Xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Nhật Bản của tổng công ty May 10

Xuất khẩu là một nội dung rất cơ bản của hoạt động kinh tế đối ngoại, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Việc đẩy mạnh xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập khẩu, phát triển cơ sở hạ tầng, cải thiện đời sống dân sinh. Đó cũng là mục tiêu mang tính chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. Với ý nghĩa đó Đảng và Nhà nước đó và đang thực hiện nhiều biện pháp thúc đẩy các ngành kinh tế hướng mạnh vào xuất khẩu, ngành dệt may cũng chính là ngành hàng xuất khẩu chế biến quan trọng của Việt Nam hiện nay. Tổng công ty may 10 chuyên sản xuất hàng may mặc, kể từ khi thành lập đến nay, Tổng Công Ty đã thâm nhập và đứng vững ở các thị trường lớn, trong đó thị trường Nhật Bản là thị trường lớn của Tổng Công Ty với kim nghạch xuất khẩu hàng may mặc hàng năm rất lớn và tốc độ tăng trưởng cao. Tuy vậy, hàng may mặc của Tổng Công Ty vào thị trường này còn có những vướng mắc đặc biệt chịu ảnh hưởng không nhỏ từ thảm họa kép ở Nhật hồi tháng 3 vừa qua. Với mong muốn giữ vững thị trường cho Tổng công ty, phòng kinh doanh chúng tôi đề xuất kế hoạch kinh doanh vào thị trường Nhật Bản trong thời điểm khó khăn này.

doc28 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 06/01/2014 | Lượt xem: 2530 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Nhật Bản của tổng công ty May 10, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
9% so với tháng 7/2007; xuất khẩu sang Nhật Bản với kim ngạch đạt 78 triệu USD (7/2010), tăng 33,75% so với tháng 6 và tăng 20,88% so với cùng kỳ năm 2009,… Nhật Bản là một trong những thị trường xuất khẩu chính, một thị trường tiêu dùng lớn thứ hai thế giới, hứa hẹn nhiều cơ hội cho công ty cũng như cho các doanh nghiệp khác của nước ta khi xuất khẩu vào thị trường này. Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động xuất khẩu của “May 10”sang thị trường Nhật Bản hiện tại đang phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt chịu tác động của thảm họa sóng thần, động đất và thảm họa hạt nhân xảy ra liên tiếp trong tháng 3 vừa qua ở Nhật. Xuất phát từ thực trạng trên, nhận rõ được những khó khăn, cơ hội, thách thức cũng như những sức ép canh tranh đối với tổng công ty May 10, phòng kinh doanh chúng tôi tiến hành xây dựng chiến lược kinh doanh: “Xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Nhật Bản của tổng công ty May 10” nhằm giúp Tổng công ty mở rộng và đứng vững trên thị trường Nhật Bản tiềm năng nhưng cũng nhiều khó khăn trong giai đoạn này. Phần II: NỘI DUNG I. Giới thiệu về Tổng công ty may 10 và sản phẩm xuất khẩu 1.1 Giới thiệu về công ty v Thông tin chung. Tổng công ty May 10 - Công ty Cổ phần là thành viên của Tổng công ty dệt may Việt Nam (Vinatex) thuộc Bộ Công Nghiệp.Công ty là công ty cổ phần do nhà nước nắm cổ phần chi phối. Graco 10 có vốn điều lệ 54 tỷ đồng trong đó Nhà nước nắm giữ 51% cổ phần, 49% cổ phần còn lại được bán cho người lao động. Tên gọi: Tổng công ty May 10 - Công ty Cổ phần Tên giao dịch quốc tế : GARMENT 10 CORPORATION - JOINT STOCK COMPANY Trụ sở chính : Phường Sài Đồng, quận Long Biên, Hà Nội. Văn phòng giao dịch: 103 Trần Huy Liệu, phường 12, quận Phú Nhuận. TP Hồ Chí Minh. Điện thoại: (84)(04)38276923 - (84)(04)38276396. Fax: (84)(04)38276925. Email: ctmay10@garco10.com.vn Website: http:// www.garco10.com.vn. Một số giai đoạn phát triển của Công ty Tiền thân của Tổng Công ty Cổ phần May 10 ngày nay là các xưởng may quân trang được thành lập ở các chiến khu trong toàn quốc, và được tổ chức từ năm 1946, phục vụ bộ đội chống Pháp tại các chiến trường Việt Bắc, khu 4, khu 3 và Nam Bộ. Từ năm 1947 đến năn 1949, việc may quân trang không chỉ được tiến hành ở các chiến khu mà còn được tiến hành ở nhiều nơi khác như: Nho Quan- Ninh Bình, Hà Đông, Thái Bình, Thanh Hoá, Quảng Ngãi…Để đảm bảo bí mật, các cơ sở sản xuất đều được đạt tên theo bí số của quân đội như: X1, X30,AK1, AM1, CK1, BK1…Các đơn vị này chính là tiền thân của xưởng May 10 hợp nhất sau này. Năm 1952, xưởng may X1 ở Việt Bắc được đổi tên thành xưởng May 10 mang bí số X10. Năm 1956, sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, xưởng may X40 (Thanh hoá) và những đồng chí thợ may của ngành quân nhu ở Nam Bộ và Chiến khu 5 Việt Bắc được lệnh chuyển ra Hà nội sát nhập với xưởng May 10 lấy tên là xưởng May 10 đặt tại Hội Xá thuộc Bắc Ninh cũ nay là Phường Sài Đồng – Quận Long Biên – Hà Nội với diện tích 20ha. Xưởng May 10 được xây dựng với 546 cán bộ công nhân viên chuyên may quân phục quân đội . Tháng 2 năm 1961, Cục Quân Nhu - Tổng Cục Hậu cần tiến hành bàn giao xưởng May 10 cho Bộ Công Nghiệp Nhẹ quản lý và đổi tên thành Xí nghiệp May 10. Năm 1975, đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động sản xuất của công ty. Công ty chuyển dần sang sản xuất các mặt hàng phục vụ dân dụng và xuất khẩu ra nước ngoài với thị trường chủ yếu là Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu. Ngày 14 – 11 – 1992, Bộ Công nghiệp nhẹ đã ra quyết định số 1090/TCLD về chuyển đổi mô hình tổ chức từ Xí nghiệp May 10 lên thành Công ty May 10 thuộc Tổng công ty Dệt may Việt Nam. Và đến ngày 1/1/2005, Công ty May 10 được chuyển đổi thành Công ty Cổ phần May 10 theo quyết định số 105/QĐ-BCN kí ngày 1/5/2004 của Bộ Công Nghiệp. Kể từ ngày 26/3/2010, Công ty cổ phần May 10 đổi tên thành Tổng công ty may 10 – Công ty cổ phần. v Lĩnh vực kinh doanh + Sản xuất kinh doanh các loại quần áo thời trang và nguyên phụ liệu ngành may. + Kinh doanh các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, công nghiệp thực phẩm và công nghiệp tiêu dùng khác + Kinh doanh văn phòng, bất động sản, nhà ở cho công nhân + Đào tạo nghề. + Xuât nhập khẩu trực tiếp. v Sứ mạng và giá trị cốt lõi + Thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. + Tăng cường tinh thần trách nhiệm, tính chủ động, sáng tạo, phát huy tối đa tiềm năng và lợi thế của Công ty. + Đảm bảo môi trường ngày càng xanh, sạch, đẹp. + Vì lợi ích của mỗi thành viên và cộng đồng. + Xây dựng Công ty trở thành một điển hình văn hóa Doanh nghiệp. 1.2 Giới thiệu về sản phẩm dệt may thâm nhập thị trường Nhật bản và đặc điểm của sản phẩm Trên thị trường nội địa dòng sản phẩm chính của công ty là các mặt hàng áo sơ mi cao cấp với thương hiệu Phanraon dành cho nam và Cleopatre dành cho nữ. Trên thị trường nước ngoài, công ty tập trung vào 5 mặt hàng mũi nhọn đó là áo sơ mi, quần âu, áo Jacket, bộ complete và áo vest. Các mặt hàng này đều thuộc dòng sản phẩm trung cấp và đã được người tiêu dùng trong nước cũng như ở một số thị trường như: EU, Bỉ, Hàn Quốc… đánh giá khá tốt về mặt chất lượng. Mặt hàng áo sơ mi nam là mặt hàng mà công ty có nhiều kinh nghiêm sản xuất nhất và được nhiều thị trường xuất khẩu tin dùng. Bên cạnh đó, công ty ngày càng mở rộng sản xuất những sản phẩm có giá trị cao hơn và yêu cầu kỹ thuật phức tạp hơn như bộ complete và áo vest. Ngoài ra tuỳ theo yêu cầu của những đơn đặt hàng gia công của phía đối tác nước ngoài công ty cũng sản xuất thêm một số mặt hàng khác như váy, áo phông, áo jilê… v Áo sơ mi. Áo sơ mi là mặt hàng truyền thống và có nhiều lợi thế của công ty, gồm cả sơmi nam và sơmi nữ. Sơmi nam:Tên Sản Phẩm: Phanraon classic-kd2, Mã Sản Phẩm: Pharaon class-kd2, Giá Sản Phẩm: 160.000 đồng, chi tiết sản phẩm: Vải kẻ dọc, cộc tay, cổ hơi ngang, bản cổ to. Sơmi nữ: Tên Sản Phẩm: cleopatre, Mã Sản Phẩm: cleopatre-237/09, Giá Sản Phẩm: 259.000 đồng , Chi Tiết Sản Phẩm: Sơ mi nữ dài tay, vải kẻ màu đen. Hai túi ngực có nắp, nẹp thân trái phối vải đen,chiết thân trước và thân sau. cổ đức có chân. Tổng Công ty đã có uy tín trong sản xuất các loại áo sơmi nam các chất cotton. Mặt hàng áo sơ mi vẫn luôn là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của công ty trong những năm qua giá trị xuất khẩu trung bình hàng năm lên đến hơn 60.000 nghìn USD chiếm hơn 65% giá trị các mặt hàng xuất khẩu của công ty. Mỹ là thị trường nhập khẩu mặt hàng này lớn nhất với 50% giá trị xuất khẩu. v Quần âu Mặt hàng quần âu hiện đang là một trong những mặt hàng có mức tiêu thụ khá tốt. xuất khẩu mặt hàng này. Loại sản phẩm này bao gồm: - Quần âu nam. Tên Sản Phẩm: Q.âu nam-pharaon, Mã Sản Phẩm: PHARAON- ts2, Giá Sản Phẩm: 249.000 đồng. Chi Tiết Sản Phẩm: quần âu cổ điển nam cao cấp: 1 ly, thân trước có hai túi chéo, hai túi hậu bổ cơi. kiểu dáng trẻ trung, sang trọng.chất liệu: 50% polyester; 50% wool.lót cạp có sợi cao su giúp người mặc khi cho áo trong quần mà cử động mạnh vẫn giữ được nếp áo. - Quần âu nữ. Tên Sản Phẩm: Q.âu nữ, Mã Sản Phẩm: 185/08, Giá Sản Phẩm: 230.000vnđ, Chi Tiết Sản Phẩm: Quần thời trang nữ, vai tuysi màu đen. thân trước có hai túi chéo, miệng túi xếp hai viền cơi. Công ty cũng đã tìm kiếm được khá nhiều khách hàng lớn như: Hà Lan, Đan mạch, Pháp, Thuỵ Điển. Khách hàng Châu Á có những đánh giá khá tích cực về mặt hàng này. Tiềm năng tiêu thụ mặt hàng này của công ty trên thị trường Nhật Bản là rất lớn khi mà kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản năm 2010 đạt 78 triệu USD (7/2010), tăng 33,75% so với tháng 6 và tăng 20,88% so với cùng kỳ năm 2009. Công ty nên có những giải pháp để có thể khai thác nhiều hơn nữa tiềm năng thị trường này. v Áo Jacket Mặt hàng áo Jacket đang duy trì được mức tăng trưởng đáng ngạc nhiên trên một số thị trường mà Tổng công ty đã xuất khẩu năm 2010. Thuộc chủng loại này, Tổng công ty chỉ sản xuất áo dành cho nữ. Tên Sản Phẩm: măng tô nữ, Mã Sản Phẩm: LJK263/09, Giá Sản Phẩm: 1.000.000 đồng, chi tiết sản phẩm: vải dạ kẻ karô, cổ cao, thân trước có hai hàng cúc,thân trước và sau được bổ tạo eo,hai túi, áo có đai v Bộ Complete và áo Vest. - Dành cho nam: tên Sản Phẩm: veston-2, mã sản phẩm: ves-2, giá sản phẩm: 1.608.000, chi tiết sản phẩm: được sử dụng chất liệu tuysi pha len, - Dành cho nữ: tên sản phẩm: veston-5, mã sản phẩm: cleo-vkr, giá sản phẩm: 1.050.000 đồng, chi tiết sản phẩm: chất liệu tuysi pha len màu vàng nân, có chấm kẻ chìm, cổ hình chữ K, hai khuy.Bộ gồm 01 áo, 01 váy, 01 quần. Đối với hai dòng sản phẩm này, mức tăng trưởng trên thị trường là khá khiêm tốn thể hiện ở một số thông tin như: mặt hàng bộ complete trong giai đoạn 2005-2008 số đơn hàng xuất khẩu trực tiếp nào sang thị trường Nhật rất ít mà hầu hết là tiêu dùng trong nước. Còn mặt hàng áo Vest giá trị xuất khẩu trực tiếp vào thị trường này hàng năm cũng chỉ khoảng 20.000 - 30.000USD. Điều này có thể lý giải điều này là do sản phẩm bộ Complete và áo khoác là các sản phẩm có đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật, tay nghề cao. Mặt hàng bộ complete có sự tăng trưởng mạnh mẽ do sự tăng trưởng trở lại của thị trường Nhật Bản với giá trị xuất khẩu năm 2009 lên đến 10.668 nghìn USD, tăng gần 40% so với năm 2005. Trong tương lai, công ty nên tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm này để tăng cường khả năng tiêu thụ trên thị trường Nhật bản. Vì đây là một mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao nên việc tăng cường kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sẽ đem lại cho công ty một khoản lợi nhuận lớn và ổn định. II. Giới thiệu về thị trường hàng dệt may ở Nhật Bản và lý do chọn thị trường Nhật Bản. 2.1 Thông tin về thị trường Nhật Bản 2.1.1 Môi trường tự nhiên v Vị trí: Nhật Bản nằm ở phía Đông của châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương, do bốn quần đảo độc lập hợp thành. Bốn quần đảo đó là: quần đảo Kuril (Nhật Bản gọi là quần đảo Chishima), quần đảo Nhật Bản, quần đảo Ryukyu, và quần đảo Izu-Ogasawara. Những quốc gia và lãnh thổ lân cận ở vùng biển Nhật Bản là Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc; ở vùng biển Đông Hải là Trung Quốc, Đài Loan; đi xa hơn về phía Nam là Philippines và quần đảo Bắc Mariana. Vì là một đảo quốc, nên xung quanh Nhật Bản toàn là biển. Nhật Bản không tiếp giáp quốc gia hãy lãnh thổ nào trên đất liền. Tuy nhiên, bán đảo Triều Tiên và bán đảo Sakhalin (Nhật Bản gọi là Karafuto) chỉ cách các đảo chính của Nhật Bản vài chục km. v Tổng diện tích: Trên đất liền: 377906,97 km², rông thứ 60 trên thế giới. Lãnh hải: 3091 km². v Tự nhiên: Theo lý thuyết đĩa lục địa (plate tectonics), Nhật Bản nằm trên chỗ tiếp xúc giữa 4 đĩa lục địa là Á-Âu, Bắc Mỹ, Thái Bình Dương và biển Philippines. Các quần đảo của Nhật Bản hình thành do vài đợt vận động tạo núi và có từ cách đây lâu nhất là 2,4 triệu năm. Xét về mặt địa chất học, như vây là rất trẻ. v Chính vì vậy, Nhật Bản có hai đặc trưng tự nhiên khiến cho nó nổi tiếng thế giới đó là nhiều núi lửa, lắm động đất. v Địa hình: Địa hình núi chiếm 73% diện tích tự nhiên của Nhật Bản. Số lượng sông suối nhiều, nhưng độ dài của sông không lớn. Ven biển có những bình nguyên nhỏ hẹp là nơi tập trung dân cư và các cơ sở kinh tế nhất là phía bờ Thái Bình Dương. Điểm cao nhất ở Nhật Bản là đỉnh núi Phú Sĩ, cao tuyệt đối 3776m. Điểm thấp nhất ở Nhật Bản là một hầm khai thác than đá ở Hachinohe, -135m. 2.1.2 Môi trường kinh tế - chính trị v Về kinh tế Nhật Bản hiện là một trong các nước có chỉ số lạm phát thấp nhất thế giới Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số thì quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1954) phát triển cao độ (1955-1973)khiến cho cả thế giới hết sức kinh ngạc và khâm phục Người ta gọi đó là "Thần kì Nhật Bản". Từ 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại, song Nhật Bản tiếp tục là một nước có nền kinh tế-công nghiệp-tài chính thương mại-dịch vụ-khoa học kĩ thuật lớn đứng thứ hai trên thế giới (chỉ đứng sau Hoa Kỳ), GDP trên đầu người là 36.217 USD (1989). Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nên nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới. Nhật Bản có nhiều tập đoàn tài chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế giới. Đơn vị tiền tệ là: đồng yên Nhật. Nhật Bản đang xúc tiến 6 chương trình cải cách lớn trong đó có cải cách cơ cấu kinh tế, giảm thâm hụt ngân sách, cải cách khu vực tài chính và sắp xếp lại cơ cấu chính phủ,… Cải cách hành chính của Nhật được thực hiện từ tháng 1 năm 2001. Dù diễn ra chậm chạp nhưng cải cách đang đi dần vào quỹ đạo, trở thành xu thế không thể đảo ngược ở Nhật Bản và gần đây đã đem lại kết quả đáng khích lệ, nền kinh tế Nhật đã phục hồi và có bước tăng trưởng năm 2003 đạt trên 3%, quý I/2004 đạt 6% và đến năm 2010 Nhật Bản vẫn là một siêu cường quốc kinh tế. v Về chính trị Nhật Bản là một trong các nước theo hệ thống quân chủ lập hiến, trong đó Thủ tướng là người nắm quyền cao nhất về các phương diện quản lý quốc gia và chịu sự giám sát của hai viện quốc hội cùng tòa Hiến pháp có thẩm quyền ngăn chặn các quyết định vi hiến của chính phủ. Được xây dựng dựa trên hình mẫu của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và một số nước phương Tây khác sau này. Theo hệ thống pháp luật thế giới hiện hành, Nhật Bản được xếp vào các nước có nền dân chủ đầy đủ (ưu việt nhất). Quốc hội Nhật Bản là cơ quan lập pháp cao cấp nhất, gồm có Hạ viện với 512 ghế và Thượng viện với 252 ghế. Hạ viện được bầu ra từ 130 đơn vị bầu cử với số nghị viên từ 2 tới 6 vị tùy theo dân số. Nhiệm kỳ của Thượng viện là 6 năm, mỗi 3 năm được bầu lại một nửa. 2.1.3 Môi trường văn hóa xã hội Nhật Bản là quốc gia có tính đồng nhất về sắc dân và văn hóa. Người dân không có nguồn gốc Nhật chỉ chiếm hơn 1% tổng dân số vào năm 1993. Do sống biệt lập với các quốc gia khác tại châu Á trong nhiều thế kỷ cho tới thời kỳ mở cửa vào năm 1868, Nhật Bản đã có các nét riêng về phong tục, tập quán, chính trị, kinh tế và văn hóa... trong đó gia đình đã giữ một vai trò trọng yếu. Trước Thế Chiến thứ Hai, phần lớn người Nhật sống trong loại gia đình gồm ba thế hệ. Sự liên lạc gia đình đã theo một hệ thống đẳng cấp khắt khe theo đó người cha được kính trọng và có uy quyền. Người phụ nữ khi về nhà chồng phải tuân phục chồng và cha mẹ chồng nhưng sau khi Luật Dân Sự năm 1947 được ban hành, người phụ nữ đã có nhiều quyền hạn ngang hàng với nam giới về mọi mặt của đời sống và đặc tính phụ quyền của gia đình đã bị bãi bỏ. Phụ nữ Nhật đã tham gia vào xã hội và chiếm 40,6% tổng số lực lượng lao động của năm 1990. Xã hội Nhật Bản có các nét đặc biệt về giao thiệp. Người Nhật thường cúi chào bằng cách gập người xuống và độ hạ thấp tùy thuộc địa vị xã hội của cả hai người. Đây là một dấu hiệu quan trọng để tỏ lộ sự kính trọng. Một nét phong tục khác là việc trao đổi danh thiếp. Mỗi lần giới thiệu hay gặp mặt đều cần tới tấm danh thiếp và việc nhận tấm danh thiếp bằng hai tay là một cử chỉ lễ độ. Tấm danh thiếp được in rõ ràng và không được viết tay trên đó. Trong việc giao thiệp, người Nhật thường không thích sự trực tiếp và việc trung gian đóng một vai trò quan trọng trong cách giải quyết mọi hoàn cảnh khó khăn. v Văn hóa trời trang ở Nhật Bản Tình hình xuất nhập khẩu hàng may mặc của các công ty sản xuất kinh doanh may mặc Nhật Bản đã phát triển theo hai xu hướng chính: - Xu hướng thứ nhất: ngày nay người tiêu dùng các sản phẩm may mặc đang tìm kiếm các loại hàng không đắt tiền. - Xu hướng thứ 2: các sản phẩm có giá trị cao như sơ mi mặc được ngay không cần là sau khi giặt và phơi khô sản xuất và kinh doanh hàng may mặc tại thị trường Nhật Bản một cách thành công trước sự cạnh tranh của hàng nhập ngoại. Thị trường hàng tiêu dùng Nhật Bản phát triển theo hai xu hướng tạo nên sự phân chia thị trường người tiêu dùng. Hàng được sản xuất với công nghệ cao, giá trị cao vẫn là lĩnh vực mà các nhà sản xuất Nhật Bản chiếm thế mạnh. Hàng may mặc thông thường thì phụ thuộc vào nhập khẩu (từ các nước Châu á của chính các công ty Nhật Bản hoặc các nhà sản xuất nước ngoài). Xét về mặt chất lượng hàng hoá, Nhật Bản nằm trong số những quốc gia có đòi hỏi cao nhất trên thế giới. Những khiếm khuyết mà ở các quốc gia khác không thành vấn đề như một vết xước nhỏ, đường viền không cân trên một sản phẩm thì ở Nhật Bản đều bị coi là hàng hoá hỏng. Người tiêu dùng Nhật Bản đề ra các tiêu chuẩn độ bền và chất lượng cao cho những hàng hoá công nghiệp và tạo ra yêu cầu mà các sản phẩm khác nhau nhưng cùng chủng loại phải tuân theo. Người tiêu dùng đang cố gắng giảm bớt chi tiêu cho quần áo trong giai đoạn thảm họa kép, họ lựa chọn các sản phẩm có giá cả hợp lý. Về màu sắc, các tiêu chuẩn khác nhau về màu sắc cũng tồn tại ở Nhật Bản, dựa trên sự kết hợp các tiêu chuẩn truyền thống với các ảnh hưởng của phương tây. Ngày nay người tiêu dùng hàng may mặc ở Nhật Bản khá khó tính, đặc biệt về mốt thời trang. Công ty cần phải nắm bắt, dự đoán được xu hướng thời trang, phải cung ứng một cách kịp thời những sản phẩm hợp mốt, đặc biệt là đối với những khách hàng trẻ tuổi - những người có sở thích may mặc thay đổi rất nhanh đặc biệt là giới trẻ chịu tác động rất mạnh bởi xu hướng thời trang hiện đại. Tuy nhiên người Nhật Bản có “bảo thủ” hơn ở chỗ vẫn chấp nhận những mặt hàng có cách đIệu chuẩn cộng thêm các chi tiết hoặc các chất liêụ mới. Ví dụ, quần chum/váy và áo vét/jacket nilon vẫn có thể bán chạy trong năm 20111 này. Khi thực hiện hợp đồng với đối tác Nhật Bản,công ty phải tránh những sai phạm tối kỵ như giao hàng không chuẩn màu sắc, sai kích cỡ, không đủ số lượng hoặc giao chậm. Các nhà nhập khẩu Nhật Bản sẽ không chấp nhận các lỗi này, nên nếu công ty mắc phải sai phạm này sẽ tổn hại đến hai bên. Tóm lại, người tiêu dùng Nhật Bản luôn tìm kiếm những hàng hoá chất lượng tốt và với gía cả hợp lý. 2.2 Giới thiệu về thị trường hàng dệt may ở Nhật Bản Những số liệu khả quan trên có được một phần là do Nhật Bản lo ngại rằng nước này quá phụ thuộc vào hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Nhiều nhà nhập khẩu Nhật Bản đang nhập hàng từ Trung Quốc có xu hướng chuyển sang nhập từ Việt Nam để tận dụng lợi thế thuế nhập khẩu thấp hơn theo Hiệp định hợp tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản. Đây là một tín hiệu tốt cho các nhà cung cấp hàng may mặc của Việt Nam. Thị trường Nhật Bản, một thị trường khó tính nhưng đầy hấp dẫn Thị trường Nhật Bản là một thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn thứ 3 của Việt Nam, chiếm 17,5% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam, chỉ đứng sau thị trường Mỹ và thị trường EU. Tuy nhiên nếu với thị trường EU và thị trường Mỹ hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam bị hạn chế bởi hạn ngạch thì khi chóng ta xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật Bản lại không phải chịu hạn ngạch. Như vậy, có thể khẳng định rằng Nhật Bản là thị trường nhập khẩu hàng dệt may phi hạn ngạch lớn nhất của Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại. Vậy thị trường Nhật Bản có những đặc điểm gì ? v Xu hướng tiêu dùng Nhật Bản là một thị trường mở, có quy mô tương đối lớn đối với các nhà xuất khẩu hàng may mặc nước ngoài. Với số dân là 126,9 triệu người và mức thu nhập bình quân hàng năm vào khoảng 30.039 USD/người, Nhật Bản là nước nhập khẩu hàng may mặc lớn thứ hai trên thế giới hiện nay. Tuy nhiên việc mua sắm của người Nhật Bản đối với các sản phẩm nói chung và các sản phẩm may mặc nói riêng đều khác biệt với các thị trường khác. Một trong những nguyên nhân là Nhật Bản đang đối mặt với sự thay đổi giữa các nhóm tuổi trong xã hội theo hướng già hoá dân số tương đối nhanh chóng. Xu hướng này sẽ làm thay đổi mạnh mẽ cách thức tiêu dùng hàng hoá, sự lựa chọn, sở thích, thói quen, tâm lý tiêu dùng,… Những năm gần đây, với mức thu nhập và chi tiêu "thoáng" hơn, người Nhật Bản sẵn sàng trả giá cao để mua những sản phẩm chất lượng tốt, tính thời trang thẩm mỹ cao. Đây có thể sẽ là những gợi ý để Tổng ty tham khảo khi muốn đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may vào Nhật Bản vì hiện tại nhiều chuyên gia kinh tế Nhật Bản đều có chung một nhận xét về hàng may mặc xuất khẩu của Việt Nam: mặc dù hàng may mặc Việt Nam đạt chất lượng tốt nhưng không đồng đều, không ổn định, kiểu dáng mẫu mã rất nghèo nàn và chưa thể hiện được những yếu tố đặc trưng của sản phẩm may mặc Việt Nam. v Cơ cấu tiêu thụ các sản phẩm dệt may Nhật Bản là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn trên thế giới đồng thời cũng là thị trường tiêu thụ rất nhiều hàng dệt may. Nhìn chung hàng dệt may được tiêu thụ có thể phân thành hai nhóm chính nếu căn cứ theo phương thức dệt là hàng dệt kim và hàng dệt thoi. Trong đó hàng dệt kim thường chiếm tới 70% tổng khối lượng nhập khẩu hàng dệt may của Nhật Bản. Trong nhóm hàng dệt kim, những mặt hàng được người Nhật quan tâm thường là các loại áo len, áo khoác nam, áo khoác nữ, sơ mi, quần áo trẻ em, găng tay, bớt tất, áo gile, T.shirt, quần áo dệt kim, quần áo thể thao, áo jacket. Trong đó hàng dệt kim với chất liệu là len hoặc cotton được ưa chuộng hơn cả. Bên cạnh đó, hàng dệt thoi mà chủ yếu là loại tơ tằm, các loại áo sơ mi dệt thoi chất liệu bông, áo blouse, đồ lót, váy làm tâ chất liệu tơ tằm cũng được người Nhật Bản yêu thích v Mức tự cung đảm bảo Là nước nhập khẩu hàng dệt may lớn thứ hai trên thế giới, khối lượng nhập khẩu hàng may mặc của Nhật Bản tăng nhanh qua các năm. Mức nhập khẩu dệt may năm 2011tăng 41,3% so với năm. Ngược với xu hướng nhập khẩu ngày càng nhiều, hiện nay mức sản xuất hàng dệt may trong nước của Nhật Bản ngày một suy giảm cả về mặt giá trị và số lượng. Trong 5- 10 năm qua việc chuyển hoạt động sản xuất hàng dệt may ra nước ngoài đã phát triển rất nhanh mà điểm đến thường là những nước đang phát triển rất gần với Nhật Bản. Đầu tiên là sự chuyển dịch sang Hàn Quốc và Đài Loan. Tiếp đó là thị trường Trung Quốc và thị trường Inđônêxia, hai trong số nhiều nước thuộc khu vực Đông á và Đông Nam á với nguồn nguyên liệu dồi dào, nguồn lao động phong phú, giá tương đối rẻ. Hiện nay Trung Quốc được xem là một "cơ sở" sản xuất lớn và là nguồn nhập khẩu quan trọng của Nhật Bản. Hiện tại mức sản xuất trong nước của Nhật Bản chỉ chiếm trờn dưới 30% tổng lượng tiêu thụ hàng dệt may của thị trường nội địa. v Nhu cầu nhập khẩu Với mức tự cung đảm bảo chỉ đáp ứng được khoảng 30% tổng mức tiêu thụ hàng dệt may trên thị trường nội địa nên kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản thường rất lớn cả về mặt giá trị và khối lượng, chiếm xấp xỉ 70% tổng cầu của thị trường đối với cả hai loại là hàng dệt kim và hàng dệt thoi. Với nhu cầu nhập khẩu ngày càng cao của Nhật, ngành dệt may nước ta đã có cơ hội nâng kim ngạch 11 tháng đầu năm 2010 lên 33,8 triệu USD, chiếm 12% trong tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng, tăng 10,55% so với cùng kỳ năm 2009. 2.3 Lý do chọn thị trường Nhật trong thời điểm đang “tái thiết” đất nước Hiện nay Nhật Bản là thị trường hàng may mặc lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ, tổng giá trị buôn bán hàng may mặc trong năm 2009 là 35,63 tỷ USD, trong đó hàng may mặc nữ chiếm khoảng 55%, hàng may mặc cho nam giới chiếm khoảng 32% và cho trẻ em chiếm khoảng 12% Thị trường Nhật Bản mở cửa đối với hàng may mặc, kim nghạch nhập khẩu đã chiếm tỷ trọng khoảng 38% tổng khối lượng thị trường hàng may mặc nước này. tuy nhiên, các nhà nhập khẩu hàng may mặc. Do thiếu lao động và do chi phí nhân công cao, nhiều nhà sản xuất hàng may mặc Nhật Bản đã chuyển ra nước ngoài sản xuất. Do vậy, sản xuất hàng may mặc nội địa ở Nhật Bản đã, đang và sẽ giảm. Nhật Bản là thị trường nhập khẩu hàng dệt may phi hạn ngạch lớn nhất của Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại. Trước khi biến động thiên tai xảy ra, các nhà đầu tư Nhật có xu hướng chuyển đơn hàng từ Trung Quốc sang Việt Nam. “Bởi phần lớn các doanh nghiệp này đều không muốn tập trung quá nhiều vào một thị trường sẽ có nhiều rủi ro”. Hiện hàng hóa Việt Nam xuất sang Nhật chỉ chiếm 1,19% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của nước này và khoảng 10% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, doanh nghiệp Việt Nam đang có rất nhiều lợi thế ở Nhật Bản như giảm, miễn thuế, ưu đãi thuế quan; những thay đổi trong chính sách kinh tế thương mại của Nhật Bản đang có lợi cho doanh nghiệp Việt Nam như tăng hoạt động xuất khẩu hàng hóa về hướng Đông (ký nhiều hiệp định thương mại song phương với ASEAN)... Tháng 3 vừa qua, thảm họa kép đã xảy ra ở Nhật Bản nhưng đến nay, vẫn chưa có một báo cáo chính thức nào về mức độ ảnh hưởng của thảm họa động đất và sóng thần ở Nhật đối với xuất khẩu của tổng công ty may 10 nói riêng và Việt Nam nói chung. Trên thực tế, chúng ta vẫn có thể tìm thấy cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu sang Nhật, ít nhất là trong ngắn hạn. Viện Nghiên cứu thương mại cũng cho rằng, một số ngành xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật sẽ tăng trưởng trong ngắn hạn. Bởi lẽ, hàng xuất khẩu của Việt Nam qua Nhật là những mặt hàng tiêu dùng cơ bản, nguyên liệu đầu vào cho sản xuất nên dù khó khăn, thì người dân và doanh nghiệp Nhật vẫn có nhu cầu. III. Môi trường cạnh tranh 3.1 Các đối thủ cạnh tranh chính 3.1.1 Đối thủ trong nước Các DN đang có mặt trong ngành may sẵn là rất đông đảo với một qui mô lớn cụ thể như Tổng công ty may Việt Tiến, may Nhà Bè, Việt Thy, công ty thời trang Việt (Ninomaxx), công ty thời trang Nguyên Tâm (Foci), An Phước, Việt Thắng, May 10…Với số lượng đông đảo như vậy tuy nhiên không có DN nào có thể giữ vai trò chủ đạo, chi phối đến hoạt động của các DN khác. Chính vì vậy ngành may sẵn có cơ cấu ngành phân tán, cường độ cạnh tranh trên thị trường gay gắt, khốc liệt và chủ yếu là cạnh tranh về giá. Ta thấy rằng nhóm các DN sản xuất hàng cấp trung và cấp cao trung chủ yếu sử dụng chiến lược khác biệt hoá. Giá của những DN may trong nhóm này thuộc tầm trung hoặc cao để khẳng định rõ về chất lượng, mẫu mã hình thức và thương hiệu của sản phẩm. Có những DN mà sản phẩm của họ lên tới mức 500 – 700 nghìn đồng như Việt Tiến, An Phước… nhưng khách hàng vẫn chấp nhận mua vì nó đã tạo được một thương hiệu trong lòng khách hàng về chất lượng quần áo. Những DN sản xuất hàng cấp trung như Ninomaxx, PT2000 hay Blue Exchange, Việt Thy…Các DN sản xuất hàng cấp trung này chiếm khoảng 60% thị phần, 40% còn lại chia đều cho hàng giá rẻ và hàng cấp trung cao của các nhà thiết kế trẻ. Mặc dù được đánh giá chiếm đến 60% thị phần nhưng phân khúc thị trường thời trang cấp trung vẫn là khu vực tập trung nhiều sự cạnh tranh nhất. 3.1.2 Đối thủ nước ngoài v Trung Quốc Trung Quốc được xem là nhà cung cấp hàng dệt may lớn nhất của Nhật Bản trên hai thị trường: thị trường đại chúng và thị trường hàng hoá cấp trung. Theo thống kê xuất nhập khẩu hàng dệt may, Bộ Tài chính Nhật Bản cho biết có tới 79,6% kim ngạch nhập khẩu hàng dệt kim và 80,4% kim ngạch nhập khẩu hàng dệt thoi năm 2001 của Nhật Bản là do Trung Quốc cung cấp. Nếu xét về lượng nhập khẩu thì Trung Quốc cũng chiếm thị phần lớn hơn với hàng dệt kim là 87,7% và hàng dệt thoi là 89,9%. Như vậy Trung Quốc đó chiếm ưu thế tuyệt đối với cả hai nhóm hàng dệt thoi và dệt kim. Trung Quốc luôn chiếm ưu thế trên thị trường đại chúng với những mặt hàng bình dân và thị trường sản phẩm cấp trung bởi nguồn nguyên phế liệu trong nước phong phú, lực lượng lao động dồi dào, mức lương không cao. Chính vì vậy mức giá hàng hoá Trung Quốc đưa ra luôn có sức cạnh tranh lớn trên thị trường Nhật Bản. Đó là những thuận lợi khiến Trung Quốc chiếm thế thượng phong với hầu hết các mặt hàng trên hai thị trường kể trên. Trong những năm vừa qua, với việc gia tăng hoạt động gia công xuất khẩu, Trung Quốc càng tạo được cho mình một chỗ đứng vững chắc tại thị trường Nhật Bản. v Hàn Quốc Do vị trí địa lý gần kề Nhật Bản nên Hàn Quốc có được những ưu thế về vận tải hơn các nước khác. Điều đó đó tạo cho Hàn Quốc những lợi thế nhất định. Tuy nhiên với sự tăng giá của đồngWon thời gian gần đây và giá nhân công cao đó làm khả năng cạnh tranh cuả hàng dệt may Hàn Quốc giảm đáng kể nhất là những mặt hàng dành cho thị trường đại chúng. Vì thế, hiện nay Hàn Quốc chủ yếu tập trung sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng cấp trung hơn là những mặt hàng bình dân như trước kia. v EU Tuy bất lợi cả về khoảng cách địa lý cũng như giá nhân công cao hơn hẳn các nước ASEAN nhưng hàng dệt may của EU vẫn có thể đứng vững trên thị trường Nhật Bản, bởi những mặt hàng xuất khẩu của EU sang thị trường này thường là những mặt hàng cao cấp, hợp thời trang và đắt tiền. Đó là những sản phẩm gắn với những tên tuổi lớn trong ngành công nghiệp thời trang thế giới, nhưng số lượng cung cấp chỉ có hạn. Ngoài ra EU cũng được coi là khéo léo sử dụng những ảnh hưởng của mình tại thị trường dệt may Nhật Bản. v Mỹ Việc nhập khẩu hàng dệt may của Nhật Bản từ Mỹ bắt đầu tăng đáng kể từ cuối những năm 80. Điều đó đó biến Mỹ trở thành một trong những nhà cung cấp hàng may mặc quan trọng đối với Nhật Bản. Hầu hết các sản phẩm nhập khẩu từ Mỹ là những loại quần áo thông thường, thứ đến là những mặt hàng thời trang. Trên thực tế một trong những thế mạnh về hàng dệt may của Mỹ là mặt hàng chất liệu cotton. 3.2 Sản phẩm thay thế Một trong 5 áp lực cạnh tranh mà khi xây dựng một chiến lược kinh doanh thì người lập chiến lược không thể quên đó là sản phẩm thay thế. Với chiến lược kinh doanh về sản phẩm may sẵn thì chúng ta xác định sản phẩm thay thế ở đây là sản phẩm may đo. Trước tiên, đây là hai loại sản phẩm cùng thoả mãn một nhu cầu quan trọng của người tiêu dùng là “mặc”, nhưng sản phẩm may đo được coi là sản phẩm thay thế của sản phẩm may sẵn vì nó có những đặc điểm khác biệt. Đối với sản phẩm may đo, người làm ra trang phục phải trực tiếp đo các số đo từ người tiêu dùng sau đó tự cắt may bằng tay sản phẩm. Loại sản phẩm này có những ưu điểm giúp cho những người tiêu dùng nếu không thể hoặc không muốn sử dụng sản phẩm may sẵn thì vẫn có thể thoả mãn nhu cầu của mình. Chúng ta có thể nêu ra một số các ưu điểm nổi bật như: + Phù hợp với nhiều vóc dáng và số đo. + Có thể thay đổi mẫu mã, màu sắc, chi tiết theo ý khách hàng. + Khách hàng được đảm bảo về chất liệu, đường may của sản phẩm. + Khách hàng có thể được tư vấn, hỗ trợ thiết kế sản phẩm phù hợp. Những ưu điểm của sản phẩm may đo phản ánh nhược điểm của sản phẩm may sẵn, do đó thị phần của sản phẩm may sẵn không phải là 100% mà phải san sẻ với sản phẩm may đo. Bên cạnh những ưu điểm mà sản phẩm may đo có được thì nó còn có những nhược điểm dễ nhận thấy như: + Thời gian từ lúc khách hàng đặt may sản phẩm đến lúc có đựơc sản phẩm trong tay thường rất lâu (khoảng 1tuần trở lên). + Khi nhận sản phấm lại thì xác suất của việc không hài lòng và phải sửa chữa lại là rất lớn. + Những nơi hoạt động của quá trình may đo thường diễn ra tại cửa hàng (quy mô nhỏ hoặc lớn), đôi khi không thể đáp ứng được đủ nhu cầu của khách hàng hoặc không quảng bá được hình ảnh của mình đến người tiêu dùng. Những hạn chế này khiến cho khách hàng đến với sản phẩm may đo không nhiều và không thường xuyên. Thị phần của sản phẩm may đo thường bó hạn trong một số nhóm đối tượng như giới công chức, những người làm việc liên quan đến công chúng, một số nhỏ những đối tượng không có cỡ phù hợp với sản phẩm may sẵn. Với những phân tích sơ qua như trên chúng ta thấy rằng sản phẩm may đo đúng là sản phẩm thay thế của sản phẩm may sẵn nhưng áp lực mà nó gây ra cho sản phẩm may sẵn là không quá lớn. Sản phẩm may đo tồn tại cùng với sản phẩm may sẵn và cũng có những lượng khách hàng riêng cho mình nhưng điều đó không gây ra những cản trở mạnh mẽ đến việc xâm nhập và tấn công thị trường tiêu dùng của sản phẩm may sẵn. IV. Phân tích SWOT Các điểm mạnh -Có nhiều mạng lưới phân phối rộng rãi -Có vị thế, thương hiệu trên thị trường -Tài chính ổn định -Nguồn nhân lực giàu kinh nghiệm -Có môi trường văn hoá doanh nghiệp mạnh -Đội ngũ thiết kế chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm. -Xác định triểt lý kinh doanh, sứ mạng kinh doanh rõ ràng -Có quan hệ hợp tác với nhiều tên tuổi lớn của ngành thời trang may mặc có uy tín trên thị trường thế giới. - Giá rẻ hơn các đối thủ cạnh tranh Các điểm yếu -Chưa chủ động được nguyên vật liệu -Chưa chủ động về công nghệ -Hoạt động Marketing chưa thực sự chuyên nghiệp -Sản phẩm chưa đa dạng và chất lượng chưa cao. -Các hoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm có định hướng đa dạng nhưng vẫn yếu Các cơ hội Ngành dệt may Việt Nam là thành viên của SAFSA (chuỗi cung ứng dệt may ASEAN được hình thành trên cơ sở liên kết các nhà máy dệt và nhà máy may của khu vực thành một nhóm để nâng cao chất lượng và uy tín các sản phẩm của ngành dệt may toàn khu vực khi gia nhập vào thị trường dệt may hiện đại của thế giới) Việt Nam gia nhập WTO mở ra các cơ hội cho tổng công ty: -Cơ hội tiếp thu công nghệ cao -Mở rộng hợp tác quốc tế -Hạn ngạch xuất khẩu giảm, hàng rào thuế quan dần được loại bỏ. -Các chính sách phát triển ngành may mặc của chính phủ -Tốc độ đô thị hoá của Việt Nam cao, nhu cầu ăn mặc của người dân ngày càng cao. - Nguồn lao động khan hiếm -Là thị trường may mặc lớn thứ 2 thế giới -Kim ngạch nhập khẩu chiếm tỉ trọng tương đối lớn Chiến lược : điểm mạnh cơ hội -Chiến lược thâm nhập thị trường: Thiết lập mạng lưới đại lý phủ kín 63 tỉnh thành phố trong cả nước. -Chiến lược phát triển thị trường: Mở rộng thị trường xuất khẩu sang Nhật Chiến lược điểm yếu_cơ hội -Chiến lược tích hợp về phía trước: Ra sức tìm kiếm và khai thác nguồn cung cấp nguyên phụ liệu -Chiến lược đa dạng hoá sản phẩm: Nghiên cứu tạo ra những dòng sản phẩm mang nhãn hiệu và đẳng cấp vượt trội như: Pharaon, Bigman, New Arrival, MM-Teen,.. Thách thức -Sự khủng hoảng kinh tế thế giới, tỷ lệ lạm phát cao -Luật pháp Quốc tế đòi hỏi rất nghiêm ngặt về chất lượng và độ an toàn của sản phẩm -Cước phí dịch vụ của Việt Nam quá cao -Hàng hoá từ nước ngoài tràn vào nhất là hàng Trung Quốc -Nhiều đối thủ cạnh tranh trong nước có thế mạnh như Việt Tiến, Vinatex…. -Sản phẩm của May 10 bị làm giả, làm nhái. - Nước Nhật đang phải gánh chịu thảm họa và đang trong thời gian tái thiết đất nước. Chiến lược: điểm mạnh_thách thức -Tiến hành dán “Tem chống hàng giả” vào thẻ bài và đưa “Sợi chống hàng giả” vào nhãn dệt chính của sản phẩm -Chiến lược liên minh, liên kết: Hợp tác sản xuất với nhiều tên tuổi lớn của ngành may mặc thời trang có uy tín trên thị trường thế giới như: Pierre Cardin, GuyLaroche, Maxin, Jacques Britt,… Chiến lược : điểm yếu_thách thức - Chiến lược đa dạng hoá: Mở rộng hình thức kinh doanh thương mại FOB - Tổ chức “HỘI NGHỊ KHÁCH HÀNG MAY10 2010” V. Chiến lược thâm nhập thị trường Nhật Bản 5.1 Chiến lược sản phẩm Ngày nay, khi nhu cầu về tiêu dùng hàng may mặc càng cao thì một trong những nhân tố đầu tiên của hàng hoá được chú ý đến là chất lượng. Đây là nhân tố quan trọng để duy trì và phát triển thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng xuất khẩu. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này tổng công ty May 10 cần phấn đấu giữ vững và nâng cao chất lượng hàng hoá thông qua tìm kiếm một số nguồn vải có chất lượng cao hơn ở trong nước cũng như nhập ngoại. Chất lượng hàng hoá không chỉ thể hiện ở chất lượng vải mà còn ở những đường may, đường cắt; do đó tổng công ty đã kiểm tra chất lượng hàng hoá lúc xuất xưởng. Nhờ những việc làm này mà hàng hoá của công ty được khách hàng Nhật Bản rất tín nhiệm với số lượng hàng xuất khẩu ngày càng tăng. Chỉ có đảm bảo tạo ra sản phẩm có chất lượng cao thì mới tạo ra được uy tín vững chắc, uy tín thực sự là sức mạnh cạnh tranh lâu bền cho sản phẩm của doanh nghiệp. Kiểu dáng mẫu mã hàng hoá bao giờ cũng rất được coi trọng và nó cũng là một trong những tiêu chuẩn đầu tiên của khách hàng khi quyết định mua hàng. Trong hoạt động xuất khẩu việc làm này còn gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa vì chúng ta và những người nhập khẩu Nhật Bản có những phong tục tập quán khác nhau và do đó có cảm nhận về cái đẹp trong ăn mặc cũng khác nhau. Vì lẽ đó mà tổng công ty phải rất chú trọng trong việc tìm hiểu thị hiếu của người tiêu dùng Nhật Bản thông qua các loại sách báo , tạp chí về thời trang và lối sống, thông qua những người nhập khẩu Nhật Bản …Từ đây tổng công ty sẽ đưa ra các mẫu mốt để chào hàng và thăm dò ý kiến của họ. Tuy nhiên, thảm họa sóng thần xảy ra có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, đến chi tiêu của người tiêu dùng Nhật Bản nên loại hang hóa mà Tổng công ty xuất khẩu sang thị trường này trong giai đoạn hiện nay nên hướng đến mặt hàng loại trung bình, giá cả hợp lý nhưng vẫn cần chú ý đến mẫu mã để thu hút được khách hàng. 5.2 Chiến lược giá Giá cả là một trong những công cụ quan trọng để cạnh tranh trên thị trường Nhật Bản. Giá thành là căn cứ để quyết định giới hạn thấp nhất của giá bán sản phẩm – yếu tố quan trọng của công ty trong việc đứng vững và khẳng định chất lượng, uy tín của mình trên thị trường Nhật Bản. Hàng may mặc của công ty xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản đa phần là phục vụ những người tiêu dùng có thu nhập thấp, chi tiêu cho quần áo còn hạn chế và Nhật Bản là một trong những cường quốc về hàng may mặc. Do vậy hạ giá thành sản phẩm để có chính sách giá cả hợp lý là một nhu cầu tất yếu nhằm nâng cao sức cạnh tranh, công ty nên sử dụng những biện pháp sau: Khai thác nguồn nguyên liệu từ nhiều nhà cung cấp khác nhau để tăng thêm kim ngạch bán FOB, đưa ra giá cạnh tranh. Đẩy mạnh kinh doanh nội địa để có thể cung cấp nguyên liệu cho đơn vị sản xuất hàng dệt may. Sau đó, mua hàng của những đơn vị này với giá thấp hơn so với những đơn vị mà công ty không cung cấp nguyên liệu. Như vậy công ty có thể đưa ra mức giá phù hợp hơn đối với các nhà nhập khẩu hàng dệt may Nhật Bản. Sử dụng các kênh phân phối trực tiếp để giảm thiểu chi phí nhằm hạ giá thành hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản. Ngoài những biện pháp trên, công ty cũng cần quan tâm đến việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức và công tác vận chuyển hàng hoá. Công ty phải luôn chấn chỉnh trong công tác quản lý nhằm tạo ra bộ máy tổ chức gọn nhẹ, hợp lý để giảm thiểu những chi phí không cần thiết. Bên cạnh đó, công ty phải luôn nhanh chóng kịp thời trong công tác vận chuyển, tránh rủi ro trong quá trình vận chuyển, bốc dỡ, đảm bảo giao hàng đúng thời hạn, đủ về số lượng, hàng hoá phải đúng quy cách phẩm chất… 5.3 Chiến lược phân phối Giao hàng đúng hạn là yêu cầu rất quan trọng đối với hàng may mặc do yếu tố thời vụ và phù hợp với thời trang (đặc biệt là đối với thị trường Nhật Bản) là một trong số những yếu tố quyết đinh về tính cạnh tranh của sản phẩm may mặc vì vậy trong thời gian tới công ty cần: Một mặt tổ chức tốt hệ thống vận chuyển, bốc dỡ hàng hoá. Mặt khác kiến nghị với nhà nước trong việc đơn giản hoá khâu làm thủ tục xuất khẩu như: Cải tiến thủ tục hoàn thuế cho các doanh nghiệp sản xuất hàng nguyên phụ liệu cho các doanh nghiệp khác may xuất khẩu đồng thời tính phần “xuất khẩu tại chỗ” này vào tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu quy định tại giấy phép đầu tư, giảm khó khăn của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong việc thực hiện quy định này, đặc biệt là những năm đầu tiên sản xuất chưa ổn định. Cần ưu tiên cấp hạn ngạch đủ cho các đơn hàng xuất mua nguyên liệu, bán thành phẩm với nguyên liệu sản xuất tại Việt Nam. Đơn giản thủ tục hoàn thuế nhập khẩu và xây dựng mức thuế chi tiết cho các loại nguyên liệu nhập khẩu. Một trong những yếu tố cơ bản làm hàng may mặc xuất khẩu của công ty được đánh giá cao trên thị trường Nhật Bản là uy tín về giao hàng đúng hạn. Thị trường Nhật Bản có đòi hỏi khắt khe về điều kiện chuyển tải, giao hàng, ưu thế về địa lý cũng như ưu đãi về thủ tục nhập cảnh, giữ được ưu thế về giao hàng là nhiệm vụ khó khăn nhưng rất cần thiết. 5.4 Chiến lược xúc tiến thương mại - Quảng cáo qua các trang web của công ty , một số trang web mà người Nhật hay truy cập. - Quảng cáo trên tivi , vì thói quen xem truyền hình của người Nhật rất lớn. - Quảng cáo trên các tờ tạp chí nổi tiếng. - Tham gia hội chợ thương mại. - Thông qua hội Việt Kiều ở Nhật để quảng cáo cho sản phẩm. 5.5 Tổ chức thực hiện Sau khi đã nghiên cứu thì trường Nhật , có sản phẩm chủ lực nhằm mục đích đưa ra xuất khẩu rồi, đưa ra chiến lược cho việc việc thâm nhập sang thị trường Nhật chúng tôi đề xuất một số công việc cần tiến hành để chuẩn bị cho quá trình thâm nhập thì trường Nhật lần này như sau: v Bộ phận Marketing Bộ phận marketing là bộ phận rất quan trọng trong quá trình thâm nhập thị trường lần này , để thực hiện tốt marketing – mix thì phòng marketing phải chuẩn bị rất nhiều vấn đề: Tìm hiểu kỹ về đối tượng khách hàng mục tiêu của công ty, các tập tính tiêu dùng của họ, yêu cầu của họ đối với sản phẩm của chúng ta như thế nào… Cập nhật thường xuyên thông tin về thị trường Nhật, để đánh giá lại thị trường, đưa ra những đề xuất về chiến lược trong tương lai như thế nào cho thích hợp. Chuẩn bị hệ thống cơ cấu dịch vụ mà công ty cung cấp cho thị trường khi thâm nhập. Các chiến lược xúc tiến bán hàng, quảng cáo, tham gia hội chợ sẽ được chuẩn bị trước Các dịch vụ sau bán hàng như thế nào. Tìm hiểu thông tin về đối thủ cạnh tranh của công ty trên thị trường Nhật. Các thông tin về các nhà phân phối mà công ty dự định hợp tác trong thời gian thâm nhập thị trường, các chính sách với họ, các chính sách hỗ trợ trong quá trình phân phối sản phẩm như thế nào… v Bộ phận sản xuất Bộ phận sản xuất là bộ phận quyết định số lượng, chất lượng sản phẩm cho chiến lược thâm nhập thị trương sắp tới nên những việc cần làm trong thời gian này là: Hoạt động đầu vào: Hoạt động mua sắm, vận chuyển, tồn kho, tồn trữ và quản lý các yếu tố đầu như thế nào cho hợp lý. Sản xuất : thống kê lại hệ thống máy móc trong quá trình hoạt đông vừa qua như thế nào, quá trình bảo trì, sửa chữa máy móc như thế nào, tình hình nhân công trên dây chuyền sản xuất nhu thế nào có đáp ứng được cho quá trình sản xuất trong quá trình thâm nhập thị trường lần này không, có vấn đề gì thì nên đề xuất lên cấp trên. Hoạt động đầu ra: thành phẩm đầu ra được vận chuyển lưu kho và thực hiện công tác phân phối v Bộ phận nghiên cứu và phát triển (R&D) Bộ phần này sẽ giúp doanh nghiệp chẵng những củng cố vị trí hiện tại của doanh nghiệp mà còn giúp cho doanh nghiệp vươn tới những vị trí cao hơn, chúng ta cũng biết thị trường Nhật là thị trường mà ở đó người tiêu dùng thiên về chất lượng sản phẩm, nên trong quá trình thâm nhập thị trường lần này bộ phận này nên làm tốt việc nghiên cứu như thế nào để đưa ra những sản phẩm chất lượng cao. Ngoài ra thì bộ phận này nên nghiên cứu để cải tiến quy trình sản xuất, và giảm chi phí… v Bộ phận tài chính kế toán Chức năng của bộ phận tài chính kế toán có liên quan với tất các bộ phận khác trong doanh nghiệp, trách nhiệm của bộ phận này là từ những yếu tố bên trong và bên ngoài mà đề xuất các chính sách tài chính như thế nào cho hợp lý : Các chính sách tài chính hiện tại của doanh nghiệp như thế nào trong thời gian tới . Đánh giá năng lực cho việc gia tăng thêm vốn cho các hoạt động hiện tại cũng như trong tương lai của doanh nghiệp khi thâm nhập thị trường. Quan hệ với các tổ chức tài chính như thế nào. Hoạch định chi phí huy động vốn tù các nguồn. Hoạch định việc phân bổ nguồn cho các bộ phận trong quá trình thâm nhập thị trường như thế nào cho hợp lý. Kế hoạch thu chi thực hiện như thế nào trong quá trình thâm nhập … v Bộ phận nhân sự Hoạt động quản trị nhân sự là hoạt động liên quan đến con người , để chuẩn bị tốt cho quá trình thâm nhập thị trường lần này , thì bộ phận này cần làm rất nhiều việc : Vấn đề đào tạo con người như thế nào, đào tạo tay nghề cho công nhân như thế nào để đáp ứng chiến lược của doanh nghiệp Có nên tuyển mộ thêm lao động không, tuyển mộ như thế nào , tuyển mộ bao nhiêu… Các chính sách đãi ngộ người lao động như thế nào Các chính sách khuyến khích, đánh giá lòng trung thành của người lao động Phân bổ nhân sự như thế nào cho hợp lý… v Bộ phận suất nhập khẩu Tổ chức các hoạt động xuất khẩu , trong quá trình chuẩn bị cho chiến lược cần chuẩn bị tất cả các công việc quan trọng cho quá trình xuất khẩu thuận lợi hơn Liên hệ với những nhà nhập khẩu trên thị trường Nhật. Ký kết hợp đồng xuất khẩu. Tìm hiểu các thông lệ quốc tế về xuất nhập khẩu mà nước Nhật áp dụng, cũng như những qui định trên đất nước Nhật về hoạt động xuất nhập khẩu. Mỗi bộ phận trong nội bộ của doanh nghiệp có vai trò và chức năng khác nhau nhưng trong quá trình thực hiện chiến lược, cũng như trong xuyên suốt quá trình hoạt động kinh doanh của mình thì tất cả các bộ phận có mối quan hệ chặc chẽ với nhau, khác chức năng, khác nhiệm vụ nhưng tất cả mọi bộ phận đều hoạt động và vận hành để cùng nhắm đến cùng một mục tiêu chung của doanh nghiệp. Chi phí và nguồn vốn thực hiện Nguồn vốn thực hiện dự án này của Tổng công ty được vay từ ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Hà Nội (SHB). Dựa vào đặc điểm của từng đối tượng tính chi phí và dựa vào số liệu của những kỳ trước, phòng kế hoạch kinh doanh đưa ra bảng dự toán chi phí như sau: (Do đặc điểm sản phẩm gồm nhiều chủng loại nên chúng tôi đưa ra mức chi phí tính chung cho một lần xuất). - Chi phí nguyên liệu chính được xác định căn cứ trên giá mua và định mức tiêu hao khi sản xuất ra 1 đơn vị thành phẩm. Định mức tiêu hao dựa trên định mức tiêu hao trung bình theo tài liệu thống kê của kỳ trước. - Vật liệu phụ, nhiên liệu, năng lượng, nước căn cứ vào định mức tiêu hao tính cho từng loại sản phẩm. - Phụ tùng thay thế + công cụ dụng cụ: được xác đinh định mức chi phí dự toán cho cả năm (dựa vào năm trước và dự kiến sự biến động tăng hay giảm chi phí của năm kế hoạch) rồi sau đó tiến hành phân bổ cho 1 đơn vị sản phẩm theo sản lượng dự kiến sản xuất sản phẩm của năm kế hoạch. Lương và BHXH: căn cứ vào đơn giá lương kế hoạch do bộ phận tổ chức xây dựng trước kỳ kế hoạch. Khấu hao TSCĐ: xác định mức khấu hao dự kiến theo chế độ quy định rồi sau đó tiến hành phân bổ cho đơn vị sản phẩm theo sản lượng dự kiến của năm kế hoạch. Chi phí QLDN và chi phí quản lý phân xưởng: được xác định định mức chi phí dự toán cho cả năm sau đó tiến hành phân bổ cho 1 đơn vị sản phẩm. - Bao gói vận chuyển: dựa trên định mức sử dụng. - Lãi vay: dựa vào năm trước và dự kiến biến động tăng, giảm của năm kế hoạch rồi sau đó tiến hành phân bổ cho 1 đơn vị sản phẩm theo sản lượng dự kiến. Bảng tổng hợp chi phí tính trên 1 tháng ĐVT: 1.000đ STT Diễn giải Số tiền I 1 2 II 1 2 3 4 5 6 7 8 9 III 1 2 3 4 IV 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Lương, BHXH,BHYT,KPCĐ Lương BHXH,BHYT,KPCĐ Chi phí sản xuất chung Nguyên vật liệu (chính và phụ) Khấu hao cơ bản Điện Nước Sửa chữa bảo dưỡng Công cụ dụng cụ Thuê ngoài gia công Ca 3 + độc hại Chi phí khác Chi phí tiêu thụ Vận chuyển, bốc vác Bao bì Phí kiểm hoá Chi phí khác Chi phí quản lý Quản lý vật liệu Điện thoại, fax, internet Dự phòng Phí tiếp tân, khánh tiết... Công tác phí Đồ dùng văn phòng Lãi vay ngân hàng Phí chuyển tiền Chi phí khác Tổng chi phí (I+II+III+IV) 517037,15 434485 82552,15 750632,82 115670 299450 161924,48 48210,32 3118,8 37685,5 8530,37 37685,5 38357,85 47775,67 23168,39 15569,54 3209,2 5828,54 240833,13 3549,8 13430,05 15600 24558,44 5889,56 7082 82119 4435,25 81169,03 1.556.278,77 Dựa theo kết quả sản xuất kỳ trước và tình hình biến động về nhu cầu tiêu dùng để dự báo số lượng tiêu thụ như sau: Chủng loại Số lượng (SP) Đơn giá (1000đ) Doanh thu (1000đ) Áo sơmi Sơmi nam Sơmi nữ 2.500 3.000 160 259 400.000 777.000 Quần âu Quần nam Quần nữ 3.000 5.000 249 230 747.000 1.150.000 Áo Jacket 1.000 1.000 1.000.000 Tổng 4.074.000 Doanh thu dự tính tính chung cho 1 tháng được tính cụ thể như sau: KQ = DT - CF = 4.074.000 – 1.556.278,77 = 2.517.721,23 (1000đ) = 2.517.721.230 (VNĐ) DT: Doanh thu ước tính theo giá bán (FOB) CF: Tổng chi phí Phần III. KẾT LUẬN Xuất khẩu là một nội dung rất cơ bản của hoạt động kinh tế đối ngoại, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Việc đẩy mạnh xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập khẩu, phát triển cơ sở hạ tầng, cải thiện đời sống dân sinh. Đó cũng là mục tiêu mang tính chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. Với ý nghĩa đó Đảng và Nhà nước đó và đang thực hiện nhiều biện pháp thúc đẩy các ngành kinh tế hướng mạnh vào xuất khẩu, ngành dệt may cũng chính là ngành hàng xuất khẩu chế biến quan trọng của Việt Nam hiện nay. Tổng công ty may 10 chuyên sản xuất hàng may mặc, kể từ khi thành lập đến nay, Tổng Công Ty đã thâm nhập và đứng vững ở các thị trường lớn, trong đó thị trường Nhật Bản là thị trường lớn của Tổng Công Ty với kim nghạch xuất khẩu hàng may mặc hàng năm rất lớn và tốc độ tăng trưởng cao. Tuy vậy, hàng may mặc của Tổng Công Ty vào thị trường này còn có những vướng mắc đặc biệt chịu ảnh hưởng không nhỏ từ thảm họa kép ở Nhật hồi tháng 3 vừa qua. Với mong muốn giữ vững thị trường cho Tổng công ty, phòng kinh doanh chúng tôi đề xuất kế hoạch kinh doanh vào thị trường Nhật Bản trong thời điểm khó khăn này. Với sự nỗ lực cố gắng hết mình của toàn thể cán bộ công nhân viên cũng như với những điểm mạnh và cơ hội đang có,Tổng Công ty Cổ phần May 10 sẽ duy trì và phát triển được thị trường tiềm năng này để tạo ra bước tiến vững chắc cho hoạt động xuất khẩu của công ty nói chung và hoạt động xuất khẩu trưc tiếp vào thị trường Nhật Bản nói riêng. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.Nguyễn Thị Hường (chủ biên) (2001), Giáo trình Kinh doanh quốc tế tập 1, Nhà xuất bản Thống kê, Hà nội. 2.Nguyễn Thị Hường (chủ biên) (2003), Giáo trình Kinh doanh quốc tế tập 2, Nhà xuất bản Lao động xã hội, Hà nội. 3. Tổng công ty Cổ phần May 10, Báo cáo tình hình hoạt động xuất nhập khẩu năm 2008, 2009, 2010. 4. Tổng công ty Cổ phần May 10, Báo cáo xuất nhập khẩu trực tiếp năm 2008, 2009, 2010. 5. Tổng công ty Cổ phần May 10, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2008, 2009, 2010. 6. Công ty Cổ phần May 10, Báo cáo tình hình nhân sự năm 2010. 7. Công ty Cổ phần May 10, Báo cáo hoạt động Marketting năm 2010 8. Công ty Cổ phần May 10, Báo cáo nghiên cứu sản phẩm năm 2010 9. Từ Nguyên, Bí quyết “giữ người” của May 10 10.Website Công ty cổ phần May 10. 11.Website Viện dệt may Việt Nam. 12.Website Tập đoàn dệt may Việt Nam.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxuat_khau_hang_det_may_sang_thi_truong_nhat_ban_cua_tong_cong_ty_may__.doc
Luận văn liên quan