Tố tụng hình sự cá nhân đề bài số 3

Những khẳng định sau đây đúng hay sai? Tại sao? a. Biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi. b. Trong mọi trường hợp, vật chứng được sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội đều bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước.

doc4 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 25/02/2013 | Lượt xem: 2250 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tố tụng hình sự cá nhân đề bài số 3, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐỀ BÀI SỐ 3: Những khẳng định sau đây đúng hay sai? Tại sao? a. Biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi. b. Trong mọi trường hợp, vật chứng được sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội đều bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước. BÀI LÀM: a. Khẳng định: “Biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi” là khẳng định đúng. Vì: Theo quy định của pháp luật: Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Ngoài ra, đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, tuy nhiên vẫn có một số trường hợp ngoại lệ. Chính vì vậy, khẳng định: “Biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi” là đúng vì có từ có thể , có nghĩa là vẫn có những trường hợp ngoại lệ được quy định tại khoản 2 Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, những trường hợp ngoại lệ đó là: Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã; Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, tủy tố, xét xử; Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia. b. Khẳng định: “Trong mọi trường hợp, vật chứng được sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội đều bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước” là khẳng định sai. Vì: Vật chứng là vật thể được thu thập theo thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định chứa đựng các thông tin có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án. Theo Điều 74 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có quy định: “Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội”. Về việc xử lý vật chứng được sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì có hai cách xử lý được quy định tại khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Thứ nhất, Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành thì bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước hoặc bị tiêu hủy. Trong trường hợp này thì vật chứng được sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội thuộc quyền sở hữu của người phạm tội. Thứ hai, Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì bị sung quỹ Nhà nước. Ở đây, có hai trường hợp có thể xảy ra: 1. Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội. Nếu những người chủ sở hữu này biết nhưng vẫn để người phạm tội sử dụng vào việc phạm tội; hoặc khi tài sản không xác định được chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp thì khi đó vật chứng mới bị tịch thu và sung quỹ Nhà nước. 2. Trong trường hợp vật chứng được sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội thuộc quyền sở hữu của người khác mà người này không biết việc người phạm tội sẽ sử dụng vào việc phạm tội hoặc khi xác định được vật chứng này là những vật thuộc sở hữu của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội chiếm đoạt dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì trong những trường hợp này vật chứng phải được trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Như vậy, không phải trong mọi trường hợp vật chứng được sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội đều bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước mà vẫn có những trường hợp khác vật chứng phải được trả lại cho chủ sở hữu. Đó là trường hợp: Vật chứng được sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội thuộc quyền sở hữu của người khác mà người này không biết việc người phạm tội sẽ sử dụng vào việc phạm tội; Hoặc khi xác định được vật chứng này là những vật thuộc sở hữu của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội chiếm đoạt dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì trong những trường hợp này vật chứng phải được trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Vì vậy, Khẳng định: “Trong mọi trường hợp, vật chứng được sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội đều bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước” là khẳng định sai. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2004. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2006.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTố tụng hình sự cá nhân ĐỀ BÀI SỐ 3-.doc