Tóm tắt luận án Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Một là,tập trung mọi nguồn lực vốn đầu tư để xây dựng đư ợc hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, có khả năng liên kết các địa phương trong vùng và vùng KTTĐ với các địa phương khác trong cả nước, đảm bảo việc lưu thông thuận tiện với thế giới và khu vực; Hai là,chú trọng gia tăng thêm các nguồn vốn đầu tư theo phương thức công tư kết hợp (PPP), sử dụng thêm các nguồn lực tại chỗ để đẩy nhanh mức độ đồng bộ hóa, hiện đạ i hóa hệ thống hạ tầng kỹ thuật; Ba là,phối hợp xây dựng và nâng cao chất lượng kết cấu giao thông đường bộ; Bốn là,quan tâm một cách toàn diện đến hệ thống trường học, bệnh viện, trạm y tế, các trung tâm văn hoá, khu vui chơi giải trí, các công trình văn hoá du lịch, các khu dân cư, khu đô thị. tạo điều kiện thu hút đối với các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là khi họ có ý định làm ăn lâu dài tại các địa phương trong vùng.

pdf27 trang | Chia sẻ: aquilety | Ngày: 30/03/2015 | Lượt xem: 1179 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tóm tắt luận án Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững và phát triển bền vững vùng KTTĐ Bắc Bộ - Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển bền vững vùng KTTĐ Bắc Bộ Hiện nay, ở Việt Nam, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến PTBV vùng KTTĐ nói chung và PTBV vùng KTTĐ Bắc Bộ nói riêng. Nội dung nghiên cứu về phát triển bền vững vùng KTTĐ cũng khá phong phú 5cả về lý luận và thực tiễn. Về mặt lý luận: một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến quan niệm về PTBV vùng KTTĐ, các tiêu chí đánh giá PTBV vùng KTTĐ, kinh nghiệm PTBV các vùng KTTĐ và bài học cho Việt Nam trong phát triển bền vững các vùng KTTĐ. Về mặt thực tiễn: cũng có những công trình phân tích và đánh giá chính sách PTBV các vùng KTTĐ; phát hiện và phân tích những mặt trái, những khía cạnh thiếu bền vững trong PTBV các vùng KTTĐ ở Việt Nam; chỉ ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp tương đối toàn diện đối với PTBV các vùng KTTĐ. - Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng PTBV Đây là nhóm công trình nghiên cứu có liên quan trực diện nhất và được nghiên cứu một cách toàn diện nhất đến vấn đề FDI theo hướng PTBV. Hầu hết các công trình đều đánh giá tác động tích cực và tiêu cực của FDI đến nền kinh tế; được phân tích trên cả ba khía cạnh, ba trụ cột của PTBV, đó là: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và BVMT. 1.2.3. Đánh giá chung các công trình đã công bố về FDI theo hướng PTBV và khoảng trống lý luận, thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án 1.2.3.1. Đánh giá chung các công trình đã công bố về FDI theo hướng PTBV Một là, các công trình nghiên cứu đều tập trung làm rõ và khẳng định FDI có tác động đến tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế - xã hội. Hai là, hầu hết các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá tác động của FDI đến từng khía cạnh đơn lẻ của phát triển bền vững. Đến nay, hiếm có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và bài bản về vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng PTBV t rên cả ba khía cạnh: kinh tế, xã hội và môi trường. 1.2.3.2. Khoảng trống về lý luận và thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án - Về mặt lý luận: Cho đến nay, hiếm có công trình nào đi sâu nghiên cứu, luận giải có tính hệ thống về cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững vùng KTTĐ. - Về mặt thực tiễn: Mặc dù đã có rất nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về tác động của FDI đến PTBV, song hầu hết các công trình khoa học đã công bố đều tập trung phân tích, đánh giá tác động của FDI nói chung và tác động của FDI tới mục tiêu PTBV nói riêng ở phạm vi rộng - cấp quốc gia. Hiếm thấy công trình nghiên cứu tác động của FDI đến P TBV ở một vùng kinh tế cụ thể, đặc biệt là vùng KTTĐ Bắc Bộ. 6Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM 2.1. Khái niệm, đặc điểm và yêu cầu đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững vùng Kinh tế trọng điểm 2.1.1. Khái niệm đầu tư trực ti ếp nước ngoài và đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững vùng KTTĐ 2.1.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà ĐTNN đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào vào nước tiếp nhận đầu tư để có đượ c quyền sở hữu và quản lý một thực thể kinh tế hoạt động lâu dài ở nước đó với mục tiêu lợi nhuận. 2.1.1.2. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm Tác giả luận án đưa ra khái niệm về FDI theo hướng ph át triển bền vững vùng KTTĐ như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm là hoạt động đầu tư của tổ chức, cá nhân nước ngoài vào vùng KTTĐ của nước khác, đáp ứng yêu cầu của quy hoạch, định hướng phát triển vùng đó và có tác động tích cực đến sự phát triển của vùng nhằm đảm bảo sự kết hợp hài hòa, hợp lý giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường không chỉ đối với vùng KTTĐ, mà còn tác động lan tỏa đến các vùng khác cả trong hiện tại và tươ ng lai. 2.1.2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm Một là, đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng PTBV vùng KTTĐ mang tính chủ quan của nước tiếp nhận đầu tư nói chung và vùng KTTĐ nói riêng; Hai là, đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng PTBV vùng KTTĐ hàm chứa mục tiêu khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; Ba là, đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng PTBV vùng KTTĐ luôn hướng tới sự phát triển cân đối, hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và BVMT; Bốn là, đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng PTBV vùng KTTĐ hướng đến việc coi trọng chất lượng hơn là số lượng dự án F DI; Năm là, đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng PTBV vùng KTTĐ không chỉ dừng lại ở việc xem xét và đánh giá ở giai đoạn đầu của quá trình đầu tư trực tiếp nước ngoài, tức là giai đoạn cấp phép, mà còn xem xét đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp FDI; Sáu là, đầu tư trực tiếp nước ng ài theo hướng PTBV vùng KTTĐ có tác động qua lại, hỗ trợ nhau giữa nhà ĐTNN và vùng KTTĐ. 72.1.3. Yêu cầu đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm Một là, đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng PTBV ở vùng KTTĐ phải dựa trên 3 trụ cột của sự phát triển, đó là: PTBV về kinh tế, PTBV về xã hội và PTBV về môi trường; Hai là, đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng PTBV ở vùng KTTĐ phải có tác động lan tỏa tới các vùng kinh tế khác ; Ba là, đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng PTBV vùng KTTĐ phải phát huy được tiềm năng, lợi thế của bản thân vùng KTTĐ và phù hợp với định hướng phát triển các vùng KTTĐ nói riêng, toàn bộ nền kinh tế nói chung; Bốn là, đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng PTBV vùng KTTĐ phải đảm bảo sự hài hòa về lợi ích theo hướng cùng có lợi giữa nhà ĐTNN và vùng kinh tế trọng điểm; Năm là, đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm không phải là hoạt động tự thân mà cần phải có định hướng dẫn dắt của Nhà nước ; ý thức chấp hành pháp luật của các doanh nghiệp FDI; sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cư và các tổ chức xã hội ; Sáu là, đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng PTBV vùng KTTĐ phải gắn với mục tiêu PTBV của cả nước và gắn với xu hướng tất yếu trong tiến trình phát triển chung của thế giới đương đại . 2.2. Nội dung, tiêu chí đánh giá và các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm 2.2.1. Nội dung và tiêu chí đánh giá đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững ở vùng kinh tế trọng điểm 2.2.1.1. Nội dung và tiêu chí đánh giá đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững về kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm - Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần tích cực trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của vùng KTTĐ: gồm các chỉ tiêu đánh giá: Tốc độ tăng trưởng của khu vực FDI so với tốc độ tăng trưởng của vùng KTTĐ; Tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI vào tăng trưởng kinh tế của vùng KTTĐ. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng KTTĐ theo hướng tiến bộ: được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như:Tỷ trọng GTSXCN của khu vực FDI so với tổng GTSXCN của vùng KTTĐ; Tỷ trọng GTSX của khu vực FDI so với GTSX của toàn vùng. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần gia tăng kim ngạch xuất khẩu của vùng KTTĐ: bao gồm các chỉ tiêu đánh giá: Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI; Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI so với kim ngạch xuất khẩu của cả vùng KTTĐ. 8- Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp vào sự giàu mạnh của ngân sách vùng KTTĐ: có thể sử dụng các chỉ tiêu sau: Tốc độ tăng thu ngân sách hàng năm của khu vực FDI; Tỷ lệ thu ngân sách từ khu vực FDI so với tổng thu ngân sách vùng KTTĐ. - Đóng góp của khu vực FDI vào tổng vốn đầu tư xã hội vùng KTTĐ: Phản ánh nội dung này có thể sử dụng các chỉ tiêu sau: Tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI vào tổng vốn đầu tư xã hội ở vùng KTTĐ; Tốc độ gia tăng vốn đầu tư của khu vực FDI hàng năm. 2.2.1.2. Nội dung và tiêu chí đánh giá đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững về xã hội vùng kinh tế trọng điểm - Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần giải quyết việc làm và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động ở vùng KTTĐ theo hướng tiến bộ: Đánh giá nội dung này có thể sử dụng các chỉ tiêu sau đây: Số lao động được tạo ra hàng năm trong khu vực FDI; Tốc độ tăng số lao động đang làm việc hàng năm trong khu vực FDI; Tỷ lệ số lao động đang làm việc trong khu vực FDI so với tổng số lao động đang làm việc của vùng KTTĐ; Số lượng và tỷ lệ sử dụng lao động địa phương so với tổng số lao động của khu vực FDI; Tỷ lệ LĐCN trong khu vực FDI so với tổng số lao động đang làm việc ở vùng KTTĐ; - Đầu tư trực tiếp nước ngoài không ngừng nâng cao chất lượng nguồn lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp FDI ở vùng KTTĐ: Có thể đánh giá nội dung này qua các tiêu chí sau đây: Mức thu nhập bình quân/tháng/lao động (bao gồm tiền lương và các loại th u nhập khác) của người lao động; Tỷ lệ lao động, nhất là lao động nhập cư làm việc trong các doanh nghiệp FDI có nhà ở, điều kiện nơi ở; trang thiết bị phục vụ sinh hoạt hàng ngày của người lao động; Số lượng các hoạt động văn hóa, tinh thần tổ chức hàng năm của doanh nghiệp FDI; Số điểm vui chơi giải trí, văn hóa, thể thao cho người lao động trong các doanh nghiệp FDI; Tỷ lệ thời gian nghỉ ngơi/ngày của người lao độ ng; Thời gian làm thêm giờ của người lao động; Tỷ lệ lao động được trang bị phương tiện bảo hộ lao động; Tỷ lệ lao động được đào tạo so với tổng số lao động đang làm việc trong khu vực FDI. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần xóa đói giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội cho dân cư ở vùng KTTĐ : Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp vào ngân sách vùng KTTĐ. Thông qua kênh này, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tác động gián tiếp đến công tác xóa đói giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội cho dân cư ở vùng KTTĐ. 92.2.1.3. Nội dung và tiêu chí đánh giá đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững về môi trường vùng kinh tế trọng điểm - Đầu tư trực tiếp nước ngoài phải gắn với việc khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên ở vùng KTTĐ: Các chỉ tiêu phản ánh nội dung này có thể được đo lường bằng: Tỷ lệ giá trị xuất khẩu tài nguyên thô so với tổng giá trị xuất khẩu của khu vực FDI; Mức tiêu dùng tài nguyên thiên nhiên/1 đơn vị sản phẩm hàng hóa và dịch vụ. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài phải tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật BVMT của nước tiếp nhận đầu tư nói chung và của vùng KTTĐ nói riêng: Để đánh giá việc thực hiện pháp luật BVMT của các doanh nghiệp FDI, cần căn cứ vào các chỉ tiêu sau đây: Số lượng và tỷ lệ doanh nghiệp FDI lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường và Cam kết BVMT; Số lượng và tỷ lệ các doanh nghiệp FDI có hệ thống xử lý chất thải/tổng số các doanh nghiệp FDI; Số lượng và tỷ lệ các doanh nghiệp FDI vi phạm pháp luật BVMT. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở vùng KTTĐ phải gắn với việc sử dụng công nghệ cao, công nghệ hiện đại, công nghệ thân thiện với môi trường: Đánh giá nội dung này, có thể sử dụng một số chỉ tiêu sau: Qui mô vốn đầu tư/lao động; Mức độ trang bị tài sản cố định (TSCĐ)/lao động; Trình độ công nghệ của các dự án FDI (công nghệ cao, công nghệ trung bình, công nghệ thấp); Tỷ lệ các dự án FDI từ các quốc gia phát triển. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở vùng KTTĐ phải gắn với việc xây dựng phương án BVMT; có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát ô nhiễm môi trường; bảo vệ, nuôi dưỡng và cải thiện chất lượng môi trường ở vùng KTTĐ: Các chỉ tiêu đánh giá cho nội dung này bao gồm: Chi phí đầu tư cho nghiên cứu và triển khai công nghệ BVMT; Chi phí đầu tư cho công tác BVMT của các doanh nghiệp FDI; Tỷ lệ chi đầu tư cho công tác BVMT so với tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp FDI. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài phải có hiệu ứng tích cực đối với các DNTN trong vấn đề BVMT, góp phần tác đ ộng đến công tác quản lý môi trường của nước tiếp nhận đầu tư nói chung và vùng KTTĐ nói riêng : Việc tuân thủ nghiêm các tiêu chuẩn môi trường của các doanh nghiệp FDI còn tác động tích cực tới kết quả môi trường của các bạn hàng cung cấp đầu vào và các công ty vệ tinh thông qua việc hỗ trợ, tư vấn về hệ thống quản lý môi trường hoặc các giải pháp xử lý môi trường mà doanh nghiệp FDI đã làm. Thông qua các đối tác liên doanh FDI, các doanh nghiệp nội địa có thể học hỏi, được hỗ trợ và tư vấn để cải thiện môi trường. 10 2.2.2. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững ở vùng kinh tế trọng điểm Một là, nhóm nhân tố thuộc về nước tiếp nhận đầu tư , bao gồm: (i) Sự hoàn thiện của hệ thống luật pháp và chính sách liên quan đến FDI theo hướng phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm; (ii) Chiến lược thu hút FDI hướng đến mục tiêu phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm; (iii) Chất lượng của công tác qui hoạch, kế hoạch thu hút FDI theo hướng phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm; (iv) Năng lực kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm; (v) Sự liên kết, phối hợp trong hoạt động FDI giữa các Bộ, ngành với địa phương và giữa các địa phương t rong vùng kinh tế trọng điểm; (vi) Chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm; (vii) Sự phát triển đồng bộ, hiện đại của hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm; (viii) Sự trưởng thành và phát triển của hệ thống các ngành công nghiệp hỗ trợ và các dịch vụ hỗ trợ hoạt động kinh doanh ở vùng kinh tế trọng điểm; Hai là, nhóm nhân tố thuộc về nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm: (i) Chiến lược kinh doanh, định hướng thị trường đầu tư; (ii) Tiềm lực tài chính; (iii) Trình độ công nghệ của các dự án FDI. 2.3. Kinh nghiệm của một số quốc gia Châu Á về đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm và bài học đối với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 2.3.1. Kinh nghiệm của một số quốc gia Châu Á về đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững vùng KTTĐ Kinh nghiệm quốc tế về đầu tư trực tiếp nướ c ngoài được tổng hợp từ kinh nghiệm thành công của một số quốc gia Châu Á trong thu hút và quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài, đó là: Kinh nghiệm thu hút FDI và đẩy mạnh phát triển vùng; tăng cường phân cấp quản lý nguồn vốn FDI của Indonexia. Kinh nghiệm cải thiện môi trường đầu tư , xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển công nghiệp hỗ trợ của Thái Lan. Kinh nghiệm về hoàn thiện hệ thống luật pháp chính sách, chú trọng cải thiện cơ sở hạ tầng, chuyển giao công nghệ và chú trọng sàng lọc các dự án FDI của Trung Quốc. 2.3.2. Bài học kinh nghiệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng PTBV đối với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Qua phần tổng hợp kinh nghiệm của một số quốc gia Châu Á về đầu tư trực tiếp nước ngoài trên đây, tác giả luận án rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho Việt Nam nói chung và vùng KTTĐ Bắc Bộ 11 nói riêng trong định hướng FDI theo hướng PTBV. Đó là: (i) Đổi mới, hoàn thiện hệ thống luật pháp và kịp thời điều chỉnh chính sách về đầu tư sao cho phù hợp với mục tiêu, định hướng của đất nước trong từng thời kỳ ; (ii) Làm tốt công tác qui hoạch, kế hoạch thu hút FDI của vùng KTTĐ gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước theo yêu cầu phát triển bền vững; (iii) Chủ động, tích cực và nâng cao hiệu quả trong việc phân cấp quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ; (iv) Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững vùng KTTĐ; (v) Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng PTBV ở vùng KTTĐ; (vi) Chủ động, tích cực phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ đáp ứng yêu cầu PTBV ở vùng KTTĐ; (vii) Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, có chất lượng cao ở vùng KTTĐ. Chương 3 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ 3.1. Tiềm năng, lợi thế và khó khăn, thách thức đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững ở vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 3.1.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Vùng KTTĐ Bắc Bộ được hình thành theo Quyết định số 1018/1997/QĐ -TTg bao gồm 5 tỉnh, thành phố là: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương và Hưng Yên nằm trên lãnh thổ đồng bằng sông Hồng và vùng núi Đông Bắc. Ngày 13 tháng 8 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 145/2004/QĐ-TTg về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế -xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2 010 và tầm nhìn năm 2020 . Trong Quyết định này, quy mô của vùng KTTĐ Bắc Bộ đã được mở rộng thêm 3 tỉnh gồm Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh. Từ ngày 1/8/2008, sau khi có Nghị quyết của Quốc hội tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XII về việc mở rộng địa giới hành chính thành phố Hà Nội, bao gồm toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn (Hoà Bình), vùng KTTĐ Bắc Bộ bao gồm 7 tỉnh, thành phố là: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc (Hà Tây đã được hợp nhất để trở thành một phần của Thủ đô Hà Nội). 12 3.1.2. Tiềm năng, lợi thế và khó khăn, thách thức đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng PTBV ở vùng KTTĐ Bắc Bộ 3.1.2.1. Tiềm năng, lợi thế đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng PTBV ở vùng KTTĐ Bắc Bộ Vùng KTTĐ Bắc Bộ có rất nhiều tiềm năng, lợi thế trong thu hút FDI theo hướng PTBV. Đây là vùng có vị trí địa lý thuận lợi, điều kiện tự nhiên đa dạng và phong phú; cơ sở hạ tầng kỹ thuật khá đồng bộ; trình độ phát triển cao hơn nhiều so với các vùng khác trong cả nước; có khả năng rất lớn trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Trong đó, nguồn nhân lực có trình độ được đánh giá là lợi thế nổi trội, là lợi thế cạnh tranh so với các vùng KTTĐ khác của cả nước trong việc thu hút FDI. 3.1.2.2. Khó khăn và thách thức đặt ra đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng PTBV ở vùng KTTĐ Bắc Bộ Bên cạnh những tiềm năng và lợi thế, vùng KTTĐ Bắc Bộ cũng đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức đối với FDI nhằm hướng tới mục tiêu PTBV của vùng. Cụ thể là: Hệ thống cơ chế chính sách chưa phản ánh một cách đầy đủ và cụ thể về các tính chất và đặc thù của vùng KTTĐ Bắc Bộ; Sự liên kết, phối hợp vùng còn kém hiệu quả; Chất lượng lao động qua đào tạo nghề vẫn ở mức thấp, chưa xứng đáng với tiềm năng, lợi thế của vùng về số lượng nguồn lao động; Mật độ dân cư cao, bình quân đất nông nghiệp theo đầu người thấp gây khó khăn cho việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp; Ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm nguồn nước do chất thải công nghiệp và do quá trình đô thị hóa ngày càng tăng và đã đến mức báo động. Đây chính là thách thức lớn đối với vùng KTTĐ Bắc Bộ giữa một bên là tiếp tục đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, mở rộng qui mô phát triển công nghiệp với một bên là mục tiêu PTBV về môi trường. 3.2. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững ở vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 3.2.1. Khái quát tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 3.2.1.1. Về số lượng, vốn đăng ký và qui mô dự án FDI - Về số lượng dự án FDI: Lũy kế từ 1/1/2003 đến 20/7/2012, vùng KTTĐ Bắc Bộ có 3.239 dự án FDI còn hiệu lực. Nếu so sánh với các vùng KTTĐ khác, giai đoạn 2003-7/2012, vùng KTTĐ Bắc Bộ thu hút được nhiều gấp 8,8 lần số dự án FDI vào vùng KTTĐ miền Trung (364 dự án) và chỉ bằng ½ số dự án FDI vào vùng KTTĐ phía Nam (6.245 dự án). 13 - Về vốn FDI đăng ký và vốn FDI thực hiện: Trong giai đoạn 2003- 2011, vùng KTTĐ Bắc Bộ thu hút được 34.620 triệu USD vốn FDI. Tính chung cho cả giai đoạn 2003-2011, số vốn FDI thực hiện giải ngân ở vùng là 11,5 triệu USD, đạt 33.3% so với vốn FDI đăng ký trong cùng giai đoạn, trung bình đạt mức 1,3 triệu USD/năm. - Về qui mô dự án FDI: Qui mô các dự án FDI vào vùng KTTĐ Bắc Bộ giai đoạn 2003-7/2012 chủ yếu là qui mô vừa và nhỏ với mức bình quân là 11 triệu USD/dự án (vùng KTTĐ phía Nam là 12 triệu USD/dự án và vùng KTTĐ miền Trung là 29 triệu USD/dự án). 3.2.1.2. Về cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - Về cơ cấu FDI phân theo ngành, lĩnh vực Trong giai đoạn từ 2003 đến tháng 7/2012, cơ cấu FDI theo ngành tại vùng KTTĐ Bắc Bộ tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, chiếm tới 58,22% tổng số dự án, 62,14% tổng số vốn đăng ký đầu tư vào vùng. Lĩnh vực dịch vụ thu hút được 1.332 dự án FDI, chiếm 41,12% tổng số dự án, chiếm 37,57% tổng số vốn đăng ký đầu tư. Lĩnh vực nông - lâm - thủy sản chỉ chiếm 0,64% tổng số dự án và chiếm 0,28% tổng vốn đăng ký. - Về cơ cấu FDI phân theo hình thức đầu tư Giai đoạn 2003-7/2012, FDI ở vùng KTTĐ Bắc Bộ chủ yếu được thực hiện theo hình thức 100% vốn nước ngoài với 2.537 dự án, chiếm 78,33% tổng số dự án và chiếm 64,63% tổng vốn đăng ký đầu tư. Hình thức liên doanh có 573 dự án, chiếm 17,69% tổng số dự án và chiếm 18,89% tổng vốn đăng ký đầu tư. Số còn lại thuộc các hình thức khác như Hợp đồng hợp tác kinh doanh (2 dự án), Hợp đồng BOT, BT, BTO (48 dự án), Công ty cổ phần (78 dự án) và Công ty mẹ - con (01 dự án). - Về cơ cấu FDI phân theo đối tác đầu tư Giai đoạn 2003-7/2012, đã có 62 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án FDI tại vùng KTTĐ Bắc Bộ. Trong đó, các nước Châu Á có 2.584 dự án, lần lượt chiếm 79,77% và 69,12% tổng số dự án và tổng số vốn đầu tư đăng ký vào vùng. Trong số 12 quốc gia và vùng lãnh thổ có tổng số vốn đăng ký trên 1 tỷ USD, có hai quốc gia đại diện cho các nước Châu Âu là Hà Lan (xếp thứ 5) và Luxembourg (xếp thứ 9); Hoa Kỳ đại diện cho các nước đến từ Châu Mỹ (xếp thứ 8) về tổng vốn đăng ký. - Về cơ cấu FDI phân theo địa bàn đầu tư Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở vùng KTTĐ Bắc Bộ tậ p trung nhiều nhất tại Hà Nội với 1.991 dự án, chiếm 61,46% tổng số dự án và chiếm 41,89% tổng vốn đăng ký. Quảng Ninh là tỉnh thu hút được ít dự án nhất, với số dự án 14 rất khiêm tốn, chỉ có 96 dự án, chiếm 0,29% tổng số dự án vào vùng và cũng chỉ chiếm 11,43% tổng số vốn đăng ký đầu tư. 3.2.2. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ giai đoạn từ 2003 đến nay 3.2.2.1. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững về kinh tế vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ - Đóng góp của khu vực FDI vào tăng trưởng kinh tế của vùng KTTĐ Bắc Bộ: Tỷ lệ đóng góp của khu vực này vào tăng trưởng kinh tế của vùng KTTĐ Bắc Bộ giai đoạn từ 2006-2011 liên tục tăng qua các năm và khá ổn định. Tính chung cho cả giai đoạn, GDP của khu vực FDI chiếm bình quân là 17,38% so với GDP của vùng. - Đóng góp của khu vực FDI vào tổng vốn đầu tư xã hội của vùng KTTĐ Bắc Bộ: Vốn đóng góp của khu vực FDI vào tổng đầu tư xã hội của vùng KTTĐ Bắc Bộ có xu hướng tăng dần qua các năm và chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng vốn đầu tư xã hội của vùng. Trong giai đoạn 2003-2010, vốn FDI luôn giữ ổn định ở mức đóng góp bình quân là khoảng 12% so với tổng vốn đầu tư xã hội của vùng. Kết quả này cho thấy, tỷ lệ đóng góp của khu vực vốn trong nước vào tổng vốn đầu tư xã hội ở vùng KTTĐ Bắc Bộ khá cao, chiếm khoảng 86,83%. - Đóng góp của khu vực FDI vào ngân sách địa phương vùng KTTĐ Bắc Bộ: Trong những năm qua, khu vực FDI đã có những đóng góp đáng kể cho ngân sách địa phương vùng KTTĐ Bắc Bộ. Tính chung cho cả giai đoạn 2003-2010, tỷ lệ nộp ngân sách của khu vực FDI so với tổng thu ngân sách của vùng là 15,4%/năm. - Đóng góp của khu vực FDI vào xuất khẩu của vùng KTTĐ Bắc Bộ: Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở vùng KTTĐ Bắc Bộ có t ác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu của vùng. Nhìn chung trong giai đoạn 2003-2011, tỷ lệ giá trị xuất khẩu/vốn FDI thực hiện luôn gia tăng ở hầu hết các tỉnh, thành phố trong vùng. - Đóng góp của khu vực FDI vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng KTTĐ Bắc Bộ + Trong những năm qua, khu vực FDI đã đóng góp đáng kể vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở vùng KTTĐ Bắc Bộ theo hướng tăng tỷ trọng GTSX ngành công nghiệp. Tỷ trọng GTSXCN của khu vực FDI ngày càng tăng và chiếm 40,62% so với GTSXCN vùng KTTĐ Bắc Bộ năm 2006. Con số này lần lượt là 42,69% (năm 2007); 44,24% (năm 2008); 43,36% (năm 2009); 49,11% (năm 2010) và 57,38% (năm 2011). So với GTSX chung của 15 vùng KTTĐ Bắc Bộ, GTSXCN của khu vực FDI chiếm 23,9% (năm 2003); 28,08% (năm 2008) và đạt tỷ lệ cao nhất là 40,18% (năm 2011). + FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu thành phần ở vùng KTTĐ Bắc Bộ: Cơ cấu GTSXCN ở vùng KTTĐ Bắc Bộ trong giai đoạn 2006 -2011 đã có sự dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng GTSXCN khu vực FDI. GTSXCN của khu vực FDI luôn chiếm tỷ trọng cao hơn so với khu vực DNNN và doanh nghiệp tư nhân ở vùng. 3.2.2.2. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng PTBV về xã hội vùng KTTĐ Bắc Bộ - Về khả năng tạo việc làm và góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động của vùng KTTĐ Bắc Bộ theo hướng CNH + Về khả năng tạo việc làm của khu vực FDI: Khu vực FDI của vùng KTTĐ Bắc Bộ đã không ngừng tạo việc làm cho người lao động qua các năm. Tính chung cả giai đoạn 2003-2010, khu vực FDI của vùng KTTĐ Bắc Bộ có 2.047.044 lao động đang làm việc, trung bình là 255.880 lao động/năm. Tốc độ tăng số lao động đang làm việc trong khu vực FDI bình quân trong giai đoạn này là 24%/năm. + Đóng góp của khu vực FDI trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động: Trong tổng số lao động hiện đang làm việc trong khu vực FDI, lao động công nghiệp tăng rất nhanh và chiếm tỷ trọng rất cao. Nếu như năm 2003, lao động công nghiệp trong khu vực FDI của vùng KTTĐ Bắc Bộ là 78.222 người, chiếm 77,26% trong tổng số lao động đang làm việc trong khu vực FDI thì đến năm 2006, các con số tương ứng là 185.623 người và chiếm tỷ lệ 89,92%; năm 2010 là 354.138 người, chiếm tỷ lệ 79,86%. - Về nâng cao chất lượng nguồn lao động trong các doanh nghiệp FDI ở vùng KTTĐ Bắc Bộ + Về tiền lương và thu nhập của người lao động: Tiền lương bình quân và thu nhập bình quân của người lao động trong khu vực FDI mặc dù có được cải thiện trong những năm qua, song vẫn thấp hơn so với mức thu nhập của người lao động trong DNNN và công ty cổ phần. Ngoài ra, có sự chênh lệch khá rõ về tiền lương của lao động trong các doanh nghiệp có vốn FDI với DNTN; giữa các vị trí công việc, giữa lao động quản lý với lao động chưa qua đào tạo trong cùng loại hình doanh nghiệp có vốn FDI. + Về điều kiện làm việc của người lao động Hiện tượng làm việc tăng ca, tăng giờ diễn ra ở hầu hết các doanh nghiệp có vốn FDI nói chung và các doanh nghiệp có vốn FDI ở vùng KTTĐ 16 Bắc Bộ nói riêng, nhất là trong các doanh nghiệp dệt may, da giày, chế biến thủy hải sản, sản xuất công nghiệp. Nhiều doanh nghiệp có vốn FDI chưa thực hiện tốt các qui định về việc chấp hành an toàn vệ sinh, bảo hộ lao động. + Về đời sống vật chất và tinh thần của người lao động Mặc dù trong những năm gần đây, mức tiền lương và thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn FDI đã tă ng lên đáng kể, song vẫn thấp hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác. Với mức thu nhập thấp và cường độ làm việc cao như vậy, đời sống tinh thần của người lao động trong các doanh nghiệp FDI rất nghèo nàn và thiếu thốn. Họ không có thời gian nghỉ ngơi, vui chơi giải trí và tham gia vào các hoạt động xã hội khác. + Đào tạo, nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động Nhiều lao động sau khi được tuyển dụng vào làm việc trong các doanh nghiệp có vốn FDI đã được đào tạo bổ sung, có điều kiện tiếp cận, h ọc hỏi và tiếp thu kỹ thuật mới, công nghệ mới, cách thức điều hành doanh nghiệp và tác phong làm việc công nghiệp, từng bước góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. - Về ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tình hình an ninh trật tự ở vùng KTTĐ Bắc Bộ + Nhiều doanh nghiệp có vốn FDI thực hiện chưa tốt pháp luật lao động, không đảm bảo quyền lợi cho người lao động làm nảy sinh những xung đột xã hội, là nguyên nhân của hàng loạt các cuộc đình công, lãn công + Xuất hiện hiện tượng vi phạm qui chế xuất nhập cảnh của lao động nước ngoài với nhiều hình thức như: nhập cảnh trái phép, hoạt động trái mục đích nhập cảnh, tạm trú quá hạn, khai không đúng sự thật để được cấp thị thực,... làm mất ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương. 3.2.2.3. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững về môi trường vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ - Về tình hình thực hiện pháp luật BVMT: Trong số các doanh nghiệp có vốn FDI trên địa bàn tỉnh, các doanh nghiệp của Nhật Bản thường thực hiện tốt hơn công tác BVMT. Đa số những doanh nghiệp có vốn FDI vi phạm pháp luật BVMT là doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ của Đài Loan, Hàn Quốc và Trung Quốc. Năm 2011, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp có vốn FDI và đã phát hiện 14 doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật BVMT. Cơ quan chức năng đã xử phạt và đề xuất mức xử phạt với số tiền là 528,75 triệu đồng. - Về tình hình đầu tư cho BVMT của các doanh nghiệp có vốn FDI : Phần lớn các doanh nghiệp có vốn FDI trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã chủ 17 động áp dụng các biện pháp xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường và đầu tư đổi mới công nghệ trong sản xuất, công nghệ xử lý chất thải nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường như: Công ty HONDA Việ t Nam, Công ty TOYOTA Việt Nam, Công ty TNHH EXEDY Việt Nam, Công ty TNHH MEISEI Việt Nam (Vĩnh Phúc),.... - Về trình độ công nghệ sử dụng trong các dự án FDI: Trình độ công nghệ được sử dụng trong các dự án FDI cũng rất khác nhau trong những ngành, nghề khác nhau. Mức độ tiên tiến của công nghệ của lĩnh vực chế biến nông, lâm sản, thực phẩm thuộc công nghệ lạc hậu; 5 lĩnh vực còn lại (cơ khí; sản xuất vật liệu xây dựng; điện, điện tử; dệt may, da giầy, giấy; lĩnh vực khác), trình độ công nghệ đều chỉ đạt m ức trung bình. - Về ảnh hưởng tiêu cực của khu vực FDI đến PTBV đến môi trường ở vùng KTTĐ Bắc Bộ: Ở vùng KTTĐ Bắc Bộ, các vụ vi phạm pháp luật BVMT của khu vực FDI gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất có thể kể đến như: Nước thải có chất độc hại của Công ty sản xuất phanh Nissan Việt Nam, khu công nghiệp Khai Quang và Công ty cổ phần Prime Yên Bình; Nguồn nước thải chưa qua xử lý với hàm lượng Chrome 6 - một chất độc nhất trong số các kim loại (cùng với Asen và Thủy ngân) của Công ty Cổ phần công nghiệp Tungkuang (tại Hải Dương); Khói bụi, khí thải của Công ty Ximăng Chinfon trong một sự cố xảy ra vào cuối năm 2010 tại Hải Phòng. 3.3. Đánh giá chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 3.3.1. Những kết quả đạt được - Về lĩnh vực kinh tế: (i) Cơ cấu đầu tư FDI phù hợp với chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của cả nước theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ; (ii) Cơ cấu đầu tư FDI theo đối tác đầu tư cũng có những chuyển biến tích cực với sự xuất hiện ngày càng nhiều quốc gia trên thế giới đến đầu tư tại vùng, trong đó có không ít những nhà ĐTNN có tiềm lực cả về tài chính và công nghệ; (iii) Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở vùng KTTĐ Bắc Bộ đã góp phần bổ sun g vốn cho tổng đầu tư xã hội, góp phần quan trọng vào xuất khẩu, góp phần tăng thu ngân sách địa phương vùng KTTĐ Bắc Bộ. - Về lĩnh vực xã hội: (i) Khu vực FDI đã góp phần tạo việc làm cho vùng KTTĐ Bắc Bộ, có tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu lao độ ng theo hướng CNH, HĐH; (ii) Một số doanh nghiệp Việt Nam sản xuất các sản phẩm hỗ trợ, thực hiện các hoạt động phân phối sản phẩm hỗ trợ cũng được hình thành; (iii) Cách thức quản lý hiện đại của một số doanh nghiệp FDI như công ty Honda, Toyota, Ford,... có tác dụng rõ rệt trong việc chuyển tải cách quản lý tiến bộ cho lao động Việt Nam. 18 - Về lĩnh vực môi trường: Đa số các doanh nghiệp FDI ở vùng KTTĐ Bắc Bộ đã có ý thức chấp hành tốt pháp luật BVMT; nhiều doanh nghiệp đã chủ động đầu tư kinh phí cho công tác BVMT, nhằm làm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. 3.3.2. Những hạn chế của FDI theo hướng phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm và nguyên nhân 3.3.2.1. Những hạn chế - Về lĩnh vực kinh tế: (i) Cơ cấu đầu tư theo ngành của khu vực FDI còn mất cân đối, chưa phù hợp với chủ trương khuyến khích và ưu đãi phát triển ngành, lĩnh vực; (ii) Đóng góp của FDI ở vùng KTTĐ Bắc Bộ vào tăng trưởng kinh tế còn chưa tương xứng với tiềm năng. Công nghệ sử dụng trong các doanh nghiệp FDI ở vùng KTTĐ Bắc Bộ còn ở mức trung bình và thấp, cá biệt có trường hợp sử dụng công nghệ lạc hậu; (iii) Có hiện tượng chuyển giá, trốn thuế ở các doanh nghiệp FDI ở vùng KTTĐ Bắc Bộ gây thất thu ngân sách nhà nước, gây khó khăn cho công tác quản lý thuế ở các doanh nghiệp FDI. - Về lĩnh vực xã hội: (i) Việc làm tạo ra của khu vực FDI ở vùng KTTĐ Bắc Bộ còn chưa tương xứng; (ii) Thu nhập bình quân hàng tháng của người lao động không tương xứng với thời gian và cường độ lao động ; (iii) Đời sống vật chất và tinh thần của người lao động còn thiếu thốn, chất lượng cuộc sống kém; (iv) Tranh chấp lao động và đình công có xu hướng ngày càng gia tăng, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội ở vùng. - Về lĩnh vực môi trường: (i) Công tác BVMT trong các doanh nghiệp có vốn FDI ở vùng KTTĐ Bắc Bộ chưa được các chủ đầu tư quan tâm một cách thỏa đáng; (ii) Hiện tượng vi phạm pháp luật BVMT là khá phổ biến tại hầu hết các tỉnh, thành phố trong vùng; (iii) Một số nhà ĐTNN tỏ ra xem thường sức khỏe con người và môi trường sống của Việt Nam, nhiều lần vi phạm pháp luật BVMT, gây hậu quả nghiêm trọng đến môi trường sống của người dân, bất chấp sự kiểm tra, cảnh báo, xử phạt của các cấp chính quyền ở vùng KTTĐ Bắc Bộ. 3.3.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế Một là, hệ thống luật pháp và các chính sách liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài còn chồng chéo, thiếu tính đồng bộ và nhất quán ; Hai là, công tác qui hoạch của vùng KTTĐ Bắc Bộ còn nhiều hạn chế, chưa thực sự hiệu quả gắn với yêu cầu phát triển bền vững của vùng, chưa xây dựng được chiến lược thu hút FDI theo hướng PTBV; Ba là, công tác quản lý Nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài còn bất cập; Bốn là, chất lượng nguồn nhân lực của 19 vùng KTTĐ Bắc Bộ còn hạn chế; cơ cấu lao động theo ngành còn nhiều bất hợp lý; Năm là, kết cấu hạ tầng kỹ thuật của vùng KTTĐ Bắc Bộ còn nhiều hạn chế, yếu kém; Sáu là, các ngành công nghiệp hỗ trợ ở vùng KTTĐ Bắc Bộ còn chưa phát triển đảm bảo cho FDI theo hướng PTBV . Chương 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI THEO HƯỚ NG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ 4.1. Định hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững ở vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 4.1.1. Cơ sở hình thành định hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững ở vùng KTTĐ Bắc Bộ 4.1.1.1. Bối cảnh trong nước và quốc tế có ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo, tình hình đất nước và bối cảnh quốc tạo ra cho nước ta nói chung và vùng KTTĐ Bắc Bộ nói riêng những thuận lợi và cơ hội to lớn cùng những khó khăn và thách thức gay gắt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ trong thời kỳ chiến lược tới. Bối cảnh đó cũng đặt ra những thách thức cho Việt Nam và vùng KTTĐ Bắc Bộ trong việc định hướng thu hút và quản lý hoạt động FDI nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững. 4.1.1.2. Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vùng KTTĐ Bắc Bộ giai đoạn 2011 - 2020 Các chỉ tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường của vùng KTTĐ Bắc Bộ giai đoạn 2011-2020 được xác định căn cứ vào Quyết định số 145/QĐ -TTg ngày 13 tháng 8 năm 2004 về Phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng KTTĐ Bắc Bộ đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. Đây chính là cơ sở cho việc hình thành định hướng FDI theo hướng PTBV ở vùng KTTĐ Bắc Bộ đến năm 2020. 4.1.2. Định hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững ở vùng KTTĐ Bắc Bộ đến n ăm 2020 Một là, cần đổi mới tư duy về thu hút FD I vào vùng KTTĐ Bắc Bộ theo hướng chú trọng đến chất lượng của dòng vốn FDI ; Hai là, tăng cường phối hợp xây dựng chiến lược thu hút và sử dụng có hiệu quả dòng vốn FDI; Ba là, định hướng thu hút vốn FDI từ những nước có công nghệ nguồn như Mỹ, châu 20 Âu và Nhật Bản vào vùng KTTĐ Bắc Bộ, để có thể đi tắt đón đầu trong một số lĩnh vực công nghệ; Bốn là, các doanh nghiệp trong vùng cần tận dụng những lợi ích lan tỏa từ việc thu hút đầu tư của các công ty đa quốc gia và các tập đoàn kinh tế lớn, bằng cách xây dựng chiến lược phát triển để từng bước tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của các công ty này trên thị trường thế giới; Năm là, hướng dòng vốn FDI trong vùng vào những ngành, lĩnh vực mà vùng có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển như ngành công nghiệp, dịch vụ, thương mại; Sáu là, phối kết hợp một cách chặt chẽ và nhịp nhàng hơn giữa các cơ quan xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại và xúc tiến du lịch của Chính phủ với các tổ chức của địa phương trong vùng. 4.2. Giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững ở vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2020 4.2.1. Nhóm các giải pháp từ phía Nhà nước trung ương 4.2.1.1. Giải pháp tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách liên quan đến hoạt động FDI theo hướng PTBV Một là, hoàn thiện cơ chế quản lý và hệ thống pháp luật, chính sách cho phù hợp những cam kết với WTO; Hai là, hoàn thiện các văn bản pháp luật, hướng dẫn thực hiện Luật đầu tư ban hành năm 2005; Ba là, kiện toàn bộ máy và nâng cao năng lực của công chức đủ khả năng thực thi luật pháp và hệ thống chính sách khuyến khích đầu tư một cách hữu hiệu . 4.2.1.2. Xây dựng chiến lược FDI và qui hoạch thu hút FDI cho cả nước đảm bảo theo hướng PTBV Chiến lược và quy hoạch FDI phải đặt trong quy hoạch tổng thể các nguồn lực cả nước, gắn kết với các nguồn lực trong nước và nước ngoài khác để phát huy sức mạnh tổng hợp, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế sâu rộng. Quy hoạch FDI phải cụ thể hoá các chiến lược liên quan theo ngành, vùng lãnh thổ, phù hợp với các quy hoạch ngành và sản phẩm chủ yếu, cũng như các cam kết quốc tế và đòi hỏi của các nhà đầu tư. Trên cơ sở quy hoạch FDI, cần xây dựng Danh mục quốc gia thu hút FDI với các dự án theo ngành, lĩnh vực quan trọng cùng các thông số kỹ thuật cụ thể để cung cấp những thông tin cơ bản cho các nhà đầu tư quan tâm; trong đó chú trọng những dự án cần ưu tiên áp dụng hình thức liên doanh. 4.2.1.3. Nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Một là, đổi mới tổ chức bộ máy quản lý nhà nước theo hướng gọn nhẹ; Hai là, tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện phân cấp quản lý Nhà 21 nước nói chung và đối với hoạt động ĐTNN nói riêng; Ba là, đầu tư kinh phí bổ sung và nâng cấp các cơ sở vật chất cho các bộ, ban, ngành, chính quyền địa phương đáp ứng yêu cầu hoạt động quản lý đầu tư; Bốn là, tăng cường đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước . 4.2.2. Nhóm các giải pháp từ phía chính quyền địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 4.2.2.1. Giải pháp nâng cao chất lượng quy hoạch không gian phát triển kinh tế vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ theo hướng phát triển bền vững Một là, thay đổi nhận thức, phương pháp, lập quy hoạch không gian phát triển kinh tế, xã hội vùng KTTĐ Bắc Bộ; Hai là, xây dựng quy hoạch không gian phát triển kinh tế - xã hội ở vùng KTTĐ Bắc Bộ; Ba là, đầu tư kinh phí phù hợp cho các viện nghiên cứu có năng lực chuyên môn, chức năng lập quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; Bốn là, xem xét, đánh giá, lựa chọn các quy hoạch không gian phát triển kinh tế - xã hội và các loại quy hoạch chuyên ngành khác của vùng KTTĐ Bắc Bộ. 4.2.2.2. Giải pháp thu hút FDI vào vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ gắn với mục tiêu phát triển bền vững Một là, nhận thức rõ ràng, thống nhất những tác động tích cực và tiêu cực của FDI đến nền kinh tế; Hai là, ban hành và thực hiện các chính sách khuyến khích đầu tư hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế xã hội; Ba là, vận dụng linh hoạt các chính sách khuyến khích đầu tư để hướng các nhà ĐTNN vào các ngành kinh tế trọng điểm của vùng; Bốn là, tăng cường đổi mới công tác xúc tiến đầu tư. 4.2.2.3. Giải pháp phối hợp giữa các bộ, ngành với các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Một là, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải chủ động phối hợp với các bộ, ngành có liên quan và các địa phương trong vùng; Hai là, kịp thời bổ sung, thay đổi quy hoạch để thích ứng với điều kiện mới; Ba là, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong vùng lập quy hoạch không gian phát triển kinh tế - xã hội và các loại quy hoạch khác của địa phương mình ; Bốn là, kiện toàn ban chỉ đạo điều phối phát triển vùng KTTĐ theo hướng gọn nhẹ. 4.2.2.4. Giải pháp tăng cường quản lý các doanh nghiệp FDI đang hoạt động ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Một là, tăng cường thông tin để các nhà ĐTNN có điều kiện tiếp cận, cập nhật những chủ trương, chính sách hiện hành của nước ta ; Hai là, tổ chức cơ quan quản lý liên ngành thay vì Ban quản lý dự án ĐTNN như hiện nay; Ba là, rà soát và bổ sung các chính sách, qui định hiện hành, cơ chế quản lý các 22 doanh nghiệp FDI đang hoạt động trong vùng để tạo ra một hệ thống chính sách đồng bộ, phù hợp với sự vận động phát triển của các doanh nghiệp trong vùng, với cơ chế quản lý chung của cả nước và phù hợp với thông lệ quốc tế; Bốn là, khuyến khích và có chính sách hỗ trợ hợp lý cho các doanh nghiệp FDI, tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị, xã hội hoạt động trong các doanh nghiệp, nhằm tập hợp động viên công nhân viên chức thực hiện tốt các cam kết trong HĐLĐ; xây dựng mối quan hệ đồng thuận, hợp tác gắn bó lâu dài giữa người lao động với chủ doanh nghiệp. 4.2.2.5. Giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đáp ứng yêu cầu FDI theo hướng PTBV Một là, xây dựng quy hoạch phát triển nguồn nhân lực theo hướng tăng cường sự liên kết của các tỉnh trong vùng KTTĐ Bắc Bộ gắn với yêu cầu, mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của vùng; Hai là, xây dựng khung chính sách phát triển nguồn nhân lực ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ; Ba là, tăng cường đầu tư cho giáo dục - đào tạo ở tất cả các cấp, các bậc học đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của các nhà ĐTNN. 4.2.2.6. Giải pháp phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ Một là, thúc đẩy và tạo môi trường cho các doanh nghiệp trong vùng tham gia vào phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ; Hai là, khuyến khích nguồn vốn ĐTNN vào các ngành công nghiệp hỗ trợ nhất là ở những ngành, những lĩnh vực mà vùng chưa có điều kiện và khả năng thực hiện ; Ba là, tăng cường kiên kết giữa các doanh nghiệp trong phát triển công nghiệp hỗ trợ; Bốn là, phát triển nguồn nhân lực cho các ngành công nghiệp hỗ trợ. 4.2.2.7. Giải pháp xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng hiện đại, tạo sức hút đối với các nhà đầu tư nước ngoài Một là, tập trung mọi nguồn lực vốn đầu tư để xây dựng được hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, có khả năng liên kết các địa phương trong vùng và vùng KTTĐ với các địa phương khác trong cả nước, đảm bảo việc lưu thông thuận tiện với thế giới và khu vực; Hai là, chú trọng gia tăng thêm các nguồn vốn đầu tư theo phương thức công tư kết hợp (PPP), sử dụng thêm các nguồn lực tại chỗ để đẩy nhanh mức độ đồng bộ hóa, hiện đạ i hóa hệ thống hạ tầng kỹ thuật; Ba là, phối hợp xây dựng và nâng cao chất lượng kết cấu giao thông đường bộ; Bốn là, quan tâm một cách toàn diện đến hệ thống trường học, bệnh viện, trạm y tế, các trung tâm văn hoá, khu vui chơi giải trí, các công trình văn hoá du lịch, các khu dân cư, khu đô thị... tạo điều kiện thu hút đối với các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là khi họ có ý định làm ăn lâu dài tại các địa phương trong vùng. 23 KẾT LUẬN 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát tr iển bền vững ở vùng KTTĐ là hoạt động đầu tư của tổ chức, cá nhân nước ngoài vào vùng KTTĐ của nước khác, đáp ứng yêu cầu của quy hoạch, định hướng phát triển vùng đó; có tác động tích cực đến sự phát triển của vùng nhằm đảm bảo kết hợp hài hòa, hợp lý giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường không chỉ đối với vùng KTTĐ, mà còn tác động lan tỏa đến các vùng khác cả trong hiện tại và tương lai. 2. Vùng KTTĐ Bắc Bộ là một trong những vùng KTTĐ của cả nước, hội tụ đầy đủ những tiềm năng và lợi thế trong thu hút FDI. Trong những năm qua, vùng KTTĐ Bắc Bộ cùng với vùng KTTĐ phía Nam là hai vùng kinh tế của cả nước thu hút được nhiều dự án FDI nhất so với các vùng kinh tế khác trong cả nước. Khu vực FDI trong vùng đã góp phần quan trọng tro ng việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng theo hướng CNH, HĐH; góp phần tạo việc làm; góp phần gia tăng kim ngạch xuất khẩu và từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu của vùng. Vai trò đầu tàu, động lực trong phát triển kinh tế của vùng KTTĐ Bắc Bộ nhờ đó cũng dần được khẳng định. 3. Mặc dù vậy, bên cạnh những tác động tích cực, hoạt động của khu vực FDI trong vùng KTTĐ Bắc Bộ cũng đang đặt ra những trở ngại trong việc phát triển bền vững của vùng. Những tác động tiêu cực của khu vực FDI đối với vùng đã và đang được biểu hiện trên cả ba khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường. Đó là: hiện tượng chuyển giá, trốn thuế gây thất thu ngân sách nhà nước; việc làm tạo ra còn chưa tương xứng; thu nhập bình quân hàng tháng của người lao động trong các doanh nghiệp FDI không tương xứng với cường độ làm việc; đời sống vật chất và tinh thần của người lao động còn thiếu thốn, chất lượng cuộc sống kém; tranh chấp lao động và đình công có xu hướng gia tăng trong các doanh nghiệp FDI, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trong vùng. Hiện tượng vi phạm pháp luật BVMT trong các doanh nghiệp FDI là khá phổ biến, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và sức khỏe của cộng đồng dân cư. 4. Nguyên nhân của những hạn chế trên đây là do: Một là, hệ thống luật pháp và các chính sách liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài còn chồng chéo, thiếu tính đồng bộ và nhất quán; Hai là, công tác qui hoạch của vùng KTTĐ Bắc Bộ còn nhiều hạn chế, chưa thực sự hiệu quả gắn với yêu cầu phát triển bền vững của vùng, chưa xây dựng được chiến lược thu hút FDI theo 24 hướng PTBV; Ba là, công tác quản lý Nhà nước về FDI còn bất cập; Bốn là, chất lượng nguồn nhân lực của vùng KTTĐ Bắc Bộ còn hạn chế; cơ cấu lao động theo ngành còn nhiều bất hợp lý; Năm là, cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế, yếu kém; Sáu là, các ngành công nghiệp hỗ trợ ở vùng KTTĐ Bắc Bộ còn chưa phát triển đảm bảo cho FDI theo hướng PTBV . 5. Để khắc phục những hạn chế, yếu kém và nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực của FDI đối với PTBV của vùng KTTĐ Bắc Bộ, cần phải thực hiện đồng bộ và hiệu quả 2 nhóm giải pháp lớn với nhiều giải pháp cụ thể, bao gồm: Một là, nhóm giải pháp từ phía Nhà nước trung ương: Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách liên quan đến hoạt động FDI theo hướng PTBV; Xây dựng chiến lược FDI và qui hoạch thu hút FDI cho cả nước đảm bảo theo hướng PTBV; Nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài . Hai là, nhóm giải pháp từ phía chính quyền địa phương vùng KTTĐ Bắc Bộ: Nâng cao chất lượng quy hoạch không gian phát triển kinh tế vùng KTTĐ Bắc Bộ theo hướng PTBV; Thu hút FDI vào vùng KTTĐ Bắc Bộ gắn với mục tiêu PTBV; Phối hợp giữa các bộ, ngành với các địa phương trong vùng KTTĐ Bắc Bộ; Tăng cường quản lý các doanh nghiệp FDI đang hoạt động ở vùng KTTĐ Bắc Bộ; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng KTTĐ Bắc Bộ đáp ứng yêu cầu FDI theo hướng PTBV ; Phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ; Xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng hiện đại, tạo sức hút đối với các nhà đầu tư nước ngoài . 6. Hai nhóm giải pháp trên đây đòi hỏi phải có sự kết hợp linh hoạt, nhịp nhàng trong hoạt động quản lý nhà nước từ cấp trung ương đến cấp địa phương. Tuy nhiên, trong xu hướng đẩy mạnh phân cấp quản lý hoạt động đầu tư như hiện nay, cần hết sức chú trọng đến việc tăng cường phối hợp và nâng cao năng lực quản lý ở các cấp chính quyền địa phương, đặc biệt là chính quyền cấp tỉnh./. DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 1. Trần Thị Tuyết Lan (2008), “Vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc”, Tạp chí Lao động và Xã hội , số 336, tr.39-42. 2. Trần Thị Tuyết Lan (2008), “Tiền lương với tăng trưởng kinh tế ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 343+344, tr.69-71. 3. Trần Thị Tuyết Lan (2009), “Những giải pháp cơ bản nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng phát triển bền vững ”, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số 264-265, tr.38-45. 4. Trần Thị Tuyết Lan (2012), “Giải pháp nâng cao chất lượng quy hoạch không gian kinh tế vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững ”, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số 384. 5. Trần Thị Tuyết Lan (2012), “Vấn đề môi trường trong các doanh nghiệp có vốn ĐTNN ở tỉnh Vĩnh Phúc - Định hướng khắc phục”, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 203.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftom_tat_luan_an_3194.pdf
Luận văn liên quan