Tóm tắt Luận án Hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là các công việc, thao tác nghề nghiệp do luật sư tiến hành trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên cơ sở quy định của pháp luật và quy tắc đạo đức luật sư nhằm chống lại việc buộc tội, xác định sự vô tội của người bị buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, góp phần xác định sự thật vụ án. Thực tiễn cho thấy, những năm qua hoạt động bào chữa của Luật sư đã có đóng góp quan trọng góp phần xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; thực hiện việc dân chủ hoá hoạt động tố tụng, tăng cường tranh tụng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo.

pdf28 trang | Chia sẻ: toanphat99 | Ngày: 19/07/2016 | Lượt xem: 1907 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận án Hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n luận án tiến sĩ “Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong TTHS” của TS. Hoàng Thị Sơn, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2003; sách chuyên khảo “Vai trò của luật sư trong TTHS” của TS. Nguyễn Văn Tuân, Nhà xuất bản Đại học quốc gia, năm 2001; đề tài khoa học “Hoàn thiện pháp luật TTHS nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bào chữa của luật sư” năm 2003 của trường ĐH Luật Hà Nội năm 2013. Trên các tạp chí chuyên ngành 7 luật đã có một số bài viết liên quan như Tạp chí luật học số 5/2003, PTS. TS. Phạm Hồng Hải, Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, Trung tâm KHXH&NV quốc gia đã có bài viết “Vị trí của luật sư bào chữa trong phiên tòa xét xử”; bài viết “Thực trạng hoạt động của luật sư - Người bào chữa qua hơn một năm thì hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003” trên Tạp chí kiểm sát số 24 (12-2005) của PGS.TS. luật sư Phạm Hồng Hải; trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số 5 - 2008), ThS. Nguyễn Văn Trượng, Tòa án Quân sự Trung ương có bài viết “Bàn về việc bảo đảm quyền bình đẳng của luật sư bào chữa khi tham gia tranh tụng tại phiên tòa hình sự”; năm 2009, ThS. Lê Văn Thảo, Đại học Vinh có bài viết “Coi trọng hoạt động nghề nghiệp của luật sư và phiên tòa tranh tụng nhằm nâng cao chất lượng xét xử các vụ án hình sự ở nước ta hiện nay” trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số 4 - 2009). Bàn về các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của luật sư bào chữa, bài viết “Thực trạng quy định của pháp luật về hoạt động tham gia tố tụng của luật sư với tư cách là người bào chữa và hướng hoàn thiện” trên Tạp chí Tòa án nhân dân (kỳ II, tháng 4/2012, số 08) của ThS. Vũ Huy Khánh, Vụ Pháp chế, Bộ Công an; ThS. Thẩm phán Nguyễn Hữu Chính, Phó Chánh án, TAND Tp.Hà Nội có bài viết “Những thuận lợi, khó khăn đối với hoạt động hành nghề luật sư trong giai đoạn xét xử tại Tòa án và một số giải pháp hoàn thiện” trên Tạp chí Tòa án nhân dân, kỳ II tháng 9/2012 (số 18); ThS. Đào Thị Nga, Phó Chánh tòa - Tòa phúc thẩm TANDTC tại HN và ThS. Nguyễn Trí Chinh, Trưởng phòng TKTH - Tòa phúc thẩm TANDTC tại HN đã có bài viết “Hoạt động của luật sư trong giai đoạn xét xử” trên Tạp chí Tòa án nhân dân, kỳ I tháng 10/2012 (số 19); đầu năm 2012, TS. Lê Hữu Thể, Phó Viện trưởng VKSNDTC và Ths Lê Thị Thủy, VKSNDTC có bài viết “Hoàn thiện chế định người bào chữa trong Bộ luật TTHS năm 2003 đáp ứng các yêu cầu cải cách tư pháp” công bố trong tài liệu Hội thảo quốc tế về Bộ luật TTHS năm 2003 và quyền của luật sư bào chữa; tài liệu tại Hội thảo quốc tế về Bộ luật TTHS năm 2003 và quyền của luật sư bào chữa năm 2012, Luật sư Nguyễn Huy Thiệp, Phó CN Đoàn luật sư Tp.HN công bố bài viết “Hoàn thiện các quy định của bộ luật TTHS năm 2003 về bảo đảm quyền bào chữa của luật sư”. Bên cạnh những bài viết có liên quan khá mật thiết đến luận án của các tác giả nêu trên, đã có một số công trình đăng tải trên các tạp chí có tính liên quan nhất định đến đề tài như bài viết “Vai trò của luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự” đăng trên tạp chí công an nhân dân số 5/2006” của TS.Nguyễn Văn Huyên, bài viết “Đào tạo nghề luật sư - nhiệm vụ quan trọng của Bộ Tư pháp” trên tạp chí Nghề luật số 3/2006 của TS.Nguyễn Văn Huyên; bài viết “Hoàn thiện chế định người bào chữa trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” của TS.Lê Hữu Thể- Phó viện 8 trưởng VKSNDTC, đăng trên websitewww.liendoanluatsu.org.vn; “Vai trò của luật sư bào chữa trong tố tụng hình sự theo mô hình tranh tụng của một số nước” của TS.Nguyễn Ngọc Khánh-Phó tổng biên tập tạp chí Kiểm sát, đăng trên website www.tapchikiemsat.org.vn. Bài báo “bảo đảm quyền bào chữa” của tác giả Phan Thương và Tiến Hiểu, đăng trên website www.phapluattp.vn; quyền bào chữa: “Rào cản” do con người, đăng trên website www.phapluattp.vn; đặc điểm tâm lý của hoạt động bào chữa đăng trên website www.luathoc.cafeluat.com; bảo đảm quyền bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử tại tòa án của tác giả Thu Hằng, đăng trên website www.dangcongsan.vn; báo cáo đánh giá thực trạng bảo đảm quyền bào chữa và quan điểm sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2003 của Liên đoàn Luật sư Việt Nam đăng trên websitewww.liendoanluatsu.org.vn; Những bài báo nội dung nghiên cứu chủ yếu về lý luận như bài “Địa vị pháp lý và mối quan hệ của người bào chữa với bị can, bị cáo trong TTHS” củaTS. Nguyễn Văn Tuân, tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 11/2008; bài “Bàn về sự tham gia bắt buộc của người bào chữa trong TTHS” củaTS. Nguyễn Thái Phúc, tạp chí Kiểm sát, số Xuân 1/2009; bài “Nâng cao vị thế của người bào chữa tại phiên toà hình sự” của tác giả Nguyễn Ngọc Khanh, tạp chí Luật học, số 7/2008; bài “Bàn về sự tham gia bắt buộc của người bào chữa trong giai đoạn điều tra trong TTHS” của Nguyễn Trương Tín, tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 12/2010; bài “Về sự tham gia của người bào chữa vào quá trình TTHS theo BLTTHS năm 2003” của Nguyễn Duy Hưng, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3/2004. Những nghiên cứu của các nhà khoa học về thực trạng hoạt động bào chữa có thể kể đến một số bài như bài “Người bào chữa trong vụ án hình sự” của TS. Nguyễn Mai Bộ, tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2/1999; và bài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc thực thi các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền của luật sư trong quá trình tham gia TTHS, dân sự” củaTS. Phan Trung Hoài, Tạp chí Kiểm sát, số 4/2007; “Thực trạng hoạt động của luật sư - người bào chữa qua hơn một năm thi hành Bộ luật TTHS; LĐLS Việt Nam cũng đã tổ chức những Hội thảo khoa học nghiên cứu hoạt động bào chữa của luật sư như hội thảo “Cải cách tư pháp và phòng chống oan sai trong hoạt động tố tụng” tổ chức tại Hà Nội ngày 2-3/11/2009; Hội thảo “Hoàn thiện các quy định của BLTTHS năm 2003 về bảo đảm quyền bào chữa và quyền hành nghề của luật sư” tổ chức trong hai ngày 29 và 30/03/2012 tại Hà Nội. 1.3. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 1.3.1. Về khái niệm, đặc điểm, nội dung và ý nghĩa của hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 9 Phần lớn các công trình khoa học đã công bố đều chưa đưa ra được khái niệm hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cũng như làm rõ đặc điểm, nội dung, ý nghĩa của hoạt động này. Nhiều công trình mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu và xây dựng khái niệm quyền bào chữa, người bào chữa và làm rõ vai trò của người bào chữa hay luật sư. Việc nghiên cứu nội hàm hoạt động bào chữa chưa được chú trọng, đặc biệt chưa đề cập tới vấn đề xây dựng khái niệm hoạt động bào chữa của luật sư nói chung và hoạt động bào chữa của luật sư nói riêng trong một giai đoạn cụ thể như giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Bởi vậy, việc nghiên cứu, xây dựng khái niệm hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là cần thiết. Nghiên cứu sinh dự định xây dựng khái niệm và xác định ý nghĩa của hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên cơ sở làm rõ các vấn đề chủ thể thực hiện, cách thức tiến hành hoạt động, đặc điểm của hoạt động, thời điểm thực hiện, cơ sở pháp lý để tiến hành hoạt động, mục đích của hoạt động, ý nghĩa của hoạt động. 1.3.2. Về thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Trong số các công trình khoa học đã được công bố, vấn đề thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư nhận được ít nhất sự quan tâm, bình luận của các học giả. Phần lớn các tác giả có đưa ra những nhận định chung rằng chất lượng hoạt động bào chữa chưa thực sự tốt, mà thiếu các chứng cứ chứng minh một cách đầy đủ và rõ ràng. Đặc biệt, những tác phẩm này thường đánh giá “hoạt động” nói chung, mà chưa nhận định chất lượng công việc, thao tác cụ thể mà luật sư phải thực hiện. Về nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động bào chữa của luật sư cũng được tập trung nghiên cứu. Nhiều bài viết đều nhận định hoạt động bào chữa của luật sư chưa thực sự hiệu quả bởi nhiều lý do trong đó bao gồm: pháp luật chưa hoàn thiện; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người tiến hành tố tụng còn hạn chế; trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Luật sư chưa đáp ứng yêu cầu; vấn đề đạo đức nghề nghiệp của các Luật sư; chế độ, chính sách; cơ chế giám sát và xử lý vi phạm đối với người tiến hành tố tụng và luật sư khi có vi phạm Phần lớn các công trình được công bố phân tích, bình luận các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội; vị trí tố tụng của luật sư; quyền hành nghề của luật sư và những thuận lợi, khó khăn khi luật sư hành nghề. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa có những phân tích cụ thể và đánh giá xác đáng về thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư thông qua đánh giá các công việc, thao tác nghề nghiệp mà luật sư thực hiện trên thực tế. Bởi vậy, luận án sẽ tập trung làm rõ cơ sở pháp lý của hoạt động bào chữa của luật sư, đánh giá việc thực hiện hoạt động này trên nền quy định của 10 BLTTHS năm 2003 và quy định mới của BLTTHS năm 2015 (có hiệu lực vào ngày 1/7/2016); làm rõ thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, từ đó chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động bào chữa của luật sư nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng. Do đó, nội dung đánh giá thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư trong luận án sẽ không trùng lặp với phần viết của các công trình đã công bố vì đề cập tới thực trạng hoạt động bào chữa cụ thể của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Luận án sẽ tiếp thu những điểm có liên quan trong các công trình đã công bố để làm giàu thêm nguồn tư liệu đánh giá về thực trạng. 1.3.3. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Cho tới thời điểm luận án được hoàn thành, các nghiên cứu đã công bố tập trung chủ yếu vào giải pháp hoàn thiện pháp luật. Đây là nhóm giải pháp có nhiều điểm tương đồng với những giải pháp được phân tích trong luận án này. Tuy nhiên, phần lớn các công trình đã công bố chỉ ra một số giải pháp nhưng thiếu các phân tích sâu về những yếu tố liên quan cần thiết. Những yếu tố cần được phân tích bao gồm: cơ chế đảm bảo cho các quy định của pháp luật về quyền của luật sư, các chế tài áp dụng đối với những người có hành vi cản trở; các hoạt động nâng cao trình độ nghiệp vụ và kỹ năng tranh tụng cho các luật sư bào chữa, và nâng cao chất lượng hoạt động của người tiến hành tố tụng, và thay đổi nhận thức của những đối tượng có quyền bào chữa và người thân của họ. Điểm khác biệt nổi bật của luận án này so với các bài viết đã công bố là luận án sẽ không chỉ liệt kê tên các giải pháp, mà phân tích rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của mỗi đề xuất, kiến nghị. Đồng thời, luận án cũng chỉ ra các giải pháp mới như: nâng cao trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm cho luật sư thực hiện các quyền; xử lý nghiêm những hành vi gây cản trở hoạt động của người bào chữa; tăng cường chất lượng đội ngũ luật sư; giám sát phát hiện người tiến hành tố tụng gây khó khăn, vi phạm pháp luật, không tạo điều kiện cho luật sư thực hiện quyền và chế tài xử lý; giám sát phát hiện luật sư vi phạm pháp luật và chế tài xử lý; đổi mới chế độ, chính sách, tuyên truyền giáo dục pháp luật. Kết luận chương 1 Mặc dù đã có nhiều công trình khoa học được công bố và đề cập đến hoạt động bào chữa của luật sư ở cả trong và ngoài nước nhưng do bị giới hạn về phạm vi nghiên cứu cũng như cấp độ nghiên cứu nên các vấn đề liên quan đến hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thường không được trình bày riêng biệt mà chỉ được đề cập ở một số khía cạnh khi viết về người bào chữa nói chung. Với một số công trình 11 nghiên cứu riêng về hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự,các vấn đề lý luận chuyên sâu cũng chưa được đề cập đến một cách toàn diện và có hệ thống. Chính vì vậy, với tư cách là một công trình nghiên cứu toàn diện về hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, luận án tiếp tục nghiên cứu ở mức độ sâu hơn để trở thành một công trình nghiên cứu toàn diện, có tính hệ thống và tính mới trong lĩnh vực này tại Việt Nam. 12 Chương 2 LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 2.1. KHÁI NIỆM HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 2.1.1. Hoạt động bào chữa của luật sư 2.1.1.1. Khái niệm hoạt động bào chữa của luật sư Hoạt động bào chữa của luật sư là các công việc do luật sư tiến hành trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm loại bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội từ phía cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc người bị hại, tìm ra các căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. 2.1.1.2. Đặc điểm hoạt động bào chữa của luật sư Hoạt động bào chữa của luật sư có những đặc điểm cơ bản sau: - Hoạt động bào chữa của luật sư thể hiện tính chuyên nghiệp, tuân thủ quy tắc đạo đức, không có khuôn mẫu, dựa vào sự nhạy bén, linh hoạt, năng động của luật sư, thể hiện ứng xử có văn hóa, tôn trọng người tiến hành và tham gia tố tụng và thể hiện sự tận tâm bảo vệ cho thân chủ, kiên trì thuyết phục Hội đồng xét xử nhằm bảo vệ tốt nhất cho thân chủ của mình. - Hoạt động bào chữa của luật sư còn thể hiện tính độc lập và tự chịu trách nhiệm cá nhân trước khách hàng về hoạt động nghề nghiệp của mình. - Hoạt động bào chữa của luật sư phụ thuộc vào thời điểm tham gia tố tụng và chỉ mang tính đề xuất, kiến nghị, phụ thuộc nhiều vào cơ quan tiến hành tố tụng. - Hoạt động bào chữa của luật sư được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc, thủ tục luật định và quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của người bào chữa 2.1.1.3. Cơ sở pháp lý của hoạt động bào chữa của luật sư - Các nguyên tắc mang tính chất định hướng cho hoạt động bào chữa như nguyên tắc “bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội” nguyên tắc “tranh tụng trong xét xử”; các nguyên tắc khác nhằm đảm bảo cho hoạt động bào chữa của luật sư có hiệu quả. - BLTTHS cũng quy định cụ thể trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết thông tin về tội phạm cũng như quá trình giải quyết vụ án hình sự. Việc giải quyết mọi vụ án đều được thực hiện theo đúng thủ tục tố tụng mà BLTTHS quy định. - Các quy định về bào chữa nói chung và quyền, nghĩa vụ của người bào chữa nói riêng là căn cứ pháp lý quan trọng để luật sư thực hiện hoạt động bào chữa. 13 2.1.1.4. Mục đích hoạt động bào chữa của luật sư - Hoạt động bào chữa của luật sư có mục đích trước hết là bảo vệ quyền lợi cho cho người bị buộc tội hay nói cách khác là bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của thân chủ. - Hoạt động bào chữa của Luật sư còn hướng tới việc hạn chế đến mức thấp nhất những vi phạm pháp luật của các cơ quan THTT., hoạt động bào chữa của luật sư cũng đạt được - Xác định sự thật vụ án, góp phần đảm bảo giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. 2.1.2. Hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 2.1.2.1. Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó Toà án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật. Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có những đặc trưng cơ bản sau: - Giai đoạn xét xử sơ thẩm bắt đầu từ khi hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng của Viện kiểm sát được chuyển sang Toà án có thẩm quyền. Sau khi vụ án đã được thụ lý, chánh án Toà án phân công thẩm phán (hoặc một nhóm thẩm phán) nghiên cứu hồ sơ vụ án và tham gia tố tụng tại phiên toà với tư cách là chủ tọa hoặc thẩm phán xét xử; - Giai đoạn xét xử sơ thẩm kết thúc khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị; - Nhiệm vụ của giai đoạn xét xử sơ thẩm là xem xét và giải quyết tất cả các vấn đề về nội dung vụ án theo quy định của pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; - Chủ thể cơ bản tiến hành tố tụng trong giai đoạn này là Toà án. Chỉ có Toà án mới có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Ngoài ra, còn có sự tham gia của các chủ thể khác theo quy định của pháp luật như kiểm sát viên, người bào chữa, người bị hại, người làm chứng 2.1.2.2. Nội dung hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Trong thời gian toà án chuẩn bị xét xử, Luật sư đã phải thể hiện tính năng động, tinh thần trách nhiệm của mình. Cho dù Luật sư đã được mời và tham gia vào các giai đoạn tố tụng trước đó thì Luật sư vẫn phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, gặp người bị buộc tội (nếu chưa có quyết định đưa vụ án ra xét xử) để hiểu rõ nội dung vụ án, hiểu được các tình tiết mà Viện kiểm sát cũng như Cơ quan điều tra trước đó dùng làm chứng cứ buộc tội họ và giúp đỡ họ về 14 mặt pháp lý. Chính trong thời gian nghiên cứu hồ sơ tại Toà án khi chưa có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Luật sư được trình bày quan điểm bước đầu và nêu yêu cầu, đề nghị thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà thực hiện những hành vi tố tụng khác nhau theo quy định của pháp luật. Cùng với những hoạt động này, luật sư còn thực hiện các hoạt động khác như chuẩn bị luận cứ bào chữa, dự kiến kế hoạch hỏi của luật sư tại phiên toà, trao đổi với thân chủ trước khi ra phiên toà. Tại phiên toà, trên cơ sở các quyền mà pháp luật quy định cho mình, luật sư thực hiện các hoạt động nhằm làm sáng tỏ những điểm có lợi cho người bị buộc tội, phủ nhận hay giảm thiểu những điểm bất lợi cho họ nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ. Luật sư thực hiện việc hỏi, tranh luận, đối đáp và đưa ra những đề xuất cần thiết tại phiên toà. Như vậy, có thể phân chia hoạt động bào chữa của Luật sư thành hai nhóm cụ thể, nhóm những công việc, thao tác nghề nghiệp được thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật tố tụng hình sự (đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa; đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; gặp người bị buộc tội đang bị tạm giam; đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa; hỏi, tranh luận tại phiên toà) và nhóm những công việc, thao tác nghề nghiệp khác không trái luật (trao đổi với người bị buộc tội; nghiên cứu hồ sơ vụ án; trao đổi, đề xuất với toà án; chuẩn bị luận cứ bào chữa, dự kiến kế hoạch hỏi). Hai nhóm hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ trợ cho nhau và cùng hướng tới mục đích bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho người bị buộc tội trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Từ những phân tích nêu trên về các khái niệm liên quan, đặc điểm, nội dung, cơ sở pháp lý và mục đích của hoạt động bào chữa của luật sư, giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có thể đưa ra khái niệm hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: là các công việc, thao tác nghề nghiệp do luật sư tiến hành trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên cơ sở quy định của pháp luật và quy tắc đạo đức luật sư nhằm chống lại việc buộc tội, xác định sự vô tội của người bị buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, góp phần xác định sự thật vụ án. 2.2. Ý NGHĨA HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 2.2.1. Ý nghĩa chính trị, xã hội - Thực hiện hoạt động bào chữa chính là nhằm thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước về vấn đề bảo đảm quyền con người, vấn đề cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền. 15 - Góp phần vào việc bảo đảm pháp chế, bảo đảm pháp luật được tôn trọng và thực thi một cách nghiêm chỉnh, góp phần bảo đảm quyền con người trong TTHS. - Góp phần bảo đảm cho công lý được thực thi, bảo đảm việc thực hiện công bằng, dân chủ trong tố tụng TTHS, không làm oan người vô tội, qua đó bảo đảm công bằng trong xã hội. - Giúp những người quan tâm đến việc giải quyết vụ án thấu hiểu quyền và nghĩa vụ của mình; giúp nhiều công dân hiểu được cái giá phải trả khi có hành vi vi phạm pháp luật. 2.2.2. Ý nghĩa pháp lý - Hoạt động bào chữa của luật sự không chỉ là công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội mà còn góp phần quan trọng trong việc xác định sự thật của vụ án, đảm bảo việc giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật, đảm bảo không làm oan người vô tội. - Góp phần tích cực vào việc thực hiện các nhiệm vụ của TTHS đó là phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Kết luận chương 2 Hoạt động bào chữa của Luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được thực hiện trên cơ sở các quyền được quy định trong BLTTHS và quy tắc đạo đức nghề nghiệp của luật sư. Trong luận án này, hoạt động bào chữa được hiểu là hoạt động của người bào chữa trong đó có luật sư trong việc đưa ra các chứng cứ, tài liệu nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị buộc tội; là phương thức hoạt động của chủ thể nhằm loại bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội từ phía cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc người bị hại, tìm ra các căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và bảo vệ quyền lợi của người bị buộc tội. Với nhận thức như vậy, Luận án đưa ra khái niệm: Hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là các công việc, thao tác nghề nghiệp do luật sư tiến hành trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên cơ sở quy định của pháp luật và quy tắc đạo đức luật sư nhằm chống lại việc buộc tội, xác định sự vô tội của người bị buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, góp phần xác định sự thật vụ án. Đồng thời, luận 16 án cũng phân tích các đặc điểm cơ bản, cơ sở pháp lý, mục đích, ý nghĩa và nội dung của hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Chương 3 CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 3.1. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 3.1.1. Mối quan hệ pháp lý giữa luật sư và bị can, bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 3.1.2. Cơ sở pháp lý để luật sư thực hiện hoạt động bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Quyền của người bào chữa nói chung, của Luật sư nói riêng được quy định cụ thể tại điều 56, 57, 58 BLTTHS năm 2003, đồng thời quy định rải rác trong các điều luật khác tại các chương quy định về trình tự, thủ tục tố tụng. Những quy định này được hình thành từ các nguyên tắc hiến định và là yếu tố cấu thành nên chế định người bào chữa trong tố tụng hình sự. Cùng với các quyền được pháp luật ghi nhận, Luật sư còn có những nghĩa vụ nhất định. Bên cạnh những điểm tiến bộ của BLTTHS 2003, quy định về chế định người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam vẫn còn một số bất cập. Pháp luật đã quy định một số quyền của người bào chữa nhưng lại thiếu các cơ chế để người bào chữa thực hiện đầy đủ, hiệu quả các quyền mà pháp luật tố tụng hình sự quy định. Đặc biệt, BLTTHS còn chưa quy định một số quyền quan trọng làm cơ sở cho hoạt động bào chữa như quyền thu thập chứng cứ, nếu có khó khăn trong việc thu thập chứng cứ thì cơ quan tiến hành tố tụng phải hỗ trợ luật sư trong việc thu thập chứng cứ như ra lệnh triệu tập người làm chứng hay yêu cầu cơ quan, tổ chức chung cấp chứng cứ, quyền được nhận các quyết định tố tụng liên quan đến người mà luật sư bào chữa, quyền được chất vấn, đối chất người làm chứng, người bị hại trong các giai đoạn tố tụng ; một số thủ tục tố tụng hiện hành chưa tạo điều kiện để luật sư nhanh chóng tiếp cận với quá trình giải quyết vụ án; pháp luật đã có những quy định về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong việc đáp ứng các yêu cầu, đề nghị của luật sư nhưng lại thiếu thời hạn ràng buộc trách nhiệm của các chủ thể tiến hành tố tụng trong việc đáp ứng quyền của luật sư được luật định; các vi phạm quyền của người bào chữa từ phía cơ quan tiến hành tố tụng, 17 người tiến hành tố tụng chưa được ghi nhận là các vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Khắc phục những hạn chế, bất cập trong quy định về chế định người bào chữa của BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 đã có những thay đổi căn bản, tạo hành lang pháp lý cho luật sư thực hiện hoạt động bào chữa của mình. Tuy nhiên, quy định pháp lý mới chỉ đảm bảo về mặt luật định còn việc đảm các quyền đó có tính khả thi trên thực tế là điều vô cùng quan trọng. 3.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 3.2.1.Tình hình luật sư tham gia bào chữa trong các vụ án hình sự 3.2.2. Thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 3.2.2.1. Thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự * Thực trạng hoạt động nghiên cứu hồ sơ của luật sư Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động nghiên cứu hồ sơ của luật sư cũng tồn tại những điểm hạn chế, vướng mắc như: Luật sư không phát hiện được các vi phạm thủ tục tố tụng, chưa nhận thức được sự vi phạm đó có ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án, quyền và lợi ích hợp pháp của người mà mình bào chữa hay không; việc đọc để hiểu thấu đáo nội dung bản cáo trạng, bản kết luận điều tra, các biên bản hỏi cung, biên bản lấy lời khai nhằm xác định hành vi của thân chủ có cấu thành tội phạm hay không, vấn đề yêu cầu giải quyết bồi thường thiệt hại (nếu có) chưa được thực hiện có hiệu quả. * Thực trạng hoạt động gặp, trao đổi với bị can, bị cáo của luật sư Hoạt động gặp, trao đổi với bị can, bị cáo của luật sư vẫn còn những hạn chế: - Một số luật sư chưa dự kiến được kế hoạch trao đổi với thân chủ một cách thoả đáng nên bỏ sót những vấn đề cần phải làm rõ liên quan đến chứng cứ có lợi cho thân chủ. - Do thời gian gặp bị can, bị cáo còn hạn chế nên luật sư không thể hỏi kỹ được các vấn đề đã dự kiến trong kế hoạch trao đổi. - Có những trường hợp luật sư đặt nhiều câu hỏi đa nghĩa, sử dụng từ địa phương khiến thân chủ khó trả lời hoặc trả lời không đúng trọng tâm, trả lời thiếu nhưng luật sư không phát hiện ra. * Thực trạng hoạt động thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa của luật sư Trên thực tế, hoạt động thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa của luật sư vẫn còn những vướng mắc nhất định như: không ít 18 trường hợp luật sư chưa xác định được cụ thể tài liệu muốn thu thập; việc chuẩn bị kế hoạch thu thập thông tin chưa cụ thể, cách thức thu thập chưa phù hợp với đối tượng có khả năng cung cấp thông tin; việc thu thập tài liệu từ phía các cơ quan tổ chức có liên quan rất khó khăn. * Thực trạng hoạt động đề xuất với Tòa án của luật sư Thực tiễn cho thấy, hoạt động đề xuất với toà án của luật sư vẫn còn những hạn chế. Cụ thể: một số luật sư chưa biết cách soạn thảo văn bản kiến nghị, đề xuất có tính thuyết phục cả về hình thức và nội dung nên không được Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà chấp nhận; chưa đưa ra được lý do của việc không cần thiết phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi nhận thấy thiếu chứng cứ nhưng không phải là chứng cứ quan trọng, có vi phạm thủ tục tố tụng nhưng chỉ là vi phạm thủ tục tố tụng không nghiêm trọng; đề nghị nhập hoặc tách vụ án khi không có căn cứ do pháp luật quy định; chưa đề xuất kịp thời với TA để triệu tập những người làm chứng đó; chưa cân nhắc kỹ lưỡng để lựa chọn biện pháp ngăn chặn có lợi nhất cho thân chủ của mình khi đề xuất thay đổi. * Thực trạng hoạt động dự kiến kế hoạch hỏi tại phiên toà của luật sư Hoạt động dự kiến kế hoạch hỏi của luật sư vẫn còn những hạn chế. Cụ thể: một số Luật sư chưa bám sát nội dung vụ án, các hành vi và tội danh mà VKS truy tố nên; một số câu hỏi phức tạp do chưa chuẩn bị trước cho bị cáo luật sư đặt ra trở thành phản tác dụng sau khi được chính thân chủ của mình trả lời; kế hoạch hỏi chưa rõ ràng, cụ thể, đầy đủ và chính xác, hợp lý đối với các đối tượng xét hỏi, chưa linh hoạt trong việc dự kiến các tình huống có thể xảy ra tại phiên toà. * Thực trạng hoạt động chuẩn bị luận cứ bào chữa của luật sư Tuy nhiên, hoạt động chuẩn bị luận cứ bào chữa của luật sư vẫn còn một số hạn chế như: Luận cứ bào chữa được chuẩn bị với nội dung sơ sài, hô khẩu hiệu, chưa chỉ ra được chứng cứ chứng minh những điểm có lợi mà thân chủ mình đáng được hưởng. Có trường hợp, luật sư còn bình luận và viện dẫn sai cơ sở pháp lý khi đề xuất. 3.2.2.2. Thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự * Thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư trong phần thủ tục bắt đầu phiên toà sơ thẩm. Hoạt động bào chữa của một số luật sư trong phần thủ tục bắt đầu phiên toà vẫn còn những hạn chế. Cụ thể: không phát hiện sự vắng mặt của những người có lời khai buộc tội cho bị cáo nhưng lời khai của họ mâu thuẫn với các chứng cứ trong vụ án; không kịp thời phát hiện những thiếu sót của HĐXX khi điều khiển phần thủ tục bắt đầu phiên toà; đưa ra đề xuất hoãn 19 phiên toà không phù hợp, thậm chí không đem lại lợi ích cho bị cáo họ bảo vệ hoặc trường hợp cần đề xuất hoãn phiên toà lại không đề xuất; không đề nghị cho thân chủ được thực hiện đúng các quyền tố tụng; không phản đối các đề xuất bất lợi của đại diện viện kiểm sát hay luật sư đối phương. * Thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư trong phần xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm Trong thực tế, việc thực hiện hoạt động bào chữa của luật sư trong phần xét hỏi vẫn tồn tại những hạn chế nhất định bởi một số luật sư chưa thực hiện tốt hoạt động của mình trong một số trường hợp. Cụ thể: chưa kịp thời giúp đỡ thân chủ của mình về mặt pháp lý trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng, bảo vệ thân chủ của mình khỏi những trường hợp dụ cung, mớm cung, bức cung hoặc những câu hỏi xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của thân chủ từ phía những người xét hỏi khác ; chưa yêu cầu Chủ toạ phiên toà ngăn chặn kịp thời các vi phạm thủ tục tố tụng trong xét hỏi của HĐXX, KSV hay của Luật sư khác; chưa đặt được các câu hỏi để khẳng định về các tình tiết gỡ tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong vụ án; làm rõ các tình tiết thuộc nhân thân người phạm tội và động cơ, mục đích, hoàn cảnh phạm tội, thái độ đối với việc phạm tội có giá trị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. * Thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư trong phần tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm Bên cạnh những luật sư đã thực hiện có hiệu quả hoạt động bào chữa trong phần tranh luận tại phiên toà, một bộ phận luật sư vẫn còn hạn chế trong quá trình thực hiện hoạt động này. Cụ thể: chưa có sự chuẩn bị kỹ lưỡng luận cứ bào chữa (dù là sơ bộ) để sử dụng khi cần thiết tại toà; chưa linh hoạt trong việc kịp thời bổ sung những tình tiết có lợi tại toà vào luận cứ bào chữa hay thay đổi định hướng bào chữa cho phù hợp với diễn biến của phiên toà; quan điểm bào chữa tại toà giữa luật sư và bị cáo chưa có sự thống nhất; khi trình bày quan điểm bào chữa của mình, luật sư không đưa ra những chứng cứ gỡ tội cho bị cáo hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo mà lại nhận xét thái độ, tác phong của Kiểm sát viên... đưa ra những đề nghị không phù hợp thậm chí còn làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bị cáo; một số luận cứ bào chữa của Luật sư không thể hiện sự nhất quán; mới chỉ tập trung vào việc phân tích, đánh giá hoàn cảnh khách quan để từ đó cho rằng hành vi của bị cáo thuộc trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi chứ chưa đưa ra được những tài liệu, chứng cứ, đồ vật có tính bất ngờ, chắc chắn để thuyết phục Hội đồng xét xử. * Thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư trong phần tuyên án Nhiều luật sư khẳng định, ngay ở phần tuyên án, Luật sư cũng cần thực hiện những hoạt động cụ thể nhằm tiếp tục giúp đỡ cho thân chủ. Luật sư 20 tuân theo sự điều khiển của Chủ toạ phiên toà khi Toà tuyên án; chú ý lắng nghe để nắm bắt toàn bộ nội dung cũng như hình thức bản án, nhất là các quyết định liên quan đến thân chủ của mình để kịp thời trao đổi với thân chủ về việc thực hiện hay không quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật; trường hợp cần thiết thì chuẩn bị kháng cáo theo trình tự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. 3.3. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 3.3.1. Nguyên nhân pháp luật Thứ nhất, BLTTHS năm 2015 vẫn chưa có quy định để bảo đảm cho sự chủ động thu thập chứng cứ của luật sư khi cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan không cung cấp; chưa quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thông báo, tống đạt cho người bào chữa các quyết định, văn bản tố tụng liên quan đến quyền và lợi ích của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà họ bào chữa, cũng như các văn bản về sự thay đổi trình tự tố tụng hình sự; không quy định các trường hợp luật sư được chủ động đề xuất người làm chứng, chứng cứ cũng như triệu tập những người có liên quan khác có mặt tại toà nếu không được sự chấp thuận của toà án. ; quy định người bào chữa được tham gia vào các hoạt động điều tra khác là chưa cụ thể; chưa quy định rõ ràng, cụ thể quyền sao chụp hồ sơ, tài liệu vụ án ở các giai đoạn tố tụng của người bào chữa; quy định người bào chữa chỉ được hỏi người bị tạm giữ, bị can nếu Điều tra viên đồng ý đã hạn chế quyền của người bào chữa vì phụ thuộc nhiều vào quan điểm chủ quan của Điều tra viên; chưa quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên..) phải thông báo về thời gian, địa điểm hỏi cung để luật sư tham dự thực hiện quyền bào chữa; chưa có quy định về thủ tục người bào chữa gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; quyền người bào chữa được gặp riêng người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong các giai đoạn tố tụng, được bảo mật thông tin trao đổi giữa luật sư và người được bào chữa, không bị hạn chế số lần gặp, thời gian gặp, không bị kiểm soát về nội dung cuộc trao đổi mà chỉ kiểm soát về tầm nhìn; bảo đảm quyền gặp gỡ, thông tin liên lạc với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị án và người bào chữa; trách nhiệm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan giam giữ có nghĩa vụ bảo đảm các cuộc gặp mặt và việc thông tin liên lạc giữa người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị án với người bào chữa của họ một cách riêng tư và độc lập; chưa có quy định về quyền miễn trừ trách nhiệm hình sự và dân sự của người bào chữa; chưa quy định trách nhiệm của cơ quan và người tiến hành tố tụng phải tôn trọng kết quả bào chữa; xem xét các tài liệu, đồ vật do bên bào chữa cung 21 cấp; các tình tiết và những lập luận do bên bào chữa nêu ra. Các vi phạm quyền của người bào chữa từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải bị xem là những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và không có giá trị chứng minh tại phiên toà. BLTTHS chưa quy định về cơ chế bảo đảm thực hiện các quyền của người bào chữa; chế tài theo hướng quy định hậu quả pháp lý, theo đó nếu các cơ quan tiến hành tố tụng có vi phạm thì người tham gia tố tụng không phải gánh chịu hậu quả; Thứ hai: chưa quy định chế tài nghiêm ngặt để ràng buộc trách nhiệm cá nhân của người bào chữa; thiếu cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm của Cơ quan điều tra, VKS trong việc đảm bảo sự tham gia của người bào chữa trong các hoạt động điều tra khác; Thứ ba: một số quy định về thủ tục xét xử còn chưa thực sự bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trước tòa án và chưa đảm bảo tăng cường tranh tụng; quy định trong phần tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm chưa cụ thể hóa được chức năng buộc tội của Viện kiểm sát, chưa nhấn mạnh được vai trò của luật sư bào chữa, chưa nâng cao được vị thế của luật sư cũng như trách nhiệm của luật sư với tư cách là chủ thể của bên gỡ tội. 3.3.2. Nguyên nhân khác 3.3.2.1. Từ phía luật sư - Trong hoạt động bào chữa của mình, nhiều Luật sư còn thiếu tinh thần trách nhiệm với thân chủ, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề của Luật sư bào chữa còn chưa đồng đều; - Do không hiểu thấu đáo quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định, Luật sư đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình khi làm nhiệm vụ bào chữa cho bị can, bị cáo. - Nhiều Luật sư có trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhưng chưa có được một môi trường cạnh tranh lành mạnh; tổ chức Luật sư (các văn phòng Luật sư) chưa được tổ chức đầy đủ ở các địa phương; các tổ chức này phân bố không đồng đều ở các địa phương không đáp ứng nhu cầu bào chữa ở nhiều tỉnh, nhất là ở vùng sâu, vùng xa. 3.3.2.2. Từ phía cơ quan tiến hành tố tụng - Cơ quan tiến hành tố tụng còn gây khó khăn, không tạo điều kiện để luật sư thực hiện các quyền bào chữa theo quy định của pháp luật, nhận thức của người tiến hành tố tụng về hoạt động bào chữa của luật sư chưa đúng đắn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người tiến hành tố tụng chưa đồng đều. - Phẩm chất đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của các chủ thể tiến hành tố tụng còn nhiều hạn chế. - Trong quá trình tham gia tố tụng và liên quan đến việc hành nghề, nhiều luật sư bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, 22 LĐLSVN đã can thiệp rất mạnh mẽ, kiên quyết nhưng nhiều vụ việc không được Cơ quan tố tụng khẩn trương làm rõ, khiến cho quyền hành nghề của luật sư bị ảnh hưởng, giảm sút sự tin cậy của xã hội đối với vị trí, vai trò của đội ngũ luật sư. 3.3.2.3. Tuyên truyền giáo dục pháp luật Trên thực tế, hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật chưa thực sự hiệu quả. Bởi lẽ, một số cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của hoạt động này; chưa chủ động, tích cực trong tổ chức thực hiện; chưa linh hoạt trong việc tìm kiếm các mô hình, phương pháp, cách làm phù hợp với điều kiện của địa phương; lực lượng thực hiện công tác phổ biến giáo dục pháp luật chủ yếu là kiêm nhiệm nên chưa chuyên tâm với công việc. Kết luận chương 3 Hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đã thực sự mang lại hiệu quả không chỉ đối với bị can, bị cáo họ bảo vệ mà còn góp phần làm sáng tỏ vụ án, giúp Toà án có những phán quyết chính xác, đúng pháp luật. Mặc dù còn có những khó khăn nhất định nhưng nhìn chung hoạt động bào chữa của Luật sư đã đáp ứng được những yêu cầu bào chữa và đạt được những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, chất lượng bào chữa của Luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự vẫn còn những hạn chế. Nguyên nhân của tình trạng kém hiệu quả trong hoạt động bào chữa của Luật sư nước ta hiện nay xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan và những điều kiện khách như quy định của pháp luật tố tụng hình sự và một số văn bản khác có liên quan chưa rõ ràng, đầy đủ; hạn chế về nhận thức, trình độ chuyên môn, kỹ năng hành nghề, đạo đức nghề nghiệp của người tiến hành tố tụng và từ phía luật sư; nhận thức của người dân (cả công dân nói chung và người bị buộc tội nói riêng). Chương 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 4.1. YÊU CẦU CỦA CẢI CÁCH TƯ PHÁP VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ 4.2. GIẢI PHÁP VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ - Thứ nhất: hoàn thiện các quy định về quyền, nghĩa vụ của người bào chữa và việc đảm bảo thực hiện như bổ sung điều luật mới về trình tự và thủ tục gặp gỡ, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm 23 quyền gặp gỡ giữa người bào chữa và người bị giam, giữ; quy định rõ ràng, cụ thể quyền sao chụp hồ sơ, tài liệu của vụ án ở các giai đoạn tố tụng của người bào chữa, quy định cụ thể trình tự, thủ tục và việc bảo đảm thực hiện quyền của người bào chữa về đọc, sao chụp hồ sơ vụ án; quy định về cơ chế bảo đảm thực hiện các quyền của người bào chữa và chế tài cần thiết đối với cơ quan, người tiến hành tố tụng có hành vi vi phạm; xây dựng chế tài nghiêm ngặt để ràng buộc trách nhiệm cá nhân của người bào chữa ... BLTTHS cũng cần quy định luật sư bào chữa phải được có mặt trong lần lấy lời khai đầu tiên của người bị tạm giữ hoặc bị can để đảm bảo tính khách quan, chính xác của lời khai; - Thứ hai: bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, thực hiện các quyền tư pháp; quy định trách nhiệm thông báo của người tiến hành tố tụng đối với các đối tượng thực hiện quyền bào chữa; - Thứ ba: quy định trách nhiệm, chế tài cụ thể của Đoàn luật sư, Văn phòng luật sư trong việc không cử người bào chữa sau khi cơ quan tiến hành tố tụng đã yêu cầu; bổ sung những trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa; trách nhiệm của Nhà nước trong việc hỗ trợ chi phí cho người bào chữa trong các trường hợp bắt buộc và trường hợp người bào chữa có mặt trong lần đầu tiên lấy lời khai của người bị tạm giữ hoặc bị can. 4.3. CÁC GIẢI PHÁP KHÁC 4.3.1. Đối với đội ngũ luật sư Xây dựng đội ngũ Luật sư theo hướng nắm vững luật pháp, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu bảo vệ chân lý khách quan trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền; nhanh chóng xây dựng đội ngũ Luật sư với số lượng và chất lượng cao nhằm đáp ứng yêu cầu tham gia bào chữa đối với tất cả các vụ án không chỉ ở những thành phố lớn như hiện nay. Luật sư bào chữa tại phiên toà phải được coi như một bên tranh tụng thực sự bình đẳng với cơ quan công tố; cần tăng cường công tác đào tạo và rèn luyện phẩm chất đạo đức của đội ngũ Luật sư, nâng cao chất lượng các khoá đào tạo nguồn luật sư đặc biệt chú trọng đào tạo về kỹ năng hành nghề nói chung và kỹ năng tranh tụng tại phiên toà nói riêng và tạo điều kiện để Luật sư được thử thách trong thực tiễn; thu hút chuyên gia giỏi về pháp luật tham gia đội ngũ Luật sư; hoàn thiện thể chế về luật sư và hành nghề luật sư; tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý về luật sư và hành nghề luật sư, nâng cao năng lực bộ máy cơ quan quản lý nhà nước, đội ngũ cán bộ tư pháp thực hiện công tác quản lý luật sư và hành nghề luật sư; có chính sách kích thích nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của cá nhân, cơ quan, tổ chức; ban hành chính sách thu hút nguồn nhân lực tham gia hoạt động hành nghề luật sư; có phương thức cung cấp thông tin và tiếp cận thông tin dễ dàng, thuận lợi giữa công dân, cơ quan, tổ chức với tổ chức, hoạt động luật sư; có chính sách ưu đãi đối với tổ chức, hoạt động luật sư ở các địa 24 phương vùng sâu, vùng xa có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; nâng cao vị trí, vai trò của đội ngũ luật sư trong việc tham gia hoạch định chính sách, xây dựng, giám sát thực thi pháp luật, thực hiện trách nhiệm xã hội, góp phần bảo đảm thực hiện chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, bảo vệ công lý, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn; chế độ đãi ngộ đối với luật sư, nhất là luật sư chỉ định cần được quan tâm; cho phép người tập sự hành nghề luật sư được tham gia một số hoạt động tố tụng hình sự dưới sự kèm cặp, giám sát của luật sư hướng dẫn để tránh tình trạng thiếu vắng việc thực hành kỹ năng thực tế trong quá trình tập sự 4.3.2. Đối với người tiến hành tố tụng Cần xoá bỏ tư tưởng hạ thấp vai trò của Luật sư trong nhận thức của những người tiến hành tố tụng, thay đổi nhận thức “việc Luật sư tham gia chỉ là sự trang trí cho phiên toà”; phải tự trau dồi cho mình những kiến thức chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, nắm chắc các văn bản pháp luật, đặc biệt các văn bản pháp luật chuyên ngành để từ đó nâng cao năng lực chuyên môn, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới; cơ quan tiến hành tố tụng cũng cần thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng về kiến thức pháp luật, nghiệp vụ, kinh nghiệm thực tế cho những người tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng phải tuân thủ các quy tắc đạo đức nghề nghiệp trong quá trình thực thi nhiệm vụ và cơ quan tiến hành tố tụng phải đặt ra các yêu cầu cụ thể về việc thường xuyên trau dồi đạo đức nghề nghiệp và chế tài áp dụng đối với những trường hợp vi phạm. Các cơ quan tiến hành tố tụng cần xây dựng cơ chế thu hút người có năng lực vào ngành tư pháp; phối hợp với những cơ sở đào tạo các chức đanh tư pháp xây dựng các chương trình đào tạo chức danh tư pháp chất lượng cao đáp ứng đòi hỏi của thực tế. 4.3.3. Tăng cường tuyên truyền giáo dục pháp luật - Làm tốt công tác tuyên truyền, nâng cao hiểu biết của người dân về kiến thức pháp luật. Qua đó giúp người dân có ý thức tuân thủ pháp luật, nhận thức được và tự bảo vệ những lợi ích chính đáng của bản thân. - Cần xây dựng thói quen sống và làm việc theo pháp luật của công dân; nâng cao trình độ dân trí; phổ biến, giáo dục pháp luật trực tiếp hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng bằng các hình thức đơn giản, dễ tiếp cận, lôi cuốn được sự chú ý của nhiều người như xây dựng những bộ phim trong đó đề cao vai trò của luật sư bảo vệ có hiệu quả cho người bị buộc tội không bị oan. Kết luận chương 4 Trong bối cảnh cải cách tư pháp tập trung vào việc tăng cường tranh tụng trong tố tụng hình sự, trọng tâm là đổi mới hoạt động xét xử, vai trò của luật sư trong hoạt động tranh tụng càng phải được xem xét một cách toàn diện cùng với các yếu tố đảm bảo cho luật sư phát huy vai trò của mình trong thực tiễn. Hoạt động bào chữa của luật sư là vấn đề được quan tâm sâu sắc 25 trong quá trình thực hiện yêu cầu cải cách tư pháp. Để góp phần nâng cao chất lượng hoạt động bào chữa của luật sư trong tố tụng hình sự nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng, chúng tôi cho rằng cần tiến hành đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức và xác định đúng vai trò, vị trí của người bào chữa trong tố tụng hình sự; hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng bổ sung thêm quyền của người bào chữa khi tham gia tố tụng; có cơ chế đảm bảo cho các quy định của pháp luật về quyền của luật sư được thực hiện trên thực tế; nâng cao trình độ và kỹ năng nghiệp vụ, trau dồi đạo đức cho các luật sư. KẾT LUẬN Hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là các công việc, thao tác nghề nghiệp do luật sư tiến hành trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên cơ sở quy định của pháp luật và quy tắc đạo đức luật sư nhằm chống lại việc buộc tội, xác định sự vô tội của người bị buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, góp phần xác định sự thật vụ án. Thực tiễn cho thấy, những năm qua hoạt động bào chữa của Luật sư đã có đóng góp quan trọng góp phần xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; thực hiện việc dân chủ hoá hoạt động tố tụng, tăng cường tranh tụng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo. Tuy nhiên, hoạt động bào chữa của Luật sư thời gian qua còn nhiều bất cập, hạn chế. Nguyên nhân của các bất cập, hạn chế đó là do bất cập trong quy định của pháp luật cũng như nhận thức và tổ chức thực hiện hoạt động bào chữa trên thực tế. Việc nâng cao chất lượng hoạt động bào chữa của Luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đòi hỏi phải có nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của Luật sư trong tố tụng hình sự; làm rõ chức năng xét xử, chức năng buộc tội và chú trọng chức năng gỡ tội. Theo đó, vị trí của Luật sư phải được xem là một bên tham gia tố tụng, ngang hàng với Viện kiểm sát tại phiên toà nói chung và phiên toà sơ thẩm nói riêng. Nhận thức đó phải được quán triệt trong đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp, đặc biệt là những người tiến hành tố tụng và mọi công dân. Đồng thời, cần có giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, nâng cao phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn của Luật sư; chú ý đến vai trò của tổ chức Luật sư trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp; Nhà nước phải tạo hành lang pháp lý và điều kiện cần thiết để khuyến khích Luật sư trong hoạt động nghề nghiệp, đồng thời nâng cao vai trò tự quản của Đoàn Luật sư. Trong quá trình cải cách tư pháp cần củng cố, tăng cường tổ chức và hoạt động của Luật sư. Sự đổi mới này phải đặt trong tổng thể cải cách tư pháp, trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam. 26 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 1. Ngô Thị Ngọc Vân (2015), “Hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở mô hình tố tụng thẩm vấn và tố tụng tranh tụng”, Tạp chí Nghề luật, (5). 2. Ngô Thị Ngọc Vân (2015), “Cơ sở pháp lý để tiến hành hoạt động bào chữa và nội dung hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự”, Tạp chí Nghề luật, (6). 3. Ngô Thị Ngọc Vân (2015), “Một số vấn đề về quyền bào chữa của người bị buộc tội theo quy định của pháp luật quốc tế”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (12).

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftom_tat_luan_an_tieng_viet_479.pdf
Luận văn liên quan