Tóm tắt Luận án Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010

Đảng bộ tỉnh Thái Bình chỉ đạo đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chuyển mạnh chăn nuôi sang sản xuất hàng hoá, đưa chăn nuôi lên thành ngành sản xuất chính, trở thành mũi đột phá phát triển nông nghiệp toàn diện. Tiến hành công tác quy hoạch, quy vùng chuyển đổi các loại cây trồng, vật nuôi, bảo đảm tính đồng bộ giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ; tạo vùng sản xuất hàng hoá tập trung. Nhờ đó, sản xuất nông nghiệp của Thái Bình (2001 - 2005), đã có bước phát triển quan trọng. Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp phát triển theo hướng nâng cao giá trị, hiệu quả, từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa.

pdf12 trang | Chia sẻ: toanphat99 | Ngày: 22/07/2016 | Lượt xem: 1656 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tóm tắt Luận án Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
t triển KTNN, Đảng bộ các cấp đã thường xuyên chăm lo, xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, giữ vững an ninh, chính trị trật tự an toàn xã hội, thực hiện tốt qui chế dân chủ ở cơ sở, xây dựng đời sống văn hóa mới ở các cụm dân cư, các khu đô thị mới, các khu công nghiệp. 3.2.4. Tăng cường giữ vững vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đáp ứng yêu cầu lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp Các cấp bộ Đảng thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao phẩm chất, năng lực, đạo đức, lối sống cho cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân. Thường xuyên củng cố tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh. Đảng bộ tỉnh đã chú trọng chỉ đạo xây dựng, phát huy vai trò lãnh đạo của các loại hình tổ chức cơ sở Đảng, nhất là tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn, ở các cơ quan chuyên môn có liên quan đến chỉ đạo và điều hành phát triển KTNN của Tỉnh. Đảng bộ tỉnh đặc biệt quan tâm đến xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng với yêu cầu phát triển KT - XH, nhất là phát triển KTNN. Kết luận chương 3 Từ năm 2001 đến năm 2010, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời, linh hoạt, sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình, sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Thái Bình có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc hoạch định chủ trương, chỉ đạo thực hiện và đạt hiệu quả trong thực tiễn. Qua đó khẳng định chủ trương phát triển KTNN của Đảng bộ tỉnh là đúng đắn, phản ánh đúng chủ trương của Đảng, bám sát thực tiễn của địa phương, góp phần đưa KTNN tỉnh Thái Bình phát triển mạnh mẽ và vững chắc hơn. Tuy vậy, KTNN của tỉnh Thái Bình vẫn còn một số hạn chế. Từ thực trạng đó, luận án đúc rút 4 kinh nghiệm có giá trị tham khảo vào hiện thực. 3 Phân tích, luận giải làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình về phát triển KTNN từ năm 2001 đến năm 2010. Nhận xét và đúc rút kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo phát triển KTNN trong những năm 2001 - 2010 để vận dụng vào thực tiễn. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnhThái Bình về phát triển KTNN từ năm 2001 đến năm 2010. 4.2. Phạm vi nghiên cứu * Về nội dung Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo phát triển KTNN của Đảng bộ tỉnh Thái Bình. KTNN theo nghĩa rộng bao gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, theo nghĩa hẹp gồm hai ngành chính là trồng trọt và chăn nuôi, thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người, con người với đối tượng lao động trong quá trình sản xuất nông nghiệp. Trong phạm vi luận án, nghiên cứu sinh tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình đối với các ngành KTNN: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng, chế biến thủy sản và các yếu tố phục vụ cho các ngành đó phát triển. * Về thời gian Tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình về phát triển KTNN từ năm 2001 đến năm 2010. Tuy nhiên, để bảo đảm tính hệ thống và đạt được mục đích nghiên cứu, luận án có đề cập đến một số vấn đề liên quan trong thời gian trước năm 2001 và sau năm 2010. * Về không gian Trên địa bàn tỉnh Thái Bình. 5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu * Cơ sở lý luận Luận án dựa trên cơ sở lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế, trong đó có KTNN. * Cơ sở thực tiễn Luận án được thực hiện trên cơ sở thực tiễn hoạt động lãnh đạo phát triển KTNN của Đảng bộ tỉnh Thái Bình từ năm 2001 đến năm 2010. Đồng thời dựa trên kết quả nghiên cứu, khảo sát thực tế của nghiên cứu sinh và kế thừa một số kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đã được công bố. 4 * Phương pháp nghiên cứu Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic và kết hợp hai phương pháp đó; đồng thời còn sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp khảo sát thực tế và phương pháp chuyên gia. 6. Những đóng góp mới của luận án Hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng, Đảng bộ tỉnh Thái Bình về phát triển KTNN. Tạo dựng bức tranh sinh động, khách quan, trung thực về KTNN tỉnh Thái Bình trong những năm 2001 - 2010, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh. Qua đó, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình trong phát triển kinh tế nói chung, KTNN nói riêng và vai trò KTNN trong chiến lược phát triển KT - XH của Tỉnh; nêu lên những đánh giá, nhận xét và đúc kết kinh nghiệm để vận dụng vào phát triển KTNN trong thời gian tới ở tỉnh Thái Bình. 7. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án Góp phần tổng kết sự lãnh đạo của Đảng và Đảng bộ tỉnh Thái Bình về phát triển kinh tế, trong đó có KTNN, một lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế Việt Nam, của Tỉnh trong những năm đổi mới. Cung cấp một số dữ liệu quan trọng để Đảng bộ tỉnh Thái Bình tiếp tục hoạch định chủ trương và chỉ đạo phát triển KTNN trong thời kỳ mới đạt hiệu quả cao hơn. Luận án là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu Lịch sử Đảng ở địa phương và ở các học viện, nhà trường, trong và ngoài quân đội. 8. Kết cấu của luận án Gồm phần mở đầu, tổng quan về vấn đề nghiên cứu, 3 chương, 8 tiết, kết luận, danh mục các công trình khoa học của tác giả đã công bố có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. 21 trực tiếp đến lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn còn bất cập như Luật Đất đai, chính sách thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, hệ thống chính sách tài chính, tín dụng chưa được quán triệt, vận dụng đúng. 3.2. Kinh nghiệm chủ yếu 3.2.1. Thường xuyên nắm vững, vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp vào thực tiễn địa phương, đề ra chủ trương sát, đúng Quán triệt chủ trương của Đảng về phát triển KTNN (2001 - 2010), Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnhThái Bình lần thứ XVI (2001), lần thứ XVII (2006) và các nghị quyết Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, của Ban Thường vụ Tỉnh ủy từ năm 2001 đến năm 2010 đã đề ra chủ trương phát triển KTNN bao gồm: hệ thống quan điểm, phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp để phát triển toàn diện kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa và phục vụ xuất khẩu. Quá trình hoạch định chủ trương và sự chỉ đạo phát triển KTNN ở tỉnh Thái Bình (2001 - 2010) Đảng bộ các cấp là hạt nhân lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, đề ra chủ trương, chính sách phát triển KTNN của Tỉnh trên cơ sở quán triệt, vận dụng các nghị quyết của Đảng vào thực tiễn địa phương một cách sáng tạo, linh hoạt. Các cấp ủy Đảng là cơ quan lãnh đạo trực tiếp, toàn diện mọi hoạt động của Tỉnh về phát triển KTNN. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, tổ chức xã hội, nhân dân tạo sự đồng thuận trong xã hội, là nhân tố quan trọng có ý nghĩa quyết định thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng, của Đảng bộ tỉnh về phát triển kinh tế KTNN trong những năm 2001 - 2010. 3.2.2. Dựa vào dân, phát huy sức mạnh của nhân dân trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp Trong các văn kiện của các kỳ đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình (2001-2010) đã khẳng định: phát huy dân chủ ở cơ sở, dựa vào dân, nâng cao năng lực sáng tạo và sức mạnh của quần chúng nhân dân trong quá trình đổi mới tổ chức sản xuất có vị trí quan trọng hàng đầu. Chủ trương đó phản ánh nhu cầu thực tiễn ở tỉnh Thái Bình và thấu suốt quan điểm “lấy dân làm gốc” của Đảng, của tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong phát triển KTNN, người nông dân tỉnh Thái Bình không những được hưởng những lợi ích từ sự đầu tư của Nhà nước, của địa phương, của tập thể, mà còn được tham gia ý kiến trong quá trình hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, được kiểm tra các hoạt động lãnh đạo, điều hành, tổ chức sản xuất của các cấp ủy, chính quyền địa phương. Đảng bộ tỉnh đã tổ chức thực hiện có hiệu quả chủ trương liên kết giữa 4 nhà: Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và nhà nông trong phát triển nông nghiệp. 20 Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 3.1. Một số nhận xét 3.1.1. Ưu điểm Một là, Đảng bộ tỉnh Thái Bình quán triệt, vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển KTNN vào thực tiễn địa phương, đề ra chủ trương phát triển KTNN phù hợp Hai là, sự lãnh đạo phát triển nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Thái Bình từ năm 2001 đến năm 2010 đã thúc đẩy KTNN phát triển theo hướng CNH, HĐH Ba là, trong quá trình lãnh đạo phát triển KTNN, Đảng bộ tỉnh đã đề ra chủ trương và chỉ đạo hình thành những vùng sản xuất chuyên canh, tập trung, nâng cao năng xuất, chất lượng sản phẩm Bốn là, đã có chủ trương và chỉ đạo xây dựng kết cấu hạ tầng cho phát triển KTNN làm thay đổi kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, góp phần xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân. Những ưu điểm đó là do Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã biết vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng, phát huy những kinh nghiệm và những thành tựu đã đạt được trong quá trình phát triển KTNN của tỉnh, đã huy động được mọi nguồn lực của địa phương, sức mạnh của nhân dân để phát triển KTNN, xây dựng kinh tế nông thôn, cải thiện đời sống nhân dân. 3.1.2. Hạn chế và nguyên nhân * Hạn chế: Thứ nhất, một số chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Bình về phát triển KTNN, việc quán triệt, tổ chức thực hiện chưa đạt hiệu quả cao và bền vững; kết quả phát triển KTNN còn một số hạn chế Thứ hai, hệ thống cơ chế, chính sách về nông nghiệp, nông dân và nông thôn còn chưa đồng bộ và còn nhiều vướng mắc. Thứ ba, quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực của ngành nông nghiệp còn nhiều bất cập. * Nguyên nhân: Nguyên nhân khách quan: Điểm xuất phát của nền kinh tế thấp, nguồn ngân sách hạn hẹp, thiếu vốn đầu tư để phát triển KT - XH; một số chính sách của Nhà nước chưa đồng bộ; hậu quả của những năm mất ổn định trước đây ở Thái Bình để lại nặng nề; thiên tai, dịch bệnh vẫn thường xuyên đe dọa sản xuất; tác động của mặt trái cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, khu vực. Nguyên nhân chủ quan: Một số cấp ủy, chính quyền các cấp, nhất là cấp cơ sở chưa thật sự năng động, sáng tạo và quyết tâm trong tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của Đảng bộ tỉnh về phát triển KTNN. Nhiều cơ chế, chính sách liên quan 5 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010 1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong cả nước Tập thể tác giả các nhà khoa học thuộc Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong cuốn sách Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam, đã đề cập đến vai trò của ngành KTNN và những vấn đề đặt ra trong quá trình CNH, HĐH; tập trung nêu rõ hệ thống quan điểm cơ bản trong phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng từ Đại hội III đến Đại hội IX. Các tác giả đưa ra một số mô hình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của các nước như Đài Loan, Hàn Quốccó giá trị tham khảo đối với Việt Nam. Nghiên cứu về những vấn đề mang tính chiến lược đối với nông nghiệp, nông thôn, tác giả Nguyễn Xuân Thảo trong cuốn sách Góp phần phát triển bền vững nông thôn Việt Nam, đã đề cập đến những vấn đề như: vấn đề sử dụng đất đai, an ninh lương thực, quy hoạch các vùng kinh tế, vấn đề việc làm ở nông thôn, lợi ích người lao động. Tác giả Đặng Kim Sơn với cuốn sách Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển, đã tái hiện lại bức tranh nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới. Tác giả dành phần quan trọng nêu bật sự chuyển dịch cơ cấu và phát triển nông nghiệp, nông thôn, khẳng định trong suốt quá trình 20 năm đổi mới, cơ cấu công - nông nghiệp và dịch vụ cả nước chuyển đổi theo đúng quy luật, nông nghiệp luôn giữ vai trò làm cơ sở cho công nghiệp và dịch vụ phát triển. Trong cuốn sách Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới - Quá khứ và hiện tại của Nguyễn Văn Bích, tác giả đã tổng kết toàn diện sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam trong thế kỷ XX, nhất là trong 20 năm đổi mới. Đồng thời, làm sáng tỏ nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn; về quan hệ sản xuất, cơ chế quản lý trong quá trình chuyển dịch cơ cấu KTNN hướng tới sản xuất hàng hóa, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường định hướng XHCN. Bàn về phát triển KTNN trong những năm 1986 - 2011, tác giả Nguyễn Ngọc Hà có cuốn sách Đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2011). Tác giả làm rõ quá trình hình thành những quan điểm, chủ 6 trương phát triển KTNN của Đảng trong thời kỳ đổi mới; nghiên cứu một cách toàn diện về KTNN; quá trình triển khai thực hiện đường lối, chính sách phát triển KTNN và những thành tựu đạt được. Trong đó, đã tập trung vào nội dung trung tâm là vấn đề Đảng lãnh đạo thực hiện đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp, giải phóng sức lao động, phát huy sự năng động, sáng tạo của người nông dân. 1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các vùng, các tỉnh Nghiên cứu giới thiệu những thành tựu về các mặt: sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, quan hệ sản xuất mới, nông thôn mới ở Nam Bộ, tác giả Lâm Quang Huyên có cuốn sách Nông nghiệp, nông thôn Nam Bộ hướng tới thế kỷ XXI. Tác giả còn phân tích những thuận lợi và khó khăn những xu hướng chung và riêng trong nông nghiệp khi bước vào thế kỷ XXI, làm rõ vai trò và nhiệm vụ của nông nghiệp, nông thôn Nam Bộ trong quá trình CNH, HĐH đất nước. Tác giả Phạm Hùng với cuốn sách Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở miền Đông Nam Bộ hiện nay, đã làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nông thôn theo hướng CNH, HĐH; khái quát thực trạng phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam, nông thôn miền Đông Nam Bộ. Đồng thời, đã trình bày những đặc điểm tự nhiên, KT - XH có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông thôn miền Đông Nam Bộ từ sau đổi mới; những khó khăn trở ngại có ảnh hưởng đến kinh tế nông thôn miền Đông Nam Bộ cần nghiên cứu, giải quyết như thị trường, giá cả vật tư, nông sản thường xuyên không ổn định, thiếu vốn để sản xuất kinh doanh. Từ thực trạng trên, tác giả đưa ra phương hướng và những giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế nông thôn miền Đông Nam Bộ theo hướng CNH, HĐH. Trong cuốn sách Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng - thực trạng và triển vọng của Đặng Văn Thắng và Phạm Ngọc Dũng, các tác giả đã nghiên cứu những mặt cụ thể trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở vùng đồng bằng sông Hồng và phân tích, đánh giá những thuận lợi, khó khăn cũng như những thành tựu, hạn chế trong chuyển dịch cơ cấu KTNN, cơ cấu lao động, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng. Tác giả Mai Thị Thanh Xuân với cuốn sách Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Bắc Trung Bộ (qua khảo sát các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh). Trong đó, đã nêu lên những thuận lợi và khó khăn, những thành tựu và hạn chế trong quá trình tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; đồng thời đúc rút kinh nghiệm và đưa ra những 19 đạo mở rộng ngành nghề, tạo thêm việc làm cho người lao động theo hướng chuyển dịch lao động nông nghiệp sang ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Thực hiện chương trình đào tạo cán bộ khoa học, chuyên môn, nghiệp vụ nhằm có đủ trình độ, năng lực tiếp thu làm chủ công nghệ mới. Hoạt động đào tạo, dạy nghề cho người lao động được mở rộng với sự tham gia của nhiều tổ chức; đa dạng loại hình, ngành nghề và trình độ đào tạo, đã huy động được nhiều nguồn lực, nhất là cơ sở vật chất, mở rộng liên doanh, liên kết, liên thông đem lại hiệu quả xã hội cao. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực ở nông thôn, tiếp thu nhanh và ứng dụng rộng rãi khoa học, công nghệ, tạo ra những bước đột phá để hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực: Đến năm 2010, tỷ trọng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp giảm từ 66% năm 2005 xuống còn 62,3%; lao động trong lĩnh vực phi nông nghiệp (công nghiệp - xây dựng, dịch vụ) tăng từ 34% lên 37,7%. Kết luận chương 2 Từ năm 2006 đến năm 2010, Đảng bộ Thái Bình đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế nói chung, KTNN nói riêng, theo hướng đẩy mạnh CNH, HĐH. Những chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế, trong đó có KTNN được Đảng bộ tỉnh Thái Bình vận dụng sáng tạo vào thực tiễn địa phương, đề ra chủ trương và chỉ đạo chính quyền, cơ quan chức năng, đoàn thể và nhân dân triển khai thực hiện. Những chủ trương, sự chỉ đạo đẩy mạnh phát triển KTNN của Đảng bộ tỉnh Thái Bình phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương đã mang lại kết quả trong thực tiễn, góp phần đưa KTNN Thái Bình phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, hiện đại và bền vững. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo chiều hướng tích cực; đã đạt và vượt nhiều chỉ tiêu chủ yếu về cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ; về năng xuất, chất lượng hàng hóa, khả năng cạnh tranh sản phẩm nông nghiệp của kế hoạch 5 năm 2006 - 2010. Những kết quả trên góp phần nâng cao đời sống nhân dân ở nông thôn, xây dựng nông thôn mới, gắn với quá trình đô thị hóa, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh của Tỉnh. 18 đồng thời, triển khai thực hiện một số cơ chế, chính sách nhằm huy động nguồn lực của nhân dân ở các địa phương. Chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham mưu, xây dựng quy hoạch vùng lúa chất lượng, vùng cây màu, cây vụ đông, các dự án phát triển cây đậu tương, cây ngô, cây khoai tây và rau quả xuất khẩu; chỉ đạo quy hoạch, quy vùng sản xuất nông nghiệp hàng hoá, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; tăng cường áp dụng khoa học công nghệ và cơ giới hoá sản xuất. Tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản năm 2010 đạt 6.189 tỷ đồng, tăng 6,27% so với năm 2009. Cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành nông nghiệp có chuyển biến tích cực: Trồng trọt chiếm 61,87%, giảm 0,71%; chăn nuôi chiếm 35,08%, tăng 0,67%; thủy sản chiếm 12,55%, tăng 0,46% so với năm 2009. Các cơ chế chính sách hỗ trợ của tỉnh, huyện và các địa phương đã phát huy vai trò là đòn bẩy kinh tế, góp phần, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của nông dân. Bình quân GDP đầu người (tính theo giá hiện hành) tăng khá nhanh, từ 6,09 triệu đồng/người (386 USD) năm 2005 lên 16,2 triệu đồng (850 USD) năm 2010, gấp 2,66 lần so với năm 2005 (Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII đề ra tăng 12,5% ). 2.3.4. Chỉ đạo đẩy mạnh cải tạo, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Từ năm 2006 đến năm 2010, Đảng bộ tỉnh Thái Bình tiếp tục chỉ đạo xây dựng và thực hiện tốt cơ chế, chính sách, kích cầu của Chính phủ, đã huy động mọi nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KT - XH nông thôn, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn, phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Chỉ đạo nâng cấp, xây dựng hoàn chỉnh các hệ thống thuỷ nông để đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh.Tập trung huy động mọi nguồn lực đầu tư tu bổ, nâng cấp và xây dựng hoàn chỉnh hệ thống giao thông nông thôn Chỉ đạo quy hoạch xây dựng nông thôn mới tuân thủ quy trình, quy chuẩn; bảo đảm dân chủ, công khai, thống nhất trong Đảng và nhân dân. Đến năm 2010, 100% số xã đã xây dựng đề án xây dựng nông thôn mới được phê duyệt; 96% số xã hoàn thành dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp. 2.3.5. Chỉ đạo đẩy mạnh xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đây là vấn có tính chiến lược trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH của tỉnh Thái Bình trong những năm 2006 - 2010. Đảng bộ Tỉnh đã chỉ 7 gợi mở về các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển KTNN ở vùng đất có tầm quan trọng chiến lược này trong thời kỳ CNH, HĐH. Thông qua nguồn tài liệu, số liệu thực tế rất phong phú và tin cậy của Thanh Hoá, Nghệ An và Hà Tĩnh trong cuốn sách, giúp nghiên cứu sinh có thêm tư liệu của các tỉnh để so sánh với kết quả phát triển KTNN ở tỉnh Thái Bình trong thời kỳ đổi mới. Những công trình khoa học nói trên đóng góp vào làm thành bức tranh khá toàn diện về phát triển KTNN, nông thôn của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; thể hiện rõ quá trình sáng tạo của Đảng bộ các địa phương trong lãnh đạo phát triển KTNN, nông thôn. Trong đó, có nhiều công trình đã đề cập đến vai trò lãnh đạo của Đảng về phát triển KTNN, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khai thác tiềm năng, nguồn lực từng địa phương thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn Việt Nam phát triển 1.2.3. Nhóm các công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông dân và nông thôn tỉnh Thái Bình Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Thái Bình với cuốn Người nông dân Thái Bình trong lịch sử. Đây là công trình gồm nhiều bài viết của các tác giả đề cập đến người nông dân tỉnh Thái Bình. Họ không những có truyền thống cách mạng kiên cường mà còn có truyền thống thâm canh lúa nước từ lâu đời. Tác giả Nguyễn Dương An trong cuốn sách Từ quê lúa Thái Bình, đề cập đến điều kiện tự nhiên, văn hóa xã hội, con người Thái Bình có nhiều nét đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộrất thuận lợi cho việc phát triển nền KTNN toàn diện, đặc biệt là đẩy mạnh thâm canh cây lúa nước. Quá trình hình thành, khai phá vùng đất Thái Bình gắn liền với xu hướng hội tụ của các luồng dân cư về khai phá, chinh phục và cải tạo vùng đất Thái Bình, biến nơi đây thành vùng đất nông nghiệp điển hình. Trong cuốn sách Đổi mới và phát triển vùng kinh tế ven biển Thái Bình của Lê Cao Đoàn, với những tài liệu phong phú về địa lý, lịch sử, KT - XH, tác giả đã làm nổi bật những nét cơ bản về kinh tế vùng ven biển tỉnh Thái Bình. Tuy nhiên, cuốn sách mới chỉ cung cấp cho người đọc về đặc điểm tự nhiên, cũng như trình bày những kinh nghiệm thành công của các cuộc khai hoang trong lịch sử của Thái Bình. Còn quá trình phát triển kinh tế biển ở tỉnh Thái Bình trong thời kỳ đổi mới chưa được tác giả đề cập đến. Hai cuốn sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Bình (1954 - 1975) [10] và Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Bình (1975 - 2000), trình bày khá công phu những chặng đường lịch sử của Đảng bộ tỉnh. Trong đó, đã làm rõ thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, 8 quốc phòng... của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thái Bình (1954 - 2000). Đặc biệt cuốn sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Bình (1975 - 2000), đã đề cập tới sự lãnh đạo phát triển kinh tế của Đảng bộ tỉnh Thái Bình trong thời kỳ đổi mới, nhất là sự lãnh đạo phát triển KTNN của Đảng bộ tỉnh, tạo tiền đề vững chắc để Thái Bình cùng cả nước bước vào đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Trong cuốn sách Nông nghiệp, nông thôn Thái Bình - thực trạng và giải pháp của Bùi Sĩ Trùy, thể hiện cái nhìn tương đối toàn diện bức tranh toàn cảnh thiên nhiên, con người Thái Bình, cơ sở hạ tầng và điều kiện phát triển KT - XH. Để từ đó các tác giả đi sâu nghiên cứu về tiềm năng và thực trạng phát triển KT - XH tỉnh Thái Bình, đồng thời nêu bật những vấn đề đặt ra đối với sự phát triển và tăng trưởng kinh tế tỉnh Thái Bình trong những năm đổi mới. Nghiên cứu một số nét về thành tựu KT - XH của tỉnh Thái Bình, tác giả Nguyễn Dương An có cuốn sách Thái Bình thời đổi mới. Trong đó, không chỉ giới thiệu thành tựu của KT - XH tỉnh Thái Bình mà còn nêu bật thành tựu trên lĩnh vực phát triển KTNN. Đặc biệt, sự phát triển của nông nghiệp tỉnh Thái Bình trong thời kỳ đổi mới đã mở ra khả năng mới cho người nông dân và nông nghiệp tỉnh Thái Bình là có thể làm giàu trên chính mảnh đất của mình. 2. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết 1.1. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố Từ tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, có một số điểm nổi bật sau: Một là, các công trình khoa học nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến phát triển KTNN rất phong phú và đa dạng, với nhiều cách tiếp cận khác nhau từ góc độ lịch sử, kinh tế, chính trị... trên phạm vi cả nước, ở các vùng, miền khác nhau nhưng đều thống nhất khẳng định rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của KTNN đối với sự phát triển KT - XH của đất nước, của các vùng, miền và của từng tỉnh riêng biệt. Ở Việt Nam, phát triển KTNN luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp, góp phần đẩy mạnh phát triển KT - XH, ổn định đời sống nhân dân, nhờ đó cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi, vững bước đi lên trên con đường phát triển đất nước. Hai là, những công trình khoa học nói trên đã bước đầu hệ thống hóa đường lối, chủ trương của Đảng, của một số Đảng bộ về phát triển KTNN trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH. Các công trình đã 17 triển sản xuất nông nghiệp. Tăng cường ứng dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến trong quá trình sản xuất. Kết quả, diện tích cây màu, cây vụ đông đạt bình quân 56.571ha, tăng bình quân 10.182 ha/năm; cơ bản hoàn thành mục tiêu đề ra, góp phần nâng giá trị sản xuất/ha đất canh tác bình quân trong 5 năm (2006 - 2009 ) lên 4,5% . Ngành chăn nuôi: Chỉ đạo thực hiện xây dựng các khu chăn nuôi gia súc, gia cầm, vùng nuôi thuỷ sản tập trung. Chỉ đạo xây dựng và triển khai đề án phát triển chăn nuôi trang trại quy mô lớn, chăn nuôi gia công. Kết quả, sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp phát triển tương đối toàn diện cả trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản theo hướng nâng cao giá trị, hiệu quả, từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa. Năm 2010, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản đạt 6.189 tỷ đồng (giá so sánh 1994), tăng 6,27%; trong đó, nông nghiệp tăng 5,73%, thuỷ sản tăng 10,28% so với năm 2009. Khai thác thủy sản, Đảng bộ tỉnh Thái Bình chỉ đạo thực hiện quy hoạch phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản theo hướng đa dạng, phát huy lợi thế từng vùng gắn với thị trường; coi trọng hình thức nuôi công nghiệp, thâm canh là chủ yếu đối với thuỷ sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn; gắn nuôi trồng với chế biến, bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm. Từ năm 2001 đến năm 2010, sản lượng khai thác thuỷ sản tăng nhanh. Giá trị sản xuất thuỷ sản tăng bình quân 11,3%/năm; năm 2010, chiếm 12,5% tổng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. 2.3.2. Chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Quán triệt và vận dụng chủ trương, đường lối Đại hội X của Đảng, Đảng bộ tỉnh đã chủ động xây dựng kế hoạch phát triển ngành nông nghiệp Thái Bình nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu KTNN theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn: “Thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo quy hoạch để hình thành vùng sản xuất tập trung... tạo ra vùng chuyên canh, khối lượng hàng hóa lớn”. Đảng bộ Tỉnh chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành KTNN, chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, dần hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn được ứng dụng khoa học, công nghệ mới tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp chế biến và tiêu thụ. Kết quả, trong lĩnh vực trồng trọt có sự chuyển dịch đáng kể. Ngành chăn nuôi, phát triển với tốc độ cao. Tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu nông nghiệp tăng, từng bước làm thay đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng tích cực. Năm 2004, tỷ trọng ngành chăn nuôi đạt 24,25%; năm 2009 đạt 34,41% tăng 10,07% so với năm 2004. 2.3.3. Chỉ đạo tăng cường công tác quản lý nhà nước và đổi mới cơ chế, chính sách trong phát triển nông nghiệp Từ năm 2006 đến năm 2010,Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, địa phương triển khai lồng ghép và thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, các nguồn vốn chương trình, dự án của Trung ương; 16 còn hạn chế. So với các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng, Thái Bình vẫn là tỉnh nghèo, đang chịu nhiều sức ép về dân số, lao động và việc làm. 2.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Bình đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XVII (12/2005), đánh giá những ưu điểm, khuyết điểm về lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kế hoạch 5 năm (2001-2005); quán triệt và vận dụng những quan điểm, đường lối của Đảng vào thực tiễn địa phương, đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu 5 năm (2006-2010): Quan điểm: Phát triển toàn diện nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chuyển mạnh nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa. Mục tiêu: Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,8%/năm. Nhiệm vụ và giải pháp: Thứ nhất, phát triển nông nghiệp toàn diện cả trồng trọt, chăn nuôi với tốc độ nhanh, chất lượng, hiệu quả, bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Thứ hai, thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo quy hoạch để hình thành vùng sản xuất tập trung, khắc phục tình trạng chuyển đổi manh mún, phân tán, tự phát. Thứ ba, phát triển chăn nuôi với tốc độ cao, đưa chăn nuôi thực sự trở thành ngành sản xuất chính. Quy hoạch, xây dựng các khu chăn nuôi tập trung; đẩy mạnh chăn nuôi trang trại, gia trại theo phương thức công nghiệp, bán công nghiệp. Thứ tư, đẩy mạnh đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy sản; trong đó, nuôi trồng thủy sản tập trung theo phương thức thâm canh, bán thâm canh là mũi đột phá tăng trưởng kinh tế thủy sản. Thứ năm, phát triển rừng phòng bộ; tiếp tục trồng mới và trồng xen 8.500 ha rừng ngập mặn và 3.000ha (quy đổi) cây lâm nghiệp nội đồng. Thứ sáu, tăng cường quản lý nhà nước về chất lượng giống cây trồng, vật nuôi, thức ăn công nghiệp, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y 2.3. Quá trình chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Thái Bình 2.3.1. Chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Quán triệt chủ trương, đường lối và chính sách phát triển nông nghiệp của Đảng, Nhà nước, xuất phát từ tình hình thực tế địa phương, từ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, UBND tỉnh đã kịp thời triển khai xây dựng các Chương trình, đề án và ban hành kịp thời, đồng bộ cơ chế, chính sách mới nhằm đẩy mạnh phát triển nông nghiệp một cách toàn diện theo hướng CNH, HĐH. Trong trồng trọt, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tập trung chỉ đạo phát triển mạnh cây rau màu và cây vụ đông; ban hành nhiều quyết định cụ thể, phù hợp với tình hình sản xuất hàng năm; chỉ đạo đẩy mạnh phát 9 dựng lại bức tranh khá toàn diện về tình hình phát triển KTNN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ đổi mới. Ba là, một số công trình đã nghiên cứu tổng kết, đánh giá kết quả, đúc rút kinh nghiệm, đề xuất được các chủ trương, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển KTNN trên phạm vi cả nước, ở một số vùng và một số địa phương trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Bốn là, các công trình nghiên cứu về KTNN ở tỉnh Thái Bình đã đề cập đến một số vấn đề liên quan đến luận án, làm rõ những lợi thế của Tỉnh về phát triển KTNN; quá trình phát triển KTNN của tỉnh Thái Bình qua các giai đoạn lịch sử; làm rõ vai trò KTNN trong tiến trình phát triển KT - XH của Tỉnh, nâng cao đời sống nhân dân trong Tỉnh Tuy nhiên, qua nghiên cứu, tìm hiểu các công trình khoa học trình bày trong tổng quan thì chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo phát triển KTNN từ năm 2001 đến năm 2010. Do đó, đây vẫn là một trong những “khoảng trống” chưa được nghiên cứu đầy đủ, đặt ra cho tác giả luận án cần đi sâu nghiên cứu và làm sáng rõ. Việc hệ thống, tập hợp các công trình trên là những tài liệu tham khảo quan trọng, cung cấp những luận cứ khoa học để tác giả tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện luận án. 1.2. Những vấn đề luận án tập trung giải quyết Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010, luận án tập trung nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau: Một là, luận án làm rõ những nhân tố tác động đến quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo phát triển KTNN (2001 - 2010). Hai là, hệ thống, phân tích, luận giải làm rõ sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình vận dụng chủ trương của Đảng về phát triển KTNN vào thực tiễn địa phương từ năm 2001 đến năm 2010, đề ra chủ trương, sự chỉ đạo phát triển KTNN phù hợp. Ba là, luận án đưa ra nhận xét về quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo phát triển KTNN (2001 - 2010); đúc rút một số kinh nghiệm để vận dụng vào thực tiễn, góp phần thúc đẩy KTNN tỉnh Thái Bình phát triển mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn trong thời gian tới. 10 Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 1.1. Yêu cầu khách quan Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp 1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Thái Bình tác động đến phát triển kinh tế nông nghiệp Điều kiện tự nhiên Thái Bình là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Thái Bình có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên khá điển hình với nhiều nét đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ, rất thuận lợi cho việc phát triển các ngành kinh tế, nhất là KTNN. Đặc điểm kinh tế - xã hội Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, tỉnh Thái Bình đã chọn nông nghiệp làm nền tảng, là khâu trung tâm đột phá. Trong những năm 1996 - 2000, tỉnh Thái Bình có mức tăng trưởng kinh tế khá và dần đi vào ổn định. Giá trị GDP của ngành nông nghiệp liên tục tăng bình quân 2,7%/năm. Trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, giá trị nông nghiệp đã giảm dần từ 61,7% (1995) xuống 56% (2000). Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tiếp tục phát triển; giao thông vận tải đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển KT - XH. Hệ thống cơ sở hạ tầng được tập trung cải tạo, nâng cấp tạo tiền đề quan trọng để phát triển KTNN. Tỉnh Thái Bình có lực lượng lao động dồi dào, trình độ từng bước được nâng lên là lợi thế quan trọng để phát triển KTNN. 1.1.2. Thực trạng kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Thái Bình trước năm 2001 Thái Bình là một tỉnh có nền kinh tế “thuần nông”. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn dịch chuyển chậm và có xu hướng đi vào độc canh cây lúa. Năm 1991, sản lượng lúa toàn tỉnh đạt 622,9 nghìn tấn, vượt trội so với các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng. Năm 1995, bình quân lương thực đầu người đạt 536,2 kg/người/ năm; năm 2000 bình quân lương thực đầu người đạt cao nhất so với trước đó (544,5 kg/ người/ năm). Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu của tỉnh Thái Bình, nhưng nhỏ bé, manh mún, phân tán, tỷ suất hàng hoá thấp. Nông thôn còn nghèo, nhiều mặt còn thấp kém, lạc hậu, đời sống nông dân còn nhiều khó khăn. Trong những năm 1996 - 2000, do sai lầm khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng kết cấu hạ tầng, buông lỏng quản lý tài chính, ngân sách xã hội, hợp tác xã, đất đai, xây dựng cơ bản và quản lý rèn luyện đảng viên. Một số cơ sở có những hành động cực đoan, lợi dụng dân chủ coi thường kỷ cương, pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng. Nhưng được sự giúp đỡ của Trung ương, các cơ quan chức năng, Đảng bộ và nhân dân trong Tỉnh đã kịp thời khắc phục khuyết điểm, sai lầm đó, dần dần ổn định tình hình, 15 Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 2.1. Những nhân tố mới tác động đến đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Thái Bình 2.1.1. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế nông nghiệp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4 - 2006), chủ trương tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Quan điểm: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Mục tiêu: Phấn đấu giá trị tăng thêm trong nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3 - 3,2%/năm. Gắn phát triển kinh tế với xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng miền, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Phương hướng: Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; Tiếp tục thực hiện chương trình bảo vệ và phát triển rừng theo hướng đổi mới chính sách giao đất, giao rừng; Phát triển đồng bộ và có hiệu quả nuôi trồng, đánh bắt, chế biến và bảo vệ nguồn lợi thủy sản; Tăng cường hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; Khẩn trương xây dựng các quy hoạch phát triển nông thôn Nhiệm vụ, giải pháp: Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân; Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn; Phát triển nuôi trồng thuỷ sản theo hướng sản xuất hàng hoá lớn đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái; Xây dựng hoàn chỉnh các quy hoạch phát triển nông nghiệp và nông thôn... 2.1.2. Những thách thức mới đặt ra đối với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh Thái Bình Kinh tế tỉnh Thái Bình phát triển chưa vững chắc, tốc độ tăng trưởng và GDP bình quân đầu người còn thấp so với bình quân chung của cả nước và trong vùng. Năm 2000, nhịp độ tăng GDP đầu người đạt 4,5%, thấp hơn so với mức bình quân chung của cả nước (6,7%) và chưa đạt mục tiêu đề ra (12% trở lên). Năm 2005, mức tăng trưởng GDP của Tỉnh đạt 7,8%, thấp hơn mức bình quân chung cả nước (8,4%). Quá trình chuyển dịch cơ cấu KTNN ở tỉnh Thái Bình diễn ra chậm, nhất là chậm chuyển sang sản xuất hàng hóa; quy mô sản xuất nhỏ lẻ, phân tán. Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp, nhưng đầu tư vốn cho xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở nông nghiệp, nông thôn, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi 14 trình, đề án thực hiện mục tiêu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, tiếp tục chuyển đổi cơ cấu KTNN; các chính sách hỗ trợ khuyến khích chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; chính sách về phát triển chăn nuôi; dồn điền, đổi thửa,góp phần quan trọng đưa KTNN của Tỉnh phát triển . 1.3.5. Chỉ đạo xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đảng bộ tỉnh Thái Bình chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực lao động nông nghiệp nhất là đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao, đội ngũ cán bộ quản lý và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, lực lượng lao động nông thôn có trình độ chuyên môn kỹ thuật để tiếp thu, triển khai thực hiện khoa học, công nghệ tiên tiến, đảm bảo là lực lượng nòng cốt trong phát triển nông nghiệp. Xây dựng chính sách thu hút, tăng cường cán bộ quản lý và khoa học kỹ thuật giỏi về công tác tại các hợp tác xã và các xã. Số cán bộ này ngoài hưởng lương và phụ cấp theo qui định còn được hưởng phần trợ cấp của hợp tác xã theo kết quả đóng góp cho hợp tác xã. Từ năm 2001 đến năm 2005, công tác đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp có nhiều khởi sắc. Trong năm 2005, tỉnh đã tạo việc làm cho 25.000 lao động. Các trường, cơ sở dạy nghề trong tỉnh đã đào tạo 17.300 người; thành lập mới 2 trung tâm dạy nghề ở Tiền Hải và Trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình. Kết luận chương 1 Trong những năm đầu của thế kỷ XXI (2001 - 2005), xuất phát từ thực tiễn địa phương; vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế nói chung, KTNN nói riêng, Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã đề ra chủ trương phát triển KTNN của Tỉnh, nhằm phát triển KTNN toàn diện, vững chắc. Đồng thời, Đảng bộ tỉnh Thái Bình luôn bám sát thực tiễn địa phương, chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền, cơ quan chức năng tập trung sức thực hiện phát triển KTNN của tỉnh. Nhờ đó, KTNN tỉnh Thái Bình không ngừng đổi mới phát triển toàn diện, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, góp phần nâng cao đời sống nông dân, làm thay đổi bộ mặt nông thôn Thái Bình. Bên cạnh đó, KTNN tỉnh Thái Bình vẫn còn có một số hạn chế, khuyết điểm, nhất là trong khâu tổ chức thực hiện; chưa tận dụng, khai thác triệt để hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, mặt nước; chất lượng và khả năng cạnh tranh sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Thái Bình. Đòi hỏi Đảng bộ tỉnh, chính quyền, cơ quan chuyên môn các cấp và người nông dân tỉnh Thái Bình phải nhận thức đầy đủ về những hạn chế, khuyết điểm đó, kịp thời điều chỉnh, bổ sung chủ trương, chỉ đạo đẩy mạnh phát triển nông nghiệp của Tỉnh trong những năm tiếp theo, nhằm xây dựng Thái Bình thành Tỉnh có nền nông nghiệp phát triển, xây dựng nông thôn mới, có cơ cấu kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ phù hợp với thực tiễn địa phương. 11 từng bước đưa tỉnh Thái bình phát triển trong những năm tiếp theo, đặc biệt là phát triển KTNN, nông thôn. 1.1.3. Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng (2001 - 2005) Mục tiêu, phương hướng: Đại hội IX của Đảng (4/2001), xác định: Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng, chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu lao động, tạo việc làm thu hút lao động ở nông thôn. Đưa nông nghiệp lên một trình độ mới bằng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học; đẩy mạnh thủy lợi hóa, cơ giới hóa; quy hoạch sử dụng đất hợp lý; đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị thu được trên đơn vị diện tích; giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ nông sản hàng hóa. Đầu tư nhiều hơn cho phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn “Hình thành sự liên kết nông - công nghiệp - dịch vụ ngay trên địa bàn nông thôn” Nhiệm vụ, giải pháp: Chuyển đổi nhanh chóng cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn; Tích cực khai hoang mở rộng diện tích canh tác ở những nơi còn đất hoang hóa chưa sử dụng; Phát triển mạnh ngành, nghề và kết cấu hạ tầng ở nông thôn, nâng cao đời sống của cư dân nông thôn; Tiếp tục đẩy mạnh sản xuất lương thực theo hướng thâm canh, tăng năng suất; Tập trung phát triển các cây công nghiệp chủ lực như cao su, cà phê, chè 1.2. Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Thái Bình Quán triệt chủ trương của Đảng về phát triển KTNN, Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XVI (01/2001) chủ trương: Phát triển toàn diện kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá và phục vụ xuất khẩu. Đưa kinh tế biển nhanh chóng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Quan điểm: Tích cực chuyển dịch cơ cấu KTNN, nông thôn. Phát huy lợi thế của Tỉnh và truyền thống thâm canh, tiếp tục đầu tư chiều sâu để chuyển nhanh sản xuất nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá, ưu tiên phục vụ xuất khẩu. Chuyển đổi cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn. Xây dựng kết cấu hạ tầng, hình thành các cơ sở công nghiệp cơ khí, công nghiệp chế biến trong nông thôn; thương mại, dịch vụ ở các thị trấn, thị tứ. Gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, sản xuất với thị trường, hình thành sự liên kết chặt chẽ nông - công nghiệp - dịch vụ - thị trường Mục tiêu: Đảm bảo chiến lược an toàn lương thực quốc gia, giữ vững sản lượng lương thực 1 triệu tấn/năm. Có khoảng 30 vạn tấn lương thực hàng hóa xuất khẩu. Bình quân lương thực đầu người 600 kg/năm. Giá trị sản xuất nông nghiệp đến năm 2005 đạt 4.659 tỷ đồng (giá so sánh năm 1994), nhịp độ tăng bình quân 3,5%/năm trở lên. Nhiệm vụ và các giải pháp:Về trồng trọt, lấy hiệu quả kinh tế cao trên 1 đơn vị diện tích để bố trí cây trồng; chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu giống lúa, bảo đảm vừa đạt mục tiêu sản lượng, vừa có lúa chất lượng cao làm hàng 12 hoá. Chuyển 10% - 15% diện tích cấy lúa hiệu quả thấp sang nuôi trồng các cây, con khác có giá trị kinh tế cao hơn; phấn đấu đưa diện tích vụ đông lên 40% - 45% diện tích canh tác, chú trọng các loại cây có giá trị thương phẩm cao. Về chăn nuôi, đổi mới cơ cấu, cải tạo giống, chú trọng các con có thị trường tiêu thụ và giá trị kinh tế cao; tăng nhanh đàn lợn hướng nạc, đàn bò lai Sind, gà công nghiệp, ngan Pháp, vịt siêu trứng và các con đặc sản khác. Đưa tỷ trọng ngành chăn nuôi từ 21% (năm 2000) lên 30% (năm 2005) và 35% (năm 2010). Từng bước hình thành các vùng chăn nuôi tập trung để tạo nguyên liệu cho chế biến, trước mắt là các vùng chăn nuôi lợn hướng nạc theo quy mô gia trại và trang trại. Về thủy, hải sản, đẩy mạnh khai thác kinh tế biển, nhanh chóng phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn. 1.3. Đảng bộ tỉnh Thái Bình chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp 1.3.1. Chỉ đạo phát triển sản xuất nông nghiệp Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (2001 - 2005), Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu KTNN, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ, thông qua các Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Chỉ đạo trồng trọt: Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, bố trí công thức luân canh 3 - 4 vụ/năm. Trong đó mở rộng diện tích vụ đông lên 38 nghìn ha, 10 nghìn ha đất chuyển màu xây dựng thành vùng tập trung sản xuất rau quả xuất khẩu bao gồm khoai tây, dưa các loại, cà chua, ớt, hành, tỏi, diện tích trồng ngô,lạc, đậu tương tiếp tục phát triển nhanh với quy mô lớn... Chỉ đạo phát triển chăn nuôi: Chuyển mạnh phương thức chăn nuôi sang bán công nghiệp và công nghiệp, từng bước hình thành các vùng chăn nuôi tập trung để tạo nguyên liệu cho chế biến, trước mắt là chăn nuôi gia trại, trang trại. Thực hiện đồng bộ các biện pháp kỹ thuật: giống, thức ăn, chuồng trại, chăm sóc, thú y, chế biến Chỉ đạo phát triển kinh tế biển: Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu KTNN, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân. “Phấn đấu đến năm 2010, diện tích nuôi, trồng đạt 7 nghìn ha trở lên”. Năm 2005, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản đạt 4.821 tỷ đồng (giá cố định năm 1994), tăng 2,49%; trong đó, giá trị sản xuất chăn nuôi đạt 1.220 tỷ đồng, tăng 17,53%. 1.3.2. Chỉ đạo cải tạo, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH của Tỉnh, Đảng bộ tỉnh Thái Bình chỉ đạo các ngành, các huyện, thành phố rà soát, bổ sung, xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH của huyện, thành phố và xã, thị trấn; quy hoạch phát triển của từng ngành trong những năm 2001 - 2005 và đến năm 2010, bảo đảm yêu cầu phát triển KT - XH, xây dựng đô thị, nông thôn bền vững và bảo vệ môi trường. Tỉnh Thái Bình tập trung mọi nguồn lực, nguồn vốn đầu tư cho cho xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển KT - XH. 13 Về cải tạo, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển nông nghiệp, Đảng bộ tỉnh Thái Bình chỉ đạo tập trung đầu tư phát triển và hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi phục vụ thâm canh, tăng vụ, khai thác tiềm năng đất đai. Đẩy nhanh chương trình kiên cố hoá kênh mương. Trong trồng trọt: Đảng bộ tỉnh chỉ đạo tiến hành công tác quy hoạch, quy vùng chuyển đổi các loại cây trồng, bảo đảm tính đồng bộ giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ; tạo được vùng sản xuất hàng hoá tập trung bao gồm: vùng trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, vùng chuyên màu, vùng lúa giống, lúa chất lượng cao,... Trong chăn nuôi: Chỉ đạo xây dựng, thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển chăn nuôi trên phạm vi toàn tỉnh, từng địa phương; coi trọng quy hoạch khu chuyên chăn nuôi tập trung ở thôn, xã, thị trấn. Công tác quy hoạch, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh Thái Bình từ năm 2001 đến năm 2005 có chuyển biến. 1.3.3. Chỉ đạo hình thành các vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung Đảng bộ tỉnh Thái Bình chỉ đạo đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chuyển mạnh chăn nuôi sang sản xuất hàng hoá, đưa chăn nuôi lên thành ngành sản xuất chính, trở thành mũi đột phá phát triển nông nghiệp toàn diện. Tiến hành công tác quy hoạch, quy vùng chuyển đổi các loại cây trồng, vật nuôi, bảo đảm tính đồng bộ giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ; tạo vùng sản xuất hàng hoá tập trung. Nhờ đó, sản xuất nông nghiệp của Thái Bình (2001 - 2005), đã có bước phát triển quan trọng. Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp phát triển theo hướng nâng cao giá trị, hiệu quả, từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa. 1.3.4. Chỉ đạo công tác quản lý nhà nước và đổi mới cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp Trong quá trình triển khai thực hiện chủ trương của Đảng bộ tỉnh về phát triển KTNN (2001 - 2005), UBND tỉnh Thái Bình đã ban hành nhiều chính sách nhằm phát triển ngành nông, lâm, ngư nghiệp. Ngày 27/02/2002, UBND tỉnh ra Quyết định số 59/2001/QĐ-UB về một số chính sách khuyến khích chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp; ngày 06/05/2003, UBND tỉnh ra Quyết định số 1041/2004/QĐ-UB về một số chính sách hỗ trợ phát triển mô hình điểm cánh đồng đạt giá trị 50 triệu đồng trở lên/ha/năm; ngày 23/07/2004, UBND tỉnh ra Quyết định số 73/2004/QĐ-UB về một số chính sách hỗ trợ khuyến khích chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; ngày 24/12/2005, UBND tỉnh ra Quyết định số 117/2005/QĐ-UB về cơ chế, chính sách phát triển chăn nuôi... Ban Thường vụ Tỉnh ủy còn đưa ra các chương

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftom_tat_l_a_tieng_viet_5_271_0655.pdf