Tóm tắt các kì đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam - bài học ý nghĩa

Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã trải qua 10 kỳ đại hội: từ đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I(3/1935) đến đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI(1/2011). Đảng ta đã không ngừng nỗ lực phát triển đất nước. Tuy nói đây không phải là một khoảng thời gian quá dài nhưng đối với một đất nước phải trải qua nhiều thăng trầm như Viêt Nam lại là cả một thử thách rất khó khăn. Nếu thử nhìn lại chặn đường chúng ta đã đi từ khi dựng nước và giữ nước đến nay đã trải qua rât nhiều gian khổ: “1000 bị đô hộ bởi giặc tàu, 100 năm bị đô hộ bởi giặc tây”. Việt Nam đươc xem như là một miếng mồi béo bở luôn luôn bị đe dọa bởi các thế lực bên ngoài và không ngừng bị xâu xé. Việt Nam đã bị bóc lột, đàn áp dã man ,con người không có quyền làm chủ nền kinh tế và chính trị của ta bị chi phối bởi các thế lực xâm lược. Nhưng dươi sự lãnh đạo của Đảng nhân dân ta đã đấu tranh giành lại độc lập ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng. Thông qua các kỳ đại hội Đảng đã mạnh dạn chỉ ra những khuyết điểm của mình một cách công khai và minh bạch trước toàn dân, vạch ra những mặt hạn chế, những thiếu sót, sai lầm còn mắc phải khi thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng đã đề ra. Đồng thời qua đó cho ta thấy đươc những thành tich mà Đảng ta đã đạt được trên tất cả các mặt (văn hóa, kinh tế, chính trị). Trong xu thế hội nhập, Đảng cũng rất chú trọng đến việc mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới để phát triển. Đăc biệt là trong bối cảnh xã hội hiên nay thi vai trò của Đảng lại càng đươc khẳng định hơn nữa trong việc đưa ra những chính sách chiến lược dài hạn nói chung và chiến lược ngắn hạn nói riêng đễ giúp nên kinh tế đi vào đúng quỹ đạo (phát triển ổn định và bền vững). Hướng tới mục tiêu xây dựng một đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Một nước CNH - HĐH, xây dựng một đảng trong sạch, vững mạnh. Vì “Một nhà nước của dân, do dân và vì dân”.

doc43 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 31/01/2013 | Lượt xem: 15747 | Lượt tải: 36download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tóm tắt các kì đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam - bài học ý nghĩa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC A. Phần mở đầu: Lý do chọn đề tài 3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4 Phương pháp nghiên cứu 5 B. Phần nội dung: CHƯƠNG I: TÓM TẮT CÁC KỲ ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Các kỳ đại hội của Đảng Cộng Sản Việt Nam 6 Các tổng bí thư qua các kỳ đại hội của Đảng Cộng Sản Việt Nam 8 CHƯƠNGII: NỘI DUNG VÀ BÀI HỌC Ý NGHĨA CỦA ĐẠI HỘI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM C. Phần kết luận 42 D. Danh mục tài liệu tham khảo: Tài liệu tham khảo tham khảo chủ yếu 41 LỜI MỞ ĐẦU Đường lối Cách Mạng Đảng Cộng Sản Việt Nam là một bộ môn không thể thiếu trong quá trình học tập rèn luyện của Sinh viên, và việc thực hành qua các bài tiểu luận là một phần rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu môn này, giúp sinh viên có thể cũng cố và nâng cao kiến thức về lịch sử đấu tranh của Đảng và dân tộc, qua đó tăng thêm niềm tự hao tổ quốc trong mỗi chúng ta, tăng thêm động lực học tập để phục vụ đất nước. Tập tiểu luân này được hoàn thành bởi các thành viên nhóm “Theo dòng lịch sử” lớp NT3.2, có sử dụng các tài liệu liên quan trong quá trình nghiên cứu, nhóm xin cảm ơn GVHD Hồ Công Huân đã nhiệt tình hướng dẫn và cung cấp những bài tiểu luận mẫu giúp cho nhóm có được sự định hướng để hoàn thành bài tiểu luận bộ môn ĐLCM ĐCSVN trong lần nghiên cứu này. Đây là lần đầu tiên nhóm thực hiện viết tiểu luận, tài liệu tham khảo ít, còn thiếu kinh nghiệm viết tiểu luận nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của GVHD để cho những bà viết sau được tốt hơn. Xin chân thành cảm ơn! Đà Nẵng, ngày 20 tháng 4 năm 2011 TM. Nhóm Trưởng nhóm Võ Văn Nam A. Phần mở đầu: 1. Lí do chọn đề tài: Dân tộc Việt Nam sớm hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước. Với truyền thống đoàn kết và bất khuất, dân tộc ta từng đánh bại nhiều kẻ thù xâm lược lớn mạnh. Sau khi xâm lược và thôn tính toàn bộ nước ta, thực dân Pháp áp đặt chế độ cai trị chuyên chế, hà khắc và tàn bạo. Chế độ phong kiến suy tàn đã công khai câu kết và làm tay sai cho thực dân Pháp. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và bè lũ tay sai ngày càng gay gắt, khát vọng đấu tranh giành độc lập dân tộc ngày càng trở nên bức thiết.   Giữa lúc đó, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (ngày 5/6/1911 đã ra đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới. Người đã đi qua nhiều nước ở Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ và đã rút ra kết luận là chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ cho giai cấp công nhân và nhân dân ở các nước chính quốc cũng như thuộc địa. Cũng từ đấy Người đã tìm đến chủ nghĩa Mác-Lênin, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp cuối năm 1920, và xác định con đường cứu nước, con đường giải phóng dân tộc đúng đắn: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Khi điều kiện thành lập Đảng đã chín muồi, ngày 3/2/1930, dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản (An Nam cộng sản Đảng, Đông Dương cộng sản Đảng, Đông Dương cộng sản Liên đoàn) đã nhất trí thành lập một đảng cộng sản duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Thông qua các kì đại hội chủ trương của đảng qua các giai đoạn cách mạng có sự khác nhau tùy theo hoàn cảnh thực tế của cách mạng Việt Nam nhưng đều có mục đích cuối cùng là độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (2/9/1945) mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vận mệnh của Đảng gắn liền với vận mệnh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc. Ngay sau ngày giành được độc lập (02/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã khẩn trương lãnh đạo nhân dân cả nước bắt tay vào thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược gắn xây dựng với bảo vệ chính quyền cách mạng; trong đó trọng tâm là xây dựng, lấy xây dựng làm điều kiện cho bảo vệ. Vai trò, chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng được vạch ra qua các kỳ đại hội đây chính là lí do nhóm em chọn đề tài nghiên cứu là: “Tóm tắt các kì đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam và bài học ý nghĩa” 2. Mục đích nghiên cứu: Qua bài tiểu luận nghiên cứu về đề tài “Tóm tắt các kì đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam và bài học ý nghĩa”, nhóm sẽ giúp cho người đọc có được cái nhìn tổng quan về các cuộc Đại hội đại biểu toàn quốc từ Đại hội I (3/1935) – Đại hội XI (1/2011). Bao gồm:Hoàn cảnh lịch sử, thời gian, địa điểm diễn ra kì Đại hội, số đại biểu tham dự, tổng bí thư được bầu, nội dung của Đại hội,… Từ đó rút ra được bài học ý nghĩa cho chính bản thân mình, qua đó kêu gọi tinh thần tìm tòi nghiên cứu, học hỏi về sự phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định tinh thần yêu nước của thế hệ trẻ. Thông qua các kỳ Đại hội Đảng giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc và nắm được các phương hướng cụ thể như là : · Một là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; · Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; · Ba là, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; · Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; · Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; · Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất; · Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; · Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Tóm lại, Đảng và Nhà nước ta đang từng bước đi vào đời sống nhân dân, những niềm tin và kỳ vọng của đất nước đang được giải đáp một cách thỏa mãn. Với việc tổ chức các kỳ Đại hội được tiến hành theo tinh thần đổi mới mạnh mẽ, phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực chiến đấu của các tổ chức Đảng , phát huy tính dân chủ, tăng cường đoàn kết, giữ vững kỷ cương, phát huy cao nhất trí tuệ tập thể, trách nhiệm của các cấp chính quyền, các tổ chức Đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, cán bộ Đảng viên và quần chúng. Qua đó định hình về tư tưởng cho quần chúng nhân dân nói chung và đại bộ phận Sinh viên nói riêng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước tình hình biến động về mọi mặt của Thế giới. 3. Phương pháp nghiên cứu: Tim hiểu những vấn đề có liên quan đến đề tài dựa vào sách, báo, luận văn, internet, những bài tieur luận mẫu của các khóa trước,… Cụ thể: Tìm một số bài tiểu luận, luận văn dựa vào đó để làm sườn, để biết cấu trúc và cách hành văn của một bài nghiên cứu. Trong bài này nhóm đã dựa vào bài tiểu luận của nhóm sinh viên lớp TC1.2 Trường Cao Đẳng Thương Mại. Phương pháp lịch sử - logic Phương pháp phân tích tổng hợp Phương pháp tư duy biện chứng Phương pháp đối chiếu so sánh B. Phần nội dung: CHƯƠNG I: TÓM TẮT CÁC KỲ ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM I. Các kỳ đại hội của Đảng Cộng Sản Việt Nam: 1. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I: Thời điểm: Từ 27-2 đến 31-3-1935. Địa điểm: Nhà số 2 Quan Công Lộ, Ma Cao, Trung Quốc. Số lượng đảng viên trong cả nước: 600 đảng viên. Số lượng tham dự Đại hội: 13 đại biểu. 2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II: Thời điểm: Từ 11-2 đến 19-2-1951. Địa điểm: Xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang. Số lượng đảng viên trong cả nước: 766.349 đảng viên. Số lượng tham dự Đại hội: 158 đại biểu. 3. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III: Thời điểm: Từ 5-9 đến 12-9-1960. Địa điểm: Thủ đô Hà Nội. Số lượng đảng viên trong cả nước: 500.000 đảng viên. Số lượng tham dự Đại hội: 525 đại biểu. 4. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV: Thời điểm: Từ 14-12 đến 20-12-1976. Địa điểm: Thủ đô Hà Nội. Số lượng đảng viên trong cả nước: 1.550.000 đảng viên. Số lượng tham dự Đại hội: 1.008 đại biểu. 5. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V: Thời điểm: Từ 27-3 đến 31-3-1982. Địa điểm: Thủ đô Hà Nội. Số lượng đảng viên trong cả nước: 1.727.000 đảng viên. Số lượng tham dự Đại hội: 1.033 đại biểu. 6. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI: Thời điểm: Từ 15-12 đến 18-12-1986. Địa điểm: Thủ đô Hà Nội. Số lượng đảng viên trong cả nước: 2.109.613 đảng viên. Số lượng tham dự Đại hội: 1.129 đại biểu. 7. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII: Thời điểm: Từ 24-6 đến 27-6-1991. Địa điểm: Thủ đô Hà Nội. Số lượng đảng viên trong cả nước: 2.155.022 đảng viên. Số lượng tham dự Đại hội: 1.176 đại biểu. 8. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII: Thời điểm: Từ 24-6 đến 27-6-1991. Địa điểm: Thủ đô Hà Nội. Số lượng đảng viên trong cả nước: 2.155.022 đảng viên. Số lượng tham dự Đại hội: 1.176 đai biểu. 9. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX: Thời điểm: Từ 19-4 đến 22-4-2001. Địa điểm: Thủ đô Hà Nội. Số lượng đảng viên trong cả nước: 2.479.719 đảng viên. Số lượng tham dự Đại hội: 1.168 đại biểu. 10. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X: Thời điểm: Từ 18-4 đến 25-4-2006. Địa điểm: Thủ đô Hà Nội. Số lượng đảng viên trong cả nước: 3,1 triệu đảng viên. Số lượng tham dự Đại hội: 1.176 đại biểu. 11. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI: Thời điểm: Từ 12/1 đến 19/1/2011. Địa điểm: Thủ đô Hà Nội. Số lượng đảng viên trong cả nước: 3.6 triệu đảng viên. Số lượng tham dự Đại hội: 1.376/1.377 đại biểu chính thức. II. Các tổng bí thư qua các kỳ đại hội của Đảng Cộng Sản Việt Nam: 1. Tổng bí thư Trần Phú (10/1930-4/1931): Trần Phú 2. Tổng bí thư Lê Hồng Phong (3/1935đến 6/1936): Lê Hồng Phong 3. Tổng bí thư Hà Huy Tập (7/1936 đến 3/1938): Hà Huy Tập 4. Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ (3/1938 đến 1/1940): Nguyễn Văn Cừ 5. Tổng bí thư Trường Chinh (5/1941 đến 9/1956 và 7/1986 đến 12/1986): Trường Chinh 6. Tổng bí thư Hồ Chí Minh (10/1956 đến 9/1960): Hồ Chí Minh 7. Tổng bí thư Lê Duẩn (9/1960 đến 7/1986): Lê Duẩn 8. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh (12/1986 đến 6/1991): Nguyễn Văn Linh 9. Tổng bí thư Đỗ Mười (6/1991 đến 12/1997): Đỗ Mười 10. Tổng bí thư Lê Khả Phiêu (12/1997 đến 4/2001): Lê Khả Phiêu 11. Tổng bí thư Nông Đức Mạnh (4/2001 đến 1/2011): Nông Đức Mạnh 12. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng (1/2011 đến nay): Nguyễn Phú Trọng CHƯƠNGII: NỘI DUNG VÀ BÀI HỌC Ý NGHĨA CỦA ĐẠI HỘI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 1. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I: Chủ đề: “Củng cố hệ thống tổ chức của đảng” 1.1. Hoàn cảnh lịch sử: Ngay sau khi thành lập, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta thực hiện cao trào cách mạng 1930 – 1931 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh. Từ ngày 28 đến 31/3/1935, Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng đã họp tại một địa điểm ở phố Quan Công, Ma Cao (Trung Quốc) nhằm xác định đường lối cho thời kỳ đấu tranh mới khi Đảng đã phục hồi sau các cuộc “khủng bố trắng” của thực dân Pháp. 1.2 Nội dung: Đại hội đánh giá cao những thắng lợi của Đảng trong việc khôi phục hệ thống tổ chức Đảng. Đại hội thừa nhận: Luận cương chính trị tháng 10/1930 Chương trình hoạt động Tháng 6/1932 Kiểm điểm phong trào cách mạng ,tổ chức lánh đạo cách mạng (1932-1935) Đại hội đề ra 3 nhiệm vụ cụ thể: 1. Xây dựng và phát triển Đảng: Phát triển cơ sở Đảng tại các xí nghiệp, nhà máy, hầm mỏ, tại các thành thị... Kết nạp thêm đảng viên ưu tú trong hàng ngũ giai cấp công nhân Đẩy mạnh việc phê và tự phê trong Đảng 2. Thâu phục quảng đại quần chúng: Phát triển hội phụ nữ, các dân tộc thiểu số... Thành lập mặt trận dân tộc thống nhất 3. Đẩy mạnh chống chiến tranh đế quốc: Đại hội cũng đã thông qua Nghị quyết Chính trị, Điều lệ Đảng và: Các nghị quyết về vận động công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, phụ nữ. Các nghị quyết về công tác trong các dân tộc thiểu số. Các nghị quyết về đội tự vệ đỏ và đội cứu tế đỏ Bầu Ban chấp hành Trung ương mới gồm 13 người. Nguyễn Ái Quốc được cử làm đại diện của Đảng Cộng Sản Đông Dương tại Quốc tế thứ 3, Lê Hồng Phong là Tổng Bí thư. 1.3 Ý nghĩa: Đại hội đánh dấu sự khôi phục và phát triển của tổ chức Đảng Là sự chuẩn bị cho thắng lợi của các phong trào tiếp theo Đại hội đại biểu lần I của Đảng được xem như là mốc đánh dấu bước phát triển quan trọng của Đảng, Đảng đã phục hồi được hệ thống tổ chức từ Trung ương đến địa phương, các tổ chức quần chúng của Đảng cũng dần được khôi phục và phát triển.  Đại hội chính là mốc đánh dấu sự sống còn của Đảng Cộng Sản Việt Nam vì trước đó tất cả các tổ chức, đảng phái khác như Việt Nam Quang phục hội, Việt Nam quốc dân đảng,… sau khi bị thực dân Pháp đàn áp đều không còn hoạt động hoặc hoạt động rất hạn chế, cơ sở trong nước bị khủng bố hoàn toàn, chỉ còn các cơ sở hoạt động tại hải ngoại. 2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II: Chủ đề: “Đại hội kháng chiến” Quang cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II 2.1 Hoàn cảnh lịch sử: Sau chiến thắng Thu – Đông năm 1947 và chiến dịch Biên giới năm 1950, thế và lực của ta trong kháng chiến chống Pháp phát triển vượt bậc. Để tiếp tục phát triển đường lối kháng chiến kiến quốc, Trung ương Đảng đã quyết định triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng. Đại hội họp tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang từ ngày 11 đến ngày 19/2/1951. Về dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho 766.349 đảng viên. 2.2 Nội dung: Đại hội đã quyết định tách Đảng Cộng Sản Đông Dương để thành lập ở mỗi nước Đông Dương Đảng Mác-Lênin riêng. Ở Việt Nam Đại hội thành lập Đảng Lao động Việt Nam và đưa Đảng ra hoạt động công khai. Đại hội thông qua Báo cáo chính trị do Hồ Chí Minh soạn thảo ” trong đó tổng kết kinh nghiệm của Đảng qua các thời kì từ khi ra ra đời và khẳng định đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng. Bản báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam do Trường Chinh soạn thảo. Báo cáo nêu lên nhiệm vụ cơ bản của cách mạng nước ta là đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất hòan tòan cho dân tộc, xóa bỏ tàn tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Xuất bản báo Nhân Dân làm cơ quan ngôn luận của Trung Ương Đảng Thông qua Tuyên ngôn, Chính cương, Điều lệ mới. Bầu Ban chấp hành Trung ương mới và Bộ Chính trị. Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng, Trường Chinh là Tổng Bí thư. 2.3 Ý nghĩa: Đại hội đại biểu lần II của Đảng được xem như là mốc đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đại hội đã đưa Đảng Cộng Sản Việt Nam từ việc hoạt động bí mật dưới tên gọi Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương ra hoạt động công khai trở lại dưới tên gọi mới là Đảng Lao động Việt Nam. 3. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III: Chủ đề: “Xây dưng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà” Quang cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III 3.1 Hoàn cảnh lịch sử:. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại thủ đô Hà Nội từ ngày 5 đến ngày 10/9/1960. 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết thay mặt cho hơn 50 vạn đảng viên trong cả nước đã về dự Đại hội. Trong lời khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Ðại hội lần này là đại hội xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà". Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 47 uỷ viên chính thức và 31 uỷ viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm 11 uỷ viên chính thức và 2 uỷ viên dự khuyết. 3.2 Nội dung: Đại hội đã thảo luận và đánh giá cách mạng hai miền đang có những bước tiến quan trọng. Từ nhận định đó, Đại hội đề ra nhiệm vụ chiến lược của cách mạng cả nước và nhiệm vụ của từng miền; chỉ rõ vị trí, vai trò của cách mạng từng miền và mối quan hệ giữa cách mạng hai miền. Sau khi hòan thành việc khắc phục hậu quả do cuộcKháng chiến chống Pháp để lại và thực hiện những nhiệm vụ bước đầu của chính quyền dân chủ nhân dân theo kinh nghiệm của Liên Xô và Đông Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2, Đại hội quyết định sẽ đưa miền Bắc đi lên cách mạng xã hội chủ nghĩa đồng thời đưa ra nhận định công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc sẽ có vai trò quyết định nhất với sự phát triển của cách mạng hai miền. Đại hội khẳng định đứa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Do Pháp không thực hiện Tổng tuyển cử theo Hiệp định Geneva 1954 và việc vận động thực hiện hiệp định bị chính quyền Diệm đàn áp do sợ thất bại nên Việt Nam chưa thống nhất được]. Đại hội do đó đã quyết định sẽ tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và nhận định cuộc cách mạng này có vai trò quyết định trực tiếp với sự nghiệp giái phóng miền Nam. Đại hội nhận định cách mạng hai miền có quan hệ mật thiết, gắn bó và tác động lẫn nhau nhằm hòan thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện hòa bình thống nhất đất nước. Nhằm thực hiện mục tiêu tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội đề ra Kế họach 5 năm lần thứ nhất 1960-1965, nhiệm vủ chủ yếu của Kế hoạch này là công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, lấy phát triển công nghiệp nặng làm nền tảng, đồng thời ra sức phát triển công nghiệp nhẹ và nông nghiệp. Thông qua Báo cáo chính trị, Báo cáo sửa đổi điều lệ Đảng. Bầu Ban chấp hành Trung ương mới do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Đảng, Lê Duẩn là Bí thư thứ nhất. 3.3 Ý nghĩa: Được xem như là “nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho tòan Đảng và tòan dân ta xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà” Thắng lợi của Hội nghị còn được nhận xét là đưa “miền Bắc nước ta tiến những bước dài chưa từng thấy (…) đất nước xã hội con người đều đổi mới”. 4. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV: Chủ đề: “Đại hội thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên con đường XHCN” Quang cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV 4.1 Hoàn cảnh lịch sử: Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước ta bắt đầu một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hoà bình thống nhất độc lập và cả nước đi lên CNXH. Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 14 đến ngày 20/12/1976. 1.008 đại biểu thay mặt hơn 1,55 triệu đảng viên trong cả nước dự Đại hội. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm 101 uỷ viên chính thức và 32 uỷ viên dự khuyết. Bộ Chính trị gồm có 14 uỷ viên chính thức và 3 uỷ viên dự khuyết. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng có ý nghĩa trọng đại, là đại hội toàn thắng của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và mở đầu cho thời kỳ cả nước đi lên CNXH. Những nội dung cơ bản của Đại hội về xây dựng CNXH đã đánh dấu một bước phát triển của Đảng ta trong việc tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. 4.2 Nội dung: Đại hội đã thảo luận, đánh giá quyết định chuyển cách mạng Việt Nam từ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam sang thực hiện cách mạng xã hội trên toàn đất nước. Từ nhận định đó, Đại hội đề ra đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước, gồm: Đường lối chung cách mạng xã hội chủ nghĩa Đường lối xây dựng kinh tếtrong thời kì quá độ Những đường lối này được Đại hội đề ra dựa trên cơ sở kinh nghiệm của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc trong 21 năm (1954-1975), nhất lả xúât phát từ đặc điểm tình hình đất nước và thế giới trong giai đọan cách mạng mới. Đại hội nêu 3 đặc điểm lớn của cách mạng Việt Nam, mà đặc điểm lớn nhất là: “Nước ta vẫn đang trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xúât nhỏ tiến thẳng lên Chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đọan phát triển Tư bản chủ nghĩa.” Đặc điểm này quy định cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một quá trình biến đổi cách mạng tòan diện, sâu sắc và triệt để, đồng thời cũng quy định tính chất lâu dài, khó khăn và phức tạp trong quá trình đó. Miền Bắc do đã có 21 năm đi lên Chủ nghĩa xã hội từ 1954, nên trong giai đọan này phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và hòan thiện quan hệ sản xúât xã hội chủ nghĩa. Góp phần cùng cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Do mới giải phóng, và trong suốt thời kì Việt Nam Cộng Hòa và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam nền kinh tế miền nam trong chừng mực phát triển theo hướng tư bản chú nghĩa, nhưng về cơ bản vẫn mang tính chất của kinh tế nông nghiệp, sản xúât nhỏ và phân tán, phát triển không cân đối, lệ thuộc vào viện trợ bên ngòai. Đại hội quyết định miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng Chủ nghĩa xã hội, góp phần cùng cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Nhằm thực hiện mục tiêu đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội đề ra Kế họach 5 năm 1976-1980 và quyết định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu của Kế họach, là xây dựng Chủ nghĩa xã hội và cải tạo quan hệ sản xúât xã hội chủ nghĩa, nhằm hai mục tiêu cơ bản: Xây dựng một bước cơ sở vật chất – kĩ thuật của Chủ nghĩa xã hội Bước đầu hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước mà bộ phận chủ yếu là cơ cấu công - nông nghiệp và cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân lao động. Thông qua Báo cáo chính trị. Bầu Ban chấp hành Trung ương mới gồm 101 ủy viên chính thức và 32 ủy viên dự khuyết do Lê Duẩn làm Tổng Bí thư . 4.3 Ý nghĩa: Đây là Đại hội đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam sau khi được thống nhất từ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa và Cộng Hòa miền Nam Việt Nam. Kế họach 5 năm 1976-1980 do Đại hội đề ra đã đạt nhiều thành tựu trong khôi phục kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế. Tầng lớp tư sản mại bản ở miền Nam bị xóa bỏ. 5. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V: Chủ đề: “Đại hội của sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN” Quang cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V 5.1 Hoàn cảnh lịch sử: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng họp từ ngày 27 đến ngày 31/3/1982 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có 1.033 đại biểu thay mặt 1,727 triệu đảng viên hoạt động trong 35.146 đảng bộ cơ sở. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 116 uỷ viên chính thức và 36 uỷ viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 13 uỷ viên chính thức và 2 uỷ viên dự khuyết. Đồng chí Lê Duẩn được bầu lại làm Tổng Bí thư. Ngày 14/7/1986, Ban Chấp hành Trung ương họp phiên đặc biệt. Đồng chí Trường Chinh được bầu giữ chức Tổng Bí thư thay đồng chí Lê Duẩn từ trần ngày 10/7/1986. 5.2 Nội dung: Đại hội đã thảo luận, đánh giá tình hình trong nước và quốc tế và đề ra nhiệm vụ cách mạng trong thời kì kế tiếp là xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, hai nhiệm vụ chiến lược này quan hệ mật thiết với nhau. Đại hội khẳng định tiếp tục đừơng lối chung tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và đừơng lối xây dựng knih tế trong thời kì quá độ do Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam IV đề ra. Tuy nhên đế Đại hội V, đường lối xây dựng Chủ nghĩa xã hội trong thời kì quá độ bắt đầu có sự điều chỉnh, bổ sung, phát triển, cụ thể hóa theo từng chặng đường, từng giai đọan cho phù hợp với những điều kiện lịch sử phù hợp. Cụ thể là xác định thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta trải qua nhiều chặng đường: chặng đường đầu gồm 5 năm 1981-1985 và những năm còn lại của thập kỉ 80, và những chặn tiếp theo. Nhằm thực hiện nhiệm vụ,mục tiêu kinh tế xã hội của chặng đường đầu tiên chủ nghĩa xã hội, Đại hội đề ra Kế họach 5 năm 1981-1985 và quyết định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu của Kế họach, là phát triển thêm một bước, sắp xếp lại cơ cấu và đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế quốc dân nhằm cơ bản ổn định tình hình kinh tế xã hội, đáp ứng những yêu cầu cấp bách và bứt thiết nhất của nhândân, giảm nhẹ sự mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế. Thông qua Báo cáo chính trị. Bầu Ban chấp hành Trung ương mới gồm 116 ủy viên chính thức và 36 ủy viên dự khuyết do Lê Duẩn làm Tổng Bí thư . 5.3 Ý nghĩa: Kế họach 5 năm 1981-1985 do Đại hội đề ra đã đạt nhiều thành tựu nhưng chủ yếu là trong nông nghiệp. khoa học kĩ thuật được triển khai, bắt đầu khia thác dầu mỏ và cây dựng nhiều công trình thủy điện như Thủy điện Hòa Bình, Thủy điện Trị An. 6. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI: Chủ đề: “Đại hội kế thừa và quyết tâm đổi mới, đoàn kết tiến lên” Quang cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI 6.1 Hoàn cảnh lịch sử: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp tại Hà Nội từ ngày 15 đến 18/12/1986. Đại hội có sự tham dự của 1.129 đại biểu thay mặt cho gần 1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI gồm 124 uỷ viên chính thức và 49 uỷ viên dự khuyết. Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên chính thức và 1 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư. Các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ được giao trách nhiệm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. 6.2 Nội dung: Đại hội đã thảo luận và thông qua các nghị quyết về các văn kiện như :báo cáo chính trị; phương hướng; mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm năm 1986-1990; báo cáo về bổ sung điều lệ Đảng. Đại hội đã đánh giá những thành tựu những khó khăn của Việt Nam do cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội tạo ra. Những sai lầm kéo dài của Đảng về chủ trương, chính sách lớn về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của nhũng sai lầm đó, đặc biệt sai lầm về kinh tế là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ về hành động đơn giản, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan là khuynh hướng trong buông lỏng quản lý kinh tế, xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối nguyên tắc của Đảng đó là tư tưởng vừa tả khuynh vừa hữu khuynh. Đại hội đã thông qua bản Điều lệ Đảng đã sửa đổi và bầu Ban Chấp hành trung ương khóa VI gồm 124 ủy viên chính thức và 49 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu Bộ Chính trịgồm 13 ủy viên chính thức, 1 ủy viên dự khuyết. Ông Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Báo cáo chính trị nêu ra bốn bài học kinh nghiệm lớn. Báo cáo xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong 5 năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo. Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng "lấy dân làm gốc". Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo qui luật khách quan. Phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới. Chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu cự thể cho những năm còn lại của chặng đường đầu tiên: Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy. Bước đầu tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Tạo chuyển biến tốt về mặt xã hội Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh. Đổi mới ở đây không phải là thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà được hiểu là thay đổi cách thức để đạt được mục tiêu chủ nghĩa xã hội. - Đổi mới về kinh tế: Xóa bỏ kinh tế bao cấp, thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần Đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế: cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới về nội dung và cách thức công nghiệp hóa, thực hiện 3 chủ trương kinh tế: Sản xuất lương thực, thực phẩm Sản xuất hàng tiêu dùng Sản xuất hàng xuất khẩu - Đổi mới về chính trị: Đổi mới vai trò lãnh đạo của Đảng, đổi mới quản lý và điều hành của nhà nước cho phù hợp với cô cấu và cơ chế kinh tế mới. Đổi mới về quan hệ hợp tác quốc tế theo hướng mở, kêu gọi hợp tác và đầu tư nước ngoài........ 6.3 Ý nghĩa: Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI đã tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội, thể hiện quan điểm đổi mới toàn diện đất nước, đặt nền tảng cho việc tìm ra con đường thích hợp đi lênchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những chủ trương, chính sách mới đã gợi mở, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, giải phóng năng lực sản xuất của xã hội để mở đường cho phát triển sản xuất. 7. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII: Chủ đề: “Đại hội của trí tuệ, đổi mới, dân chủ, kỷ cương, đoàn kết” Quang cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII 7.1 Hoàn cảnh lịch sử: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam được tiến hành trong bối cảnh quốc tế và trong nước đang có những diễn biến phức tạp. Tuy nhiên, công cuộc đổi mới được Đảng ta đề ra từ Đại hội lần thứ VI (12/1986) bước đầu đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhờ đó mà nước ta đã đứng vững và tiếp tục phát triển. Đại hội họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 24 đến 27/6/1991 với 1.176 đại biểu đại diện cho 2.155.022 đảng viên. Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương (khoá VII) gồm 146 uỷ viên, bầu Bộ Chính trị gồm 13 uỷ viên. Đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư. Các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công là cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. 7.2 Nội dung: Đại hội đã tổng kết đánh giá việc thực hiện đừơng lối đổi mới của đại hội VI, đề ra chủ trương, nhiệm vụ nhằm kế thừa, phát huy những thành tựu, ưu điểm đã đạt được: khắc phục khó khăn, yếu kém mắc phải trong bước đầu đổi mới; ngăn ngừa những lệch lạc phát sinh trong quá trình đó; điều chỉnh bổ sung, phát triển đường lối đổi mới để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới của đất nước tiến lên. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội: Bản cương lĩnh này được thông qua tại Đại hội VII. Đây chính là tổng thể những điểm chủ yếu về mục đích, đường lối, nhiệm vụ cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kì tiếp tục đi lên đổi mới và xây dựng nền kinh tế thị trường. Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000: Do đổi mới đang bước đầu thực hiện dù đã đạt nhiều thành tựu nhưng làn sóng đổi mới thái quá trên một số lĩnh vực gây ra nguy cơ chệch hướng đi lên xã hội chủ nghĩa và sự cầm quyền của Đảng. Trước làn sóng bất ổn kinh tế chính trị tại Đông Âu và Liên Xô, sự sụp đổ của Hệ thống Xã hội chủ nghĩa và những bất ổn mới phát sinh trong quá trình đổi mới, Đại hội VII đã thông qua Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 nhằm bình ổn xã hội, phát triển đất nước đưa đất nước thóat ra khỏi khó khăn. Xuất phát từ đặc điểm tình hình, căn cứ vào mục tiêu của chặng đừơng đầu htời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, Đại hội VII đề ra Kế họach 5 năm 1991-1995 và quyết định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế xã hội của Kế họach là: Đẩy lùi và kiểm sóat lạm phát Ổn định phát triển và nâng cao hiệu quả nền sản xúât xã hội Bước đầu ổn định và từng bước cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân lao động. Bắt đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế Thông qua Báo cáo chính trị. Bầu Ban chấp hành Trung ương mới gồm 146 ủy viên chính thức và không có ủy viên dự khuyết, bầu Đỗ Mười làm Tổng Bí thư. 7.3 Ý nghĩa: Đây là Đại hội đầu tiên sau khi đất nước đã tiến hành đổi mới. Kế họach 5 năm 1991-1995 do Đại hội đề ra đã đạt nhiều thành tựu trên các lĩnh vực của sự nghiệp đổi mới: Nhịp độ phát triển kinh tế cao, những mục tiêu chủ yếu của kế họach hòan thành vượt mức. Tổng sản phẩm trong nước tăng 8,2% /năm. Công nghiệp tăng 13,3% /năm. Sản lượng lương thực tăng 26%. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Dịch vụ tăng 80%. Vận tải tăng 62%. Lạm phát từ 67.1% 1991 giảm còn 12.7% 1995. Kinh tế đối ngọai phát triển. xuất khẩu đạt 17 tỉ USD. Nhập khẩu 21 tỉ USD. Có quan hệ buôn bán với hơn 100 nước. nhà nước mở rộng quyền xúât nhập khẩu cho tư nhân. Vốn đầu tư nước ngòai tăng 50% đạy trên 19 tỉ USD. Khoa học công nghệ, văn hóa xã hội phát triển. thu nhập quốc dân tăng và giải quyết được nạn đói. Chính trị xã hội, quốc phòng an ninh được củng cố Mở rộng quan hệ đối ngoại, không còn bị bao vây do đã rút quân khỏi Campuchia từ năm 1988. Bình thừơng quan hệ với Mỹ và gia nhập ASEAN năm 1995 8. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII: Chủ đề: “Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH-HĐH vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” Quang cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII 8.1 Hoàn cảnh lịch sử: Đến năm 1996, công cuộc đổi mới đã tiến hành được 10 năm và đạt được nhiều thành tựu quan trọng về mọi mặt, tạo được nhiều tiền đề cần thiết cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong hoàn cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra từ ngày 28/6 đến 1/7/1996, tại Hà Nội. Dự Đại hội có 1.198 đảng viên đại diện cho gần 2,13 triệu đảng viên trong cả nước. Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII bao gồm 170 uỷ viên. Đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư. Các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) đã bầu đồng chí Lê Khả Phiêu giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. 8.2 Nội dung: Đại hội đã tổng kết đánh giá, kiểm điểm 10 năm thực hiện đừơng lối đổi mới của đại hội VI và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội 7, đề ra chủ trương, nhiệm vụ nhằm kế thừa, phát huy những thành tựu, ưu điểm đã đạt được; điều chỉnh bổ sung, phát triển đường lối đổi mới để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới của đất nước tiến lên. Xúât phát từ đặc điểm tình hình đất nước và từ nhận định Việt Nam đã thóat ra khỏi khủng hỏang kinh tế xã hội cũng như căn cứ vào Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, Đại hội khẳng định tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh nước ta đã chuyển sang thời kì phát triển mới, thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xuất phát từ đặc điểm tình hình, căn cứ vào mục tiêu của chặng đừơng đầu thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, Đại hội VIII đề ra Kế họach 5 năm 1996-2000 và quyết định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế xã hội của Kế họach là: Đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách tòan diện và đồng bộ. Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Phấn đấu đạt và vượt mục tiêu tăng trưởng knih tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội. Cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh tế Thông qua Báo cáo chính trị. Bầu Ban chấp hành Trung ương mới gồm 170 ủy viên chính thức và không có ủy viên dự khuyết, bầu Lê Khả Phiêu làm Tổng Bí thư. 8.3 Ý nghĩa: Kế họach 5 năm 1995-2000 do Đại hội đề ra đã đạt nhiều thành tựu trên các lĩnh vực của sự nghiệp đổi mới: Phát triển kinh tế vẫn giữ được nhịp độ cao, những mục tiêu chủ yếu của kế họach hòan thành vượt mức. Tổng sản phẩm trong nước tăng 7% /năm. Công nghiệp tăng 13,5% /năm. Cơ cấu kinh tế thay đổi, tỉ trọng công nghiệp tăng lên 36.6% và tỉ trọng nông nghiệp giảm còn 24.3% Kinh tế đối ngọai phát triển. xuất khẩu đạt 51.6 tỉ USD. Nhập khẩu 61 tỉ USD. Có quan hệ buôn bán với hơn 140 nước. nhà nước mở rộng quyền xúât nhập khẩu cho tư nhân. Vốn đầu tư nước ngòai tăng, đạt trên 40 tỉ USD. Bắt đầu đầu tư sang các nước khác. Khoa học công nghệ, văn hóa xã hội phát triển. 100% tỉnh thành đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục, xóa xong nạn mù chữ.thu nhập quốc dân tăng và giải quyết được nạn đói. Chính trị xã hội, quốc phòng an ninh được củng cố, quan hệ đối ngoại được mở rộng. 9. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX: Chủ đề: “Trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi mới” Quang cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX 9.1 Hoàn cảnh lịch sử: Đại hội diễn ra trong bối cảnh loài người đã kết thúc thế kỷ XX và bước sang thế kỷ XXI, dân tộc ta đứng trước những thời cơ lớn đan xen với nhiều thách thức lớn. Đại hội họp tại Hà Nội từ ngày 19 đến 22/4/2001, với sự tham gia của 1.168 đại biểu, đại diện cho 2.479.719 đảng viên trong toàn Đảng Đại hội IX đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010 và Phương hướng nhiệm vụ Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005. Đại hội cũng thông qua toàn văn Điều lệ Đảng bổ sung, sửa đổi. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương khoá IX gồm 150 uỷ viên. Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 13 đồng chí, Ban Bí thư gồm 9 đồng chí. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư. 9.2 Nội dung: Đại hội đã tổng kết đánh giá, kiểm điểm 15 năm thực hiện đừơng lối đổi mới của đại hội VI và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội 8, đề ra chủ trương, nhiệm vụ nhằm kế thừa, phát huy những thành tựu, ưu điểm đã đạt được; điều chỉnh bổ sung, phát triển đường lối đổi mới để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới của đất nước tiến lên trong thời đại mới. Xúât phát từ đặc điểm tình hình đất nước và quốc tế, Đại hội khẳng định tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đại hội cũng đã đề ra chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm (2001-2010). Xuất phát từ đặc điểm tình hình trong và ngòai nước Đại hội IX đề ra Kế họach 5 năm 2001-2005 và quyết định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế xã hội của Kế họach là: Đưa đất nước thóat khỏi tình trạng kém phát triển. Nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần nhân dân Tạo nền tảng để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Thông qua Báo cáo chính trị. Bầu Ban chấp hành Trung ương (BCH TW) mới gồm 150 ủy viên chính thức và không có ủy viên dự khuyết, bầu Nông Đức Mạnh làm Tổng Bí thư . Bầu Bộ chính trị gồm 15 thành viên và hủy bỏ chức danh cố vấn BCH TW. 9.3 Ý nghĩa: Kế họach 5 năm 2001-2005 do Đại hội đề ra đã đạt nhiều thành tựu trên các lĩnh vực của sự nghiệp đổi mới: Phát triển kinh tế vẫn giữ được nhịp độ cao, những mục tiêu chủ yếu của kế họach hòan thành vượt mức. Tổng sản phẩm trong nước tăng 8% /năm. Công nghiệp tăng nhanh. Cơ cấu kinh tế thay đổi tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên và tỉ trọng nông nghiệp giảm. Kinh tế đối ngọai phát triển. Bắt đầu đầu tư sang các nước khác nhất là Lào và Campuchia cũng như một số nước Châu Phi. Khoa học công nghệ, văn hóa xã hội phát triển. Chính trị xã hội, quốc phòng an ninh được củng cố, quan hệ đối ngoại được mở rộng. 10. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X: Chủ đề: “Trí tuệ, đổi mới, đoàn kết và phát triển bền vững” Quang cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X 10.1 Hoàn cảnh lịch sử: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra trong thời điểm lịch sử có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Sự nghiệp đổi mới trên đất nước ta đã trải qua 20 năm. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vừa kết thúc 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, cũng là 5 năm đầu tiên của thế kỷ XXI. Đại hội họp từ ngày 18 đến ngày 25/4/2006 tại Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội có 1.176 đại biểu thay mặt cho hơn 3,1 triệu đảng viên. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X gồm 160 Uỷ viên chính thức và 21 Uỷ viên dự khuyết. Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã bầu Bộ Chính trị gồm 14 đồng chí, Ban Bí thư Trung ương Đảng gồm 8 đồng chí. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu lại làm Tổng Bí thư. Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 chỉ rõ mục tiêu giai đoạn 2006-2010 là: Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân. Tạo được nền tảng để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia. Nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế. 10.2 Nội dung: Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 chỉ rõ mục tiêu giai đoạn 2006-2010 là: Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân. Tạo được nền tảng để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia. Nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế. Quan điểm mới: Đảng viên làm kinh tế tư nhân không giới hạn về quy mô - Việc Đại hội ra Nghị quyết cho phép Đảng viên của Đảng được làm kinh tế tư nhân, kể cả kinh tế tư bản tư nhân là bước tiến quan trọng trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam sau 20 năm đổi mới, thể hiện bước đột phá trong thay đổi tư duy của Đảng Cộng Sản Việt Nam. 10.3 Ý nghĩa: Thành công của Đại hội X của Đảng cổ vũ mạnh mẽ toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiến lên tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn, phát triển với tốc độ nhanh hơn và bền vững hơn. 11. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI: Chủ đề: “Tiếp tục nâng cao năng lực và sức chiến đấu của đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Quang cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI 11.1 Hoàn cảnh lịch sử: Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam XI, được gọi chính thức là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI là đại hội lần thứ mười một củaĐảng Cộng sản Việt Nam, được khai mạc ngày 12/01/2011 tại Hà Nội và bế mạc vào ngày 19/01/2011. Đây là Đại hội then chốt, bầu nhân sự trung ương Đảng, giới thiệu các vị trí Tổng Bí thư, Ban Bí thư Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng thời các vị trí then chốt của Chính quyền: Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng. 11.2 Nội dung: Cương lĩnh: - Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đọc Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về các văn kiện Đại hội XI của Đảng, theo đó "toàn Đảng, toàn dân đã phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu quan trọng". Báo cáo cảnh báo về các thách thức như "hoạt động chống phá, kích động bạo loạn,diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch". Trong báo cáo cũng nhấn mạnh: Coi trọng vai trò phản biện.  - Tên gọi:"Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)" - Kết quả biểu quyết: Có 849 phiếu đồng ý, chiếm 61,70%. Quan điểm mới:"Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại với quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp". - Dự thảo là: "Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu". - Kết quả biểu quyết: Có 895 phiếu đồng ý, chiếm 65,04%.  Cơ sở của cương lĩnh: - Cương lĩnh của Đại hội XI (bổ sung, phát triển của Đại hội VII và X) là thành quả mà Đảng Cộng sản Việt Nam kết luận là công cuộc đổi mới, trước hết là thành quả của đổi mới nhận thức lý luận về Chủ nghĩa Xã hội, trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong điều kiện hiện nay. Đó cũng là thành quả của sự kết hợp hài hòa giữa “cái phổ biến” và “cái đặc thù”, cái chung và cái riêng để tạo nên một mô hình: Chủ nghĩa Xã hội Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) của Đảng, mô hình CNXH mà nhân dân ta xây dựng đã được phác họa với sáu đặc trưng; Đại hội lần thứ X (2006) đã bổ sung, phát triển, làm cho mô hình CNXH Việt Nam toàn diện hơn, gồm tám đặc trưng; Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung và phát triển 2011) của Đại hội XI tiếp tục xác định tám đặc trưng trên cơ sở kết hợp, bổ sung, phát triển những đặc trưng của CNXH trong hai Đại hội VII và X.  Các bài học lớn: Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Hai là, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; Ba là, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế - Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công; Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế; Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.  Nội dung cương lĩnh: - Đặc trưng của Chủ nghĩa Xã hội mà Việt Nam đang xây dựng; Đặc trưng thứ nhất: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; Đặc trưng thứ hai: do nhân dân làm chủ; Đặc trưng thứ ba: có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại là chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; Đặc trưng thứ tư: có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Đặc trưng thứ năm: con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; Đặc trưng thứ sáu: các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; Đặc trưng thứ bảy: có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; Đặc trưng thứ tám: có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.  - Các phương hướng cơ bản: Một là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Ba là, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất; Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. C. Phần kết luận: KẾT LUẬN Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã trải qua 10 kỳ đại hội: từ đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I(3/1935) đến đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI(1/2011). Đảng ta đã không ngừng nỗ lực phát triển đất nước. Tuy nói đây không phải là một khoảng thời gian quá dài nhưng đối với một đất nước phải trải qua nhiều thăng trầm như Viêt Nam lại là cả một thử thách rất khó khăn. Nếu thử nhìn lại chặn đường chúng ta đã đi từ khi dựng nước và giữ nước đến nay đã trải qua rât nhiều gian khổ: “1000 bị đô hộ bởi giặc tàu, 100 năm bị đô hộ bởi giặc tây”. Việt Nam đươc xem như là một miếng mồi béo bở luôn luôn bị đe dọa bởi các thế lực bên ngoài và không ngừng bị xâu xé. Việt Nam đã bị bóc lột, đàn áp dã man ,con người không có quyền làm chủ nền kinh tế và chính trị của ta bị chi phối bởi các thế lực xâm lược. Nhưng dươi sự lãnh đạo của Đảng nhân dân ta đã đấu tranh giành lại độc lập ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng. Thông qua các kỳ đại hội Đảng đã mạnh dạn chỉ ra những khuyết điểm của mình một cách công khai và minh bạch trước toàn dân, vạch ra những mặt hạn chế, những thiếu sót, sai lầm còn mắc phải khi thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng đã đề ra. Đồng thời qua đó cho ta thấy đươc những thành tich mà Đảng ta đã đạt được trên tất cả các mặt (văn hóa, kinh tế, chính trị). Trong xu thế hội nhập, Đảng cũng rất chú trọng đến việc mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới để phát triển. Đăc biệt là trong bối cảnh xã hội hiên nay thi vai trò của Đảng lại càng đươc khẳng định hơn nữa trong việc đưa ra những chính sách chiến lược dài hạn nói chung và chiến lược ngắn hạn nói riêng đễ giúp nên kinh tế đi vào đúng quỹ đạo (phát triển ổn định và bền vững). Hướng tới mục tiêu xây dựng một đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Một nước CNH - HĐH, xây dựng một đảng trong sạch, vững mạnh. Vì “Một nhà nước của dân, do dân và vì dân”. D. Danh mục tài liệu tham khảo: CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO CHỦ YẾU [1] Sách “Tìm Hiểu Về Đảng Cộng Sản Việt Nam” do Minh Khánh biên soạn - Nhà xuất bản Thanh Niên. [2] Sách “Đảng Cộng Sản Việt Nam-Trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử” - Nhà xuất bản chính trị Quốc gia. [3] Sách “Chỉ thị và các văn bản hướng dẫn-về Đại Hội Đảng Bộ các cấp tiến tới Đại Hội Đại Biểu toàn Quốc lần thứ XI của Đảng” - Nhà xuất bản chính trị Quốc gia. [4] Giáo trình “Đường Lối Cách Mạng Đảng Cộng Sản Việt Nam” - Bộ Giáo Dục và Đào Tạo. [5] Giáo trình “Những nguyên lí cơ bản Chủ Nghĩa Mác-Lênin” - Bộ Giáo Dục và Đào Tạo. [6] Sách “Vận dụng và phát triển Chủ Nghĩa Mác-Lênin của Hồ Chí Minh và Đảng ta” Học viện chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh; PGS.TS Bùi Đình Phong, PGS.TS Phạm Ngọc Anh biên soạn. [7] Bài tiểu luận môn Đường Lối Cách Mạng đề tài “Đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thời kì 1930-1945” của nhóm sinh viên lớp TC1.2 – Trường Cao Đẳng Thương Mại, tháng 4/2009. [8] Các bài viết trên báo “Đảng Cộng Sản Việt Nam”. [9] Các thông tin trên “Cổng thông tin chính phủ”. [10] Những thông tin về Đảng Cộng Sản Việt nam trên các website như: tailieu.vn, lichsuvietnam.com,… [11] Và một số tài liệu khác

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTóm tắt các kì đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam và bài học ý nghĩa.doc