Vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam

Lịch sử Việt Nam từ khi thực dân pháp xâm lược đã ghi nhận rằng: nguyện vọng tha thiết của dân tộc là được độc lập. Mặt khác, ở nước ta nông dân chiếm hơn 90% dân số, mơ ước ngàn đời của nông dân là có ruộng cày. Giai cấp nào đáp ứng được nguyện vọng trên sẽ tập hợp được dân tộc dưới ngọn cờ cứu nước và trở thành giai cấp lãnh đạo. Cách Mạng tháng mười nga thắng lợi đã khẳng định rằng: trong thời đại ngày ngày nay giai cấp công nhân là giai cấp nắm ngọn cờ dân tộc. Ở Việt Nam từ khi thực dân pháp xâm lược, còn có một thực tế là: giai cấp tư sản không đủ sức nắm vững ngọn cờ dân tộc và cũng không một tổ chức nào của các giai cấp khác có khả năng giải quyết được thực chất của CM ở các nước thuộc địa là vấn đề nông dân. Mặt dù đã có nhiễu nhân sĩ ra đi tìm đường cứu nước, nhưng không ai đáp ứng được nhu cầu bức thiết của dân tộc. Mãi đến năm 1920 NAQ mới đáp ứng được nhu cầu đó, tìm ra con đường cứa nước đúng đắn, truyền bá chủ nghĩa Mác-lênin vào Việt Nam, rèn luyện những người yêu nước Việt Nam theo lập trường vô sản, thành lập đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. ĐCSVN ra đời với đường lối đúng đắn đã thu hút tất cả những người yêu nước chân chính đứng dưới ngọn cờ cứu nước của giai cấp công nhân, tiến hành giải phóng dân tộc, đáp ứng nguyện vọng bức thiết của toàn dân Việt Nam. Sự ra đời của đảng cộng sản Việt Nam là kết quả của sự chuẩn bị công phu của lãnh tụ NAQ, đồng thời cũng là kết qủa của một qúa trình vận động CM trong hoàn cảnh lịch sử của đất nước ta, là bước phát triển tất yếu của lịch sử Việt Nam, phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại mới sau Cách Mạng Tháng Mười. MỞ ĐẦU NỘI DUNG I. NGUYỄN ÁI QUỐC TÌM RA CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC 1. Hoàn cảnh lịch sử. 2. Vai trò của nguyễn ái quốc trong quá trình thành lập đảng: a. Hoàn cảnh xuất thân b. Những năm bôn ba tìm đường cứu nước II. NGUYỄN ÁI QUỐC ĐI TRUYỀN BÁ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀO VIỆT NAM III. NGUYỄN ÁI QUỐC TRUYỀN BÁ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀO VIỆT NAM KẾT LUẬN

doc13 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 02/02/2013 | Lượt xem: 9129 | Lượt tải: 16download
Tóm tắt tài liệu Vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỞ ĐẦU Lịch sử Việt Nam từ khi thực dân pháp xâm lược đã ghi nhận rằng: nguyện vọng tha thiết của dân tộc là được độc lập. Mặt khác, ở nước ta nông dân chiếm hơn 90% dân số, mơ ước ngàn đời của nông dân là có ruộng cày. Giai cấp nào đáp ứng được nguyện vọng trên sẽ tập hợp được dân tộc dưới ngọn cờ cứu nước và trở thành giai cấp lãnh đạo. Cách Mạng tháng mười nga thắng lợi đã khẳng định rằng: trong thời đại ngày ngày nay giai cấp công nhân là giai cấp nắm ngọn cờ dân tộc. Ở Việt Nam từ khi thực dân pháp xâm lược, còn có một thực tế là: giai cấp tư sản không đủ sức nắm vững ngọn cờ dân tộc và cũng không một tổ chức nào của các giai cấp khác có khả năng giải quyết được thực chất của CM ở các nước thuộc địa là vấn đề nông dân. Mặt dù đã có nhiễu nhân sĩ ra đi tìm đường cứu nước, nhưng không ai đáp ứng được nhu cầu bức thiết của dân tộc. Mãi đến năm 1920 NAQ mới đáp ứng được nhu cầu đó, tìm ra con đường cứa nước đúng đắn, truyền bá chủ nghĩa Mác-lênin vào Việt Nam, rèn luyện những người yêu nước Việt Nam theo lập trường vô sản, thành lập đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. ĐCSVN ra đời với đường lối đúng đắn đã thu hút tất cả những người yêu nước chân chính đứng dưới ngọn cờ cứu nước của giai cấp công nhân, tiến hành giải phóng dân tộc, đáp ứng nguyện vọng bức thiết của toàn dân Việt Nam. Sự ra đời của đảng cộng sản Việt Nam là kết quả của sự chuẩn bị công phu của lãnh tụ NAQ, đồng thời cũng là kết qủa của một qúa trình vận động CM trong hoàn cảnh lịch sử của đất nước ta, là bước phát triển tất yếu của lịch sử Việt Nam, phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại mới sau Cách Mạng Tháng Mười. NỘI DUNG I. NGUYỄN ÁI QUỐC TÌM RA CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC 1. Hoàn cảnh lịch sử. Vào giữa TK XIX, nước Việt Nam ta đã bị thực dân Pháp xâm lược, mở đầu bằng cuộc tiến công vào cảng Đà Nẵng (1-9-1858). Sau khi hoàn thành việc xâm lược và bình định vũ trang, thiết lập bộ máy thống trị, thực dân Pháp tiến hành những cuộc khai thác thuộc địa nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt, cho vay nặng lãi, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa của chính quốc. Chính sách thuộc địa của Pháp ở Việt Nam và cả Đông Dương là bóc lột nặng nề về kinh tế, chuyên chế về chính trị, kìm hãm nô dịch về văn hóa, nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho bọn tư bản lũng đoạn Pháp chứ không phải đem đến cho nhân dân các nước Đông Dương sự “khai hóa văn minh”. Từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, Một trong những nhiệm vụ mà CNTB là tiến hành xâm chiến thuộc địa để phân chia thị trường. Chính vì vậy mà mâu thuẫn giữa Chủ nghĩa thực dân và Chủ nghĩa đế quốc đã tạo ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ I nhằm phân chia lại thị trường thế giới. Bên cạnh đó, còn tồn tại mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc với các dân tộc thuộc địa và mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản thế giới dẫn đến phong trào thế giới phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là ở Châu Á tạo nên một phong trào phương Đông thức tỉnh với 3 trung tâm cách mạng lớn là : Trung Quốc, Ấn Độ và Đông Dương. Bên cạnh đó còn có một trung tâm cách mạng lớn nữa là Nhật Bản. Để tiến hành khai thác thuộc địa thì phải xuất khẩu tư bản đến thuộc địa. Từ 1860 đến 1912, qua hình thức cho vay, chính phủ Pháp và các tập đoàn tư bản ngân hàng Pháp đã đầu tư vào Đông Dương 499 tỷ phrăng. Hậu quả của sự xuất khẩu tư bản và du nhập CNTB theo kiểu thực dân vào nước ta đã đem lại những biến đổi sâu sắc về kinh tế, xã hội, chính trị và giai cấp. Với lòng yêu nước truyền thống nồng nàn, tinh thần anh hùng bất khuất, nhân dân ta đã liên tục đứng lên kháng chiến để bảo vệ nền độc lập. Các phong trào kháng chiến đã diễn ra liên tiếp, sôi nổi dưới nhiều hình thức và màu sắc khác nhau nhưng cuối cùng đều bị thất bại và nguyên nhân là do thiếu một giai cấp tiên tiến có khả năng đề ra đường lối đúng đắn cho Cách mạng (CM) Việt Nam. Xã hội Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối. 2. Vai trò của nguyễn ái quốc trong quá trình thành lập đảng: a. Hoàn cảnh xuất thân: Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học lấy tên là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng trước đây lấy tên là Nguyễn Ái Quốc), sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890, quê ngoại là làng Hoàng Trù; quê nội là làng Kim Liên, nay thuộc x Kim Lin, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Cụ thân sinh ra Người là Nguyễn Sinh Huy, tức là Nguyễn Sinh Sắc (1863 - 1929). Cụ đỗ phó bảng và sống bằng nghề dạy học. Sau khi đỗ phó bảng, bị bọn thống trị thúc ép nhiều lần, cụ ra làm quan, nhưng thường tỏ thái độ không hợp tác với chúng. Cụ thường chống đổi bọn quan trên và bọn thực dân Pháp, cho nên sau một thời gian rất ngắn, cụ bị chúng cách chức. Cụ vào Miền Nam (Nam Bộ) làm nghề thầy thuốc, cho đến lúc từ trần. Thân mẫu của Hồ Chủ tịch là cụ Hoàng Thị Loan (1868 - 1901), chị của Hồ Chủ tịch là Nguyễn Thị Thanh, tức Bạch Liên (1884 – 1954) và anh của Người là Nguyễn Sinh Khiêm, tức Nguyễn Tất Đạt (1888- 1950), đều tham gia phong trào chống thực dân Pháp và bị tù đày. Hồ Chủ tịch là con thứ ba trong gia đình. Người là một học trị thơng minh, chăm chỉ học tập và sớm có tinh thần yêu nước. Các phong trào đấu tranh của các sĩ phu yêu nước như Phan Chu Chinh, Phan Bội Châu, Hoàng Hoa Thám...đ ảnh hưởng sâu sắc đến Hồ Chủ tịch. Người nhận thấy các phong trào yêu nước chưa có được đường lối đấu tranh đúng đắn. Người cần phải sang các nước phương Tây học tập vì ở đó có tư tưởng tự do, dân chủ và có khoa học, kỹ thuật hiện đại. b.Những năm bôn ba tìm đường cứu nước: Mấy chục năm đầu thế kỉ XX, các cuộc vận động chống Pháp của nhân dân ta liên tiếp bị thực dân Pháp dìm trong bể máu. Phong trào yêu nước bế tắc, chưa xác định được đường lối đúng đắn. Ngày 5-6-1911, tại Bến Cảng Nhà Rồng, Nguyễn Ai Quốc ra đi tìm đường cứu nước, trên con tàu Amiral Latoiche Trevile với cái tên là Nguyễn Văn Ba. Người muốn xem thế giới như thế nào để tìm đường giải phóng dân tộc. Hướng đi của Người khác với các bậc tiền bối là thường hay sang phương Đông, mà Người đi sang phương Tây, Người đã tìm đến nước Pháp. Vì ở Pháp có quyền tự do, bình đẳng, bác ái và đặc biệt là nền văn minh của nước Pháp… Sau này Hồ Chủ tịch đ kể lại: "Vào trạc tuổi 13, lần đầu tiên tôi đ được nghe những từ tiếng Pháp: tự do, bình đằng, bác ái... Thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy". Người đã bôn ba khắp năm châu bốn biển xem xét tình hình, nghiên cức lý luận và kinh nghiệm của cách mạng các nước, nhất là Cách mạng Mỹ và Cách mạng Pháp: đã lao động và tham gia đấu tranh trong hàng ngũ giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở nhiều nước để có kiến thức và kinh nghiệm về giúp nước mình. Người nhận xét: Ở đâu bọn thực dân thống trị đều tán ác, ở đâu nhân dân lao động cũng đều bị áp bức, bóc lột, cũng quật khởi và cần được giải phóng. Phương thức họat động: ở Phương Tây, Người đã làm mọi đủ nghề lao động chân tay vừa kiếm sông, vừa hoạt động Cách mạng… nghề nào Người cũng làm rất giỏi, nhưng nghề chính của Người là hoạt động Cách mạng. Nguyễn Ai Quốc thường tìm đến các thư viện, bảo tàng để học tập. Người đã hòa mình vào cuộc sống của giai cấp Vô sản của nhân dân lao động thế giới. Từ cuộc sống cần lao, Người đã rút ra được rất nhiều điều và Người đã nhanh chóng tiếp cận xu thế Cách mạng mới. Nguyễn Ái Quốc đ đặt mình vo chỗ đứng của giai cấp cần lao, khảo sát thế giới và rút ra kết luận: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có 2 giống người là giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ cĩ 1 mối tình hữu i l thật m thơi, đó là tình hữu i vơ sản”. CM tháng 10 Nga (1917) đã nổ ra và giành được thắng lợi chính là mốc đánh dấu sự chuyển biến lập trường trong tư tưởng Nguyễn Ai Quốc. Dưới ánh sáng của CM tháng 10 và đề cương về vấn đề dân tộc thuộc địa do Lênin vạch ra đồng thời được sự giúp đỡ của các đồng chí trong Đảng xã hội Pháp. Năm 1919, Người gửi đến hội nghị Vécxay( của các nước đế quốc thắng trận sau chiến tranh thế giới thứ I). Thay mặt những người Việt Nam yêu nước ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị bản yêu sách nổi tiếng gồm 8 điểm, địi chính phủ Php phải thừa nhận cc quyền tự do dn chủ v quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Yêu sách đó cũng được hội nghị chấp nhận. Từ đó, Người rút ra kết luận quan trọng: Các dân tộc bị áp bức muốn được độc lập tự do thật sự, trước hết phải dựa vào lực lượng của bản thân mình, phải tự mình giải phóng cho mình. Tháng 7 – 1920, bản Sơ thảo lần thứ nhất đề cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đã đến với Nguyễn Ai Quốc. Nó đã đáp ứng nguyện vọng tha thiết mà Người đang ấp ủ: Độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào. Bắt đầu khi người có trong tay bản sơ thảo lần thứ nhất đề cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của lênin. nó chỉ cho người và cho cả đồng bào bị đày đọa đau kho của người cái cần thiết nhất là con đường tự giải phóng, con đường giành độc lập cho tổ quốc, tự do đồng bào. người nói rằng"muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản"(hồ chí minh toàn tập, tập 2,nxb chính trị quốc gia, hn,tr.274). Vậy là qua hành trình đầy gian khổ của Hồ Chí Minh đi đến một sự lựa chọn đúng đắn cho con đường cứu nước là con đường cách mạng của Lê_nin và dức khoát đi theo con đường đó. Người đã viết: Bản Luận cương làm cho tôi cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao!...”. Người dứt khoát đi theo con đường của Lenin. Tại Đại hội lần thứ mười tám của Đảng x hội Php họp ở Tua (từ ngy 25 đến ngày 30 tháng 12 năm 1920) Hồ Chủ tịch đ đọc tham luận tố cáo những tội ác của thực dân Pháp ở Đông Dương và kêu gọi nhân dân Pháp ủng hộ cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam và nhân dân các thuộc địa khác…Người đã bỏ phiếu thành lập Quốc tế III và Đảng cộng sản (CS) Pháp và trở thành người Việt Nam đầu tiên sáng lập ra Đảng CS Pháp. Nguyễn Ai Quốc đã tìm thấy chủ nghĩa Mác-Lênin và khẳng định con đường cứu nước đúng đắn bởi chủ nghĩa Mác-Lênin là chủ nghĩa yêu nước. Sự kiện này là mốc đánh dấu chấm dứt về khủng hoảng đường lối cứu nước của dân tộc ta, mở đầu cho chủ nghĩa Mác-Lênin xâm nhập Việt Nam. Năm 1921, được sự giúp đỡ của Đảng cộng sản Pháp, cùng với một số ngươi yêu nước của nhiều nước thuộc địa Pháp, Người sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa. Là đại biểu của nhân dân Đông Dương, Người được bầu vào Ban chấp hành trung ương hội, làm ủy viên thường trực. II. NGUYỄN ÁI QUỐC ĐI TRUYỀN BÁ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀO VIỆT NAM Những bài viết của người trong chặn đường hoạt động từ 1921 đến 1927, với nội dung tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc theo chủ nghĩa lênin. Hệ thống quan điểm đó là: - "Đi sâu vạch rõ bản chất phản động của chủ nghĩa thực dân được ngụy trang bằng cái gọi là "khai hoá văn minh". chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới, là kẻ thù trực tiếp nguy hại nhất của nhân dân các nước thuộc địa. người đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thân yêu nước, thức tỉnh tinh thần phản kháng dân tộc, kêu gọi nhân dân các nước thuộc địa phải dựa vào lực lượng bản thân mìn, phải tự mình đứng lên giải phóng cho mình. - Cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận cách mạng thời đại - cách mạng vô sản. Giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng nhân dân lao động, giải phóng giai cấp công nhân "chỉ có giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của cộng sản và cách mạng thế giới ". Vì vậy, phải tiến hành cách mạng triệt để, phải đem chính quyền giao cho nhân dân, chớ không để trong tay một bọn ít người, có như thế dân chúng mới được hạnh phúc. tư tưởng đó là nền tảng của đường lối chiến lược tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc theo phương hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội của hồ chí minh và của đảng cộng sản việt nam. - Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có quan hệ khăng khít với nhau như hai cái cánh của cách mạng thời đại. phải thực hiện theo khẩu hiệu chiến lược của lênin "vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại". Hồ Chí Minh đã nêu rõ cách mạng thuộc địa không phụ thuộc vào cách mạng ở chính quốc mà nó có tính chủ động, độc lập. cách mạng thuộc địa thành công trước cách mạng ở chính quốc và góp phần thúc đẩy cách mạng ở chính quốc tiến lên. đây là một quan điểm cách mạng độc lập sáng tạo của Hồ Chí Minh. - Tư tưởng về đường lối chiến lược của cách mạng ở thuộc địa là tiến hành giải phóng dân tộc, mở đường tiến lên giải phóng hoàn toàn lao động, giải phóng con người, tức là làm cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. song trước hết là phải giải phóng dân tộc, phải đánh đuổi bọn đế quốc, giành lấy độc lập, tự do . Hồ Chí Minh đã sớm xác định một cách đúng đắn tính chất của cách mạng ở các nước thuộc địa là 'dân tộc cách mệnh". Nhận thức đúng tính chất của cách mệnh có tác dụng chi phối sự nhận thức và xác định các vấn đề về kẻ thù, về nhiệm vụ cách mạng, về lực lượng tạo nên sức mạnh dân tộc, về xây dựng đội tiên phong cách mạng ...đó là tư tưởng chiến lược cách mạng đúng đắn của Hồ Chí Minh về cách mạng thuộc địa. Đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược giải phóng gông cùm nô lệ cho đồng bào, là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc của một vài người. phải biết tập hợp lực lượng cách mạng, xây dựng sức mạnh dân tộc. hồ chí minh khẳng định "trong thời địa ngày nay, giai cấp công nhân là giai cấp độc nhất và duy nhất có sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi cuối cùng". Hồ Chí Minh đã chỉ ra một cách đúng đắn những lực lượng xã hội chủ yếu có khả năng đảm bảo thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đồng thời còn đảm bảo cho cách mạng giải phóng dân tộc phát triển theo hướng đi lên chủ nghĩa xã hội. - Trên cơ sở coi công nông là gốc cách mạng. Một việt nam có chung một dân tộc , chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói là một sức mạnh to lớn. vì vậy cần phải khơi dậy và phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc, nghĩa đồng bào, tập hợp mọi lực lượng yêu nước lấy công nông làm gốc, nhằm tạo nên sức mạnh dân tộc để chiến đấu và chiến thắng bọn đế quốc. - Cách mạng giải phóng dân tộc phải thực hiện sự đoàn kết và liên minh với các lực lượng cách mạng quốc tế. cách mạng việt nam là một bộ phận trong cách mạng thế giới. tranh thủ có hiệu quả sức mạnh quốc tế, kết hợp đúng đắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù. - Quần chúng phải được giác ngộ và được tổ chức mới tạo nên sức mạnh của cách mạng. vì vậy phải giáo dục quần chúng về mục đích cách mạng biết đồng tâm hiệp lực , để đánh đổ giai cấp áp bức mình, giải phóng khỏi gông cùm nô lệ cho đồng bào, về ý chí quyết tâm, bền gan chiến đấu lâu dài. quần chúng phải được tổ chức thành một đội ngủ vững bền mới thành công. Còn người cách mạng thì phải hiểu biết tình thế, phải biết so sánh lực lượng, phải có mưu chước, phải biết cách làm mới chóng. một cuộc khởi nghĩa nổ ra thắng lợi ở đông dương. muốn vậy, cuộc khởi nghĩa đó phải là một cuộc khởi nghĩa quần chúng chứ không phải là một cuộc nổi loạn. đây là quan điểm về phương pháp và nghệ thuật dấu tranh cách mạng của hồ chí minh. - Cách mạng muốn thắng lợi, trước hết phải có đảng cách mạng, đảng có vững cách mạng mới thành công. đảng muốn vững phải có học thuyết cách mạng, đó là học thuyết của lênin. đảng phải có đội ngủ cán bộ, đảng viên có lý tưởng cách mạng, có lập trường và đạo đức cách mạng, có quyết tâm chiến dấu vì lý tưởng giải phóng dân tộc và nhân loại ..." Nói tóm lại, hệ thống quan điểm và lý luận về con đường cách mạng của Hồ Chí Minh là nội dung tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc theo chủ nghĩa lênin, nó được truyền vào việt nam và cả đông dương, trong những năm 20 của thế kỷ XX, đã trở thành tư tưởng cách mạng hướng đạo phong trào dân tộc và các tổ chức chính trị theo khuynh hướng cách mạng vô sản, dẫn đến sự ra đời của các tổ chức cộng sản việt nam tiền thân của đảng cộng sản việt nam sau này. Cụ thể: 1920-1923 : Nguyễn Ai Quốc sống tại Pháp, bằng báo chí và tác phẩm “bản án chế độ thực dân Pháp” Người đã truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin : 4-1921, có 2 bài báo quan trọng là “Đông Dương” đăng trên tạp chí của Đảng CS Pháp. Chủ nghĩa CS có khả năng truyền bá vào Châu Á và Đông Dương , khả năng tiếp thu thuận lợi hơn Châu Âu. Lập ra hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa, tập hợp lực lượng chống đế quốc. Hội này có cơ quan ngôn luận là tờ báo “ người cùng kho”. Người vừa là chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ báo này. Người soạn và viết tác phẩm “ bản án chế độ thực dân Pháp” bằng tiếng Pháp (xuất bản 1925). Bằng các bài báo và tác phẩm “bản án chế độ thực dân Pháp” của đồng chí Nguyễn Ai Quốc đã được những thủy thủ người Việt Nam bí mật đưa về nước truyền bá vào phong trào yêu nước Việt Nam làm cho phong trào yêu nước Việt Nam lúc này xuất hiện một khuynh hướng tư tưởng mới đó là khuynh hướng tư tưởng của giai cấp vô sản trong phong trào CM Việt Nam. Bắt đầu từ năm 1923, Nguyễn Ai Quốc sống ở Liên Xô, Trung Quốc, Thái Lan. Phương pháp truyền bá ở thời kỳ này có hệ thống hơn, chủ nghĩa Mác-Lênin đã được đồng chí vận dụng đề ra đường lối cho CM Việt Nam. 6- 1923 : Nguyễn Ai Quốc rời Pháp đến Liên Xô. 1924 : Người dự đại hội(ĐH) quốc tế CS lần II sau đó dự ĐH nông dân quốc tế CS (có đọc tham luận, đề nghị quốc tế CS quan tâm vấn đề nông dân ở các nước thuộc địa). III. NGUYỄN ÁI QUỐC TRUYỀN BÁ CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN VÀO VIỆT NAM Sau thời gian học tập nghiên cứu ổ Liên Xô, cuối năm 1924 về đến Quảng Châu (Trung Quốc), lấy tên là Lý Thụy, Người đi bán báo, bán thuốc lá để có tiền sinh sống và hoạt động cách mạng. Tiếp xúc với các nhà cách mạng Việt Nam, Người xúc tiến việc chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức để thành lập một đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Việt Nam. Đồng thời, với danh nghĩa công khai, Hồ Chủ tịch công tác trong phái đoàn Bô Rô Đin, cố vấn của Liên Xô, bên cạnh chính phủ Quốc Dân Đảng Trung Quốc. Người tìm gặp những người trong nhóm Tâm Tâm Xã, đồng chí đã tổ chức một nhóm cách mạng đầu tiên gồm 9 người, làm nòng cốt cho tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội sau này. Tháng 6/1925, người thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội. Hội này có cơ quan ngôn luận là tuần báo thanh niên. Đây là một tổ chức quá độ vừa tầm, tiếp tục mở các lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cho CM Việt Nam, nhiều đồng chí đã được cử đi học ở trường đại học Phương Đông và những bài giảng của Người tại Quảng Châu cũng được tập hợp lại in thành sách lấy tên “Đường Kếch Mệnh” và là cơ sở để Đảng ta viết cương lĩnh chính trị sau này. Tác phẩm này đã góp phần chuẩn bị cho chính trị, tư tưởng cho sự ra đời của ĐCS Việt Nam. Được chuẩn bị chính trị về tư tưởng ở Quảng Châu, những người yêu nước chân chính của Việt Nam trở về nước tập hợp lực lượng, hướng dẫn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đi vào quỹ đạo Cách Mạng Vô Sản. Nhiệm vụ của Việt Nam thanh niên CM đồng chí hội là tiếp tục thay mặt đồng chí Nguyễn Ai Quốc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào Công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam để đưa phong trào Công nhân từ tự phát lên tự giác và phong trào yêu nước có đường lối rõ ràng không đi theo đường lối cải lương. Bằng các việc làm thiết thực Việt Nam thanh niên CM đồng chí hội đã làm cho phong trào Công nhân Việt Nam vào cuối 1928 đầu 1929 xuất hiện làn sóng CM dân tộc dân chủ rất mạnh mẽ. Vì vậy, yêu cầu của lịch sử đặt ra lúc này là phải thành lập ra Đảng của giai cấp vô sản để đề ra cương lĩnh và trực tiếp lãnh đạo CM thì CM mới giành được thắng lợi. Tháng 4 năm 1927, sau vụ phản biến của bọn Tưởng Giới Thạch ở Quảng Châu, Hồ Chủ tịch đi Liên Xô, rồi đi dự Hội nghị chống chiến tranh đế quốc họp ở Bơ Rúc Xen (Brucxelle, Bỉ); sau đó, Người qua các nước Đức, Thụy sĩ, Ý, Thi Lan. Từ mùa thu năm 1928, Người hoạt động ở Thái Lan, đào tạo cán bộ, tuyên truyền, giáo dục, tổ chức Việt kiều, cho xuất bản tờ báo Thn i, dùng làm cơ quan tuyên truyền cách mạng trong kiều bào và gửi về nước. Ngoài những công việc nói trên, Hồ Chủ tịch cịn học tiếng Thi Lan, dịch sch v nhất l tham gia với kiều bo trong hội họp. * Đảng cộng sản Việt Nam ra đời : Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào CM trong nước thì những đồng chí hội viên tiên tiến của Việt Nam thanh niên CM đồng chí hội ở Bắc Kỳ đã tiến hành họp tại số nhà 5D Hàm Long Hà Nội vào đầu 3-1929 để tiến hành thành lập ra chi bộ CS đầu tiên ở trong nước và chi bộ này đã ra nghị quyết: phải thành lập ra Đảng CS. Cuối 3-1929 ĐH kì bộ Bắc Kỳ của Việt Nam thanh niên CM đồng chí hội cũng được tiến hành và ĐH này đã thông qua chủ trương thành lập Đảng của chi bộ CS đầu tiên đồng thời ĐH cũng cử đại biểu đi dự ĐH thanh niên toàn quốc và giao nhiệm vụ cho các đồng chí đại biểu: phải đấu tranh để chủ trương thành lập Đảng được chấp thuận tại ĐH thanh niên toàn quốc. + Ngày 1-5-1929: ĐH lần thứ I của Việt Nam thanh niên CM đồng chí hội được tiến hành tại Hương Cảng Trung Quốc. Tại ĐH này, đoàn Đại biểu Bắc Kỳ đưa ra vấn đề thành lập Đảng nhưng lại không được ĐH chấp thuận. Vì thế, các đồng chí đã tự động rút về nước và thành lập ra tổ chức CS đầu tiên là Đông Dương CS Đảng (6-1929) do đồng chí Hồ Tùng Mậu làm bí thư. + 7-1929: Thành lập An Nam CS Đảng. + 9-1929: Thành lập Đông Dương CS liên đoàn. Việc thành lap 3 tổ chức cộng sản đã có những điểm tích cực và tiêu cực: *Tích cực: phong trào cách mạng trong nước phát triển mạnh mẽ, các phong trào này có sự chỉ đạo trực tiếp của các chi bộ Đảng vì vậy có sự liên kết chặt chẽ địa phương này với địa phương khác để tiện thực hiện mục tiêu chung. *Tiêu cực: trong một nước có 3 tổ chức Đảng dẫn đến tình trạng tranh giành quần chúng, các Đảng viên chỉ trích lẫn nhau. Đây là diểm trở ngại lớn mà theo nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới không cho phép có sự chia rẽ về mặt tư tuởng và tổ chức vì vậy sự ra đời của 3 tổ chức Cộng sản đã nói lên sự ấu trĩ của Đảng ta trong buổi đầu về nhận thức nguyên lý thành lập Đảng. Trước sự xuất hiện 3 tổ chức CS ở trong nước thì quốc tế CS đã viết thư kêu gọi những người CS ở Việt Nam là phải nhanh chóng hợp nhất 3 tổ chức CS, thành lập Đảng CS đồng thời giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Ai Quốc là thay mặt quốc tế CS hợp nhất 3 tổ chức CS thành lập ra Đảng CS. Sau chỉ thị của quốc tế CS đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã bắt tay ngay vào việc chuẩn bị các văn kiện cho hội nghị hợp nhất và khi mọi công tác chuẩn bị đã hoàn tất thì hội nghị hợp nhất 3 tổ chức CS tiến hành 3 đến 7-2-1930 tại Hương cảng Trung Quốc: Hội nghị thảo luận bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, quyết định thành lập Đảng CS và lấy tên là Đảng CS Việt Nam, thông qua chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, điều lệ tóm tắt và lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn Ái Quốc nhân dịp thành lập Đảng, bầu Ban chấp hành trung ương lâm thời. Hội nghị được coi như là hội nghị thành lập Đảng và các văn kiện do Hội nghị thông qua chính là cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Đảng CS Việt Nam ra đời là một tất yếu lịch sử, là bước ngoặc vĩ đại trong phong trào CM Việt Nam. Nó chứng tỏ giai cấp Công nhân Việt Nam đã trưởng thành. Đảng CS Việt Nam ra đời là sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác-Lenin và phong trào Công nhân. Đây là quy luật thành lập Đảng của giai cấp Công nhân Việt Nam. KẾT LUẬN Với sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam cho ta thấy vai trò rất to lớn của Nguyễn Ai Quốc trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác Lê nin giáo dục tư tưởng chính trị cách mạng cho cho giai cấp công nhân và giai cấp nông dân Việt Nam.Tập hợp quần chú chuẩn bị hệ tư tưởng chính trị cho việc thành lập Đảng… Đảng cộng sản Việt Nam ra đđời với đđường lối chiến lược đúng đắng là sự cổ vũ to lớn đđối với phong trào cách mạng đđang ở thời kỳ phát triển sôi sục. Đường lối của Đảng đđược công bố trở thành tiếng kèn tập hợp lực lượng quần chúng, chuẩn bị cho cuộc đđấu tranh giải phóng dân tộc. Đảng cộng sản Việt Nam ra đời chấm dứt được cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước của dân tộc ta mà Nguyễn Aí Quốc là vị anh hùng của dân tộc sau nhiều năm bôn ba ở hải ngoại đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam : đó là tư tưởng của chủ nghĩa Chủ Nghĩa Mác- LêNin , tinh thần của cách mạng vô sản .Sau khi tìm được con đường cứu nước Nguyễn Aí Quốc đã ra sức truyền bá tư tưởng đường lối cứu nước của mình về Việt Nam , chuẩn bị về mặt tư tưởng và lực lượng cho phong trào cách mạng trong nước . Đảng ra đời thì kể từ đây nhân dân Việt Nam đã tham gia vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng loài người một cách tự giác và có tổ chức . Đảng ra đời đã trở thành hạt nhân đoàn kết các yếu tố dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, giai cấp và quốc tế .Mà người có khả năng đoàn kết, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của thế giới đối với cách mạng Việt Nam là Nguyễn Aí Quốc , một nhà ngoại giao đại tài …

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docVai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam.doc
Luận văn liên quan