Xây dựng quy trình làm phân compost từ rác thải hữu cơ quy mô hộ gia đình tại TP. Hội An Tỉnh Quảng Nam

MỞ ĐẦU 1 1 CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2 1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA RÁC THẢI NHÀ BẾP 2 1.1 ĐỊNH NGHĨA RÁC THẢI NHÀ BẾP 2 1.3 ĐỊNH NGHĨA PHÂN COMPOST 3 1.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH LÀM PHÂN COMPOST 3 1.4.1 Các yếu tố dinh dưỡng 3 1.4.1.1 Nguyên tố đa lượng và vi lượng 3 1.4.1.2 Tỷ lệ C/N 4 1.4.2 Những yếu tố môi trường 4 1.4.2.1 Nhiệt độ 5 1.4.2.2 Độ pH 5 1.4.2.3 Yếu tố độ ẩm 6 1.4.2.4 Hệ thống vi sinh vật 7 1.4.3 Vận hành 7 1.4.3.1 Làm thoáng và kích thước nguyên liệu .7 1.4.3.2 Sự thông khí 8 1.4.3.3 Tốc độ thông khí 8 1.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SẢN XUẤT PHÂN COMPOST TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 9 1.5.1 Tình hình nghiên cứu và sản xuất phân compost trên Thế Giới 9 1.5.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất phân compost ở Việt Nam 12 1.6. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TP. HỘI AN 16 1.6.1 Điều kiện tự nhiên – khí hậu ¬- ở Hội An 16 1.6.1.1 Vị trí địa lý 16 1.6.1.2 Điều kiện khí hậu và thủy văn 16 1.6.2 Điều kiện kinh tế- xã hội ở Hội An 18 1.7 HIỆN TRẠNG PHÁT SINH VÀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NHÀ BẾP HIỆN NAY Ở TP. HỘI AN 18 1.7.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn 18 1.7.2 Tốc độ phát sinh chất thải rắn 19 1.7.2.1 Chất thải rắn sinh hoạt khu vực đô thị 19 1.7.2.2 Chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn 19 1.7.2.3 Thành phần chất thải rắn 19 1.8 HIỆN TẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN [1] 21 1.8.1 Công tác thu gom và vận chuyển rác thải 21 1.8.2 Công tác xử lý rác thải 22 CHƯƠNG 2:ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 23 2.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 23 2.2.1 Mục tiêu trước mắt 23 2.2.2 Mục tiêu lâu dài 23 2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24 2.3.1 Phương pháp lý luận 24 2.3.2 Phương pháp ngoài thực địa 24 2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 24 2.4 CÁCH BỐ TRÍ VÀ TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM 24 2.4.1 Địa điểm bố trí thực nghiệm 24 2.4.2 Thời gian tiến hành thực nghiệm 24 2.4.3 Cách bố trí thực nghiệm 24 2.4.4 Tiến hành thực nghiệm 25 CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN 26 3.1 BÁO CÁO KẾT QUẢ CỦA 30 HỘ GIA ĐÌNH ĐƯỢC CHỌN LÀM THÍ NGHIỆM PHÂN COMPOST CỦA PHÒNG TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG 26 3.1.1 Chương trình được triển khai ở phòng Tài Nguyên Môi Trường 26 3.1.1.1 Mô tả chương trình 26 3.1.1.2 Triển khai hoạt động 27 3.1.2 Kết quả đạt được 27 3.1.2.1 Hiện trạng xử lý lý rác thải nhà bếp của người dân trước khi chưa có chương trình làm phân tại 28 3.1.2.2 Sự tham gia của người dân trong vấn đề xử lý rác thải nhà bếp khi có chương trình làm phân compost tại nhà 33 3.2 QUÁ TRÌNH THỰC NGHIỆM LÀM PHÂN COMPOST TẠI 2 HỘ GIA ĐÌNH ÔNG PHẠM A VÀ GIA ĐÌNH ÔNG HỨA ĐA 35 3.2.1 Mô tả thực nghiệm 35 3.2.2 Diễn biến khối lượng và nhiệt độ trong quá trình lên men phân compost tại gia đình ông Phạm A 36 3.2.3 Diễn biến khối lượng và nhiệt độ trong quá trình lên men phân compost tại gia đình ông Hứa Đa 38 3.2.4 Nhận xét chung 39 3.4 XÂY DỰNG QUY TRÌNH LÀM PHÂN COMPOST TỪ RÁC THẢI HỮU CƠ QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH TẠI TP. HỘI AN 40 3.4.1 Quy trình ủ phân compost từ rác thải hữu cơ 40 3.4.2 Quy trình ủ phân compost cụ thể đối với phụ gia tro 41 3.4.3 Thuyết minh quy trình 42 3.4.4 Một số chú ý trong quá trình ủ phân tại nhà 42 3.5 SỬ DỤNG LOẠI PHÂN COMPOST THÀNH PHẨM VÀ PHÂN HÓA HỌC ĐỂ BÓN CHO CÂY 43 CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46 4.1 KẾT LUẬN 46 4.2 KIẾN NGHỊ 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 1.1 Điều kiện tối ưu cho quá trình ủ phân compost 3 Bảng 1.2 Hàm lượng N và tỷ lệ C:N có trong những loại rác thải và chất thải khác nhau 4 Bảng 1.3 Tốc độ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt khu vực đô thị 19 Bảng 1.4 Tốc độ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn 19 Bảng 1.5 Thống kê tỷ lệ thành phần rác của thành phố Hội An 20 DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH Hình 1.1. Sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt của Mỹ và Canada 10 Hình 1.2. Sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt của Đức 11 Hình 1.3. Công nghệ xử lý rác sinh hoạt Trung Quốc 12 Hình 1.4. Sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt ở Hà Nội 15 Hình 2.1. Rác thải nhà bếp và phụ gia tro 23 Hình 2.2. Thùng nhựa 40 lít được bố trí ở 2 hộ gia đình 25 Hình 3.1. Quy tình sản xuất phân compost từ Phòng Tài Nguyên Môi Trường 26 Hình 3.2. Sơ đồ biễu diễn của 4 loại phụ gia 28 Hình 3.3. Sơ đồ biễu diễn tình hình xử lý rác của người dân trước khi chưa tham gia vào chương trình làm phân 29 Hình 3.4. Hiện tượng cháy ngầm và nước rỉ rác ở bãi rác Cẩm Hà 30 Hình 3.5. Lượng rác thải sinh hoạt hằng ngày của người dân 30 Hình 3.6. Sơ đồ biễu diễn thành phần rác thải ở 30 hộ gia đình 31 Hình 3.7. Sơ đồ biễu diễn khối lượng rác nhà bếp của 30 hộ gia đình 32 Hình 3.8 Sơ đồ thể hiện sự tham gia của người dân khi dự án kết thúc 34 Hình 3.9. Sơ đồ biễu diễn diễn biến khối lượng và nhiệt độ trong quá làm phân tại nhà ông Phạm A 36 Hình 3.10. Sơ đồ biễu diễn diễn biến khối lượng và nhiệt độ trong quá làm phân tại nhà ông Hứa Đa 38 Hình 3.11. Quy trình sản xuất phân compost đối với phụ gia tro 41 Hình 3.12. Hình ảnh phân compost và phân hóa học (NPK) ở gia đình ông Phạm A Phường Cẩm Nam 43 Hình 3.13. Chia thành 2 luống nhỏ và tiến hành rải phân ở gia đình ông Phạm A Phường Cẩm Nam 43 Hình 3.14. Phân bố đều hạt cải bằng bồ cào và dùng cây khô để phủ lên phía trên ở gia đình ông Phạm A Phường Cẩm Nam 44 Hình 3.15. Hình ảnh cây cải phát triển sau 1 tuần ở gia đình ông Phạm A Phường Cẩm Nam 44 Hình 3.16. Hình ảnh cây cải phát triển sau tuần thứ hai ở gia đình ông Phạm A Phường Cẩm Nam 44 Hình 3.17. Hình ảnh của cây cải sau 3 tuần ở gia đình ông Phạm A Phường Cẩm Nam 45

doc61 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 12/01/2013 | Lượt xem: 5494 | Lượt tải: 30download
Tóm tắt tài liệu Xây dựng quy trình làm phân compost từ rác thải hữu cơ quy mô hộ gia đình tại TP. Hội An Tỉnh Quảng Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỞ ĐẦU Trong xu thế phát triển kinh tế xã hội, với tốc độ đô thị hoá ngày càng tăng và sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch….kéo theo mức sống của người dân càng cao đã làm nảy sinh nhiều vấn đề mới, nan giải trong công tác bảo vệ môi trường và sức khoẻ của cộng đồng dân cư. Lượng chất thải phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt của con người ngày một nhiều hơn, đa dạng hơn về thành phần và độc hại hơn về tính chất. Ở các đô thị lớn của Việt Nam, rác thải đã và đang gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Xử lý rác luôn là vấn đề làm đau đầu các nhà quản lý môi trường đô thị. Không riêng gì đối với các đô thị đông dân cư, việc lựa chọn công nghệ xử lý rác như thế nào để đạt hiệu quả cao, không gây nên những hậu quả xấu về môi trường trong tương lai và ít tốn kém chi phí luôn là nỗi bức xúc của các ngành chức năng. Việc xử lý chất thải sinh hoạt một cách hợp lý đã và đang đặt ra những vấn đề bức xúc đối với hầu hết các tỉnh, thành của nước ta. Hội An là một thành phố cổ tập trung nhiều khách du lịch thì vấn đề phát sinh ra rác thải cũng rất lớn, nên gây ra nhiều khó khăn trong việc thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt, và chủ yếu lượng rác thải phát sinh ra đó được công ty công trình công cộng thu gom và vận chuyển đến bãi rác gây ra tình trạng quá tải ở bãi rác Cẩm Hà và làm cho môi trường ở đây ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng. Trong lượng rác thải sinh hoạt phát sinh ra hằng ngày đó chủ yếu là rác thải từ nhà bếp mà trong thành phần của rác thải nhà bếp chủ yếu là rác thải hữu cơ dễ phân hủy gây mùi hôi thối gây ảnh hưởng đến môi trường không khí và sức khỏe của con người nơi đây. Tuy nhiên nếu chúng ta biết tận dụng nó và biến nó thành một sản phẩm mới để phục vụ cho đời sống của mình mà đặc biệt là sử dụng rác thải hữu cơ để làm phân compost sẽ giúp cho môi trường giảm thiểu được lượng rác thải, hạn chế được lượng phân hóa học trên cách đồng và giúp con người giảm chi phí trong sản xuất nông nghiệp. Xuất phát từ những tồn tại trên và sự cần thiết của việc phân loại rác tại nguồn để làm phân compost nên tôi đã chọn đề tài “Xây dựng quy trình làm phân compost từ rác thải hữu cơ quy mô hộ gia đình tại TP. Hội An Tỉnh Quảng Nam” CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Trong cuộc sống hằng ngày, con người không chỉ tiêu thụ và sử dụng một số lượng lớn các nguyên liệu, thực phẩm để tồn tại và phát triển, mà đồng thời cũng vứt thải cho thiên nhiên và môi trường sống những lượng rác thải có nguy cơ hủy hoại môi trường.Trong số lượng rác thải được vứt bỏ đó thì thành phần của rác thải nhà bếp chiếm một phần lớn gây ảnh hưởng trực tiếp trở lại đời sống con người, làm phát sinh nhiều bệnh tật và đặc biệt là lượng rác ngày càng nhiều thì sẽ chiếm một diện tích lớn đất chôn lấp, làm mất cảnh quan môi trường. 1.1 ĐỊNH NGHĨA RÁC THẢI NHÀ BẾP Nói một cách khái quát dễ hiểu thì rác thải nhà bếp đó là các chất rác từ nguyên liệu thực phẩm, thức ăn thừa, hoa quả và vỏ trái cây, bánh kẹo, hoa lá trang trí trong nhà đã bị héo…mà con người không dùng được nữa… vứt bỏ vào môi trường sống. Theo định nghĩa khoa học thì đó là những thành phần tàn tích hữu cơ của các chất hữu cơ phục vụ sinh hoạt sống của con người. Chúng không được con người sử dụng nữa và vất thải trở lại môi trường sống, gọi là rác thải nhà bếp.[4] 1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA RÁC THẢI NHÀ BẾP - Rác thải nhà bếp hằng ngày chiếm một khối lượng và tỷ lệ rác thải rất lớn so với các loại rác thải vô cơ khác - Rác thải nhà bếp là những vật liệu dễ phân hủy, và gây thối rửa - Rác thải nhà bếp khó được thu gom phân loại riêng tại nguồn, gây khó khăn cho việc xử lý rác. - Rác thải nhà bếp sẽ khó được tận dụng tái chế thành phân hữu cơ nếu không được phân loại tại nguồn.Vì vậy cần phải được thu gom và phân loại riêng trong những túi chất liệu đặc biệt dễ phân hủy. Với thành phần, và đặc điểm của rác thải nhà bếp như trên thì con người chúng ta không ngừng nâng cao hiểu biết và tìm ra những phương pháp hữu hiệu nhất để góp phần nâng cao đời sống và đặc biệt là bảo vệ môi trường sống của nhân loại.Và để xử lý được rác thải nhà bếp người ta đã ứng dụng nhiều nhà máy chế biến phân compost, các nhà máy tái chế rác thải sinh hoạt… Với xu hướng xử lý rác thải thân thiện với môi trường thì mô hình sản xuất phân compost từ rác thải nhà bếp với quy mô hộ gia đình là một trong những biện pháp không những giúp giảm thiểu được tổng lượng rác thải mà còn tạo cho người dân chúng ta bắt đầu tiếp xúc với việc nghiên cứu khoa học. Sản xuất ra lượng phân compost phục vụ trong nông nghiệp của từng địa phương [4] 1.3 ĐỊNH NGHĨA PHÂN COMPOST Phân compost hay còn gọi là phân hữu cơ vi sinh là sản phẩm phân bón được tạo thành thông qua quá trình lên men vi sinh vật các hợp chất có nguồn gốc khác nhau, có tác động của vi sinh vật hoặc các hợp chất sinh học được chuyển hóa thành mùn. Tùy thuộc vào nhu cầu của sản xuất mà có thể cân đối phối trộn các phân liệu sao cho cây trồng phát triển tốt nhất mà không cần phải bón bất kỳ các loại phân nào. Phân vi sinh có thể dùng để bón lót hoặc bón thúc. Loại phân này có hàm lượng dinh dưỡng cao nên khi bón trộn đều với đất. Nếu sản xuất phù hợp cho từng loại cây trồng thì đây là loại phân hữu cơ tốt nhất.[12] 1.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH LÀM PHÂN COMPOST [8] Ngoài sự có mặt của những sinh vật cần thiết, những yếu tố chính ảnh hưởng lên quá trình sản xuất compost có thể được 03 nhóm chính là: nhóm những yếu tố dinh dưỡng, môi trường và vận hành. Bảng 1.1: Điều kiện tối ưu cho quá trình ủ phân compost Các thông số  Khoảng hợp lý  Khoảng tối ưu nhất   Kích thước vật liệu (cm)  1-8  4-5   Tỷ lệ dinh dưỡng C/N (%)  20-40  25-30   Độ ẩm (%)  40-65  52-58   Độ PH  5,5-9  6-8   Nhiệt độ( 0C)  40-65  50-55   Nồng độ oxy (%)  >5  Lớn hơn 5   1.4.1 Các yếu tố dinh dưỡng. 1.4.1.1 Nguyên tố đa lượng và vi lượng * Nguyên tố đa lượng như: C, N, P, Ca, và K. * Nguyên tố vi lượng như: Mg, Mn, Co, Fe, S … Trong thực tế, hầu hết chúng trở nên độc nếu nồng độ vượt quá mức cho phép. Hầu hết những nguyên tố Mg, Co, Mn, Fe, S…có vai trò trong việc trao đổi tế bào chất. Cơ chất là nguồn cung cấp các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng và vi lượng cần thiết, trong thực tế muốn có lợi ích bắt buộc phần lớn hoặc tất cả cơ chất trong quá trình sản xuất compost đều là chất thải. 1.4.1.2 Tỷ lệ C/N Tỷ lệ C:N là hệ số dinh dưỡng chính. Trong sản xuất compost, tỷ lệ này vào khoảng 20:1 đến 25:1. Nếu tỷ lệ C:N vượt quá giới hạn vừa nêu, tốc độ phân hủy sẽ bị chậm lại. Ngược lại, nếu tỷ lệ thấp hơn 20:1, N bị thất thoát (Bởi vì, N dư chuyển hóa thành NH3). Giai đoạn chuyển hóa tích cực trong sản xuất compost có đặc điểm là nồng độ PH và nhiệt độ khá cao. Tương quang C/N nhỏ dần cho đến khi tỷ lệ nitơ cố định và nitơ khoáng hoá như nhau. Sau một quá trình dài, tỷ lệ C/N của phần còn lại sẽ bằng với tỷ lệ của vi sinh vật. Bảng 1.2 : Hàm lượng N và tỷ lệ C:N có trong những loại rác thải và chất thải khác nhau Chất thải  Hàm lượng N  Tỷ lệ C/N   Bùn hoạt tính  5  6   Máu  10-14  3   Phân bò  1,7  18   Bùn đã phân hủy  2-6  4-28   Mỡ cá, bã cá  6,5-10  5,1   Rác trái cây  1,5  34,8   Cỏ bị xén  3-6  12-15   Phân ngựa  2,3  25   Cỏ hỗn hợp  214  19   Phân bắc  5,5-6,5  6-10   Rác rau củ, không kể các loại rau đậu  2,5-4  11-12   Phân heo  3,8  4-19   Thân, lá khoai tây  1,5  25   Phân gia cầm  6,3  15   Bùn tươi  4-7  11   Mùn cưa  0,1  200-500   Rơm, yến mạch  1,1  48   Rơm, lúa mì  0,3-0,5  128-150   Nước tiểu  15-18  0,8   1.4.2 Những yếu tố môi trường Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến quá trình sản xuất compost là nhiệt độ, độ ẩm và pH. Chúng có thể là từng yếu tố hoặc nhiều yếu tố kết hợp lại, góp phần quyết định tốc độ và mức độ phân hủy. 1.4.2.1 Nhiệt độ Nhiệt độ tối ưu cho quá trình sinh hóa là 40-550C. Vì mỗi loài vi sinh vật đều có nhiệt độ tối ưu để sinh trưởng và phát triển. Trong đó, khi nhiệt độ cao đối với đống ủ thì tốc độ ủ sẽ nhanh và không khí được tuần hoàn trong đống ủ thì oxy sẽ luôn luôn có mặt. Sự giải phóng CO2 tối đa xảy ra ở nhiệt độ 550C. Nó bắt đầu tăng từ từ trong khoảng từ 25 đến 400C, sau đó tăng từ 45 – 550C. Nhiệt độ cao đối với đống ủ thì tốc độ, mức ủ sẽ nhanh. Nếu nhiệt độ trên 650C quá trình sản xuất compost sẽ bị ảnh hưởng xấu một cách nghiêm trọng. Lý do là vi sinh vật hình thành bào tử tại mức nhiệt độ cao hơn 650C và chúng sẽ rơi vào giai đoạn nghỉ hoăc chết. Vì vậy phương pháp sản xuất compost hiện nay sử dụng quy trình vận hành được thiết kế tránh nhiệt độ cao hơn 600C. Lưu ý, cần tránh hiện tượng quá khô,quá lạnh ở phần nào đó của đống ủ. 1.4.2.2 Độ pH pH có ý nghĩa quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật, ion H+ và OH- là hai ion hoạt động mạnh nhất, những biến đổi nồng độ của chúng dù là rất nhỏ đều có ảnh hưởng rất lớn đến tế bào vi sinh vật. Cho nên việc xác định PH thích hợp ban đầu là rất quan trọng. PH tối ưu là 6-8. Vào giai đoạn đầu, độ pH là 6,3 sau đó giảm xuống còn 4,8 và cuối cùng tăng lên pH = 9. Quá trình sản xuất compost độ pH thường bị giảm xuống ở giai đoạn đầu vì những phản ứng tạo thành acid hữu cơ. Đường biểu diễn độ pH sau đó tăng lên tương ứng với vi sinh vật sử dụng những acid vừa sinh ra trong giai đoạn trước. Ở giai đoạn đầu pH giảm xuống không gây ức chế đối với hầu hết các vi sinh vật, vì thế để nâng pH người ta dùng Ca(OH)2 để cải thiện điều kiện vật lý của khối ủ, một phần hoạt động như vật liệu hút ẩm. 1.4.2.3 Yếu tố độ ẩm Việc sản xuất compost từ rác thải đô thị có một đặc điểm quan trọng là mối quan hệ mật thiết giữa độ ẩm và không khí, cơ sở của mối quan hệ này dựa trên thực tế là nguồn oxi chủ yếu cần cung cấp cho quần thể vi khuẩn đó là không khí giữ lại trong những khe hở giữa những chất thải. Việc khuyết tán oxi trong không khí và bên trong khối chất thải để thỏa mãn nhu cầu oxi của vi sinh vật là không quan trong lắm. Bởi vì, trong các khe hở giữa những chất thải có chứa độ ẩm tự do trong khối ủ giữa độ ẩm và oxi phải có một sự căn bằng. Theo đó, nếu ở mức cao hơn nữa sự thiếu oxi sẽ diễn ra và tình trạng kỵ khí sẽ bắt đầu phát triển. Tầm quan trọng của việc giữ độ ẩm của cơ chất từ 40%– 45% thường bị coi nhẹ trong quá trình sản xuất compost. Điều này thực chất rất quan trọng bởi vì độ ẩm thấp hơn sẽ kìm hãm hoạt động của vi khuẩn và tất cả vi khuẩn sẽ ngừng hoạt động ở độ ẩm 12%. 1.4.2.4 Hệ thống vi sinh vật Vi sinh vật có một đóng góp vô cùng quan trọng đến thời gian ủ phân compost. Với một hệ thống vi sinh vật được tuyển chọn tốt thì không những thời gian ủ được rút ngắn mà chất lượng phân bón cũng đảm bảo hơn. Các vi sinh vật có mặt trong quá trình ủ phân compost bao gồm vi khuẩn, nấm, men, khuẩn tia,… Người ta xác định hầu hết các loài trong nhóm VSV nêu trên đều có khả năng phân giải gần hết các hữu cơ thô trong rác thải. Tất nhiên mỗi một loài sinh vật có khả năng tốt nhất để phân hủy một dạng chất hữu cơ nào đó. Thí dụ nấm men , khuẩn tia …, hoạt động rất mạnh đối với cellulose và hemicellulose. Quá trình trao đổi chất là hiện tượng phổ biến trong ủ phân rác và một yếu tố khác là sự giải nhiệt do hoạt động đồng hóa và dị hóa của VSV để tạo ra mùn. 1.4.3 Vận hành Việc kiểm soát tốt các điều kiện môi trường ảnh hưởng tới hoạt động của vi sinh vật chính là nhân tố quyết định sự thành công của quá trình ủ compost. Kiểm soát tốt quá trình ủ compost cũng giúp giảm phát sinh mùi ô nhiễm và loại bỏ các mầm vi sinh vật gây bệnh. Vì vậy các giải pháp kỹ thuật trong công nghệ ủ compost hiện đại đều hướng tới mục tiêu kiểm soát tối ưu các điều kiện môi trường cùng với khả năng vận hành thuận tiện. 1.4.3.1 Làm thoáng và kích thước nguyên liệu. Kích thước nguyên liệu là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới thời gian ủ phân compost.Việc làm giảm kích thước nguyên liệu sẽ góp phần làm gia tăng tốc độ phân hủy. Đối với nguyên liệu thô kích thước tối ưu là từ 5-8cm. Đảo trộn mục đích làm đồng đều, điều hòa nhiệt độ và độ ẩm của vật liệu, tránh tạo cột không khí cũng như việc tạo ra các bánh cứng. Tốc độ ủ phụ thuộc vào kích thước vật liệu và quá trình đảo trộn rất lớn. 1.4.3.2 Sự thông khí Thông thường áp lực tĩnh là 0,1 - 0,15 mm cột nước, cần tạo ra để đẩy không khí qua chiều sâu từ 2 - 2,5 m vật liệu, áp lực đó chỉ cần quạt gió là đủ chứ không cần máy nén. Sự phân phối O2 cho bể ủ là rất cần thiết bởi vi sinh vật hiếu khí cần O2, trung bình lượng O2 tiêu thụ là 4,2 g O2/1 kg rác/ngày, nghĩa là khoảng 4m3O2/1 tấn rác/ngày. Sự sản sinh CO2 tương đương với lượng O2 tiêu thụ. Tỷ lệ O2 tiêu thụ không ổn định, phụ thuộc vào nhiệt độ, sự thay đổi trong thành phần, mức độ ủ chín và kích thước nguyên liệu. So sánh với phương pháp sản xuất compost kỵ khí, phương pháp sản xuất compost hiếu khí có rất nhiều ưu điểm: • Sự phân huỷ xảy ra nhanh hơn. • Nhiệt độ cao đủ để làm chết những mầm bệnh. • Số lượng và nồng độ khí hôi thối giảm mạnh. Mùi khó chịu là vấn đề không thể tránh trong xử lý và thải bỏ chất thải. Để cải thiện đáng kể nồng độ và sự tập trung mùi trong sản xuất compost hiếu khí cần cung cấp đủ nhu cầu Oxi cho quần thể vi khuẩn hoạt động bằng cách sử dụng quy trình thông khí thích hợp. Khí sinh ra có thể được kiểm soát bằng cách thu khí từ khối ủ compost do quá trình phân hủy và xử lý chúng bằng hệ thống xử lý hoá học hay sinh học, nhờ vậy mùi hôi khó chịu sẽ giảm. 1.4.3.3 Tốc độ thông khí Tốc độ thông khí sao cho khối compost duy trì hiếu khí phụ thuộc bản chất và cấu trúc của các thành phần cuả rác thải và tùy thuộc vào phương pháp thông khí. Tốc độ tiêu thụ oxy tùy thuộc không chỉ nhiệt độ mà còn phụ thuộc vào kích thước vật liệu, quần thể vi sinh vật và mức độ xáo trộn. Nhu cầu oxy trong thời tiết ấm sẽ cao hơn trong lúc lạnh. Để đạt được kết quả tôt nhất, nên giữ nhiệt độ ban đầu là 45-50O trong một số ngày đầu, sau đó tăng lên 55-70OC để cho giai đoạn lên men diễn ra mạnh. Lượng không khí cần thiết phải cung cấp cho vi sinh vật phát triển trong quá trình ủ hiếu khí. 1.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SẢN XUẤT PHÂN COMPOST TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1.5.1 Tình hình nghiên cứu và sản xuất phân compost trên Thế Giới Sự ra đời của và phát triển của phân compost Lịch sử quá trình ủ compost đã có từ rất lâu, ngay từ khi khai sinh của nông nghiệp hàng nghìn năm trước Công nguyên, ghi nhận tại Ai Cập từ 3.000 năm trước Công nguyên như là một quá trình xử lý chất thải nông nghiệp đầu tiên trên thế giới. Người Trung Quốc đã ủ chất thải từ cách đây 4.000 năm, người Nhật đã sử dụng compost làm phân bón trong nông nghiệp từ nhiều thế kỷ. Tuy nhiên đến năm 1943, quá trình ủ compost mới được nghiên cứu một cách khoa học và báo cáo bởi Giáo sư người Anh, Sir Albert Howard thực hiện tại Ấn Độ. [10] Phân compost được Noble Hilter sản xuất đầu tiên tại Đức năm 1896 và đặt tên là Nitragin. Sau đó phát triển sản xuất tại một số nước như Mỹ, canada, Anh và Thụy Điển. Nitragin là loại phân được chế tạo bởi vi khuẩn Rhizobium, do Beijernk phân lập năm 1888 và được Fred đặt tên vào năm 1989 dùng để bón cho các loại cây trồng thích hợp, kể cả họ đậu. Từ đó cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm ứng dụng và mở rộng việc sản xuất phân bón trên nền chất mang hữu cơ khác nhau. Các kết quả từ Mỹ, Canađa, Nga, Nhật, Trung Quốc, Ấn độ, Thái Lan …cũng cho thấy sử dụng phân compost có thể cung cấp cho đất và cây trồng từ 30 đến 60kg nitơ/ hecta đất, một năm có thể thay thế từ 1/3 đến 1/2 lượng phân bón hóa học [2] Hiện nay đã có nhiều tài liệu viết về quá trình ủ compost và nhiều mô hình công nghệ ủ compost quy mô lớn được phát triển trên thế giới.Các mô hình công nghệ ủ compost quy mô lớn hiện nay trên thế giới được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Theo trạng thái của khối ủ compost tĩnh hay động, theo phương pháp thông khí khối ủ cưỡng bức hay tự nhiên, có hay không đảo trộn.[10] Ở các vùng của Mỹ và Canađa có khí hậu ôn đới thường áp dụng phương pháp xử lý rác thải ử đống tĩnh có đảo trộn như sau: Rác thải được tiếp nhận và tiến hành phân loại. Rác thải hữu cơ được nghiền và bổ sung vi sinh vật, trộn với bùn và đánh đống ở ngoài trời. Chất thải được lên men từ 8-10 tuần lễ, sau đó sàng lọc và đóng bao [5]  Hình 1.1: Sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt của Mỹ và Canada Ở Đức thì rác thải ở các gia đình đã được phân loại, ở những nơi công cộng phân loại chưa triệt để, được tiếp nhận và tiến hành phân loại rác tiếp. Rác hữu cơ được đưa vào các thiết bị ủ kín dưới dạng các thùng chịu áp lực cùng với thiết bị thu hồi khí sinh ra trong quá trình lên men phân giải hữu cơ.  Hình 1.2. Sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt của Đức Ở Trung Quốc những thành phố lớn thì thường áp dụng công nghệ trong các thiết bị kín. Rác được tiếp nhận đưa vào thiết bị ủ kín sau 10-12 ngày, hàm lượng các khí CH4, SO2, H2S…. giảm đựợc đưa ra ngoài ủ chín. Sau đó mới tiến hành phân loại, chế biến thành phân bón hữu cơ  Hình 1.3. Công nghệ xử lý rác sinh hoạt Trung Quốc 1.5.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất phân compost ở Việt Nam Lịch sử phát triển nông nghiệp Việt đã trải qua thời kỳ canh tác hữu cơ. Đó là thời kỳ mà ngành công nghiệp hóa học chưa phát triển, các loại phân hữu cơ chưa xuất hiện nhiều trên thị trường, nhất là các nước nghèo và lạc hậu như Việt Nam. Lúc đó, nền nông nghiệp Việt nam sản xuất chủ yếu dựa vào các nguồn phân hữu cơ nội tại là chính như: phân chuồng, bùn ao, phân xanh, xác bã mắm, phân dơi trong hang núi. Tuy nhiên,đó chỉ là gai đoạn canh tác nông nghiệp hữu cơ theo tình thế, còn lạc hậu và mất cân đối. Trong giai đoạn hiện nay với tốc độ phát triển khá nhanh mà nền khoa học sản xuất phân bón, ngoài việc đã sữ dụng khá nhiều các loại phân vô cơ thì Việt Nam đã, đang và sẽ ứng dụng các loại phân HCVS từ các nguồn khác nhau (nhập khẩu và chế biến trong nước) nhằm đóng qóp tích cực vào việc giải quyết vấn nạn ô nhiễm môi trường do các nguyên liệu này gây ra.[11] Ở Việt Nam, phân compost cố định đạm cho cây họ đậu ntragin, phân compost phân giải lân phosphobacterin đã được nghiên cứu từ năm 1960.Nhưng tới năm 1987 trong chương trình 52D - 01- 03 thì quy trình sản xuất Nitragin trên nền chất mang than bùn mới hoàn thiện. Từ năm 1991, 10 đơn vị trong toàn quốc đã nghiên cứu phân compost cố định đạm. Ngoài nitragin cho cây họ đậu đỗ còn có mở rộng cho cây lúa và các cây họ đậu khác. Hai đơn vị đẫn đầu trong công tác nghiên cứu và ứng dụng phân compost là: Viện Công nghệ Sing học (Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc gia) và Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn). Hiện nay có nhiều tổ chức và cá nhân đã thành công trong việc nghiên cứu sản xuất phân compost trên những nền chất mang khác nhau và ứng dụng trên nhiều cây công nghiệp, nông nghiệp như: PGS – TS Đỗ Châu Thu, TS Nguyễn Ích Tâm cùng cộng sự của trung tâm Nghiên cứu và phát triển Nông nghiệp Bền vững thuộc trường Đại học Nông nghiệp I đã hợp tác với khoa Sinh học và kinh tế Nông nghiệp thuộc Đại học Udine (Italia) tiến hành đề tài: “Sản xuất phân cốpt từ rác thải hữu cơ sinh hoạt và phế thải nông nghiệp dùng làm phân bón cho 3 loại rau sạch ở ngoại ô thành phố như: rau ăn lá (cải bắp), rau ăn củ (củ cải), rau ăn quả (cà chua)’’. Các cán bộ trung tâm nghiên cứu phát triển cộng đồng Nông thôn đã sản xuất thành công loại phân compost đa chuẩn loại quy mô hộ gia đình trên nền nguyên liệu chủ yếu là rác thải, phế phẩm nông nghiệp, phân gia súc , bèo tây, hay thân cây ngô. Phan Thị Thanh Hoài, Đặng Ngọc Huệ, Nguyễn Nữ Quỳnh Giang, Ngô Nữ Quỳnh Như, và Nguyễn Bá Dũng (ĐH Tây Nguyên) đã thành công trong việc sản xuất phân compost từ vỏ cà phê và cũng đã được ứng dụng cho một số loại cây như : chè, cà phê, lúa, ngô, cây ăn quả,.. Nông dân đều nhận xét loại phân này làm chgo cây phát triển tốt, đỡ sâu bệnh, đất tơi xốp và thấy tác dụng của phân bền lâu hơn so với phân hóa học, năng suất tăng rõ rệt.[7] Hiện nay, trung bình mỗi ngày, TP HCM thải ra khoảng 6.400 tấn rác sinh hoạt, trong đó, rác có nguồn gốc từ thực phẩm có thể tái chế thành những loại phân bón hoặc được đốt để tạo ra khí gas làm nhiên liệu phát điện chiếm tỷ lệ 80% - 90%. Tuy nhiên, đến nay, 100% lượng rác thải sinh hoạt của thành phố (khoảng 6200 tấn/ngày) chỉ được xử lý bắng biện pháp chôn lấp ở hai bãi rác chính là bãi Đa Phước( huyện Bình Chánh) và bãi Phước Hiệp ( huyện Củ Chi) vừa tốn kém kinh phí thu gom, vận chuyển và xứ lý (khoảng trên 600 tỷ đồng/năm) mà còn tốn một diện tích đất khá lớn để chôn lấp. Theo Sở Tài nguyên - Môi trường, việc phân loại rác tại nguồn thành công sẽ giúp thành phố tiết kiệm được khoảng một tỷ đồng mỗi ngày. Chính vì thế nên đã có một số nhà máy khẩn trương hoàn thành và đi vào hoạt động ngay trong năm 2010 như: nhà máy chế biến phân compost công suất 500 tấn một ngày của công ty xử lý chất thải rắn Việt Nam, nhà máy chế biến phân compost của Công ty Vietstar có công suất giai đoạn 1 là 600 tấn một ngày đã vận hành thử và sẽ chính thức đi vào hoạt động ổn định trong năm 2010. Ngoài ra, nhiều nhà máy xứ lý rác khác đang được khẩn trương xây dựng và sẽ đi vào hoạt động trong những năm kế tiếp...[13] - Ở miền Bắc Việt Nam hiện nay có nhà máy sản xuất phân hữu cơ Cầu Diễn Hà Nội được tài trợ dây chuyền sản xuất của Tây Ban Nha có công nghệ composting từ rác thải sinh hoạt hỗn hợp  Hình 1.4. Sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt ở Hà Nội Ở huyện Long Phú, Sóc Trăng thì mô hình xử lý rác thải làm phân compost thuộc Dự án “Phát triển cộng đồng có sự tham gia của người dân” do Tổ chức Care (Đan Mạch) tài trợ đang được thực hiện tại xã Lịch Hội Thượng. Dự án được thực hiện từ tháng 3/2009 với kinh phí xây dựng nhà xưởng khoảng 550 triệu đồng, tới nay đã đưa vào hoạt động hơn 7 tháng. 312 hộ dân tham gia dự án được cấp các dụng cụ chứa rác và được hướng dẫn cách phân loại rác thải hữu cơ và vô cơ tại hộ gia đình. Qua phân loại, rác thải hữu cơ thường chiếm khoảng 40%, nếu không được xử lý kịp thời sẽ gây ô nhiễm, ảnh hưởng đến môi trường và cuộc sống người dân. Cái lợi lớn nhất từ dự án mang lại chính là ý thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng dân cư đã được nâng lên rõ rệt. Rác thải này được nhân viên thu gom phân loại lần hai trước khi đưa vào bể ủ. Mỗi bể ủ chứa từ 800-850kg rác thải hữu cơ có bổ sung chế phẩm vi sinh EM, sau 55 ngày sẽ bị phân huỷ thành nguồn phân compost có ích cho nhiều loại cây trồng.[3] Ở Quảng Nam cụ thể là ở TP.Hội An người dân bắt đầu phân loại rác thải tại nguồn và một số hộ đã tận dụng rác hữu cơ để làn phân hữu cơ tại nhà từ khi có dự án thí nghiệm sản xuất phân compost tại 30 hộ gia đình và đã dạt đựoc kết quả tốt ,và sắp đến sẽ mở rộng hơn nữa. [4] 1.6. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TP. HỘI AN 1.6.1 Điều kiện tự nhiên – khí hậu - ở Hội An 1.6.1.1 Vị trí địa lý [9] Hội An nằm ở vùng ven biển của Quảng Nam,cách thành phố Đà Nẵng 28km về phía Nam. Tọa độ địa lý: 150 12’ 26’’ ÷ 150 50’ 15’’ vĩ Bắc từ 1080 17’ 08’’ ÷ 1080 23’ 10’’ kinh độ Đông. Vị trí địa lý Phía Bắc,phía Tây giáp với huyện Điện Bàn Phía Nam giáp huyện Duy Xuyên Phía Đông giáp Biển Đông 1.6.1.2 Điều kiện khí hậu và thủy văn[9] - Khí hậu Thành phố Hội An có chế độ khí hậu mang những tính chất và đặc điểm của khí hậu Việt Nam, đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa. Tuy nhiên ngoài những đặc trưng chung, Hội An là một khu vực ven biển Trung Bộ nên có những tính chất riêng, mang tính địa phương do điều kiện địa lý, địa hình đem lại. + Nhiệt độ không khí trung bình hằng năm là 25,6 0 C + Hội An có 2 mùa, mùa mưa và mùa khô rõ rệt: mùa khô kéo dài trong 8 tháng (từ tháng 2 đến tháng 9), mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau. + Lượng mưa trung bình hằng năm là : 2.076 mm. + Độ ẩm bình quân các tháng là 82,1% - Đặc điểm thuỷ văn Thành phố Hội An chịu ảnh hưởng chính của chế độ thuỷ văn của các con sông lớn. - Sông Thu Bồn có diện tích lưu vực 10.590 Km2 với tổng lưu lượng 19,9 tỷ m3/năm. Đoạn sông Thu Bồn chảy ra biển Đông ở Cửa Đại, có các đặc trưng sau đây: + Chiều dài đoạn chảy qua thành phố Hội An: 8,5 km. + Chiều rộng: 120 - 240m, đoạn qua thành phố rộng 200 m. + Diện tích lưu vực: 3.510 Km2. + Lưu lượng nước bình quân: 232 m3/giây. + Lưu lượng lũ bình quân: 5.430 m3/giây. + Lưu lượng kiệt: 40 - 60 m3/giây. + Mực nước ứng với lưu lượng bình quân: 0,76 m. + Mực nước bình quân mùa lũ: 2,48 m. + Mực nước ứng với lưu lượng kiệt: 0,19 m - Sông Đế Võng: từ xã Điện Dương, huyện Điện Bàn, chạy dọc từ Tây sang Đông ở phía Bắc thành phố Hội An. + Chiều dài đoạn chảy qua thành phố trên 7 km. + Chiều rộng: 80 - 100 m. + Chế độ mực nước sông Đế Võng phụ thuộc vào chế độ thuỷ triều từ Cửa Đại và cửa sông Hàn. Tại khu vực Cửa Đại, biên độ nhật triều không đều, từ 1,00 m - 1,50 m, giữa kỳ nước cường và nước kém, biên độ triều chênh lệch không đáng kể. Trong kỳ nước kém, biên độ triều khoảng 0,50 m. + Chế độ dòng chảy: khi triều lên từ Cửa Đại, mực nước trong sông dâng lên, khi triều xuống, dòng nước trong sông lại đổ ra biển. Nói chung dòng chảy tương đối điều hoà nhưng do lưu tốc nhỏ là nguyên nhân gây bồi cạn trong sông. Về mùa khô có những đoạn sông bị cạn, nước bị nhiễm mặn. - Thuỷ triều Biển Hội An chịu ảnh hưởng chế độ thuỷ triều của vùng biển Trung Trung Bộ, mỗi ngày thuỷ triều lên xuống 2 lần (bán nhật triều). Biên độ dao động của triều trung bình là 0,6 m. Triều cường = +1,4 m; triều kiệt = 0,00 m. Trong các cơn bão có những đợt sóng có biên độ rất lớn, cao độ lớn nhất của sóng lên đến 3,40 m ở khoảng cách 50 m so với bờ biển, gây thiệt hại lớn cho vùng ven biển. Về mùa khô, do nước sông xuống thấp, nước biển thâm nhập sâu vào lục địa gây mặn ảnh hưởng lớn cho vấn đề dân sinh kinh tế. - Địa hình Hội An hình thành trên dãi cồn cát cửa sông, địa hình toàn vùng có dạng đồi thoai thoải. Độ dốc trung bình: 0,015 1.6.2 Điều kiện kinh tế- xã hội ở Hội An Hội An là một thị xã lớn ở Quảng Nam thuộc vùng dồng bằng ven biển miền Trung. Hội An là nơi hội tụ của các sông ngòi va biển cả nên có thể dễ dàng giao thương với các vùng trong và ngoài tỉnh nhờ giao thông đường thủy khá thuận lợi.[9] Dân số của Hội An là: 81.021 người với 17.640 hộ, trong đó 5 phường nội thị là 39.281 người.Các hoạt động kinh tế của Hội An là du lịch, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,chế biến,... Hội An là thành phố chứa đựng các di sản văn hóa lâu đời cho nên thu hút được nhiều khách du lịch , đặc biệt là khách từ nước ngoài đến. Chính điều đó đã thúc đẩy nền kinh tế cho địa phương. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, khách du lịch năm 1992 là 460.000 người tăng gấp 3 lần so với năm 1999, lượng khách du lịch liên tục tăng. Do vậy , hiện nay số khách sạn liên tục mọc lên, các công trình công cộng được nâng cấp rất nhiều.[9] 1.7 HIỆN TRẠNG PHÁT SINH VÀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NHÀ BẾP HIỆN NAY Ở TP. HỘI AN [6] 1.7.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn Hội An có khu phố cổ được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào năm 1999. Hội An đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ của công nghiệp, tốc độ đô thị hóa ngày càng gia tăng cùng với đời sống vật chất của người dân không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, song song với sự phát triển này nảy sinh các vấn đề ảnh hưởng đến môi trường. Việc phát sinh, thu gom và quản lý chất thải rắn là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của chính quyền Thành phố. Theo ước tính của Công ty Công trình Công cộng Thành phố Hội An, lượng chất thải rắn phát sinh hàng năm rất lớn, dân số trung bình của Thành phố Hội An tính đến ngày 31/12/2007 là 85.076 người, với lượng rác phát sinh tính khoảng 75,38 tấn/ngày. 1.7.2 Tốc độ phát sinh chất thải rắn 1.7.2.1 Chất thải rắn sinh hoạt khu vực đô thị Dân số 8 phường nội thị là 58.730 người, chiếm 69,71% dân số.Giả thiết tại khu vực đô thị loại 3, định mức phát thải trung bình là 0.85kg/người/ngày thì chất thải rắn phát sinh khu vực đô thị là 49,92 tấn/ngày. Bảng 1.3. Tốc độ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt khu vực đô thị Thành phố Hội An  Phường  Dân số (người)  Trung bình (kg/người/ngày)  Lượng CTRSH phát sinh (tấn/ngày)    8  58.730  0,85  49,92   (Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Nam) 1.7.2.2 Chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn Với dân số nông thôn khoảng 25.530 người, chiếm 30,29% dân số của Thành phố. Phần lớn người dân sống tập trung vùng đồng bằng ven biển và vùng hạ lưu sông Thu Bồn với nghề chủ yếu là trồng lúa nước, khai thác nuôi trồng thủy sản. Giả thiết khu vực nông thôn thuộc các huyện đồng bằng, định mức phát thải trung bình là 0.5kg/người/ngày thì lượng rác thải phát sinh tại khu vực nông thôn vào khoảng 12,77tấn /ngày. Trong đó, riêng xã Tân Hiệp vì cách biển nên không thể thu gom, vận chuyển và xử lý chung cùng Thành phố, mà được xử lý nội bộ. Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại khu vực nông thôn Thành phố Hội An Bảng 1.4. Tốc độ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn Thành phố  Xã  Dân số (người)  Trung bình (kg/người/ngày)  Lượng CTRSH phát sinh (tấn/ngày)   Hội An  5  25.530  0.5  12,77   (Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Nam) 1.7.2.3 Thành phần chất thải rắn Thành phần các chất có trong chất thải rắn bao gồm: Chất hữu cơ, cao su, nhựa, giấy, bìa carton, giẻ vụn, kim loại, gốm sứ, đất đá, gạch, cát. Tỷ lệ phần trăm các chất có trong rác thải không ổn định, rất biến động theo mỗi địa điểm thu gom rác, khu vực sinh sống, phát triển sản xuất và theo mỗi mùa trong năm. Tỷ lệ thành phần chất hữu cơ chiếm 45-60% tổng lượng chất thải, tỷ lệ thành phần nilon, chất dẻo chiếm từ 6 -10%. Độ ẩm trung bình của rác thải từ 46-52%. Bảng 1.5. Thống kê tỷ lệ thành phần rác của thành phố Hội An Thành phần  Tỷ lệ (% trọng lượng)   Các chất cháy được  84,1   1/ Giấy  3,1   2/ Hàng dệt  2,3   3/ Rác thải (gồm cả thịt, xương, vỏ sò)  63,9   4/ Cỏ, gỗ, củi, rơm rạ…  0,7   5/ Chất dẻo, nilon  4   6/ Da và cao su  10,1   Các chất không cháy được  15,9   1/ Tổng kim loại  7,1   2/ Các kim loại sắt    3/ Các kim loại không phải là sắt    4/ Thủy tinh  0,9   5/ Đá và sành sứ  0,8   6/ Đất cát và các thành phần khác  7,1   Các chất hỗn hợp  0   1/ Kích thước lớn hơn 5 mm    2/ Kích thước nhỏ hơn 5 mm    Tỷ trọng riêng (kg/m3)  450   (Nguồn: Công ty Công trình Công cộng) 1.8 HIỆN TẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN [1] 1.8.1 Công tác thu gom và vận chuyển rác thải - Công ty Công trình Công cộng là đơn vị chịu trách nhiệm thu gom chất thải rắn của Thành phố Hội An. Lượng rác thu gom khoảng 45 tấn/ngày, ước tính chiếm tỷ lệ khoảng 70% lượng rác phát sinh trên địa bàn thành phố. Hiện công ty có 86 cán bộ công nhân viên, trang thiết bị chính phục vụ cho công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn hiện có 8 xe ô tô chuyên dụng (gồm: 4 loại 2tấn, 4 tấn, 5 tấn, 6 tấn) + Số lượng xe thu gom đẩy tay: 40 chiếc. + Các loại xe khác: 2 chiếc xe hút chất thải, 1 xe tưới đường, 2 xe tải cẩu, 1 xe tải tự đổ, 1 xe xúc lật. + Phương tiện xử lý rác và làm sạch môi trường gồm có (1 xe tưới rửa đường, 1 xe xúc lật dùng để san ủi đầm nén rác tại khu xử lý chất thải) Theo số liệu thống kê của Công ty, tỷ lệ thu gom của toàn thành phố đạt khoảng 60%. Điều này là do phương tiện thu gom không đủ, hầu hết còn lạc hậu, và một nguyên nhân khách quan nữa là do đường xá nhỏ hẹp, không thuận tiện cho việc thu gom lượng chất thải rắn, còn lại phần lớn là các hộ gia đình nằm sâu trong các ngõ hẽm, xe thu gom không vào được. - Tình trạng vận hành và hoạt động hiện tại Chất thải rắn chưa phân loại trước khi thu gom: Ở các tuyến đường rộng, có xe cuốn ép rác thu gom chất thải rắn từ những hộ theo giờ nhất định. Trong các hẻm, các công nhân đi thu gom chất thải rắn bằng xe ba bánh đẩy tay, sau đó tập trung chất thải rắn đến các điểm quy định trên các trục lộ chính, đổ vào xe ép rác. Dọc theo sông Hội An ( dọc theo đường Bạch Đằng), rác trôi trên sông đã được thu gom bằng xuồng. Sau khi thu gom, rác thải được vận chuyển lên bãi rác, đổ xuống phía trước bãi rác. Sau đó, xe xúc lật xúc rác lên xe Ben để vận chuyển vào sâu dần phía trong bãi rác. Mỗi ngày, rác thu gom được tập kết đến bãi theo hai đợt Buổi sáng: từ 9-11h Buổi chiều: từ 15h30-17h. Công suất chôn lấp: 45 tấn/ngày. - Dự kiến thời gian hoạt động đóng bãi: bãi rác đã quá tải, hiện đang tạm sử dụng. 1.8.2 Công tác xử lý rác thải Hiện nay công ty Công trình Công cộng là đơn vị chịu trách nhiệm xử lý tất cả các lượng rác sinh hoạt trên địa bàn thành phố. Tất cả những lượng rác thải đó sau khi thu qom thì sẽ được vận chuyển đến bãi rác Cẩm Hà thành phố Hội An. Khái quát về bãi chôn lấp TP. Hội An + Bãi rác xã Cẩm Hà, cách Thành phố Hội An 5 km, diện tích bãi chôn lấp bãi rác hiện nay khoảng 9000m2 được xây bao bằng tường gạch cao 1,5m. Hình thức xử lý chất thải rắn là đổ lộ thiên, Ở đáy bãi chôn lấp không có lớp lót chống thấm và chưa có hệ thống thu gom nước rỉ rác, không có hệ thống xử lý nước rỉ rác + Ngoài bãi rác lộ thiên ở xã Cẩm Hà, hiện tại thành phố Hội An không còn bãi rác nào, không có nhá máy sản xuất phân compost, không có cơ sở nào khác đang hoạt động. Trước tình hình đó để có 1 hướng xử lý rác thải sinh hoạt thân thiện với môi trường và giảm được lượng rác thải đem đi chôn lấp đồng thời hạn chế được mùi hôi cũng như nước rỉ rác trong quá trình vận chuyển và xử lý thì việc làm phân compost tại nhà sẽ góp một phần rất lớn trong việc giữ cho môi trường không bị ô nhiễm, tạo ra được một lượng phân bón làm hạn chế được lược lượng phân hóa học và đặc biệt là khắc phục được tình trạng quá tải ở bãi rác Cẩm Hà. CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU - Đối tượng: + Thành phần rác thải nhà bếp là rác hữu cơ như cơm thừa, cá cặn, cọng rau, vỏ trái cây… + phụ gia: tro Phạm vi nghiên cứu: Thanh Nam Tây, phường Cẩm Nam,TP Hội An,Quảng Nam   Hình 2.1. Rác thải nhà bếp và phụ gia tro (photo Hồng Hạnh ngày 17/1/2010) 2.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2.2.1 Mục tiêu trước mắt - Làm cho người dân quan tâm hơn về rác thải do hoạt động sinh hoạt của mình. - Giúp cho người dân nắm bắt được quy trình làm phân hữu cơ tại nhà. - Làm phân hữư cơ tại một số hộ thí điểm để tạo diều kiện mở rộng cho các đề tài tiếp theo sau này. - Thông qua việc xử lý rác thải nhà bếp giúp cho người dân phân loại rác tại nguồn tốt hơn. 2.2.2 Mục tiêu lâu dài - Lượng rác sinh hoạt được giảm thiểu nhờ làm phân tại nhà. - Lượng rác thải đem đi chôn lấp được giảm thiểu góp phần khắc phục tình trạng quá tải ở bãi rác Cẩm Hà. - Tiết kiệm kinh phí cho người dân nhờ việc làm phân tại nhà. - Giảm được lượng phân hoá học trên đồng ruộng. - Sản phẩm phân hữu cơ sẽ được sử dụng đại trà. - Bảo vệ môi trường. 2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.3.1 Phương pháp lý luận Tìm hiểu tài liệu ủ phân hữu cơ trên internet, sách, báo, báo cáo khoa học… tiến hành đọc và tổng hợp, khái quát hóa các vấn đề có liên quan đến việc ủ phân compost 2.3.2 Phương pháp ngoài thực địa - Cân, đo, đong, đếm lượng rác thải nhà bếp hằng ngày. - Quan sát hiện tượng và tốc độ phân hủy của phân compost. - Thu thập số liệu bằng cách ghi chép trong quá trình làm phân tại 2 hộ gia đình ở phường Cẩm Nam Thành phố Hội An. - Sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn, tiến hành điều tra trong 30 hộ gia đình đã thực hiện chương trình thí nghiệm làm phân tại nhà. 2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu - Thống kê số liệu thu thập được bằng phần mềm excel - Sử dụng phần mềm excel để vẽ biểu đồ thể hiện sự thay đổi của lượng rác thải nhà bếp, và nhiệt độ hằng ngày. 2.4 CÁCH BỐ TRÍ VÀ TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM 2.4.1 Địa điểm bố trí thực nghiệm - Hai hộ gia đình ở phường Cẩm Nam - Thành phố Hội An- Tỉnh Quảng Nam. 2.4.2 Thời gian tiến hành thực nghiệm Từ ngày 15/2/2009 đến 1/4/2010 2.4.3 Cách bố trí thực nghiệm Mỗi gia đình sẽ được cấp 1 thùng nhựa 40 lít với 2 màu sắc khác nhau cụ thể là nhà ông Phạm A là thùng màu xanh lá cây, còn nhà ông Hứa Đa là màu xanh da trời được mược từ đợt thí nghiệm lần trước, và được đặt cố định vào một góc vườn   Hình 2.2. Thùng nhựa 40 lít được bố trí ở 2 hộ gia đình (photo Hồng Hạnh ngày 15/1/2010) 2.4.4 Tiến hành thực nghiệm Lượng rác nhà bếp hằng ngày sẽ lược phân loại ra thành 3 nhóm chính đó là bột, rau, và đạm sau khi phân loại xong sẽ dùng cân 5 kg để xác định khối lượng của từng thành phần trên sau đó sẽ ghi chép lại và dùng máy ảnh để chụp hình. Sau khi tiến hành xong những thao tác đó sẽ dùng cân 100 kg để đo khối lượng của thùng ban đầu, sau đó bỏ lượng rác vừa được cân xong đó vào thùng và dùng tro rắc đều lên bề mặt sao cho tỷ lệ giữa lượng tro cho vào là tương ứng với độ ẩm của rác để điều chỉnh độ ẩm (độ ẩm càng cao thì lượng tro sẽ càng nhiều). Sau đó dùng que nhiệt độ cắm sâu vào 2/3 que là được và đậy nắp thùng lại. Ngày hôm sau thì quan sát hiện tượng trong ngày, theo dõi ghi chép lại số liệu về diễn biến nhiệt độ và tốc độ phân hủy của rác hữu cơ, cứ tiến hành làm như vậy đến lúc nào lượng rác đầy thùng thì ta ngừng bỏ và tiến hành ủ yếm khí, thực hiện giai đoạn ủ yếm khí cho đến lúc lượng rác trong thùng đã hoai mục hoàn toàn và theo cảm quan của người dân chất lượng phân có thể dùng được rồi thì dựng lại, Trong giai đoạn này thì vẫn tiếp tục đo nhiệt độ hằng ngày và cân khối lượng của toàn thùng để có số liệu cụ thể, ngoài ra còn dùng máy ảnh để chụp hình để làm cơ sở. (xem phụ lục) CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN 3.1 BÁO CÁO KẾT QUẢ CỦA 30 HỘ GIA ĐÌNH ĐƯỢC CHỌN LÀM THÍ NGHIỆM PHÂN COMPOST CỦA PHÒNG TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG [4] 3.1.1 Chương trình được triển khai ở phòng Tài Nguyên Môi Trường 3.1.1.1 Mô tả chương trình ( Trong chương trình thí nghiệm làm phân compost được triển khai ở Phòng Tài Nguyên Môi Trường thì các hộ được chọn để tham gia làm thí điểm sản xuất phân compost bao gồm 30 hộ dân/5 đơn vị xã phường (Tân An, Cẩm Châu,Cẩm Thanh, Cẩm Nam, Cẩm Hà) ( Các hộ gia đình này được lựa chọn dựa trên tiêu chí là những hộ có vườn rộng, ở trong các kiệt hẽm nhỏ lượng rác sinh hoạt của gia đình họ 2 ngày mới được thu gom một lần, ở những hộ có sẵn phụ gia. ( Các hộ phải tuân thủ các quy định của dự án, thực hiện đúng quy trình sản xuất compost. Mỗi đơn vị dược thực hiện thí nghiệm trên 4 loại phụ gia khác nhau: cám gạo, đất mùn, nước vo gạo và tro với 4 quy trình cụ thể. ( Quy trình sản xuất phân compost đối với 4 loại phụ gia khác nhau. Hình 3.1 Quy tình sản xuất phân compost từ Phòng Tài Nguyên Môi Trường 3.1.1.2 Triển khai hoạt động Thời gian thực hiện chương trình từ ngày 15/8/2009/đến ngày 15/11/2009 ( Giới thiệu sơ lược về dự án xử lí rác thải nhà bếp tại thành phố Hội An. ( Giới thiệu chung về rác thải nhà bếp. ( Bài giảng về phương pháp kĩ thuật sản xuất phân compost ( Thực hành thí nghiệm sản xuất phân compost bao gồm 4 quy trình với các phụ gia là: cám gạo (quy trình làm phân compost với các phụ gia còn lại cũng tương tự) Đây là dự thảo chương trình tập huấn xử lý rác thải bếp cho các cán bộ và các hộ dân được chọn làm thí điểm dự án xử lý rác thải nhà bếp. Chương trình được bố trí gồm 2 phần: phần 1 là cơ sở lý thuyết, trao đổi kinh nghiệm và các kỹ thuật phương pháp sản xuất phân compost tại hội trường và phần 2 là thực hành thử nghiệm sản xuất phân compost. 3.1.2 Kết quả đạt được Thông qua kết quả điều tra trong 30 hộ gia đình (xem phụ lục) đã thực hiện thí nghiệm làm phân compost đợt vừa rồi thì trong đó có 16/30 hộ là nam chiếm 53.33% và 14/30 hộ là nữ chiếm 46.66% tham gia trả lời câu hỏi phỏng vấn. Trong số 30 hộ đó thì số hộ làm nông là 15/30 chiếm 50%, cán bộ là 7/30 chiếm 23.33%, hưu trí là 4/30 hộ chiếm 13.33% còn các nghề khác như buôn bán, công nhân, y tá, đông y sỹ là 4/30 hộ chiếm 13.33%. Như chúng ta đã biết người phụ nữ trong gia đình luôn gắn liền với công việc nội trợ hơn so với nam, nên vấn đề rác thải nhà bếp thường được các chị em quan tâm hơn nhưng qua kết quả điều tra thì ta thấy rằng tỷ lệ nam trong gia đình tham gia trả lời câu hỏi phỏng vấn là nhiều hơn so với nữ điều này chứng tỏ lượng rác thải không chỉ là vấn đề quan tâm của các chị em phụ nữa mà là của tất cả mọi người trong gia đình cũng như toàn xã hội. 30 hộ tham gia vào chương trình thí nghiệm làm phân compost vừa rồi thì số hộ làm nông là chiếm với 1 tỷ lệ cao, tiếp đến là cán bộ, còn hưu trí và các nghành nghề khác chiếm tỷ lệ tương đương nhau. Qua đó thì ta thấy rằng mọi tầng lớp trong xã hội đều có thể triển khai việc làm phân ngay tại nhà của mình chứ không nhất thiết là ở những hộ làm nông mới có thể triển khai được. Bốn phụ gia được 30 hộ sử dụng để làm trong đợt thí nghiệm vừa rồi là tro, đất mùn, cám gạo và nước vo gạo nhưng mà trong đó có 11/30 hộ làm phụ gia tro chiếm 36.66%, 5/30 hộ làm phụ gia đất mùn chiếm 16.66%, 9/30 hộ làm nước vo gạo chiếm 30%, 5/30 hộ làm cám gạo chiếm 16.66% và được thể hiện rõ ở hình 3.1  Hình 3.2 Sơ đồ biễu diễn của 4 loại phụ gia Qua hình 3.2 ta thấy rằng tro là loại phụ gia được chọn để làm thí nghiệm nhiều nhất sau đó là nước vo gạo còn đất mùn và cám gạo chiếm tỷ lệ là tương đương nhau, sỡ dĩ mà có sự lựa chọn như vậy là do đặc thù của các hộ gia đình, các gia đình ở nông thôn thì người ta hay sử dụng bếp củi trong vấn đề nấu nướng nên phụ gia tro và nước vo gạo là hai loại phụ gia quen thuộc và gần gũi dễ kiếm đối với người dân nông thôn. 3.1.2.1 Hiện trạng xử lý lý rác thải nhà bếp của người dân trước khi chưa có chương trình làm phân tại Lượng rác thải nhà bếp của người dân trước kia chủ yếu là được sử dụng vào các mục đích khác nhau tùy theo đặc tính của mỗi hộ gia đình, nhưng hầu hết dều được người dân đổ lên xe rác chỉ có một số hộ ở khu vực nông thôn có nuôi gia súc gia cầm thì lượng rác của họ còn được dùng thêm vào mục đích đó nữa. Trong số 30 hộ được điều tra đó thì số hộ làm nông chiếm tỷ lệ cao nhất cho nên 2 đáp án là đổ lên xe rác và cho gia súc gia cầm là được lựa chọn nhiều nhất ở trong hình 3.2  Hình 3.3. Sơ đồ biễu diễn tình hình xử lý rác của người dân trước khi chưa tham gia vào chương trình làm phân Qua hình 3.3 thì ta thấy có 19/30 hộ chiếm 63.33% là đổ lên xe rác và cho gia súc gia cầm là 13/30 hộ chiếm 43.33%, còn số hộ lựa chọn đáp án đem đi chôn lấp là 2/30 hộ chiếm 6.66 % và một hộ nhà ông Nguyễn Thành Cử cho rằng lượng rác nhà bếp của gia đình chủ yếu là cung cấp cho các hộ khác để làm thức ăn cho gia súc gia cầm. Như vậy quá trình mà người dân vẫn làm hằng ngày trước kia là đem rác thải nhà bếp đổ xe rác, chứ chưa hề ý thức được việc làm như vậy sẽ góp phần hủy hoại dần dần môi trường sống của họ vì tình trạng ô nhiễm môi trường đất nước ở bãi rác Cẩm Hà hiện nay là rất trầm trọng do mùi hôi của bãi rác vào mùa mưa, và lượng khói của bãi rác khi cháy vào mùa nắng gây ô nhiễm môi trường không khí tại đây. Qua các hiện trạng quản lý và xử lý của bãi rác Cẩm Hà thì không những môi trường nước hay không khi bị ô nhiễm mà cả môi trường đất cũng bị ô nhiễm nghiêm trọng, do tính chất đất ở đây là đất cát nên vấn đề ô nhiễm đất là khó tránh khỏi. Mặc khác bãi rác không có lớp đáy nên lương nước rác chủ yếu đều được ngấm xuống đất.   Hình 3.4. Hiện tượng cháy ngầm và nước rỉ rác ở bãi rác Cẩm Hà ( photo Ngọc Hải ngày 26/2/2010) Trong thành phần rác thải nhà bếp hằng ngày của người dân đều có đủ 3 thành phần chính như đạm, bột, rau tùy thuộc vào nhu cầu của mỗi hộ gia đình. Nhưng khi chưa có chương trình làm phân tại nhà thì dù là thành phần gì cũng được người dân đem bỏ lên xe rác chính vì vậy ta có thể thấy rằng bãi rác là nơi tập trung hỗn tạp của tất cả các loại rác.   Hình 3.5. Lượng rác thải sinh hoạt hằng ngày của người dân được tập trung lên bãi rác Cẩm Hà ( Photo Ngọc Hải ngày 16/4/2010) Qua hình 3.5 thì ta thấy rằng tất cả những lượng rác thải sinh hoạt hằng ngày của người dân đều được tập trung về đây bao gồm cả rác hữu cơ lẫn vô cơ, trong đó thành phần rác hữu cơ vẫn nổi trội hơn và chiếm 1 phần lớn hiện nay ở trên bãi rác Cẩm Hà. Từ kết quả điều tra trong 30 hộ gia đình thì thành phần rác ở các hộ đó là cọng rau vỏ trái cây, thành phần đạm, bột, rau chiếm phần nhiều trong thành phần rác hữu cơ của họ và được thể hiện rõ ở hình 3.5 Hình 3.6. Sơ đồ biễu diễn thành phần rác thải ở 30 hộ gia đình Qua hình 3.6 thì ta thấy đa số người dân lựa chọn 2 đáp án trong số 4 đáp án của bảng câu hỏi phỏng vấn và 2 đáp án được người dân lựa chọn nhiều nhất đó là cọng rau vỏ trái cây và tỷ lệ bằng nhau giữa 3 thành phần đạm bột rau, chỉ có 2/30 hộ chiếm 6.67% cho rằng trong 3 thành phần đó thì đạm chiếm tỷ lệ nhiều còn thành phần bột thì ở một số hộ hầu như là không có. Thành phần của rác thải hữu cơ là rất dễ phân hủy, với một số lượng nhỏ nhưng khi mà phân hủy cũng đã gây ra mùi hôi khó chịu, phát sinh ra ruồi bọ… Nếu tất cả lượng rác hữu cơ trên toàn địa bàn thành phố Hội An được quy tụ lại thành một số lượng lớn thì mức độ ảnh hưởng đến người dân cũng sẽ cao hơn. Khối lượng rác nhà bếp ở mỗi gia đình nhiều hay ít tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và mức độ tiêu thụ của từng hộ gia đình, nhưng dù ít hay nhiều thì cũng đều thải ra một lượng rác thải nhà bếp hằng ngày và qua kết quả điều tra thì khối lượng rác ở các hộ gia đình không nhiều chỉ dao động trong khoảng nhỏ hơn hoặc bằng 0.5 kg cho đến 1 kg rác hằng ngày ở hình 3.6  Hình 3.7. Sơ đồ biễu diễn khối lượng rác nhà bếp của 30 hộ gia đình Qua hình 3.7 thì ta thấy rằng là có 17/30 hộ chiếm 56.67% cho là 0.5 kg, 9/30 hộ chiếm 30% cho là lượng rác thải hằng ngày của họ không quá 0.5 kg, và 4/30 hộ chiếm 13.33% cho rằng lượng rác hằng ngày của họ là 1kg mỗi ngày. Như vậy thì khối lượng rác thải hằng ngày của người dân rất ít nhưng chủ yếu là những hộ ở khu vực nông thôn thường nằm sâu trong các kiệt, hẽm nhỏ rất khó khăn trong vấn đề thu gom rác, lượng rác thải nhà bếp của họ thường thì 2 ngày mới được thu gom 1 lần. Nếu giả sử lượng rác thải này mà không được phân loại tốt, và thu gom hằng ngày thì nó sẽ bị phân hủy, thối rữa gây mùi hôi thối làm phát sinh ruồi, bọ…gây mất cảnh quan môi trường và đặc biệt là nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân. Qua 3 bảng số liệu trên ta thấy rằng lượng rác thải nhà bếp hằng ngày của 30 hộ là không nhiều và phần lớn đều đổ lên xe rác, nhưng khi làm vậy thì lại vô tình góp một phần vào quá trình ngày càng làm gia tăng lượng rác và gây ra tình trạng quá tải của bãi rác Cẩm Hà hiện nay, với tốc độ phát triển nhanh chóng như hiện nay của xã hội thì cầu của con người ngày càng tăng, lượng rác từ đó cũng được tăng dần lên theo thời gian và nếu như không được xử lý hay hạn chế lượng rác thải đó thì có thể chúng ta sẽ phải gánh chịu những hậu quả khó lường chẳng hạn như là môi trường không khí và chất lượng nguồn nước sinh hoạt hằng ngày của người dân ngày càng ô nhiễm trầm trọng, gây ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến sức khỏe của người dân và có thể là bãi rác cẩm Hà phải ngừng hoạt động trong một vài năm tới. Vậy ở những hộ có diện tích đất vườn thì tại sao chúng ta lại không nghĩ đến một giải pháp nhằm hạn chế tối đa lượng rác thải nhà bếp hằng ngày của chúng ta bằng việc làm phân tại nhà vừa tận dụng được lượng rác dư thừa để làm phân tạo ra nguồn phân bón hữu ích lại vừa cùng nhau chung tay bảo vệ môi trường vì một đất nước xanh sạch và đẹp hơn. 3.1.2.2 Sự tham gia của người dân trong vấn đề xử lý rác thải nhà bếp khi có chương trình làm phân compost tại nhà Khi chương làm phân compost tại nhà được triển khai thì 100% các hộ gia đình đều thực hiện đúng với quy trình đưa ra và trong quá trình thực hiện thì họ nhận thấy lượng rác thải nhà bếp hằng ngày trong gia đình của họ từ đó là không cần phải đem đổ lên xe rác nữa mà được tận dụng tối đa cho việc làm phân nên lượng nước rỉ rác và mùi hôi cũng được hạn chế đi rất nhiều. Khi chương trình kết thúc thì trong 21/30 hộ đã có phân thành phẩm đó thì có 11/21 hộ cho rằng sản phẩm phân của họ có những hiện tượng như là tơi xốp có màu nâu và xuất hiện nấm mốc màu trắng, Còn 6/21 hộ chỉ có hiện tượng tơi xốp, có màu nâu, 1 hộ cho rằng chỉ xuất hiện nấm mốc màu trắng, 3 hộ thì có ý kiến khác đó là phân của họ làm ra hơi nhão, có màu đen. Có 21/30 hộ chiếm 70% là đã dùng phân này để bón và 9/30 hộ chiếm 30% là chưa bón cho cây trồng nhà mình. Và theo lời nhận xét của một số người dân cho rằng cây trồng trong vườn nhà họ rất tốt khi bón loại phân này: ví dụ như là ý kiến của ông Nguyễn Thành Cử ở vườn rau trà quế xã cẩm Hà đó là “khi sử dụng loại phân này để bón lót cho cây trồng nhà tôi trước hết là nó làm giảm đi lượng phân hóa học mà tôi đã sử dụng để bón cho cây trước kia, và điều quan trọng là tôi thấy nó giúp cố định giữ cho thân cây vững chắc và sinh trưởng phát triển tốt ở giai đoạn tiếp theo” và một ý kiến khác ở hộ gia đình ông phạm A phường Cẩm Nam thì cho rằng “ vườn rau nhà tôi khi bón loại phân này là rất tốt như lá xanh và to hơn so với bình thường”, và cũng có một số ý kiến khác ở một số hộ đã bón cũng có những ý kiến gần giống như trên. Qua đó cho ta thấy rằng chất lượng phân của người dân là rất tốt Sau khi chương trinh thí nghiệm làm phân compost tại nhà kết thúc được sử dụng với 4 loại phụ gia khác nhau trong 30 hộ thì có 16/30 hộ chiếm 53.33% vẫn tiếp tục làm có 13/30 hộ chiếm 43,33% không làm nữa và có một hộ cho rằng nếu sử dụng phụ gia khác thích hợp hơn thì họ sẽ làm và điều này được thể hiện qua hình 3.8 Hình 3.8 Sơ đồ thể hiện sự tham gia của người dân khi dự án kết thúc Qua sơ đồ trên ta thấy rằng sự tham gia đông ý việc làm phân tại nhà la rất cao, và cũng có một số ý kiến sẽ không thực hiện nữa với nguyên nhân trong quá trình làm phát sinh quá nhiều giòi, mùi hôi gây ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày của gia đình. Trong 4 loại phụ gia được thực hiện trên 30 hộ với các phụ gia như tro, đất mùn, cám gạo, nước vo gạo thì có 15/30 hộ chiếm 50% cho rằng phụ gia đã là

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docXây dựng quy trình làm phân compost từ rác thải hữu cơ quy mô hộ gia đình tại TP Hội An Tỉnh Quảng Nam.doc
Luận văn liên quan