Gợi ý hướng nghiên cứu thêm : - Tác động của quá trình đô thị hóa đến tạo việc làm mới và khả năng đáp ứng của nguồn lao động tại chỗ cho các dự án đầu tư mới. - Dự báo xu hướng gia tăng thất nghiệp và thất nghiệp cơ cấu và nhu cầu giải quyết việc làm 2010 – 2015 . &&&&&&&&&&&&&& TÀI LIỆU SỬ DỤNG THAM KHẢO : Trang web (Thời báo kinh tế Saigon) . Trang web (Tổng cục thống kê .) Trang web (Bộ lao động thương binh và xã hội ) 4 .Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực đồng bằng sông cửu long của PGS,TS. Huỳnh Thị Gấm- Học viện Chính trị -Hành chínhKV2 và TS. Phạm Ngọc Trâm-ĐH KHXHNV- ĐHQG TP HCM. 5. Công trình nghiên cứu “Khủng hoảng kinh tế và thị trường lao động Việt Nam”.  Viện Khoa học lao động và xã hội . (6). 7. &&&&&&&&&&&&&& PHỤ LỤC BẢNG 1 PHÂN TÍCH SỐ LIỆU MÔ HÌNH BẢNG 2 PHÂN TÍCH SỐ LIỆU MÔ HÌNH ( ESSU) BẢNG 3 PHÂN TÍCH SỐ LIỆU MÔ HÌNH ( ESSR ) BẢNG 4 PHÂN TÍCH SỐ LIỆU MÔ HÌNH BẢNG 5 PHÂN TÍCH SỐ LIỆU MÔ HÌNH BẢNG SỐ LIỆU 6 ( Tỷ lệ người thất nghiệp và Hệ số tương quan các biến) BẢNG SỐ LIỆU 7 ( Cơ cấu số người 15 - 60+ tuổi hoạt động kinh tế ) BẢNG SỐ LIỆU 8 ( Cơ cấu dân số trung bình và tốc độ tăng trưởng dân số ) BẢNG SỐ 9 ( BẢNG DỮ LIỆU THỨ CẤP). 10. BẢNG SỐ 10(BẢNG BIỂU ĐỒ). &&&&&&&&&&

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTình hình thất nghiệp ở VN trong giai đoạn 2006-2008 và giải pháp tạo công ăn việc làm.doc
Luận văn liên quan