Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật EM vào xử lí rác thải đô thị

Từ các kết quả tham khảo những đề tài, tài liệu mang tính thiết thực, qua đề tài “ứng dụng chế phẩm vi sinh vật EM vào xử lí rác thải đô thị” đã tìm hiểu được cơ chế tác dụng của chế phẩm EM, các dạng chế phẩm EM và quan trọng hơn là nắm được quy trình ứng dụng EM vào xử lí rác thải đô thị ở bãi rác Khánh Sơn Đà Nẵng. Rút ra một số nhận xét sau: - Chế phẩm EM có bốn dạng chính : Chế phẩm EM gốc (Dung dịch EM1), Chế phẩm EM5 (Dung dịch lên men), Chế phẩm EM Bokashi, Chiết xuất cấy lên men (EM-F.P.E). Nhưng trong đó EM gốc ở dạng dung dịch được dùng để pha chế thành các dạng EM thứ cấp nhằm phục vụ theo yêu cầu, mục đích của người sử dụng - Các chủng vi sinh vật hữu hiệu có mặt trong chế phẩm EM : xạ khuẩn, nấm mốc, nấm men, vi khuẩn quang hợp, .hiện đang được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là ứng dụng rất hiệu quả trong nhiều lĩnh vực : nông nghiệp (phân bón, chăn nuôi gà, gia súc, trồng cây, .), công nghiệp (xử lí nước thải). - Những tính năng ưu việt trên của EM hiện nay được các quốc gia trên thế giới ưu tiên và đang phát triển mạnh, với công nghệ hiện đại họ tiến hành sản xuất trên quy mô công nghiệp để áp dụng rộng rãi trong xử lí môi trường và sản xuất nông nghiệp trong khi đó ở Việt Nam việc ứng dụng chế phẩm EM cũng còn khá mới mẻ và chưa được áp dụng rộng rãi. Chính vì vậy việc nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng của chế phẩm EM vào nền nông nghiệp và bảo vệ môi trường ở nước ta là một hướng đi đúng đắn và cần có sự quan tâm của các cấp chính quyền. Điều này sẽ giúp làm giảm giá thành các sản phẩm, để có thể ứng dụng rộng rãi nhằm bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, tăng thu nhập cho nông dân trong nền kinh tế hội nhập và cải thiện chất lượng môi trường.

doc24 trang | Chia sẻ: tienthan23 | Ngày: 18/02/2016 | Lượt xem: 3919 | Lượt tải: 21download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật EM vào xử lí rác thải đô thị, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỞ ĐẦU Ngày nay với tốc độ ô nhiễm môi trường đang gia tăng, do đó cần phải thực hiện nghiêm ngặt các tiêu chuẩn đối với việc thải chất thải vào môi trường. Các phương pháp xử lí hóa học và sinh học thông thường ngày càng khó đạt được mức độ cần thiết để loại bỏ các chất ô nhiễm này. Do đó, cần phải triển khai những phương pháp xử lí nhanh hơn, rẻ hơn, đáng tin cậy hơn và chế phẩm sinh học được nghĩ đến như một biện pháp mới mẻ và tiên tiến. Hiện nay rác thải sinh hoạt, phế thải và nước thải trong chế biến sản xuất công nông nghiệp là một cản trở rất lớn trong sự phát triển mạnh mẽ của xã hội. Phế thải không chỉ làm ô nhiễm môi trường sinh thái, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất gây độc hại đến sức khỏe con người, vật nuôi và cây trồng mà còn làm mất đi cảm quan văn hóa đô thị nông nghiệp và nông thôn. Nguy cơ ô nhiễm môi trường do chất thải rắn (rác thải) đang từng ngày len lõi và chắc chắn sẽ gây ra những mối lo ngại khôn lường, nhưng việc xử lí rác thải rắn ở các thành phố vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, gây tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội. Hằng ngày lượng rác thải ra trên toàn quốc trên dưới 30.000 tấn, và hầu hết các bãi rác đều xử lí theo phương pháp chôn lấp, dùng hóa học là chính. Nhưng về lâu dài thì những phương pháp đó không triệt để mà còn gây thêm những nguy cơ tìm ẩn, nếu không có những phương pháp xử lí thích hợp hơn thì chính những bãi rác này lại là nguồn gây ra ô nhiễm môi trường, mầm bệnh và nguồn nước ngầm ảnh hưởng tới đời sống nhân dân. Với đề tài “Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật EM vào xử lí rác thải đô thị” mong muốn sẽ làm rõ hơn các nguồn gây ô nhiễm môi trường và những ưu điểm cũng như tầm quan trọng của EM trong việc ứng dụng vào xử lí rác thải đô thị. Phần I – TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu chung về chế phẩm EM 1.1.1 Nguồn gốc chế phẩm EM - EM là chữ viết tắt của hai từ tiếng Anh Effective Microorganisms có nghĩa là các vi sinh vật hữu hiệu ra đời vào năm 1980 tại Nhật Bản do công của Giáo sư. Tiến sĩ Teruo Higa tại đại học Ruykyus (Nhật Bản). Đây là một cộng đồng các vi sinh vật có ích chứa tới 80 loài vi sinh vật khác nhau, thuộc về 10 chi, 5 họ. Những loài vi sinh vật này đã được chọn lọc từ rất nhiều tập đoàn vi sinh vật đã được phân lập từ các miền trên trái đất. Các vi sinh vật chính có trong chế phẩm EM là vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn cố định Nitơ, vi khuẩn lactic, vi khuẩn acetic, vi khuẩn propionic, xạ khuẩn, nấm men Các vi sinh vật này có khả năng sử dụng các chất hữu cơ, các chất bài tiết của động vật, thực vật, các khí độc để tổng hợp nên các acid amin, các chất có hoạt tính sinh học, đường, cồn, este, vitamin, một số acid như acid lactic, acid propionic... và các chất kháng sinh. Điều này giải thích tại sao chất hữu cơ được phân hủy nhanh hơn và mùi hôi thối giảm hẳn. - Chế phẩm EM gốc ở dạng dung dịch, được giữ trong môi trường pH khoảng 3,5 nên ở trạng thái ngủ, không hoạt động. Khi chuyển sang dạng thứ cấp, có nghĩa là cung cấp thêm nước và thức ăn (dùng rỉ đường) thì chúng được “đánh thức” số lượng các chủng vi sinh vật được nhân lên một cách nhanh chóng, sức sống của chúng trở nên hết sức mãnh liệt, có khả năng kiểm soát và khống chế được các vi sinh vật bình thường trong tự nhiên. - Sử dụng chế phẩm EM đến một chừng mực nào đó đủ để vi sinh vật có ích tăng lên thành một quần thể đóng vai trò thống trị thì khả năng cư ngụ (tồn tại và phát triển) của chúng cũng tăng lên và hệ sinh thái vi sinh vật trong đất trở nên ổn định và cân bằng. Lúc đó các vi sinh vật cá biệt, đặc biệt là các vi sinh vật có hại không thể phát triển. Như vậy chế phẩm EM được xem như một biện pháp điều khiển - kiểm tra sinh học, tác dụng của nó là ức chế, ngăn chặn và kiểm soát các vi sinh vật có hại bằng cách đưa vào môi trường các vi sinh vật có lợi làm tăng số lượng các vi sinh vật có lợi trong môi trường tự nhiên, kéo theo số vi sinh vật trung gian chuyển sang có ích và kìm hãm sự phát triển của các vi sinh vật có hại trong môi trường tự nhiên [1],[2]. 1.1.2 Đặc tính và tác dụng của chế phẩm EM 1.1.2.1 Đặc tính của chế phẩm EM Chế phẩm EM được điều chế ở dạng nước và dạng bột (dạng nước gọi là dung dịch EM, dạng bột gọi là EM-Bokashi). Thông thường có các loại EM sau: - EM1 là dung dịch EM gốc, chủ yếu để điều chế các dạng EM khác; - EM thứ cấp là dung dịch EM có tác dụng phân giải các chất hữu cơ, khử trùng, làm sạch môi trường, cải thiện tính chất hoá lí của đất, tăng trưởng vật nuôi, chống quá trình oxy hóa. - EM5 là dung dịch EM có tác dụng hạn chế, phòng ngừa sâu bệnh, tăng cường khả năng đề kháng và tăng trưởng của cây trồng; - EM FPE (gọi là EM thực vật) là dung dịch EM có tác dụng kích thích sinh trưởng, tăng năng suất và chất lượng cây trồng. - EM - Bokashi có nhiều loại như Bokashi cám, Bokashi phân gia súc, Bokashi rơm rạ, Bokashi rác, Bokashi tổng hợp... 1.1.2.2 Chế phẩm EM có tác dụng chủ yếu sau - Tăng cường khả năng quang hợp của cây trồng - Tăng cường khả năng hấp thụ và hiệu suất sử dụng các chất dinh dưỡng - Kéo dài thời gian bảo quản, làm hoa trái tươi lâu, tăng chất lượng bảo quản các loại nông sản tươi sống - Cải thiện môi trường đất, làm cho đất trở nên tơi xốp, phì nhiêu - Hạn chế sự phát triển của cỏ dại và sâu bệnh - Tăng cường khả năng tiêu hoá và hấp thụ các loại thức ăn, - Kích thích khả năng sinh sản, - Tăng sản lượng và chất lượng trong chăn nuôi, - Tiêu diệt các vi sinh vật có hại, hạn chế sự ô nhiễm trong chuồng trại chăn nuôi. EM có tác dụng đối với mọi loại vật nuôi, bao gồm các loại gia súc, gia cầm và các loài thuỷ, hải sản. Do có tác dụng tiêu diệt các vi sinh vật gây thối (sinh ra các loại khí H2S, SO2,NH3) nên khi phun EM vào rác thải, cống rãnh, toalet, chuồng trại chăn nuôisẽ khử mùi hôi một cách nhanh chóng. Đồng thời số lượng ruồi, muỗi, ve, các loại côn trùng bay khác giảm hẳnsố lượng. Rác hữu cơ được xử lí EM chỉ sau một ngày có thể hết mùi và tốc độ mùn hoá diễn ra rất nhanh. Trong các kho bảo quản nông sản, sử dụng EM có tác dụng ngăn chặn được quá trình gây thối, mốc. Các nghiên cứu cho biết chế phẩm EM có thể giúp cho hệ vi sinh vật tiết ra các enzym phân huỷ như lignin peroxidase. Các enzym này có khả năng phân huỷ các hoá chất nông nghiệp tồn dư, thậm chí cả dioxin. Ở Belarus, việc sử dụng EM liên tục có thể loại trừ ô nhiễm phóng xạ. - EM thúc đẩy quá trình phân giải chất hữu cơ, thúc đẩy sự phát triển của hệ sinh vật có ích trong đất, hạn chế hoạt động của vi sinh vật có hại, làm giàu thêm hệ vi sinh vật tự nhiên...; qua đó góp phần cải tạo đất, nâng cao độ phì nhiêu của đất một cách bền vững, tăng nguồn dinh dưỡng để hấp thụ cho cây trồng; - EM làm giảm mùi hôi thối, khử trùng, giảm các chất độc hại và ruồi muỗi trong môi trường; do đó có tác dụng làm sạch môi trường, nhất là môi trường nông thôn; - EM làm tăng cường khả năng quang hợp, thúc đẩy sự nảy mầm, ra hoa kết quả của của cây trồng; hạn chế, phòng ngừa dịch bệnh, kích thích sự phát triển của cây trồng và vật nuôi; qua đó góp phần tăng năng suất và chất lượng của cây trồng, vật nuôi. Do những tác dụng trên, EM có thể sử dụng rất rộng rãi trong phát triển nông nghiệp, chăn nuôi, thuỷ sản, làm sạch môi trường; góp phần quan trọng hạn chế sử dụng hoá chất độc hại trong nông nghiệp, tạo lập sự bền vững cho nông nghiệp và môi trường; góp phần bảo vệ sức khoẻ cộng đồng [10]. 1.2 Tác dụng của các nhóm vi sinh vật có trong chế phẩm EM Kết quả sử dụng EM ở nhiều nước cho thấy: EM có tác dụng rất tốt ở nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống và sản xuất. Rất nhiều nhà khoa học cho rằng: EM là một chế phẩm kì diệu, nó có thể làm một cuộc cách mạng lớn về lương thực, thực phẩm và cải tạo môi sinh. Chính ông Higa cũng không nghĩ rằng EM có tác dụng rộng lớn đến như thế. Ông cũng thừa nhận rằng về mặt cơ chế tác dụng EM còn cần phải tiếp tục nghiên cứu và ông cũng mong muốn các nhà khoa học trên thế giới cùng cộng tác trong việc tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm hoàn thiện hơn nữa chế phẩm EM [1], [2]. Chế phẩm EM chứa tới hàng trăm dòng vi sinh vật khác nhau, nhưng có thể phân ra thành 5 nhóm vi sinh vật chủ lực và tác dụng như sau: 1.2.1 Nhóm vi khuẩn quang hợp Hình 1. Vi khuẩn quang hợp Luôn giữ vai trò then chốt và chủ lực trong hoạt tính của EM. Loại vi khuẩn này chúng tổng hợp các chất hữu ích từ các chất thải bài tiết của rễ cây, chất thải của động vật thậm chí từ khí gas độc, qua việc sử dụng ánh nắng mặt trời các chất hữu cơ mà nó tổng hợp nên là amino acid, acid nucleic, các chất có hoạt tính sinh học và đường [1],[2]. Như vi khuẩn Shewanella (hình 1) Là một trong những loài linh hoạt nhất, Shewanella có thể sống trên mặt đất, sâu trong lòng đất hoặc dưới nước. Khi môi trường thay đổi, Shewanella cũng thay đổi theo, tìm ra những cách mới để thở.Vi khuẩn có thể phân hủy nhiều hợp chất hữu cơ độc. Vi khuẩn có thể thay đổi những chất gây ô nhiễm khác, như kim loại nặng, thành các dạng ít nguy hiểm hơn bằng cách dính electron vào chúng. 1.2.2 Nhóm vi khuẩn acid lactic Bản chất là chất khử khuẩn mạnh nó kìm hãm các vi sinh vật có hại và đẩy nhanh quá trình phân hủy chất hữu cơ. Acid lactic có khả năng ngăn chặn sự truyền bệnh của các vi sinh vật có hại trong môi trường nó sinh sống đây là tác dụng quan trọng nhất của acid lactic [1],[2]. Hình 2. Vi khuẩn lactic Hình 2. Vi khuẩn acid lactic 1.2.3 Nhóm nấm men Là nguồn để sản sinh ra các vitamin, các axit amin, tổng hợp nên chất kháng sinh và các chất hữu cơ khác. Các chất do nấm men tổng hợp nên rất hữu ích cho các vi sinh vật khác. Đó chính là mối quan hệ qua lại giữa nấm men và các chủng khác trong EM [1],[2]. Hình 3.Hình ảnh nấm men 1.2.4 Nhóm nấm tia hay xạ khuẩn Loại này có khả năng phân giải cenllulose, có khả năng tổng hợp nên các chất kháng sinh từ amino acid và các chất hữu cơ. Các chất kháng sinh trên có tác dụng ngăn chặn các loại nấm và vi khuẩn gây hại. Nấm tia (tia xạ khuẩn) có khả năng tương hợp với vi khuẩn quang hợp [1],[2]. Hình 4. Xạ khuẩn 1.2.5 Nhóm nấm mốc Có tác dụng phân hủy các chất hữu cơ rất nhanh tạo ra các loại đường, cồn este và các chất kháng sinh. Chính vì lẽ đó mà chế phẩm EM có tác dụng đa năng, chẳng những có hiệu lực cao đối với tất cả cây trồng, con vật nuôi mà nó còn có hiệu quả cao trong xử lí môi trường [1],[2]. Nấm mốc (Neurosporacrassa) Nấm mốc bậc cao (Aspergillus) 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của chế phẩm EM 1.3.1 Chế độ bảo quản - Điều kiện bảo quản hiếu khí; pH >3,5, nhiệt độ thấp (<200C) hay ánh nắng mặt trời trực tiếp chiếu vào sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả sử dụng EM. - Để duy trì hiệu quả của EM hoạt động tốt nhất ta nên bảo quản chúng ở : + Điều kiện yếm khí, + pH = 3,5, + Môi trường sạch sẽ, râm mát: nhiệt độ từ 200C – 250C, không được để trong tủ lạnh, tránh ánh nắng mặt trời trực tiếp chiếu vào [1],[2]. 1.3.2 Giai đoạn lên men - Nước và thức ăn có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của EM, vì nước và thức ăn là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng để EM hoạt động, khi ta cung cấp nước bị nhiễm bẩn, nhiễm phèn, lẫn các loại hóa chất.sẽ ức chế quá trình sinh trưởng và phát triển của EM dẫn đến làm giảm hiệu quả của EM. => Vì vậy cần cung cấp nước : nước sạch không nhiễm phèn, nhiễm sắt, nhiễm bẩn và các loại hóa chất độc hại và không chứa Clo, hàm lượng BOD, COD trong tiêu chuẩn cho phép của nước sinh hoạt; Thức ăn (rỉ đường) không lẫn các loại hóa chất, các loại dầu mỡ[1],[2]. - Chế độ yếm khí hoặc ưa khí tùy loại sản phẩm mà ta pha chế để hạn chế mức thấp nhất đến hoạt động của EM. - Ngoài ra để đảm bảo chất lượng EM trong giai đoạn này được tốt hơn cần chú ý đến : + pH (3,5-4,5), + Môi trường tự nhiên, tránh ánh sáng trực xạ của mặt trời, nhiệt độ (25oC-40oC), + Thời gian lên men (mùa hè 3-4 ngày; mùa đông: 6-7 ngày) 1.4 Các dạng chế phẩm EM 1.4.1 Chế phẩm EM gốc (Dung dịch EM1) Chất EM1 gốc là dung dịch có màu vàng nâu với mùi dễ chịu và vị ngọt chua, pH của EM cần ở dưới 3,5. Nếu nó có mùi nặng hoặc thối hoặc pH cao hơn 4 thì dung dịch đã bị hỏng không nên sử dụng. Dung dịch EM1 có thể sử dụng bằng cách tưới vào đất (bằng cách dùng bình đựng nước, bình tưới hoặc hệ thống tưới nước) và phun lên cây (phun lá) bằng bình bơm hoặc bình tưới nước. EM1 gốc là dịch mà vi sinh vật đang ở trạng thái ngủ, do đó trước khi sử dụng thì chúng ta phải đánh thức cho chúng ở trạng thái hoạt động bằng cách cung cấp “nước” và “thức ăn”. Nó được thực hiện bằng cách thêm nước và rỉ đường theo tỉ lệ sau: 1 lít nước. 1ml của EM1. 1ml rỉ đường hoặc 1g đường bất kì. Dung dịch này để trong vòng 2- 24 giờ và phun cho cây, đất hoặc chất hữu cơ [1]. 1.4.2 Chế phẩm EM5 (Dung dịch lên men) Dung dịch này là hỗn hợp lên men của giấm, rượu, rỉ đường và EM1, nó được sử dụng để phun lên cây nhằm ngăn chặn gây bệnh, kháng sâu bệnh xâm nhập, xua đuổi côn trùng. Điều chế EM5, thành phần có thể thay đổi cho phù hợp với mục đích sử dụng như sản xuất để loại bỏ sâu kháng thuốc thì phải bổ sung các chất hữu cơ chống oxy hóa (tỏi, ớt, cây lô hội, hoa quả xanh), khi sử dụng các vật liệu này lưu ý phải băm nhỏ. Ø.Thành phần chuẩn để tạo EM5: - Nước 600ml - Rỉ đường 100ml - Giấm 100ml - Cồn pha (30-50%) 100ml - EM1 100ml Ø.Lưu ý: Nước được sử dụng là nước máy khử Clo, giấm tự nhiên tốt hơn giấm nhân tạo. Sau khi chuẩn bị xong nguyên liệu chúng ta tiến hành pha chế và bảo quản như sau: -Trộn rỉ đường với nước, chú ý để nó hòa tan hoàn toàn, có thể sử dụng nước ấm để hòa tan nhanh hơn. - Cho thêm giấm và cồn pha loãng sau khi cho EM1. - Rót dung dịch hỗn hợp vào thùng plastic, sau đó đậy chặt (dùng thùng nhựa để pha chế), rút không khí thừa ra khỏi thùng chứa để duy trì điều kiện kỵ khí. - Bảo quản thùng ở nơi ấm (25-300C), tránh ánh sáng chiếu trực tiếp vào. - Khi thùng chứa có nhiều khí lên men, mở nắp để xả ga, sau đó đóng chặt lại như cũ cho đến khi không còn khí ga sinh ra nữa thì có thể sử dụng. - Bảo quản trong tối, lạnh, có nhiêt độ ổn định, không được bảo quản trong tủ lạnh hoặc dưới ánh sáng trực xạ, nên sử dụng trong vòng ba tháng sau khi pha chế. Cách sử dụng EM5, chất này được pha loãng với nước với tỉ lệ 1/500-1/1000 để phun ướt cho cây, bắt đầu phun sau khi cây nảy mầm, trước khi sâu bệnh xuất hiện, phun vào buổi sáng hoặc sau khi mưa to và phải sử dụng thường xuyên. EM5 không phải là chất trừ sâu, chất sát trùng hoặc hóa chất có hại nên có phương pháp áp dụng khác hẳn so với hóa chất công nghiệp, các chất hóa học được sử dụng để giải quyết một vấn đề một cách bắt buộc và nhanh chóng trong sản xuất. EM5 trên phương diện khác được áp dụng từ khi trồng trước khi phát triển của côn trùng và sâu bọ. Nếu côn trùng và sâu bọ xuất hiện chúng ta tiến hành phun hàng ngày cho đến khi sâu bọ không còn nữa. EM5 hoạt động mọi thời điểm nên khi áp dụng thường xuyên sẽ đạt hiệu quả cao và tốt nhất, dùng hóa chất có thể cho kết quả nhanh nhưng lại có ảnh hưởng đến cây trồng và môi trường đất. Hiệu quả lâu dài có thể gây hại không chỉ đến môi trường mà cả điều kiện kinh tế và sức khỏe của người nông dân còn EM5 không có gây hại ngay cả việc sử dụng quá mức mà còn có thể đảm bảo sự phát triển mạnh của thực vật qua hấp thụ EM và qua đó làm tăng mức độ oxy hóa. Điều này đảm bảo cho cây trồng khỏe mạnh tạo cho bản thân cây trồng chống lại côn trùng và sâu hại, làm tăng năng suất và chất lượng của cây trồng, giảm chi phí mua phân bón. 1.4.3 Chế phẩm EM Bokashi “Bokashi” là từ tiếng Nhật có nghĩa là chất hữu cơ lên men, nó được điều chế bằng cách lên men các chất hữu cơ với EM. Chất này thông thường được điều chế ở dạng bột hoặc hạt và đã được nông dân Nhật Bản sử dụng làm chất bổ sung cho đất nhằm tăng đa dạng vi sinh vật đất và cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng. Bokashi là chất tương tự như phân bón, nhưng nó được chuẩn bị bằng cách lên men chất hữu cơ với EM. Nó được sử dụng ở ngày thứ 13-14 sau khi lên men. Có hai loại Bokashi là loại kỵ khí và ưa khí, mỗi loại có những ưu nhược điểm khác nhau nên tùy theo điều kiện khu vực áp dụng mà lựa chọn cho thích hợp với cây trồng. Thông thường sử dụng 200g Bokashi cho 1m2 trên bề mặt của đất, khi có đủ chất hữu cơ, có thể sử dụng nhiều hơn (tối đa 1kg/1m2) cho đất nghèo và có ít chất dinh dưỡng. Vật liệu để tạo ra Bokashi rất dễ kiếm, rẻ tiền và quen thuộc với người nông dân như: Cám gạo, cám ngô, cám lúa mì, bột ngô, vỏ trấu, vỏ đỗ, rơm rạ, bánh dầu, bánh dầu bông, bùn, bã mía, vỏ dừa, bã củ cải đường, cỏ băm đoạn, mùn cưa, bột cá, bột xương, phân của bất kì động vật nào, phân gà, rong biển, vỏ cua và các vật liệu tự nhiên. Tuy nhiên cám gạo được đề xuất như là thành phần quan trọng của loại chất hữu cơ lên men này, bởi vì nó chứa dinh dưỡng tuyệt diệu đối với vi sinh vật. Tốt nhất là các hợp chất hữu cơ mà trong đó tỉ lệ C/N thấp và cao. Nhìn chung người ta khuyến cáo nên sử dụng ít nhất là 3 loại chất hữu cơ để tăng đa dạng sinh học. Có nhiều dạng Bokashi phụ thuộc vào các chất hữu cơ sử dụng nhưng có thể sản xuất với thành phần và tỉ lệ như sau: Cám gạo 100kg. Bánh dầu (vỏ trấu) 25kg. Bột cá (phân gà) 25kg. EM1 150ml. Rỉ đường 150ml. Nước 15 lít. Ø.Lưu ý: Trong quá trình sản xuất nếu không có rỉ đường thì có thể dùng bất cứ loại đường nào để thay thế hoặc có thể dùng nước vắt hoa quả. Lượng nước sử dụng phải không quá ướt hoặc quá khô. Ø.Sản xuất Bokashi kiểu kỵ khí theo thành phần và tỉ lệ sau: + Trộn đều cám gạo, bánh dầu và bột cá. + Hòa rỉ đường với nước (1:100), nên dùng nước ấm để hòa tan đường. + Cho EM vào dung dịch rỉ đường vừa điều chế. + Rót EM hỗn hợp vào chất hữu cơ và trộn đều, chú ý rót EM từ từ và trộn đều trong khi đó vừa kiểm tra độ ẩm, không được rót quá nhiều làm thừa nước. Sao cho độ ẩm đạt 30%-40% , bạn có thể dùng tay để kiểm tra, khi dùng tay bóp nó cần giữ nguyên một khối, không bị tơi ra nhưng khi ta đụng vào phải dễ dàng tan ra. Cho hỗn hợp mới pha chế đó vào túi kín không cho không khí vào. Đặt túi đó vào một túi Polyethylene khác (túi nylon đen) để chống không khí đi vào. Buộc chặt túi để duy trì điều kiện kỵ khí và đặt nơi không có ánh sáng. Qúa trình lên men tùy thuộc vào mùa và nơi áp dụng, mùa hè trên 3-4 ngày, mùa đông trên 7-8 ngày (đặt túi nơi ấm). Sản phẩm lên men phải có mùi thơm và vị ngọt còn nếu có mùi hôi, chua thì quá trình lên men không đạt. Bokashi kỵ khí cần được sử dụng ngay sau khi pha chế. Nếu cần bảo quản, trải đều lên bề mặt sàn bê tông, làm khô tốt trong râm và sau đó cho vào túi nylon, chú ý tránh chuột hoặc côn trùng khác gây hại. Ø. Sản xuất Bokashi ưa khí theo thành phần và tỉ lệ sau: + Trộn đều cám gạo, bánh dầu và bột cá. + Hòa rỉ đường với nước (1:100), nên dùng nước ấm để hòa tan đường. + Cho EM vào dung dịch rỉ đường vừa điều chế. + Rót EM hỗn hợp vào chất hữu cơ và trộn đều, chú ý rót EM từ từ và trộn đều trong khi đó vừa kiểm tra độ ẩm, không được rót quá nhiều làm thừa nước. Sao cho độ ẩm đạt 30%-40%, bạn có thể dùng tay để kiểm tra, khi dùng ta bóp nó cần giữ nguyên một khối, không bị tơi ra nhưng khi ta đụng vào phải dễ dàng tan ra. Đặt hỗn hợp vừa pha chế lên sàn bê tông và phủ bằng vải đay, thảm rơm rạ hoặc vật liệu tương tự, tránh không bị mưa. Trong điều kiện ưa khí, Bokashi lên men nhanh lúc này nhiệt độ sẽ tăng lên, lí tưởng nhất là giữ nhiệt độ ở 35-450C. Do đó phải kiểm tra nhiệt độ thường xuyên sử dụng nhiệt kế bình thường, nếu nhiệt độ tăng cao quá thì phải tạo điều kiện thông khí. Quá trình lên men tùy thộc vào từng vùng, vùng nhiệt đới vào mùa hè thời gian lên men 3-4 ngày, mùa đông thì 7-8 ngày, vùng nhiệt đới trên 2-4 ngày. Sản phẩm lên men được sử dụng khi có mùi ngọt và nhìn thấy mốc trắng còn có mùi hôi và chua thì thất bại. Bokashi loại này tốt nhất là sử dụng ngay sau khi pha chế, nếu cần bảo quản thì rải đều lên bê tông làm khô trong râm mát và cho vào túi nylon, chống chuột, côn trùng tấn công . 1.4.4 Chiết xuất cấy lên men (EM-F.P.E) Chiết suất cây lên men EM là hỗn hợp của cỏ tươi được lên men với rỉ đường và EM1, hiệu lực chính của chất này là cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng cũng như ngăn chặn sâu bệnh phá hại. EM-F.P.E bao gồm các Acid hữu cơ, chất hoạt động sinh học, khoáng chất và các chất có lợi khác có lợi từ cỏ, nên có giá thành rất thấp. Ø. Thành phần chuẩn để pha chế gồm các nguyên liệu sau: Cỏ tươi chặt đoạn 14kg. Nước (khử Clo) 14lít. Rỉ đường 420ml. EM1 420ml. Ø. Cách pha chế : Cắt cỏ và băm thành đoạn 2-5cm. Cho cỏ vào thùng chứa. Hòa EM1 và rỉ đường vào nước và rót vào dung dịch vào thùng chứa. Đậy nắp thùng chú ý không cho không khí vào thùng. Bảo quản thùng chứa trong điều kiện nơi ấm 20-250C và tránh ánh nắng mặt trời bằng cách phủ túi nylong đen lên trên. Qúa trình lên men bắt đầu và gas sẽ hình thành trong 2-5 ngày. - Khuấy đều cỏ trong thùng đều đặn để xả gas. - EM-F.P.E có thể sử dụng khi độ pH của dung dịch dưới 3,5, khi đó tiến hành thu dịch và đóng chai sau khi loại bỏ cỏ ra. Sau khi thu sản phẩm chúng ta có thể tiến hành sử dụng bằng cách phun vào buổi sáng hoặc sau khi mưa to, bắt đầu phun sau khi cây nảy mầm, trước khi sâu bệnh xuất hiện, nên nhớ phải sử dụng thường xuyên và kết hợp với EM5 để thu hiệu quả cao [1]. 1.5 Tình hình ứng dụng công nghệ EM 1.5.1 Ứng dụng công nghệ EM trên Thế giới Năm 1989 tại Thái Lan đã tổ chức Hội nghị quốc tế Nông nghiệp Thiên Nhiên cứu thế các nhà khoa học đã thảo luận về công nghệ của EM và tăng cường sử dụng nó. Nhờ vậy Mạng lưới Nông nghiệp Thiên Nhiên châu Á – Thái Bình Dương (APNAN) được thành lập đã mở rộng hoạt động tại 20 nước trong vùng và tiếp xúc với tất cả các lục địa trên thế giới. Đến nay có khoảng 50 nước tham gia chương trình nghiên cứu ứng dụng EM và các nước : Mỹ, Trung Quốc, Brazin,.đã trực tiếp nhập công nghệ EM từ Nhật Bản. Hiện nay EM có thể sản xuất được tại 20 quốc gia trên thế giới [1]. Từ khi ra đời đến nay công nghệ EM đã được nhiều nước sử dụng coi đó là một giải pháp cho việc phát triển nông nghiệp bền vững, tăng năng suất, chất lượng cây trồng và con vật nuôi, xử lí rác thải và vệ sinh môi trường có hiệu quả. Nhiều nước đã có các nhà máy sản xuất khối lượng lớn chế phẩm EM để sử dụng trong nước như Bắc Triều Tiên, Brazin (sản xuất 2 triệu lít /năm) Thái Lan (1 triệu lít/ năm), Mianma (1,2 triệu lít /năm). Riêng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì EM đã được sử dụng phổ biến ở một số nước như Nhật Bản, Thái Lan, Mianma, Triều Tiên, Indonexia [2]. 1.5.2 Vấn đề sản xuất và ứng dụng chế phẩm EM trong nước - Tại Việt Nam, công nghệ EM được biết đến vào cuối những năm 1996 và đã được thử nghiệm tại một số địa phương. Ở Thái Bình, khi xử lí EM cho hạt cải bắp, thóc giống cho thấy tỷ lệ nảy mầm cao hơn, cây con sống khoẻ hơn và có tốc độ sinh trưởng, phát triển nhanh hơn. Khi phun EM cho rau muống, năng suất tăng 21 – 25 %, phun cho đậu tương, năng suất tăng 15 - 20%. Tại Hải Phòng đã xử lí EM cho các loại cây ăn quả : vải, cam, quýt làmcho cây phát triển mạnh hơn, quả to, chín sớm, vỏ đẹp hơn và năng suất 10 - 15%. Tại trường ĐH Nông nghiệp I, xử lí EM cho lúa làm năng suất tăng 8 - 15% và không bị bệnh khô vằn lá. - Nhóm nghiên cứu của Th.S Đỗ Hải Lan (khoa Sinh - Hoá, ĐH Tây Bắc) cho biết có thể xử lí EM 1% với cây lan Hồ Điệp Tím Nhung khi vừa đưa ra khỏi phòng nuôi cấy mô để tăng cường khả năng thích nghi của cây với điều kiện ngoại cảnh mới. Cũng có thể xử lí EM ở giai đoạn cây còn non để kích thích sự sinh trưởng sinh dưỡng, tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ của cây lan ở giai đoạn sau. - Trung tâm nghiên cứu thuỷ sản 3 (Bộ Thuỷ sản) đã ứng dụng thành công EM trong xử lí hồ nuôi tôm sú ở Việt Nam. Chế phẩm EM làm cho tổng số nhóm vi sinh vật có lợi trong hồ luôn cao hơn so với nhóm vi sinh vật không có lợi từ 2 - 7 lần, chỉ số N-NH3 ở mức thấp(dưới 0,02mg/l), các chỉ số môi trường như pH và màu tảo ổn định trong thời gian dài [10]. - Đối với nước ta từ tháng 5 năm 1997 Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường đã chính thức tiếp nhận công nghệ EM và cho phép thử nghiệm trong sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường. Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường đã có quyết định triển khai công nghệ EM tại Việt Nam và thành lập trung tâm phát triển công nghệ Việt Nhật là đơn vị thường trực, tổ chức cung cấp chế phẩm EM và hướng dẫn cho các đơn vị thử nghiệm. Ngay từ năm 1997 một số cơ quan và địa phương như Viện bảo vệ thực vật, Trường đại học Nông Nghiệp I, Đại học quốc gia Hà Nội, thành phố Hà Nội, tỉnh Thái Bình, tỉnh Nam Định, tỉnh Bắc Giang, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng đã tiến hành nghiên cứu ứng dụng chế phẩm EM bao gồm các nghiên cứu về bản chất khu hệ vi sinh vật chủ chốt trong chế phẩm EM, nghiên cứu về điều kiện tối ưu để nhân giống lớn chế phẩm EM của Nhật Bản tại Việt Nam, nghiên cứu chế tạo các loại EM từ EM gốc nhập nội phù hợp tại Việt Nam, ứng dụng EM trong lĩnh vực nông nghiệp và bảo vệ môi trường. - Sau đây là một số kết quả khi sử dụng chế phẩm EM trong bảo vệ môi trường ở một số doanh nghiệp và địa phương tại Việt Nam: Tỉnh Bắc Giang dùng chế phẩm EM để xử lí rác thải và phế thải cho thấy rác thải được sử lí bằng EM mùi hôi thối giảm hẳn khoảng 75 - 80%, không có ruồi nhặng và các loại côn trùng khác đặc biệt trong những ngày nắng nóng mùi hôi của rác không có chiều hướng tăng lên. Rác xẹp thể tích nhanh, nước thải được xử lí bằng EM không có mùi hôi, nước trong hơn. Dùng EM trong sinh hoạt gia đình thường xuyên làm sạch các dụng cụ, các thiết bị và tạo không khí trong lành [2]. - Trung tâm tư vấn công nghệ môi trường Thành phố Hồ Chí Minh đã thử nghiệm chế phẩm EM xử lí rác tại bãi rác Đông Thạnh - nơi mỗi ngày tiếp nhận 3000 tấn rác đồng thời xử lí một số nước thải ô nhiễm hữu cơ từ nước thải rác thải, nước thải công nghiệp của ngành thuộc da, chế biến thủy sản đông lạnh, chế biến hoa quảđều thấy kết quả đạt được hết sức khả quan. Cụ thể là sau 2 tuần phun liên tiếp chế phẩm EM lên đống rác thì mùi hôi giảm được từ 80-85%, nồng độ khí H2S cũng giảm hẳn (từ 0,0013- 0mg/lit). Rác sau khi xử lí còn có thể dùng làm phân vi sinh bón thúc cho cây trồng [2]. - Từ tháng 6 năm 1997 việc thử nghiệm chế phẩm EM trong xử lí rác thải tại bãi rác Mễ Trì và tại bãi rác Tây Mỗ của thành phố Hà Nội cho thấy hiệu quả giảm mùi hôi rõ rệt sau vài giờ phun chế phẩm EM. Qua kết quả phân tích mẫu khí và kết quả phân tích thành phần nước rác cho thấy nồng độ các khí có hại và khí có mùi thoát ra từ rác có phun EM giảm rõ rệt so với rác không xử lí bằng EM. Các giá trị CO, SO2, H2S, CH4 giảm dần đến giá trị 0 trong các bể thí nghiệm. - Trung tâm chuyển giao công nghệ của sở khoa học công nghệ và môi trường của thành phố Nam Định đã triển khai ứng dụng chế phẩm EM trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Chế phẩm EM sau khi pha chế phun trực tiếp vào nhà bếp, chuồng trại chăn nuôi, vật nuôi, hố xí, rác thải để khử mùi hôi thối. Sau hai tháng sử dụng các hộ gia đình và các tổ chức ứng dụng chế phẩm này để xử lí môi trường đều khẳng định: chế phẩm khử mùi hôi rất tốt (mùi hôi thối giảm khoảng 70-80%) ; chế phẩm có tác dụng xua đuổi côn trùng có hại (gián, ruồi, muỗi ) : giảm thiểu ô nhiễm môi trường do nước thải, phế thải gây ra trong quá trình thu gom và sử dụng giá rẻ, hợp với người sử dụng [2]. - Ở Tỉnh Thái Bình Đã sử dụng rộng rãi chế phẩm EM trong sản xuất và trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Đặc biệt ở đây đã triển khai mô hình phân loại rác, xử lí rác bằng chế phẩm EM tại hộ gia đình sau đó một vài gia đình làm nông nghiệp thu gom lại để ủ làm phân bón sinh học. Do xử lí bằng EM nên rác có mùi hôi không đáng kể, thể tích rác giảm nhanh nên có thể lưu giữ trong các hộ gia đình từ 10 - 15 ngày. Điều này làm giảm sức ép thu gom rác hằng ngày của công ty môi trường đô thị thị xã đồng thời nâng cao ý thức của cộng đồng dân cư trong việc bảo vệ môi trường [2]. - Xí nghiệp chế biến lông vũ xuất khẩu thuộc Tổng Công ty thức ăn gia xúc – Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, nằm ở huyện Thanh trì - Hà Nội đã sử dụng chế phẩm EM để xử lí xương gia súc thu gom về để chế biến bột xương xuất khẩu. Kết quả cho thấy: xương được xử lí bằng chế phẩm EM không gây mùi hôi trong quá trình sản xuất bột xương và chất lượng bột xương tăng lên về hàm lượng Nitơ [9]. - Công ty Đường – Rượu – Bia Việt trì đã sử dụng chế phẩm EM để xử lí bùn lọc mía làm giảm mùi hôi thối và mở ra hướng chế tạo phân hữu cơ cho trồng trọt và cải tạo đất [2]. Phần II - ỨNG DỤNG CHẾ PHẨM EM TRONG XỬ LÍ RÁC THẢI ĐÔ THỊ 2.1 Ứng dụng chế phẩm EM vào xử lí mùi hôi rác thải sinh hoạt - Trung bình lượng rác thải sinh hoạt (hộ 5 người), sau khi phân loại đã tách loại bỏ riêng kim loại, bọc nylon, miễng sành, nhựa...chỉ còn rác thải từ thực vật, động vật, giấy vụn, rơm rạ, phân chuồng, rác độn chuồng, vỏ trái cây... Theo tính toán lượng rác thải sinh hoạt trung bình hộ gia đình có từ: - 05 người thì lượng rác thải ra trung bình mỗi ngày từ 1,5 - 2 kg rác. Rác thải sau 3 - 5 ngày/6 -10kg rác thải. Vậy lượng EM cần dùng để xử lí: Pha 0.6ml - 1ml EM/60ml - 100ml nước tưới trên hố rác. - Nếu sử dụng liên tục trong 30 ngày tương đương khoảng 60kg rác thải cần lượng 6ml EM/60ml nước tưới trên hố rác. - Nếu sử dụng trong thời gian 60 ngày tương đương khoảng 120kg rác thải cần lượng 12ml EM/120ml nước tưới trên hố rác. - Nếu sử dụng trong thời gian 90 ngày tương đương khoảng 180kg rác thải cần lượng 20ml EM/2lít nước tưới trên hố rác. - Sử dụng vào xử lí mùi hôi và ủ rác thải sinh hoạt thành phần hữu cơ: (cụm dân cư từ 5 - 10 hộ gia đình). Ø. Cách xử lí: Rác thải sau khi đã tiến hành phân loại (hướng dẫn trên), sau đó tập trung cho vào hố chứa rác cứ một lớp khoảng 30cm tưới lên một lớp dung dịch EM pha (tỉ lệ 1:100). Rác mới ngày nào phun ngày nấy. Sau đó dùng bao nylon hoặc tấm bạt đậy lên bề mặt hố rác để tạo điều kiện kị khí. - Cách pha dung dịch EM để xử lí: Cứ 10ml/01 lít nước tưới cho 100kg rác. Thí dụ: Nếu lượng rác thải sinh hoạt mỗi ngày khoảng 50kg rác thì lượng E.M cần dùng 5ml EM pha với ½ lít nước, sau đó tưới đều lên mặt rác. - Sử dụng liên tục trong thời gian 30 ngày tương đương lượng rác thải ở 5-10 hộ gia đình có khoảng 1.500 - 3.600kg rác thì lượng EM cần dùng từ 150 - 360ml pha với 15lít-36lít nước tưới đều lên mặt, rác mới ngày nào phun ngày nấy [6]. 2.2 Ứng dụng chế phẩm EM vào xử lí rác thải đô thị ở bãi rác Khánh Sơn – Đà Nẵng MÔI TRƯỜNG HỒ SINH THÁI 2 KÊNH PHÂN PHỐI HỒ TUỲ NGHI 2 HỘC RÁC ĐÔ THỊ HỒ TUỲ NGHI 1 BÃI RÁC KHÁNH SƠN HỒ SINH THÁI 1 1111 HỒ KỴ KHÍ BÙN BÙN BÙN BỂ LẮNG TRỌNG LỰC BỂ THU GOM BÙN BỂ PHỐT BÙN CÔ ĐẶC NƯỚC THẢI NƯỚC THẢI RÁC THẢI Chế phẩm EM Chế phẩm EM Chế phẩm EM Chế phẩm EM Chế phẩm EM Chế phẩm EM 2.2.1 Quy trình ứng dụng EM vào mô hình xử lí rác ở bãi rác Khánh Sơn – Đà Nẵng [4] Quy trình công nghệ xử lí rác thải và nước thải tại bãi rác Khánh Sơn mới 2.2.2 Thuyết minh quy trình [4] Rác thải sinh hoạt đô thị sau khi được thu gom sẽ được đưa đến bãi rác Khánh Sơn. Tại đây sẽ được phân loại và đưa đi xử lí. Rác thải đô thị sẽ được trực tiếp đổ vào các hộc rác đô thị. Khi đổ đến độ cao cho phép thì dừng và được xử lí nhờ hệ vi sinh vật tự nhiên cũng như được bổ sung bằng cách phun chế phẩm EM sẽ được phân hủy. Trong quá trình này mùi hôi thối tạo ra sẽ bị khử bởi chế phẩm khử mùi. Dùng chế phẩm sinh học EM phun vào rác thải (thường rác mới chuyển về) mỗi ngày cần phun 2 lần và mỗi lần khoảng 0.6lit/tấn rác thải nhằm mục đích khử mùi, đồng thời góp phần phân hủy rác thải. Chế phẩm sinh học EM được sản xuất tại bãi rác và nhờ hệ thống bơm dẫn các ống bơm lên phun đều cho bãi rác. Khi mùa mưa thì sẽ có nhiều khu vực đọng nước rỉ trên bãi rác gây mùi và ảnh hưởng lớn đến công tác quản lí và xử lí thì cần dùng đến chế phẩm Bokashi (dạng bột của chế phẩm EM) để rải lên trên các sủn ứ đọng nước gây mùi hôi thối. Nước rỉ tạo thành trong quá trình này sẽ được chuyển đến hồ kỵ khí cùng nước từ bể phốt, ở đây chúng cũng được xử lí nhừ hệ vi sinh vật mà đặc trưng là chế phẩm EM. Sau khi được xử lí tại bể này nước từ hồ kỵ khí được chảy tràn qua lần lượt các hồ tùy nghi 1 và 2. Chế phẩm EM được phun vào các hồ này để tiếp tục xử lí. Từ hai hồ tùy nghi này thì hàm lượng các chỉ tiêu COD, BOD, giảm đi rất nhiều nhưng để đảm bảo hơn thì từ hai hồ này cho qua hai hồ sinh thái 1, 2 và sau đó ra môi trường. Chế phẩm EM được phun vào các hồ này để tiếp tục xử lí. Nước rỉ sau khi từ trạm bơm nước rỉ sẽ chảy qua hồ kị khí, và các hồ tiếp theo trong quá trình này thì nước sẽ được kiểm tra chất lượng nước thải và các chỉ tiêu COD, BOD, pH 2.3 Ứng dụng chế phẩm EM vào xử lí rác ở một số tỉnh khác 2.3.1 Xử lí rác tại bãi rác Tam Đàn tỉnh Quảng Nam Sở khoa hoc công nghệ và môi trường tỉnh Quảng Nam đã sử dụng chế phẩm EM để xử lí rác thải tại bãi rác Tam Đàn. Hàng ngày rác thải đô thị thường được vận chuyển lên bãi 2 lần vào lúc 9 giờ – 10 giờ sáng và lúc 4 giờ – 5 giờ chiều. Theo đó tiến hành phun EM 2 lần/ ngày khi phun các cán bộ môi trường đã hướng dẫn công nhân tại bãi rác phun ướt đều rác. Vì chưa có phương tiện san ủi rác thành từng lớp, nên những chỗ dồn đống cao công nhân phải dùng cào cào để cào ra sau đó dùng xoa tưới để tưới EM lên rác, phương pháp tưới còn rất thủ công nên hiệu quả chưa cao và tốn nhiều công. Theo đánh giá ban đầu bằng cảm quan thấy rằng chỉ sau 2 giờ sử dụng đã có hiệu quả giảm mùi hôi rõ rệt tại bãi rác. Tiếp tục cho sử dụng chế phẩm EM theo quy trình thì thấy hiệu quả giảm mùi hôi rõ rệt (giảm khoảng 80% so với trước khi sử dụng chế phẩm EM). Để có cơ sở khoa học kết luận về hiệu quả khử mùi hôi của chế phẩm EM, các cán bộ xử lí tiếp tục lấy mẫu khí để phân tích hàm lượng khí NH3 và H2S sau khi sử lí bằng chế phẩm EM tại bãi rác. Điểm lấy mẫu giữa bãi rác và cuối hướng gió cách bãi rác 30m. Thời gian lấy mẫu chọn những ngày có thời tiết tiêu biểu để có thể sơ bộ đánh giá một cách tương đối toàn diện về hiệu quả của chế phẩm EM trong xử lí rác thải. Kết quả thu được cho thấy sau khi sử dụng chế phẩm vi sinh vật EM thì lượng khí H2S và NH3 giảm dần, đây là loại khí chính gây ra mùi hôi thối tại bãi rác. Ở giữa bãi rác, hàm lượng khí H2S và NH3 giảm từ 17mg/m3 và 0,624mg/m3 (khi chưa xử lí bằng EM) xuống 3,5mg/m3 và 0,144mg/m3 (sau hai tháng xử lí rác bằng chế phẩm EM) điều này cho thấy ta có thể khẳng định rõ chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu EM có hiệu quả khử mùi hôi thối trong môi trường [2]. 2.3.2 Xử lí rác tại bãi rác Soi Nam thành phố Hải Dương Tại thành phố Hải Dương, hàng ngày có khoảng 150tấn rác thải hỗn hợp không được phân loại chôn lấp tại bãi rác Soi Nam, phường Ngọc Châu. Đề tài đã ứng dụng chế phẩm EM thứ cấp để xử lí 100m3 làm mô hình trình diễn với 100lít EM thứ cấp. Do bãi rác rộng và lượng rác thải nhiều nên phải phân lập 100m3 trên đường bê tông của bãi rác để xử lí bằng EM. Rác được loại bỏ bao xác rắn, nilon có kích thước lớn, sau đó xếp thành lớp 30cm, mỗi lớp được phun EM thứ cấp ướt đẫm (nồng độ 1lít EM thứ cấp pha 10lít nước), lớp trên cùng được phủ bao bì, chiếu... đậy kín. Thời gian bắt đầu tiến hành xử lí ngày 25/5/2004, kết thúc vào ngày 16/6/2004. Sau khi rác được xử lí 20 ngày, rác đã mục có mùi hôi, ruồi nhặng rất ít, rác không xử lí EM mùi thối, ruồi nhặng nhiều. Kết quả cho thấy rác có xử lí EM nồng độ các khí thải đã giảm rõ rệt: CO2 giảm 62,5%, SO2 giảm 63,2%, CH4 giảm 78,1% và H2S giảm 69,6%. Nhược điểm của mô hình thử nghiệm là xử lí ít trong một bãi rác rộng lớn nên kết quả còn hạn chế, chưa được tuyên truyền rộng. Năm 2005 Ban chủ nhiệm đề tài đã lựa chọn một bãi rác nhỏ lẻ hơn, dùng EM thứ cấp trong sản xuất dịch vụ để xử lí nhằm khuyến cáo nhân rộng [5],[7]. PHẦN III - KẾT LUẬN Từ các kết quả tham khảo những đề tài, tài liệu mang tính thiết thực, qua đề tài “ứng dụng chế phẩm vi sinh vật EM vào xử lí rác thải đô thị” đã tìm hiểu được cơ chế tác dụng của chế phẩm EM, các dạng chế phẩm EMvà quan trọng hơn là nắm được quy trình ứng dụng EM vào xử lí rác thải đô thị ở bãi rác Khánh Sơn Đà Nẵng. Rút ra một số nhận xét sau: - Chế phẩm EM có bốn dạng chính : Chế phẩm EM gốc (Dung dịch EM1), Chế phẩm EM5 (Dung dịch lên men), Chế phẩm EM Bokashi, Chiết xuất cấy lên men (EM-F.P.E). Nhưng trong đó EM gốc ở dạng dung dịch được dùng để pha chế thành các dạng EM thứ cấp nhằm phục vụ theo yêu cầu, mục đích của người sử dụng - Các chủng vi sinh vật hữu hiệu có mặt trong chế phẩm EM : xạ khuẩn, nấm mốc, nấm men, vi khuẩn quang hợp,..hiện đang được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là ứng dụng rất hiệu quả trong nhiều lĩnh vực : nông nghiệp (phân bón, chăn nuôi gà, gia súc, trồng cây,..), công nghiệp (xử lí nước thải). - Những tính năng ưu việt trên của EM hiện nay được các quốc gia trên thế giới ưu tiên và đang phát triển mạnh, với công nghệ hiện đại họ tiến hành sản xuất trên quy mô công nghiệp để áp dụng rộng rãi trong xử lí môi trường và sản xuất nông nghiệp trong khi đó ở Việt Nam việc ứng dụng chế phẩm EM cũng còn khá mới mẻ và chưa được áp dụng rộng rãi. Chính vì vậy việc nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng của chế phẩm EM vào nền nông nghiệp và bảo vệ môi trường ở nước ta là một hướng đi đúng đắn và cần có sự quan tâm của các cấp chính quyền. Điều này sẽ giúp làm giảm giá thành các sản phẩm, để có thể ứng dụng rộng rãi nhằm bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, tăng thu nhập cho nông dân trong nền kinh tế hội nhập và cải thiện chất lượng môi trường.   Với tính năng đa dạng và hiệu quả cao, an toàn đối với môi trường, chúng ta có thể coi EM là công nghệ của tương lai, khi mà con người đang phải đối mặt với nhiều thảm họa môi trường – sinh thái. Hy vọng trong tương lai công nghệ sản xuất các chế phẩm sinh học (EM) sẽ phát triển mạnh để phục vụ nhu cầu ngày càng cao của con người. TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu trong nước: [1]. Hướng dẫn sử dụng EM (Effective Microorganism), APNAN (mạng lưới nông nghiệp thiên nhiên Châu Á - Thái Bình Dương). Trung tâm Công nghệ Việt Nhật (Bộ KHCN và Môi trường) xuất bản-1995. [2]. Đề tài “ Bước đầu thử nghiệm chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu EM trong xử lí rác thải tại bãi rác Tam Đàn - Thị xã Tam Kỳ - Tỉnh Quảng Nam” của Sở Khoa học và Công nghệ và Môi trường. [3]. Đề tài “ Thử nghiệm chế phẩm EM để xử lí mùi hôi môi trường tại bãi rác Khánh Sơn và Hồ Thạch Gián” của thành phố Đà Nẵng. [4]. Phòng Công nghệ môi trường, Công ty môi trường –Đô Thị ĐN, Báo cáo tổng quan công tác thu gom xử lí chất thải rắn trên địa bàn TP ĐN cho cuộc họp ngày 27/11/2007 Tại Sở TN-MT TP ĐN Tài liệu internet: [5]. www.vast.ac.vn/index.asp?fcid=2&progid=21002&newsid=1627 [6]. [7]. www.haiduongdost.gov.vn/ [8]. www.nea.gov.vn/thongtinmt/noidung/kh1_15_1_03.htm [9]. www.vinachem.com.vn/XBP%5CVien_hoa%5CMT%5Cbai5.htm [10]. hoc

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docdacm_16_11_6773.doc