Vai trò, hạn chế và xu hướng phát triển của chủ nghĩa tư bản

Ở một nước châu Phi và Mĩ Latinh mức sống đang giảm xuống một cách đáng ngại. Các nước tư bản lớn là những chủ nợ lớn nhất thế giới mà các con nợ là những nước đang phát triển và chậm phát triển. Nợ nần khiến các nước nghèo gặp khó khăn trong phát triển các hạ tầng xã hội thiết yếu và nâng cao mức sống của người dân. (Ở một vài nước Mĩ La-tinh GDP đầu người còn thấp hơn cách đây 10 năm, ở một số nước châu Phi thậm chí thấp hơn cách đây 20 năm.) Tình trạng đói nghèo và chậm phát triển ở các nước thế giới thứ ba đã dẫn tới nhiều dịch bệnh, tệ nạn xã hội, tình trạng thất học, xung đột sắc tộc và tôn giáo, tuổi thọ giảm. mà những người chịu ảnh hưởng nhiều nhất là phụ nữ và trẻ em. Ngay trong chính các nước tư bản sự phân biệt giàu nghèo cũng ngày một gia tăng, có những người quá giàu trong khi đó nhiều người không thể tự trang trải cho cuộc sống của mình.

doc3 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 30/01/2013 | Lượt xem: 12084 | Lượt tải: 17download
Tóm tắt tài liệu Vai trò, hạn chế và xu hướng phát triển của chủ nghĩa tư bản, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vai trò, hạn chế và xu hướng phát triển của chủ nghĩa tư bản Vai trò của chủ nghĩa tư bản đối với sự phát triển của nền sản suất xã hội Trong suốt quá trình phát triển, nếu k xét đến những hậu quả nặng nề cho nhân loại thì CNTB đã có những đóng góp tích cực đối với phát triển sản xuất, làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt đời sống xã hội. Tạo ra lượng của cải vật chất khổng lồ - nền kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp → nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa - sản xuất nhỏ lẻ → sản xuất lớn hiện đại → tăng năng suất lao động → tạo ra lượng của cải vật chất khổng lồ (Mác và Angghen khẳng định : CNTB ra đời trong chưa đầy 100 năm đã tạo ra lượng của cải vật chất bằng tất cả các thê hệ trước cộng lại) Phát triển lực lượng sản xuất Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ CM công nghiệp thế kỉ 18-19: máy móc thay thế cơ bắp CM khoa học - công nghệ (thế kỉ 20): (với sự ra đời của máy tính điện tử thế hệ mới được sử dụng trong mọi hoạt động kinh tế và đời sống xã hội, về vật liệu mới, về những dạng năng lượng mới và công nghệ sinh học, về phát triển tin học) từ cơ khí hóa sang tự động hóa Khoa học kĩ thuật thành nhân tố chủ đạo của sự phát triển nền sản xuất xã hội, thành lực lượng sản xuất trực tiếp, dẫn đến sự biến đổi cách mạng trong cơ sở vật chất kĩ thuật của xã hội, trong tính chất và phân công lao động xã hội → giải phóng sức lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng cường khả năng chinh phục thiên nhiên của con người, đưa nền kinh tế nhân loại bước vào thời kì mới: nền kinh tế tri thức Thực hiện xã hội hóa sản xuất Nền sản xuất hàng hóa phát triển mạnh, cùng với nó là quá trình xã hội hóa sản xuất về cả chiều rộng và chiều sâu: - phát triển phân công lao động xã hội - sản xuất tập trung - chuyên môn hóa sản xuất - liên kết giữa các đơn vị, các ngành, các lĩnh vực, các quốc gia … ngày càng chặt chẽ → quá trình sản xuất được liên kết với nhau thành một hệ thống, thành một quá trình sản xuất xã hội VD: sx ô tô: so với việc một công ti tự mình sản xuất tất cả các máy móc, phụ kiện rồi lắp ráp, hoàn thiện thành 1 chiếc xe; công ty đó mua một số phụ kiện từ nơi khác, sản xuất máy tại 1 công ti con, lắp ráp tại 1 công ti trực thuộc khác... Nhiều thành phần khác nhau cùng tham gia vào sản xuất ra 1 sản phẩm - chiếc xe ô tô - việc sản xuất qua nhiều công đoạn khác nhau, nếu như chỉ 1 nhà tư bản đảm nhận tất cả thì đầu tư về vốn, thiết bị, con người là rất lớn, thay vào đó 1 nhà tư bản chỉ tập trung vào 1 hoặc 1 vài công đoạn à sx tập trung, mức độ chuyên môn hóa cao à tuần hoàn tư bản nhanh hơn. Cùng với đó là yêu cầu liên kết giữa các nhà tư bản: k chỉ trong 1 công ti mà còn giữa các đơn vị trong cùng ngành, cùng lĩnh vực . . . sự liên kết xuyên suốt các ngành, các lĩnh vực, các quốc gia, các khu vực trên toàn thế giới Xây dựng tác phong công nghiệp cho người lao động Lần đầu tiên tổ chức lao động theo kiểu công xưởng (trong xã hội phong kiến: người lao động quen sản xuất nhỏ lẻ, tự phát trong nhà máy, xí nghiệp: người lao động có tác phong công nghiệp, làm việc đúng giờ, đúng việc, có hiệu quả cao ) Tác phong công nghiệp là một yêu cầu quan trọng đối với người lao động trong nền sx hàng hóa phát triển cao, đặc biệt là trong xh XHCN “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” Lần đầu tiên trong lịch sử nền dân chủ được thiết lập (xã hội phong kiến: người nô lệ không có quyền tự do, bị áp bức, bóc lột thậm chí đánh đập nền dân chủ tư bản chủ nghĩa: tất cả mọi người đều đã có quyền tự do về thân thể) nền dân chủ này là 1 nền dân chủ không triệt để, quyền lực và chính quyền vẫn tập trung trong tay giai cấp tư sản chiếm tỉ lệ nhỏ trong xã hội, công nhân, nông dân vẫn k có nhiều tiếng nói trong xã hội Tóm lại: CNTB đã giải phóng loài người khỏi “đêm trường trung cổ”, phát triển nền sản xuất Tuy nhiên con người chưa được giải phóng hoàn toàn → cần một cuộc cách mạng xã hội → CNTB ngày nay đã và đang chuẩn bị những điều kiện, tiền đề tốt nhất cho sự ra đời chủ nghĩa xã hội Hạn chế của chủ nghĩa tư bản Chủ nghĩa tư bản ra đời gắn liền với quá trình tích lũy tư bản, thực chất dựa trên ăn cướp, tước đoạt từ nông dân và những người sản xuất nhỏ; nhờ vào hoạt động buôn bán, trao đổi không ngang giá qua đó thực hiện bóc lột, nô dịch đối với các nước thuộc địa. Quá trình đó là một trang lịch sử đen tối nhất trong lịch sử nhân loại Cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của CNTB là quan hệ bóc lột của các nhà tư bản đối với công nhân làm thuê. Mặc dù so với các hình thức bóc lột trước đó đã từng tồn tại trong lịch sử, bóc lột tư bản chủ nghĩa đã có sự tiến bộ nhưng thực chất người lao động chưa hoàn toàn được giải phóng, bóc lột, bất bình đẳng và phân hóa xã hội vẫn còn tồn tại; nền dân chủ TBCN là nền dân chủ không hoàn toàn Các cuộc chiến tranh trên toàn thế giới nhằm tranh giành thị trường, thuộc địa và khu vực ảnh hưởng, đặc biệt là 2 cuộc chiến tranh thế giới, đã để lại cho loài người những hậu quả nặng nề: hàng triệu người thiệt mạng, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, sức sản xuất cảu xã hội bị phá hủy, tốc độ phát triển kinh tế của thế giới bị kéo lùi lại hàng chục năm. Hậu quả của các cuộc chiến tranh vẫn còn đọng lại đến ngày nay và cả về sau. Chủ nghĩa xã hội phải chịu trách nhiệm chính trong việc tạo ra hố sâu ngăn cách giữa các nước giàu và các nước nghèo (thế kỉ 18 là 2,5 lần, hiện nay khoảng 250 lần). Ở một nước châu Phi và Mĩ Latinh mức sống đang giảm xuống một cách đáng ngại. Các nước tư bản lớn là những chủ nợ lớn nhất thế giới mà các con nợ là những nước đang phát triển và chậm phát triển. Nợ nần khiến các nước nghèo gặp khó khăn trong phát triển các hạ tầng xã hội thiết yếu và nâng cao mức sống của người dân. (Ở một vài nước Mĩ La-tinh GDP đầu người còn thấp hơn cách đây 10 năm, ở một số nước châu Phi thậm chí thấp hơn cách đây 20 năm...) Tình trạng đói nghèo và chậm phát triển ở các nước thế giới thứ ba đã dẫn tới nhiều dịch bệnh, tệ nạn xã hội, tình trạng thất học, xung đột sắc tộc và tôn giáo, tuổi thọ giảm... mà những người chịu ảnh hưởng nhiều nhất là phụ nữ và trẻ em. Ngay trong chính các nước tư bản sự phân biệt giàu nghèo cũng ngày một gia tăng, có những người quá giàu trong khi đó nhiều người không thể tự trang trải cho cuộc sống của mình. Vì sự vơ vét của tư bản làm tài nguyên ngày càng cạn kiệt đến mức báo động (Dầu mỏ được con người biết tới vào khoảng thế kỉ thứ 4 và bắt đầu được khai thác qui mô công nghiệp vào giữa thế kỉ 19, là nguồn nhiên liệu quan trọng cho ngành giao thông vận tải và công nghiệp hóa chất. Tuy nhiên việc khai thác quá mức làm thứ vàng đen này sẽ cạn kiệt trong 50 năm tới.), môi trường ô nhiễm, ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của con người mà những nước chịu tác động nhiều nhất là các nước nghèo, kém phát triển Xu hướng vận động của chủ nghĩa tư bản Mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản: mâu thuẫn giữa trình độ cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Chủ nghĩa tư bản ngày càng phát triển, trình độ sản xã hội hóa của lực lượng sản xuất ngày càng cao thì quan hệ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất ngày càng trở nên chật hẹp sơ với nội dung vật chấy ngày càng lớn lên của nó. Theo Mác và Lênin quan hệ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa sẽ bị phá vỡ, thay vào đó là một quan hệ sở hữu mới - sở hữu xã hội ( sở hữu công cộng) về tư liệu sản xuất được xác lập để đáp ứng nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất. Bản thân chủ nghĩa tư bản hiện nay tự thân nó vẫn đang tiếp tục điều chỉnh để thích ứng với những biến động, mâu thuẫn bên trong và bên ngoài. Chủ nghĩa tư bản vẫn tồn tại và phát triển, phải nhận rõ rằng sự thay thế chủ nghĩa tư bản bởi chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không phải là một bước chuyển nhanh chóng mà là một quãng đường lâu dài nhiều giai đoạn → cần phải chuẩn bị kĩ càng cho khả năng vừa cùng tồn tại, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh với chủ nghĩa tư bản đồng thời học hỏi những kinh nghiệm và lợi thế của chủ nghĩa tư bản Mặt khác, chủ nghĩa tư bản trong quá trình phát triển của nó vẫn luôn hàm chứa sự tự hạn chế và tự phủ định do mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sự điều chỉnh chỉ làm giảm bớt tính gay gắt của mâu thuẫn này chứ không giải quyết mâu thuẫn. Bên cạnh đó còn có những mâu thuẫn mới nảy sinh: mâu thuẫn giữa năng lực sản xuất vô hạn với tiêu dùng và khả năng thanh toán hạn chế, mâu thuẫn giữa khả năng sản xuất vô hạn với nguồn tài nguyên hạn chế, mâu thuẫn giữa nhu cầu nhất thể hóa kinh tế quốc tế và lợi ích quốc gia... Đây là những thách thức, khó khăn đe dọa sự tồn vong của chủ nghĩa tư bản Tóm lại: phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa sẽ được thay thế bằng phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa, tuy nhiên phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không tự tiêu vong và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng không tự phát hình thành mà phải được thực hiện thông qua cách mạng xã hội, trong đó giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cuộc cách mạng này

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docchde16.doc
  • pptslide - v++¦n anh.ppt