Tính toán thi công, lắp đặt tuyến ống dẫn dầu RP2 – UBN3

LỜI NÓI ĐẦU Hiện nay ở Việt Nam, Dầu khí là ngành kinh tế mũi nhọn, là chỗ dựa cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, làm đà thúc đẩy phát triển kinh tế quốc dân. Đây là lĩnh vực làm việc đòi hỏi kỹ thuật cao và điều kiện làm việc xa bờ. Một trong những lĩnh vực quan trọng của nền công nghiệp dầu khí là vận chuyển dầu khí. Do phần lớn các giếng khai thác dầu khí ở nước ta là các giếng khai thác ở xa ngoài biển. Việc thu gom, vận chuyển đó dầu đòi hỏi một hệ thống ống dẫn lớn và yêu cầu làm việc hiệu quả, độ tin cậy cao. Vì vậy mọi tuyến ống được xây dựng phải tính toán thi công và lắp đặt chính xác đảm bảo cho quá trình vận hành. Được sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Văn Thịnh Bộ môn Thiết bị Dầu khí và Công trình tác giả đã chọn đề tài “Tính toán thi công, lắp đặt tuyến ống dẫn dầu RP2 – UBN3”. Trong quá trình thực hiện đồ án này, tác giả nhận được sự hướng dẫn tận tình của thầy Nguyễn Văn Thịnh, sự giúp đỡ nhiệt tình của kỹ sư Bùi Uy Hùng - Xí nghiệp xây lắp Dầu khí Vietsovpetro, cùng các thầy cô giáo trong Bộ môn Thiết bị Dầu khí và Công trình. Tác giả xin chân thành cảm ơn! Trong quá trình xuất bản đồ án này khó tránh khỏi các sơ suất về kiến thức, in ấn, phương pháp trình bày Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để bản đồ án được hoàn thiện hơn. Hà Nội, tháng 05 năm 2010 Sinh viên

doc64 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 07/06/2013 | Lượt xem: 2453 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tính toán thi công, lắp đặt tuyến ống dẫn dầu RP2 – UBN3, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
u cẩu như: tàu Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Sơn đều được thực hiện theo chế độ sóng và gió ở mỏ Rồng cũng như Mỏ Bạch Hổ, tiêu chuẩn công việc rải ống được xác định như sau: Tốc độ rải ống V (m/ ngày) Chiều dài ống l = 24 m. Và được tính theo công thức tổng quát như sau: (4.1) Trong đó: Thời gian làm việc một ca trong ngày: t = 12 Số ca làm việc trong ngày: n1 = 2 Thời gian chuyển neo của tàu: trk = 2 Số lần làm neo trong ngày: n2 = 1 Số thợ hàn ống trong một ca: n3 = 6 Số thợ hàn cục chống ăn mòn và phục vụ cho công tác hàn trong một ca: n4 = 2 Số thợ hàn trên mỗi mối hàn: n5 = 2 Chiều dài của một ống: l = 24 m Thời gian hàn liên tục: Vlt = 3.5 Hệ số giảm định mức: K1 = 1.3 Hệ số nghỉ: K2 = 1.15 Thay các giá trị ta có: 4.2.6 Thi công xây dựng tuyến ống từ RP2 – UBN3 Đường ống ngầm dẫn dầu từ RP2 – UBN3 thuộc mỏ Rồng, là tuyến đường ống được thiết kế và xây dựng bằng ống thép Ø323.8 mm × 15.9 mm theo tiêu chuẩn API – 5LGr – X60 dùng để vận chuyển dầu giữa RTP2 và UBN3 với lưu lượng đến 7500 T/ngày – đêm. Tàu Côn Sơn sau khi được trang bị đầy đủ các thiết bị và vật tư cần thiết được tàu dịch vụ kéo đến khu vực RP2, với sự trợ giúp của tàu dịch vụ thả neo chính cách xa khu vực dàn RP2 khoảng 70 m và bắt đầu quá trình rải ống gồm các bước như sau: 4.2.6.1 Buộc đầu ống từ RP2 – UBN3 vào chân đế RP2 Trên tàu Côn Sơn chẩn bị đoạn ống dài 120 m (gồm 5 ống đôi) hàn với 1 đầu bịt và được nối với 2 sợi cáp Ø 50.8 mm. Hình 4.8 Phương pháp buộc đầu ống Sử dụng sợi cáp Ø 50.8 mm chiều dài 60m được dùng để nâng hạ ống và sợi cáp ngắn Ø 50.8 mm chiều dài 6m được nối với dây dù, cả 2 được móc lên móc cẩu của tàu Côn Sơn. Lúc này tời điều khiển số 2 thả ống dần về phía cuối tàu, cần cẩu đưa đầu ống đến khu vực cần đặt ống đứng của chân đế RP2. Sợi cáp ngắn Ø 50.8 mm dài 6m được thợ lặn buộc gia cố vào cáp chằng giữ 55m ở chân đế (cáp được buộc dọc suốt theo chiều dài ống chủ của chân đế nơi cần đặt ống đứng). Sau đó cho chùng móc cẩu để giải phóng đầu sợi cáp Ø 50.8 mm chiều dài 60m trên móc cẩu và buộc dự phòng vào chân đế để thuận tiện cho công tác nâng hạ đầu bịt để thi công lắp ống đứng sau này. Trên tàu tiếp tục nối và đẩy thả tiếp cho đến khi đủ khoảng cách nghĩa là lúc này đầu nâng kéo ống đã sang đến vị trí cần buộc, tạm dừng không lắp nối và đẩy ống. Sau khi tất cả các công việc có liên quan đến việc buộc cáp giữ ống vào chân đế đã hoàn tất, tiến hành lắp nối và cho tàu thi công rải ống theo thiết kế. Hình 4.9 Thi công buộc điểm đầu tuyến ống Hình 4.10 Chi tiết B 4.2.6.2 Lắp đặt tuyến ống a. Thi công nối rải ống Ống được sử dụng lắp đặt là loại ống bọc Compozit 24m được tổ hợp trước trong bờ. Trên tàu Côn Sơn với sự trợ giúp của cẩu Tadano, ống được cẩu lên hệ thống băng truyền đưa vào giá ống và đưa vào hệ thống tời nối ống. Hình 4.11 Sơ đồ thiết bị thi công rải ống Thợ lắp ráp ở vị trí tời số một tiến hành làm sạch mép ống (theo yêu cầu kỹ thuật). Thợ lắp ráp đứng ở tời số một điều chỉnh đưa đầu ống 24m nối tiếp với tuyến ống đã được thả xuống biển và bắt đầu tiến hành các công việc sau: Trạm số 1: tiến hành hàn lớp lót. Trạm số 2: hàn lớp 2. Trạm số 3: hàn các lớp kế tiếp đến khi đầy các mối hàn. Trạm số 4: hàn cục chống ăn mòn. Trạm số 5: kiểm tra mối hàn và chụp tia Rơn ghen, sau đó tiến hành sơn và quấn băng keo bảo vệ mối hàn. Khi công việc các trạm đã hoàn thành (tất cả được báo về đài chỉ huy) người chỉ huy ra lệnh cho tàu kéo neo tiến về phía UBN3. Đẩy hết một ống 24m thì tàu dừng lại (thông qua loa báo của thợ lắp ráp điều khiển tời số một) mọi công việc được lắp lại và tiến hành liên tục cho đến khi đến hết chiều dài của neo thì dừng lại đợi phía đội tàu tiến hành công tác nhổ thả neo để tiến về phía trước theo thiết kế. Khi toàn bộ hệ thống neo đã hoàn tất và có thể làm việc bình thường trở lại, cho tiến hành lắp vào đầu nối tiếp tục các ống để đẩy thả cho đến khi đủ theo chiều dài thiết kế. Khi đó bắt đầu bịt đầu ống bằng đầu bịt và thả xuống biển để chuẩn bị cho thợ lặn kiểm tra khoảng cách đến vị trí của UBN3 và chuẩn bị cho các công việc chuyển giai đoạn tiếp theo. b. Thi công bịt đầu ống thả xuống biển để kiểm tra * Khi độ dài tuyến ống RP2 đến UBN3 đã đủ thì: Tiến hành hàn đầu bịt ống, sau khi hàn đầu bịt đã xong dùng tời 2 điều chỉnh cho đầu bịt tiến lại đầu cáp của tời số 9, thợ lắp ráp tiến hành dùng cáp tời số 9 có đường kính Ø 70mm bắt trực tiếp vào đầu bịt. Tiến hành kiểm tra mọi thao tác của công tác mắc cáp vào đầu bịt một lần nữa xem có đảm bảo an toàn không. Sau đó bắt đầu tăng tải đưa tời số 9 vào làm việc sao cho toàn bộ tải trọng được chuyển từ tời số 2 sang tời số 9, người phụ trách ca có trách nhiệm kiểm tra lại toàn bộ quá trình thao tác và tải trọng của tời số 9 lần sau cùng, sau đó giải phóng tải trọng tời 2 đưa tời 2 vào trạng thái tự do. Trưởng ca phối hợp với chỉ huy của tàu điều khiển cho tàu tiến về phía trước và dịch chuyển từ từ về phía đuôi tàu thì dừng lại. Tiến hành kiểm tra lại hệ thống liên kết giữa tời số 9 với đầu bịt, sau đó thợ lắp ráp tiến hành mắc cáp Ø 50.8mm dài L = 60m, một đầu cáp được mắc vào phao điểm và mắc vào móc cẩu của tàu, đầu còn lại mắc vào tai cẩu của đầu bịt phần cuối tuyến ống. Sau khi các công việc mắc cáp cẩu, lắp phao điểm và kiểm tra công việc được tiến hành theo đúng yêu cầu kỹ thuật tiến hành nâng tải cho cẩu kết hợp với tàu cùng với tời số 9 và cẩu cho ống lùi dần xuống biển và tàu tiến dần lên phía trước cho đến khi đuôi của tuyến ống vượt qua khỏi đuôi của Stinger, sao cho toàn bộ tải trọng của đuôi tuyến ống dồn lên tải trọng của cẩu và tải trọng ở tời số 9 tự do. Bơm nước vào phần đuôi của Stinger sao cho phần đuôi của Stinger chìm xuống nước tiếp tục tiến tàu và thả tời số 9 xuống cẩu cho đến khi đầu bịt và phần đuôi tuyến ống nằm hẳn xuống đáy biển. Xuống móc cẩu và giải phóng phao điểm ra khỏi móc cẩu, lùi tàu lại một khoảng (cho tời số 9 chùng lại) để cho thợ lặn dễ tháo cáp liên kết giữa tời số 9 và đầu bịt. Lúc này mọi công việc trên tàu kể cả việc kéo neo và các công tác khác có liên quan đều phải dừng hoạt động để thợ lặn tiến hành lặn tháo cáp giải phóng tời số 9. Sau khi thợ lặn đã hoàn tất công việc lặn, cho tàu tiến về phía trước, kết hợp thu cáp tời số 9 về phía tàu và tiếp tục tiến thêm một khoảng sao cho chiếu của đuôi Stinger xuống đáy biển cách đầu bịt cuối cùng của tuyến ống một khoảng là 200m (đây là khoảng cách an toàn theo thiết kế. Tại vị trí này có thể bắt đầu giải phóng Stinger khỏi đuôi tàu). Tháo và giải phóng Stinger khỏi đuôi tàu và cẩu đặt Stinger lên tàu và gia cố giữ Stinger vào boong tàu). Giải phóng cẩu tiến hành lùi tàu về gần phao điểm và dùng cẩu vớt phao điểm, sau đó tiến hành nâng phần đuôi ống lên và điều chỉnh ép tàu sao cho đuôi ống vào vị trí tương đối theo thiết kế. Xuống cẩu hạ đầu ống nằm vào vị trí cần đặt tạm thời để cho thợ lặn đo kiểm tra. 4.2.6.3 Lắp đặt ống đứng và lắp nối tuyến ống vào hệ thống PLEM – UBN3 a. Lắp nối tuyến ống vào hệ thống PLEM – UBN3 Khi đã rải đủ số ống cho tuyến ống từ RP2 đến UBN3 đầu ống sau khi được bịt kín bằng đầu bịt chuyên dùng và thả xuống biển, được thợ lặn khảo sát, kiểm tra kích thước tốt, sau đó cho cẩu chuẩn bị nhấc đầu bịt ống lên. Hệ thống Plem – UBN3 đã được chuẩn bị trước được đặt và cố định trên tàu Lam Sơn. Trước khi tiến hành lắp nối tuyến ống dẫn dầu vào hệ thống Plem cho tiến hành lắp sẵn trước mặt bích công nghệ 12” Class 600 vào hệ thống các van trong Plem – UBN3. Sau các công việc chuẩn bị sẵn trước trên hệ thống Plem đã được thực hiện xong, cho tiến hành nhấc đầu ống lên khỏi mặt nước và đặt gia cố vào các hệ thống đã chuẩn bị trước trên tàu Lam sơn. Dùng các sợi cáp có đường kính Ø 42mm, L = 5 ÷ 7.5m gia cố thêm và chằng giữ ống vào mạn tàu Lam Sơn. Khi tiến hành xong các công việc gia cố và chằng giữ ống trên tàu, giải phóng cáp cẩu trên đầu bịt ống để tiến hành cắt đầu bịt ống. Trước khi cắt đầu bịt ống, tiến hành đo kiểm tra kích thước thực tế trên đầu ống qua số liệu báo cáo của thợ lặn. Sau đó bắt đầu cắt đoạn đầu bịt ống ngắn bớt hoặc nối thêm vào cho đúng kích thước đo đạc, kiểm tra của thợ lặn. Khi đã đo cắt đủ kích thước ống, tiến hành mài và làm sạch đầu ống theo yêu cầu kỹ thuật, hàn các bản mã định vị đầu ống, dùng cẩu tàu Côn Sơn mắc cáp Ø 50.8mm, L = 30m vào vị trí mới vừa được chuẩn bị trên phía đầu của tuyến ống gần với vị trí sẽ được hàn lắp nối vào mặt bích. Cần cẩu tàu Côn Sơn với sự hỗ trợ của cần cẩu Tadano, tiến hành phối hợp từ từ bắt đầu nâng tuyến ống lắp nối vào mặt bích công nghệ 12 ” Class 600 đã chuẩn bị trước đó. Kiểm tra lại một lần nữa cho toàn bộ các kích thước và các điều kiện làm việc cần thiết trong quá trình thi công lắp nối để chuẩn bị cho công tác hàn và hoàn thiện tiếp theo. Khi đã lắp nối và hàn xong, cho chụp Rơn ghen để kiểm tra và kiểm tra lại một lần nữa trên toàn bộ các quá trình vừa thi công. Sau cùng là sơn và quấn băng keo chống ăn mòn bảo vệ. Sau khi lắp nối xong tuyến ống vào mặt bích của hệ thống Plem – UBN3 cho giải phóng các cẩu Tadona và Cẩu tàu Côn Sơn khỏi vị trí vừa mắc cáp. Dùng móc cẩu của tàu Côn Sơn có tải trọng nâng 300T, tiến hành mắc vào hệ thống các cáp dùng để cẩu Plem – UBN3 và chuẩn bị cho quá trình hạ thủy hệ thống đầu của tuyến ống với Plem – UBN3. Sau khi đã mắc xong hệ thống cáp cẩu Plem, kiểm tra lại toàn bộ các vị trí và các điều kiện theo yêu cầu thiết kế thi công, chuẩn bị tiến hành nâng hệ thống đầu tuyến cùng với Plem. Dùng hệ thống tời kéo trên tàu Lam Sơn để kéo giữ Plem không cho trượt về phía đuôi tàu Lam Sơn, cẩu tàu Côn Sơn bắt đầu nâng tải trọng từ từ cho đến khi cáp cẩu bắt đầu căng và nhận tải trọng. Giữ nguyên cẩu và tời kéo tại vị trí này để tạo ổn định, tiến hành giải phóng toàn bộ các cáp và các hệ thống chằng giữ Plem cùng đầu của tuyến ống. Sau khi giải phóng xong toàn bộ các chi tiết và các bộ phận không cần thiết trong quá trình hạ thủy, cẩu tiến hành nâng tải trọng từ từ, đồng thời tời kéo trên tàu Lam Sơn cũng được từ từ nhả cáp. Quá trình này được thực hiện từ từ theo sự chỉ huy của người phụ trách chung của công trình thi công. Khi toàn bộ hệ thống Plem cùng với đầu của tuyến ống đã được nâng lên khỏi tàu Lam Sơn một khoảng cách cho phép, cẩu tầu Côn Sơn tiến hành quay tải trọng đến vị trí đã được định vị trước để hạ thủy, đồng thời tời kéo cũng được thả ra khi cẩu quay. Khi cẩu tàu đã quay tải trọng hoàn toàn rời khỏi tàu Lam Sơn một khoảng cách cho phép theo thiết kế thì dừng lại một vài phút để giữ ổn định tải trọng. Sau khi tải trọng đã ổn định, cẩu của tàu Côn Sơn bắt đầu từ từ hạ móc cẩu xuống, đồng thời tời kéo trên tàu cũng tiếp tục thả cáp và quá trình này được thực hiện cho đến khi toàn bộ hệ thống gồm Plem cùng với đầu của tuyến ống được đặt hoàn toàn trên đáy biển thì tời kéo và cẩu tàu dừng lại. Khi tất cả các điều kiện của hệ thống hạ thủy đã được ổn định, thợ lặn bắt đầu làm việc và tiến hành kiểm tra các điều kiện về độ ổn định và vị trí của hệ thống vừa được hạ thủy. Sau khi đã kiểm tra tất cả các điều kiện thi công lắp đặt và hạ thủy hệ thống đã được thực hiện đúng theo thiết kế, thợ lặn bắt đầu tiến hành giải phóng cáp tời kéo của tàu Lam Sơn và cáp cẩu hệ thống Plem cùng đầu tuyến ống. Thợ lặn rời khỏi vị trí làm việc lúc này tời kéo trên tàu Lam Sơn bắt đầu thu cáp, cẩu tàu Côn Sơn lên móc thu cáp. Đến đây thì mọi việc thi công tuyến ống và lắp đặt Plem – UBN3 đã hoàn tất. Tàu Côn Sơn nhả neo rời xa khu vực Plem – UBN3, sau đó nhổ neo chuẩn bị tiến đến thi công lắp đặt ống đứng tại RP2. b. Lắp ống đứng ở RP2 vào tuyến ống Sau khi lắp nối tuyến ống vào hệ thống Plem – UBN3 đã hoàn tất, tàu dịch vụ kéo neo và chuyển tàu Côn Sơn về phía sát giàn RP2 nơi chân đế sẽ được đặt ống đứng, tàu dịch vụ tiến hành bỏ neo và các công việc lắp nối ống đứng vào tuyến ống được bắt đầu tiến hành chi tiết từng công đoạn sau: Dùng sợi cáp Ø 50.8mm, L = 60m. Sợi cáp này một đầu được móc lên móc cẩu 20 tấn của tàu Côn Sơn, đầu cáp còn lại đã được mắc sẵn trước đây và quấn để gọn nơi vị trí quanh gần khu vực buộc đầu cáp (cáp đã được chuẩn bị sẵn trước, khi buộc đầu ống vào chân đế). Sau khi mắc cáp này vào móc cẩu xong tiến hành nâng tải và thợ lắp ráp giải phóng cáp treo buộc đầu ống ở chân đế và bắt đầu cho cẩu họ dần móc thả cáp mang đầu kéo bịt đầu ống xuống sát đáy biển (do tải trọng của bản thân ống trên suốt chiều dài khi rải ống nên do đó ống trượt dọc theo suốt chiều dài đoạn cáp Ø 50.8 mm, L = 55m được chằng từ trên mặt nước xuống đến đáy). Với sự trợ giúp của các thợ lặn, tiến hành đo và xác định khoảng cách từ đầu bịt đến vị trí ống đứng cần đặt. Nâng móc cẩu chịu tải, đầu ống trượt lên dọc theo sợi cáp Ø 50.8 mm, L = 55 m cho đến khi bịt đầu ống trồi hẳn lên mặt nước, sau đó đưa đầu ống lên. Dùng cáp có đường kính Ø 42 mm, L = 5 ÷ 7 m, gia cố ống vào mạn tàu Côn Sơn. Thợ lắp ráp giải phóng sợi cáp Ø 50.8 mm, L = 60 m trên đầu bịt, tiến hành đo kiểm tra kích thước thực tế trên đầu ống qua số liệu báo cáo của thợ lặn, sau đó bắt đầu cắt bịt ống ngắn bớt ống hoặc nối thêm ống vào cho đúng với kích thước đo đạc, kiểm tra của thợ lặn. Hình 4.12 Vị trí ống đứng tại giàn RP2 Mài và làm sạch đầu ống theo yêu cầu kỹ thuật và chuẩn bị tiến hành công việc lắp nối ống đứng tiếp theo. Khi đã cắt nối đủ kích thước ống, tiến hành làm sạch đầu ống, hàn bản mã định vị đầu ống, dùng cẩu tàu Côn Sơn với sự hỗ trợ của cẩu bánh lốp Tadano đầu nối và lắp đoạn phần công của ống đứng. Khi đã lắp nối và hàn xong phần cong phía dưới của ống cong, cho chụp tia Rơn ghen kiểm tra và sau cùng là sơn, quấn băng keo chống ăn mòn bảo vệ. Sau khi lắp xong đoạn phần cong phía dưới, dùng cẩu tàu Côn sơn kết hợp với cẩu bánh lốp Tadano (tải trọng nâng 70 tấn) nâng đoạn phần cong vừa lắp xong lên giải phóng cáp giữ gia cố. Phối hợp giữa cẩu tàu Côn Sơn cùng cẩu bánh lốp từ từ xuống cáp để hạ thấp độ cao đoạn phần cong vừa lắp xong sao cho độ cao này chỉ còn khoảng từ 2.5 m ÷ 3 m cách boong tàu thì dừng lại và tiếp tục dùng cáp Ø 24 mm gia cố đoạn phần cong này vào thành tàu, tiếp tục xuống móc cho chùng cáp cẩu. Lúc này độ cao tính từ đầu ống của đoạn phần cong vừa hạ đến mặt boong tàu chỉ cách khoảng từ 1 m ÷ 1.5 m. Giải phóng cáp cẩu trên đầu đoạn phần cong vừa hạ và tiếp tục công việc làm sạch đầu ống, hàn bản mã định vị đầu ống, đấu lắp và hàn đoạn phần trên của ống đứng (đây là bộ phận quan trọng không thể thiếu cho ống đứng để làm giảm bớt khả năng xâm thực của môi trường ở nơi tiếp giáp giữa nước biển và môi trường không khí ở phía trên). Cũng giống như mối hàn của đoạn cong phía dưới, sau khi đã hoàn thiện việc lắp nối và hàn xong, cho chụp tia Rơn ghen kiểm tra và sau cùng là sơn, quấn băng keo chống ăn mòn bảo vệ. Khi tất cả các công việc đảm bảo cho công tác lắp nối và mối hàn đã được hoàn tất và kiểm tra xong, dùng cẩu tàu Côn Sơn (lúc này lắp đoạn ống thẳng phần trên nên do đó không cần dùng cẩu bánh lốp) nâng đoạn phần phía trên vừa lắp xong lện giải phóng cáp giữ gia cố, sau đó cẩu tàu từ từ xuống cáp để hạ thấp độ cao cho toàn bộ ống đứng. Thợ lặn đặt ròng rọc định hướng tại vị trí đặt ống đứng ở phía bên dưới sát đáy biển. Thợ lắp ráp đặt ròng rọc định hướng tại vị trí đát ống đứng ở phía bên trên tại mặt cắt ngang D2. Cáp tời được luồn từ tàu Côn Sơn qua ròng rọc và đầu cáp tời được buộc vào phía trên của ống đứng (do thợ lắp ráp đảm nhận). Cáp tời được luồn từ tàu Côn Sơn qua ròng rọc và đầu cáp tời được buộc vào phía dưới phần cong của ống đứng (do thợ lắp ráp đảm nhận). Tiến hành đặt ống đứng vào chân đế RP2 cùng với sự kết hợp của cẩu tàu và người điều khiển tời một cách nhịp nhàng. Bắt đầu từ từ vừa quay cẩu tàu và vừa hạ thấp cần kết hợp với kéo neo dịch chuyển tầu ép ống đứng vào vị trí nơi mà thiết kế cần đặt. Sau khi đưa ống đứng vào vị trí theo thiết kế và lúc này ống đứng đã tựa vào chân đế, gia cố tạm thời ống đứng vào vị trí ở D2 bằng cáp Ø 22 m và cẩu tàu xuống móc thả chùng cáp. Thợ lắp ráp tháo cáp giải phóng cẩu tàu. Cẩu tàu được giải phóng và chuẩn bị phục vụ cho công tác kế tiếp. Thợ lặn tiến hành kiểm tra độ ổn định cùng các vị trí bên dưới theo thiết kế, khảo sát các điểm gia cố giữ ống đứng tại các vị trí được định sẵn theo thiết kế. Khi ống đứng được đặt vào đúng vị trí theo thiết kế, thợ lặn giải phóng tời và ròng rọc phía bên dưới nước, sau khi thợ lặn làm việc bên dưới xong, thợ lắp giải phóng tời và ròng rọc phía bên trên đồng thời cố định ống đứng vào tầng ngang D2 bằng cùm thép đã được chế tạo sẵn theo thiết kế trên bờ. Khi thợ lắp ráp đã gia cố xong ống cong vào mặt ngang D2 xong, thợ lặn tiếp tục làm việc và gia cố ống cong vào các tầng ngang của chân đế bằng các cùm thép hoặc cáp đã được chế tạo sẵn theo thiết kế. Phần ống đứng trên mặt sàn D1 được gia cố chắc chắn bằng xomyt vào chân đế do thợ lắp ráp đảm nhận. Sau khi các công việc do thợ lặn tiến hành ở dưới nước xong, một nhóm lắp ráp gồm: 4 thợ lắp ráp, 2 thợ hàn, 1 thợ cắt và 1 đốc công cùng một số thợ khác có liên quan (thợ điện, thợ chụp Rơn ghen, thợ chống ăn mòn) rời tàu và được chuyển đến giàn, nơi có ống đứng vừa lắp đặt xong. Bắt đầu các công việc đấu nối phần trên của ống đứng vào các thiết bị, hệ thống công nghệ có sẵn theo thiết kế. Khi kết thúc các công việc theo thiết kế, toàn bộ nhóm thợ quay trở lại tàu để chuẩn bị cho các công việc tiếp theo. Đến đây thì mọi công việc của tuyến ống phía giàn RP2 đã hoàn tất. 4.2.6.4 Thử áp suất tuyến ống ngầm Sau khi hoàn tất việc lắp đặt tuyến ống (kể cả việc lắp ống đứng) chuẩn bị và tiến hành thử áp suất cho tuyến ống: gồm có thử kín và thử bền. Trước khi thử áp suất của tuyến ống cần làm những việc sau đây: Đưa hệ thống Pig vào bên trong lòng của tuyến ống và bịt kín bằng mặt bích, dùng hệ thống khí nén để bơm đẩy Pig trong lòng ống, mục đích của việc này là làm sạch trong lòng của tuyến ống trước khi bơm thử áp suất (tiến hành bắn Pig trước khi lắp nối tuyến đường ống vào hệ thống Plem – UBN3). Sau khi bắn làm sạch trong lòng tuyến ống xong, tiến hành hàn mặt bích (hoặc đầu bịt theo tiêu chuẩn được chế tạo sẵn) bằng thép dày 18 mm theo tiêu chuẩn API 1104 vào 1 đầu ống đứng và đầu ống còn lại cùng đường kính Ø 323.8 mm×15.9 mm ở phía Plem – UBN3. Hàn van nước 2 ” Class 2500 với ống Ø 48.3 mm×7.1 mm vào ống đứng Ø 323.8 mm×15.9 mm, nối ống Ø 323.8 mm×15.9 mm ra đường bơm chung. Tiến hành bơm nước rửa sạch tuyến ống với khối lượng nước rửa ≥ 3 lần thể tích tuyến ống. Sau khi bơm rửa xong, đóng các van tại Plem – UBN3 (việc đóng các van này do thợ lặn đảm trách) và tiến hành bơm ép nước từ RP2 đến UBN3. Trong quá trình bơm thử áp suất không được tăng đột ngột. Khởi đầu tăng áp lên 25% của áp suất thử cho đến khi đạt được 100% của áp suất thử. Khi đã đạt được 100% áp suất thử (60 at) tiến hành giữ áp suất bằng cách đóng các van cách ly tại RP2. Áp suất thử sẽ được duy trì để đảm bảo đủ thời gian để theo dõi tình trạng của tuyến ống. Nếu áp suất thử giảm > 5% phải tiến hành kiểm tra và thử lại: + Thử độ bền của tuyến ống + Thử độ kín tuyến ống Chương 5 CÔNG TÁC GIÁM SÁT, KIỂM TRA VÀ CÔNG TÁC AN TOÀN, BẢO VỆ MÔI TRONG QUÁ TRÌNH THI CÔNG 5.1 Công tác hoàn thiện trước khi nghiệm thu Sau khi hoàn tất việc thi công lắp đặt toàn bộ hệ thống tuyến đường ống ngầm, trước khi chuẩn bị đưa tất cả các bộ phận của công trình lắp đặt tuyến ống ngầm vào nghiệm thu, phải đảm bảo các yêu cầu kĩ thuật về: hình dáng, kích thước, các đường hàn liên kết … Những bộ phận nào của công trình chưa được hoàn thiện và sơn phủ chống ăn mòn khi thi công tổ hợp ở trên bờ thì phải được hoàn thiện tại hiện trường. Khôi phục lại các thiết bị chống ăn mòn đã hư hỏng trong quá trình thi công. Kiểm tra và chạy thử các loại máy móc, trang thiết bị và đưa công trình vào nghiệm thu. 5.2 Bộ phận kỹ thuật nghiệm thu công trình xây dựng tuyến ống ngầm Bộ phận kỹ thuật giám sát công trình gồm có: đại diện ban quản lí chất lượng, Phân xưởng (P/x) Đường ống ngầm đại diện Xí nghiệp xây lắp, Xí nghiệp Khai thác và các Ban, Phòng Kỹ thuật có liên quan của Liên doanh Dầu Khí Vietsovpetro. Hướng dẫn kỹ thuật chính trên hiện trường và chịu trách nhiệm về tiến độ thi công công trình là bộ phận quản lí dự án của Liên doanh Dầu Khí Vietsovpetro và Xí nghiệp xây lắp. Bộ phận này có trách nhiệm đôn đốc các đơn vị, hoàn thành tốt công tác thi công, đảm bảo đúng yêu cầu kỹ thuật và chất lượng cũng như tiến độ thi công công trình. Đối với các sự cố phát sinh trong quá trình thi công, bộ phận quản lý dự án thông qua chủ đầu tư để cùng thương lượng và đưa ra hướng giải quyết. Trong quá trình thi công trên bờ cũng như ở trên biển và ở mọi giai đoạn, vấn đề kỹ thuật phải đặt lên vị trí hàng đầu vì nó đóng vai trò quan trọng, nhất là đối với công tác hàn. Việc thực hiện công tác hàn đòi hỏi hỏi thực hiện đúng theo các quy trình hàn của chủ đầu tư để ra phù hợp với ASMEB 31.3 cho đường ống công nghệ và API 1104 cho tuyến đường ống ngầm theo quy phạm AWS của Mỹ. Việc tuyển chọn, các đơn vị công nhân hàn và trực tiếp hướng dẫn, kiểm tra công tác hàn là do chánh kỹ sư hàn thực hiện. 5.3 Phần kiểm tra, giám sát trong công trình Để đảm bảo cho công tác thi công xây dựng và lắp đặt tuyến đường ống ngầm được thực hiện tuân theo đúng các quy trình đã được soạn thảo và đáp ứng yêu cầu về chất lượng, bộ phận theo dõi kiểm tra công trình có trách nhiệm giám sát quá trình thi công, đảm bảo công tác thi công tuân theo đúng các tiêu chuẩn đề ra, lấy chứng chỉ đăng kiểm cho công trình, đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Công tác kiểm tra và giám sát phải được tiến hành đồng bộ và phải có sự phối hợp chặt chẽ của các phòng ban và đơn vị liên quan. Khi tất cả các quá trình giám sát và kiểm tra thi công lắp đặt công trình đều được thực hiện đúng theo các quy trình đã được soạn thảo và đáp ứng yêu cầu về chất lượng thì bắt đầu tiến hành bước tiếp theo đó là nghiệm thu công trình. 5.4 Bộ phận giám sát và nghiệm thu công trình Bộ phận Giám sát kiểm tra và nghiệm thu công trình bao gồm: Đại diện của chủ đầu tư Liên doanh Dầu Khí Vietsovpetro. Đại diện khách hàng Xí nghiệp Khai thác. Đại diện thầu chính Xí nghiệp Xây lắp. Đại diện P/x Đường ống ngầm. Công tác giám sát, kiểm tra và nghiệm thu được thực hiện dựa trên các yêu cầu của bản vẽ thiết kế. Việc giám sát, kiểm tra và nghiệm thu công trình thu được ở mỗi giai đoạn thi công từng hạng mục công trình và toàn bộ công trình. Kết quả giám sát và nghiệm thu được ghi thành văn bản, có nhận xét và chữ ký của các bên tham gia, nếu đạt yêu cầu kĩ thuật và khối lượng công tác được giao thi cho phép chuyển sang thi công phần tiếp theo. Tất cả các hạng mục của công trình đều phải được kiểm tra nghiệm thu từng phần cho đến khi công trình được thúc. Cuối cùng là tổng nghiệm thu và bàn giao công trình đưa vào khai thác. 5.5 Qui tắc hướng dẫn an toàn Tất cả các cán bộ công nhân viên được phép làm việc chỉ sau khi đã được hướng dẫn các quy định về an toàn lao động theo dạng công việc thực hiện và có ký xác nhận vào sổ. 5.6 An toàn lao động trong thi công An toàn lao động là công tác được quan tâm hàng đầu trong quá trình thi công, đối với công trình biển nói riêng và công việc lao động nói chung. Vấn đề an toàn lao động đã được nhà nước ban hành thành luật. Do vậy việc thực hiện đúng qui định an toàn lao động sẽ đảm bảo được tính hiệu quả của công tác thi công và đảm bảo được tính mạng của người tham gia lao động. Để đảm bảo được các yêu cầu trên thì người tham gia lao động phải tuân thủ các quy định về an toàn đối với từng công việc khi tham gia vào những công việc này. Trong quá trình xây dựng các công trình đường ống ngầm, tất cả các cán bộ công nhân viên phải biết và tuân thủ nghiêm ngặt mọi quy định về kỷ luật lao động cũng như quy trình, quy phạm về an toàn lao động. Trong khu vực xây dựng luôn luôn phải có đội cứu hỏa, cứu hộ. Mọi công việc lắp đặt và thi công phải được thực hiện theo đúng hướng dẫn và thiết kế của viện thiết kế Liên doanh Dầu khí VietsovPetro. 5.6.1 An toàn cho công tác thi công trên bãi lắp ráp Khi thi công trên bãi lắp ráp cần phải tuân thủ: Quy trình an toàn phòng chống cháy cho công trình. Quy trình an toàn khi dùng khí Oxy – Axetylen. Quy trình an toàn khi hàn và các công tác phòng hỏa khác. Quy trình an toàn về sử dụng các thiết bị cẩu nâng. Ngoài ra cần phải chú ý đến các công việc sau: Các đường di chuyển của cần cẩu trên bãi lắp ráp phải được thường xuyên kiểm tra. Các cẩu bánh xích, bánh hơi chỉ được sử dụng khi tốc độ gió < 12m/s. Trên bãi lắp ráp phải hệ thống đèn chiếu sáng, cấm các loại cẩu làm việc trong điều kiện thiếu ánh sáng hoặc khi có mưa, sấm chớp, tầm nhìn bị hạn chế do sương mù. Việc sử dụng các loại cẩu trong quá trình thi công phải tuân theo sự chỉ đạo của người chỉ huy được phân công. Cấm người không có nhiệm vụ qua lại trong khu vực hoạt động của cẩu. Công tác làm ngoài trời có sử dụng cẩu được tiến hành khi gió có tốc độ < 12 m/s. Tất cả các cán bộ, công nhân làm việc trên công trường phải có quần áo bảo hộ, mũ, giầy, găng tay chuyên dụng và có kính, mặt nạ khi hàn. Các đội trưởng, đốc công, chỉ huy công trường phải tiến hành trao đổi thống nhất về công nghệ trước khi tiến hành công việc. Thường xuyên phải theo dõi thời tiết để chủ động sản xuất. Cấm tất cả những người không có nhiệm vụ hay chưa được cấp chứng chỉ học an toàn được vào nơi sản xuất. Cần kiểm tra mức độ mài mòn của các loại cáp nâng trước khi đưa vào sử dụng. Cấm sử dụng các loại cáp nâng đã có mức độ mài mòn quá mức độ cho phép hoặc các loại cáp không được bảo dưỡng, không được kiểm tra và không rõ nguồn gốc. Trên bãi lắp ráp cần phải có hệ thống loa đài và các phương tiện thông tin báo hiệu khác. Khi các máy áp lực và máy phun cát hoạt động thì người không có nhiệm vụ không được ở lại trong khu vực thi công. 5.6.2 An toàn cho công tác thi công trên biển Đối với các công việc thi công trên biển nếu có các tính chất tương tự như thi công trên bờ thì công tác an toàn cũng phải được tuân thủ theo các quy định như thi công trên bờ. Nhưng do đặc điểm thi công trên biển có những công việc và phương tiện khác với thi công trên bờ. Do vậy có những quy định riêng cho công tác thi công trên biển và cần phải tuân thủ các yêu cầu an toàn trong quy trình an toàn cho việc thăm dò và khai thác mỏ dầu khí tại vùng hoạt động của Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro được Hội đồng Xí nghiệp phê duyệt vào ngày 19/08/1997 như sau: “ Khi thi công phải nắm được dự báo thời tiết trong những ngày gần nhất như: các số liệu về cao độ sóng, vận tốc gió, hướng gió, dòng chảy… để chủ động giải quyết công việc. Thời gian dự báo thời tiết tốt nhất để làm việc tối thiểu phải > 48 giờ. Chỉ được phép rải ống trong điều kiện: Với sóng ≤ 1.5 m khi tàu nằm dọc sóng. Với sóng ≤ 1.25 khi tàu nằm ngang sóng. Với sóng > cấp 3 không được phép làm việc. Nếu sóng cao ≥ 2.7 m đối với tàu nằm dọc sóng, và sống cao ≥ 1.8 m đối với tàu nằm ngang sóng thì phải nhanh chóng bịt đầu ống và lắp phao điểm để thả xuống biển nhằm đảm bảo cho tàu thuyền và tuyến ống. Đồng thời phải chằng buộc gia cố chắc chắn ống trên giá, trên boong tàu, thu dọn và xếp đặt gọn gàng các vật tư thiết bị khác. Trong điều kiện cần thiết theo lệnh của thuyền trưởng kéo tàu tới vị trí an toàn. Khoảng cách đứng của tàu ít nhất là 5 dặm tới các giàn khoan theo hướng sóng và hướng gió. Khi cần thiết được phép di chuyển từ tàu này sang tàu khác, lối đi nhất thiết phải có thang chuyên dùng, có rào chắn và tay vịn, phía dưới cầu thang phải có lưới bảo vệ. Nếu không có thang chuyên dùng thì phải được cẩu bằng rọ chuyên dùng cẩu người của tàu. Các thiết bị máy móc đặt trên tàu phải được vận hành theo đúng hướng dẫn. Các thiết bị và dụng cụ cầm tay như: máy mài, rulo điện, dây hàn điện … phải được kiểm tra khả năng làm việc và mức độ an toàn trước khi đưa vào sử dụng. Không thả neo tàu khi có bão. Luôn có tầu trực cứu hộ trong khu vực rải ống. Nắm chắc các tín hiệu báo động và biết cách sử dụng các phương tiện cứu sinh, cứu hỏa. Tuyệt đối tuân thủ và chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy cao nhất. Tất cả mọi cán bộ, công nhân viên gương mẫu, nêu cao vai trò kỉ luật lao động, hiểu rõ trách nhiệm của bản thân mình, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho bản thân, đồng đội và toàn bộ công trình. Cẩu nổi chỉ cho phép hoạt động khi vận tốc gió < 12 m/s, sóng cấp 3. Tất cả những người tham gia thi công trên biển phải được làm quen với các phương tiện, dụng cụ cứu sinh trên biển. Kế hoạch lắp ráp trên biển cần phải được thỏa thuận trước với các đơn vị quản lí phương tiện. Những phát sinh trong quá trình rải ống cần phải thỏa thuận với giám sát thực tế. Đối với tàu rải ống: công việc rải ống cần phải được tiến hành theo đúng thiết kế đã được xem xét và phê duyệt. Trình tự tiến hành thi công phải tuân theo bản vẽ thiết kế. Mọi bản vẽ thiết kế phải được giao cho tàu thi công rải ống. Những thiết bị kĩ thuật trên tàu phải được vận hành theo đúng các thông số kỹ thuật của nó và các thông số kỹ thuật thiết kế". Trong quá trình rải ống luôn luôn cần phải cập nhật các thông tin dưới đây: Thời tiết trong vòng nửa ngày và trong vòng một ngày. Các thông số về hướng, vận tốc dòng chảy mặt và đáy. Dự báo thời tiết biển trong vòng từ 3 đến 5 ngày. Quá trình rải ống chỉ được phép khi chiều cao sóng < cấp 3 theo hướng vuông góc với tàu. Nếu sóng theo phương trên có chiều cao vượt quá 2.7 m thì phải thả ống xuống biển để tránh bị hư hỏng. Trường hợp nhận được các thông tin về bão thì cần thực hiện các công việc sau: Thu dọn ống trên dây chuyền thi công và đặt vào các thiết bị cố định. Dùng thiết bị giữ phao hiệu nối vào một đầu tự do của ống và thả ống xuống biển. Ngừng hoạt động nối thả ống ở trên tàu. Tất cả mọi người phải đi vào khu vực nhà ở. Trong trường hợp cần thiết phải theo lệnh của thuyền trưởng rời tàu để đến vị trí an toàn. Đối với công tác lặn cần tuân thủ các quy tắc an toàn sau: Công tác lặn phải được tiến hành theo công tác an toàn về lặn. Mọi công việc dưới nước phải do thợ lặn đảm nhận và thực hiện, đồng thời phải tuân thủ theo quy định an toàn của công tác thi công ngầm. Trong thời gian thực hiện công tác lặn trong phạm vi hoạt động của tàu, nghiêm cấm tất cả các hoạt động: bốc dỡ từ tàu dịch vụ sang tàu thi công thả ống, mở máy tàu, làm các công việc trong khu vực thợ lặn đang khảo sát hoặc làm các công tác khác có liên quan, đồng thời phải tắt và ngừng tất cả các hệ thống thiết bị thả neo, phải treo biển báo và không được gây bất kỳ sự trở ngại nào trong khi lặn đang làm việc. 5.7 Các biện pháp an toàn và phòng chống khi thời tiết xấu Đối với tàu Côn Sơn khi đang thực hiện nhiệm vụ thi công lắp đặt và rải ống trên biển, cần phải tuân thủ các quy trình và quy phạm có liên quan về thời tiết như sau: Khi có thời tiết xấu: Vận tốc gió > 12 m/giây tương đương gió cấp 4. Sóng ≥ 2.7 m đối với tàu nằm dọc sóng và ≥ 1.8 m đối với tàu nằm ngang sóng thì: Nhanh chóng hàn và nắp bịt kín đầu ống, lắp phao điểm thả ống xuống biển. Chằng buộc và gia cố chắc chắn ống còn trên giá và trên boong tàu, thu dọn và xếp đặt gọn gàng, chắc chắn các vật tư thiết bị khác. Sử dụng tàu kéo như Kỳ Vận, Sao Mai, Lam Sơn …để khi cần thiết theo lệnh của thuyền trưởng kéo tàu Côn Sơn tới vị trí an toàn. Vị trí đứng của tàu Côn Sơn có khoảng cách ≥ 5 dặm tính tới các giàn khoan. Tuyệt đối không được thả neo khi có sóng to, gió lớn. Trường hợp đặc biệt là khi được thông báo có bão hoặc áp thấp nhiệt đới thì sau khi thực hiện các bước như đối với khi có thời tiết xấu đồng thời lập tức kéo neo và nhanh chóng kéo tàu về bờ. Khi thời tiết tốt trở lại, dùng một trong các tàu dịch vụ kể trên kéo tàu Côn Sơn đến đúng vị trí thi công. Tàu dịch vụ phục vụ và trợ giúp tàu Côn Sơn thả neo và tiến hành làm việc. Cần cẩu tàu Côn Sơn nâng đầu ống dưới biển lên, dùng tời số 9 kéo, đưa đầu ống trở lại vị trí nối ống ở trạm số 1 trên tàu và tiếp tục công việc nối rải ống. 5.8 Các biện pháp đảm bảo an toàn, phòng chống sự cố và tai nạn lao động Trong các công tác thi công xây dựng lắp đặt các tuyến ống ngầm để dễ dàng thi công, cũng như tạo sự ổn định cho tuyến ống cần được xây dựng thì tuyến đường ống sẽ được chia ra làm nhiều công đoạn. Các công đoạn đầu đưa ống định vị sang buộc vào chân đế, công đoạn rải ống thẳng, công đoạn lắp nối ống đứng, đưa ống đứng sang định vị và gia cố vào chân đế… Do đó trong quá trình thao tác thi công các công đoạn này, thì tùy thuộc vào mức độ công việc của các công đoạn thi công mà có thể xảy ra những khó khăn và nguy hiểm riêng cho các quá trình thi công. Đối với các công đoạn thi công xây dựng tuyến ống ngầm thì công đoạn lắp nối và đưa ống đứng vào vị trí và gia cố là nguy hiểm nhất. Do đặc thù của ống ở giai đoạn và vị trí này là cần phải lắp và tổ hợp ống theo phương thẳng đứng với chiều cao ống đứng luôn > 55 m và phải luôn làm việc trên sàn công tác ngoài mạn thuyền tàu rất nguy hiểm. Để đảm bảo an toàn cho quá trình thi công đòi hỏi các cán bộ công nhân viên phải có sức khỏe tốt, tay nghề cao, hiểu biết và chấp hành nghiêm chỉnh các phương tiện nổi trên biển. Các cán bộ công nhân viên làm việc trong công đoạn này phải luôn đảm bảo khi thi công phải được trang bị đầy đủ trang thiết bị bảo hộ lao động (quần áo, mũ, giầy, ủng …). Phải mặc áo phao và đeo dây an toàn, phải được nhắc nhỡ và hướng dẫn an toàn trước khi bắt đầu tiến hành công việc. Phải biết bơi khi làm việc trên các phương tiện nổi phòng khi sự cố rơi xuống biển và đặc biệt là phải luôn tuân thủ các mệnh lệnh của người chỉ huy phụ trách và của cấp trên. Với đầy đủ tất cả các phương tiện bảo hộ lao động và phòng chống sự cố khi có thể xảy ra trong quá trình thi công, thì bất cứ những khó khăn của công đoạn thi công cho công trình nào cũng đều được khắc phục và đảm bảo an toàn, hoàn thành tốt các công tác và nhiệm vụ được giao. 5.8.1 Công tác an toàn chung cho người và thiết bị Chỉ cho phép những người đã được học và được hướng dẫn vè các qui trình an toàn lao động mới được phép làm việc. Những người trực tiếp thi công phải được hướng dẫn lại các qui trình an toàn theo chương trình hướng dẫn an toàn tại nơi làm việc và được kiểm tra kiến thức an toàn. Trong quá trình thi công bắt đầu từ khâu chuẩn bị tập kết vật tư trang thiết bị trong đất liền đến khi thi công trên biển, lãnh đạo xưởng trưởng, đội trưởng đến đốc công, tổ trưởng phải chịu trách nhiệm đảm bảo an toàn tuyệt đối trong quá trình thi công. Mọi cán bộ công nhân viên chức trong khi làm việc phải chấp hành nghiêm ngặt và đầy đủ mọi quy chế về kỹ thuật an toàn lao động theo từng ngành nghề, công việc khác. Khi thi công phải thực hiện từng bước theo qui trình không được tự ý làm sai thiết kế cũng như yêu cầu kĩ thuật. Trường hợp muốn thay đổi thiết kế cần có sự thống nhất và đồng ý của viện nghiên cứu thiết kế và phòng kỹ thuật. Phải sử dụng trang thiết bị bảo hộ được cấp phát đúng chủng loại. Phải nắm rõ tính năng kỹ thuật và nguyên lí làm việc của thiết bị máy móc. Tận dụng tối đa thời gian làm việc khi thời tiết tốt. Các thao tác phải nhanh nhẹn và chính xác đạt hiệu quả cao nhất. Phải kết hợp và thống nhất các quan điểm giữa lãnh đạo và công nhân cấp dưới để đẩy nhanh tiến độ sản xuất và đảm bảo an toàn cao. Không được tự ý tháo lắp, sữa chữa cũng như đấu điện các thiết bị cầm tay như máy mài, máy khoan, máy đục rỉ … Phải kiểm tra tình trạng làm việc của từng thiết bị trước khi làm việc, sau khi sử dụng phải bảo dưỡng và để đúng nơi quy định. Phải đầy đủ ánh sáng. Các bình C2H2, bình O2 phải đặt trong rọ nơi khô ráo, cách xa nơi có dầu mỡ, có hóa chất dễ cháy nổ và các rọ phải đặt cách xa nhau trên 5 m. Trong quá trình cẩu phải thường xuyên kiểm tra cáp, dây đeo, mani, trọng tâm cẩu và trọng lượng vật cẩu. Không có trách nhiệm không được phát tín hiệu điều khiển cẩu, phải kiểm tra tầm hoạt động của cẩu. Xếp đặt hàng hóa trên tàu phải đúng sơ đồ, phải chèn chạc và hàn gia cố chắc chắn. Tại khu vực làm việc nguy hiểm phải có lan can che chắn, chiều cao lan can phải đảm bảo đúng thiết kế là 1.25 m. Xung quanh lan can phải bố trí phao cứu hộ. Trong quá trình thi công không được xả rác, đổ dầu mỡ, sắt vụn xuống biển để tránh làm ô nhiễm môi trường sinh thái và sự sống của sinh vật biển nơi làm việc. 5.8.2 Các qui trình an toàn lao động bảo vệ người và thiết bị sử dụng khi làm việc Để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người và thiết bị trong thi công xây lắp công trình tất cả cán bộ và công nhân viên khi tham gia thi công xây lắp công trình đều phải được học tập, thực hành và được hướng dẫn kỹ lưỡng về các qui trình an toàn lao động bảo vệ người và thiết bị sử dụng khi làm việc như: Qui trình cấp cứu sơ bộ người bị nạn. Qui trình chung cho tất cả mọi người, khi có tai nạn nguy hiểm đến tính mạng con người. Qui trình kỹ thuật an toàn của thợ lắp ráp. Qui trình này được áp dụng tất cả các thợ lắp ráp nói chung. Qui trình kỹ thuật an toàn của thợ buộc cáp treo hàng. Qui trình này dành cho tất cả các thợ làm việc có liên quan đến việc cẩu kéo và nâng hạ. Qui trình kỹ thuật an toàn của thợ hàn điện – hàn hơi. Qui trình này dành cho tất cả các thợ hàn nói chung khi tham gia làm việc trên công trình. Qui trình công tác an toàn khi làm công việc bốc dỡ và vận chuyển hàng. Qui trình này dành cho tất cả công nhân bốc xếp vận chuyển có liên quan. Qui trình an toàn lao động khi làm việc trên cao. Qui trình chung cho mọi người khi làm việc trên cao. Qui trình an toàn sản xuất khi làm các công việc có tính nguy hiểm cao. Qui trình này dành cho mọi người khi làm việc có tính nguy hiểm cao như làm việc trong các bồn chứa, các khoang dầu. Qui trình kỹ thuật an toàn khi sử dụng thiết bị điện cầm tay. Đây là qui trình dành cho các công nhân làm việc khi sử dụng các thiết bị điện cầm tay có liên quan như máy mài, máy khoan, máy điện xách tay và đèn cầm tay … Qui trình an toàn khi làm việc với thiết bị nâng điều khiển từ sàn. Qui trình dành cho các công nhân điều khiển các thiết bị nâng hạ như tời điện, Palang, cầu trục điều khiển bằng tay. Qui trình công tác an toàn khi bảo quản, sử dụng và vận chuyển các bình Oxy và Axetylen. Qui trình dành cho các công nhân làm việc trong các nghề như hàn cắt hơi, gió đá và các công tác có liên quan đến sử dụng bình. Và một số qui trình khác có liên quan đến các công tác xây dựng và lắp ráp khác … 5.8.3 Qui trình an toàn đối với thợ lắp ráp Riêng đối với thợ lắp ráp cần phải tuyệt đối tuân thủ các quy chế của cơ quan xí nghiệp và các qui trình về an toàn lao động sau đây: Làm việc trung thực tận tình. Tuân thủ kỉ luật lao động: thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi, không chơi bài, uống rượi bia, các chất kích thích và không câu cá trên các phương tiện nổi. Không tự ý bỏ việc để làm việc riêng. Các yêu cầu đối với thợ lắp ráp cần phải biết: Các bài toán chọn cáp. Phải biết kỹ thuật móc cáp treo hàng, xác định được trọng tâm cẩu và trọng lượng vất cẩu. Khi làm việc trên cao bắt buộc phải có giàn giáo và lan can bảo vệ. Khi gió lớn hơn 12 m/s không được phép làm việc. Vị trí làm việc phải thông thoáng. Luôn kiểm tra và bảo vệ dụng cụ thiết bị, khi thấy hỏng hóc cần phải báo ngay cho người có trách nhiệm quản lí biết để có phương pháp sửa chữa hoặc thay thế kịp thời để phục vụ tốt cho công việc sản xuất. Khi làm việc không được đứng dưới móc cẩu treo hàng. Thực hiện nghiêm chỉnh và chính xác mệnh lệnh của người phụ trách sản xuất. Giữ gìn sách sẽ và ngăn nắp nơi làm việc. Sử dụng các trang thiết bị bảo hộ cá nhân. Chỉ tiến hành làm việc khi đã tìm hiểu công nghệ, trong trường hợp chưa hiểu phải hỏi lại người chỉ huy. Trước khi làm việc người thợ lắp ráp phải mang đầy đủ bảo hộ lao động và các phương tiện bảo vệ cá nhân, phải tìm hiểu công việc sẽ tiến hành nếu phát hiện những hư hỏng phải khắc phục ngay. Khi làm việc trên cao phải có giàn giáo và sử dụng dây an toàn. Khi làm việc trên cao phải có túi chuyên dụng để đựng đồ nghề. Khi thợ lắp ráp di chuyển từ kết cấu này sang kết cấu khác phải sử dụng cầu thang có lan can bảo vệ. Khi di chuyển từ phương tiện nổi này sang phương tiện nổi khác phải mặc áo phao và phải được thực hiện di chuyển bằng các phương tiện di chuyển chuyên dụng khi làm việc trên biển. Cấm mọi người đứng dưới các mã hàng đang treo trên các móc cẩu. Khi kết thúc công việc phải làm vệ sinh, thu dọn nơi làm việc, các dụng cụ làm việc trang bị bảo hộ lao động phải để vào nơi đúng qui định. 5.9 Bảo vệ môi trường Để xây dựng và vận hành các đường ống dẫn dầu, khí, … cần phải nghiêm chỉnh chấp hành “qui chế bảo vệ môi trường trong ngành dầu khí” của Bộ Công nghiệp nặng Việt Nam ban hành ngày 19/05/1990. Đảm bảo vệ sinh công nghiệp xung quanh khu vực ở và làm việc, không vứt rác, sắt thép và các vật dụng khác xuống biển gây ảnh hưởng môi trường sinh thái. Các mối hàn ống phải đạt chất lượng cao, đường ống làm việc tốt. Dầu, khí, mỡ không được rò rỉ ra ngoài, không gây ô nhiễm là góp phần làm cho môi trường trong sạch. Đường ống được thiết kế phải nằm sát đáy biển kích thước của đường ống không lớn nên không gây trở ngại cho việc di chuyển của các loài sinh vật biển. Trong quá trình thi công và vận hành tuyến ống cấm đưa các chất độc hại xuống biển gây ô nhiễm môi trường và hủy hoại các sinh vật biển. Trong quá trình vận hành đường ống phải có hệ thống van an toàn để tránh các sự cố có thể xẩy ra gây thiệt hại kinh tế và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Thiết kế hệ thống thu gom nước thải từ dàn ống đứng, hệ thống này sẽ loại trừ nước ô nhiễm xả xuống biển. Bảo trì đường ống thường xuyên để tránh các hiện tượng rò rỉ, hay hiện tượng xâm thực của chất truyền dẫn làm phá hủy thành ống gây ô nhiễm môi trường. Đánh dấu nhận dạng hệ thống tuyến ống bằng các phao cách nhau 500m và thiết lập nguyên tắc cho đội tàu trong quá trình di chuyển. Ngăn cấm các phương tiện nổi không có nhiệm vụ xâm nhập vào khu vực mỏ để tránh các hiện tượng rủi ro do neo thả gây ra. Khảo sát định kỳ trạng thái kỹ thuật của tuyến ống trong quá trình vận hành kiểm tra các chỉ tiêu thiết kế. Đăng kiểm Quốc tế cho công trình. KẾT LUẬN Qua thời gian làm đồ án, tìm hiểu quá trình tính toán thi công, lắp đặt tuyến ống dẫn dầu RP2 – UBN3, bản thân tác giả đã đúc kết được nhiều kiến thức để phục vụ cho nghành nghề lắp ráp xây dựng công trình biển mà đặc biệt là công tác xây dựng và lắp đặt các tuyến ống dẫn dầu khí. Nắm vững và hiểu rõ thêm công tác an toàn và bảo vệ môi trường trong lĩnh vực xây dựng, thăm dò và khai thác dầu khí. Do còn thiếu kinh nghiệm thực tế và chưa đầy đủ tài liệu nên việc nghiên cứu chưa thực sự hoàn chỉnh cho nên khó tránh khỏi những sai sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến các các thầy cô giáo để đồ án này được hoàn chỉnh hơn. Tác giả xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn ThS Nguyễn Văn Thịnh, Kỹ sư Bùi Uy Hùng cùng các thầy cô giáo trong Bộ môn Thiết bị Dầu khí và Công trình đã giúp đỡ để tác giả hoàn thành đồ án này. Xin chân thành cảm ơn! Hà nội, tháng 05 năm 2010 Sinh viên Nguyễn Tiến Dũng TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. PGS. TS Lê Xuân Lân, Thu gom xử lý dầu – khí – nước, 2005. 2. ThS Nguyễn Văn Thịnh, Đường ống bể chứa, 2006. 3. Tài liệu về tuyến ống RP2-UBN3 của XNLD Vietsovpetro.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docĐA.Dũng.doc
Luận văn liên quan