Xuất khẩu sản phẩm rau quả ở Việt Nam

Xuất Khẩu Sản Phẩm rau quả ở VN MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 2CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU RAU QUẢ CỦA VIỆT NAM . 4 1.1.Xuất khẩu rau quả và vai trò của xuất khẩu rau quả đối với Việt Nam 4 1.1.1.Đôi nét về xuất khẩu hàng rau quả. 4 1.1.2.Các loại hình xuất khẩu hàng rau quả. 6 1.1.3.Vai trò của xuất khẩu rau quả đối với Việt Nam 10 1.2.Nội dung hoạt động xuất khẩu hàng rau quả ở Việt Nam 12 1.2.1.Nghiên cứu, tiếp cận thị trường. 13 1.2.2.Chọn đối tác kinh doanh. 13 1.2.3.Lập phương án kinh doanh xuất khẩu. 14 1.2.4.Giao dịch, đàm phán và ký hợp đồng. 14 1.2.5.Tổ chức thu mua, tạo nguồn cho xuất khẩu. 14 1.2.6.Thực hiện hợp đồng xuất khẩu. 15 1.2.7.Đánh giá kết quả kinh doanh xuất khẩu và tiếp tục quá trình kinh doanh 15 1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam 15 1.3.1.Nhu cầu về sản phẩm rau quả. 15 1.3.2.Tập quán tiêu dùng và xu hướng nhập khẩu rau quả. 16 1.3.3.Các rào cản đối với sản phẩm rau quả xuất khẩu. 17 1.3.4.Tiềm lực sản xuất và xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam 19 1.3.5.Tình hình chung về kinh tế, chính trị, luật pháp thế giới và Việt Nam 20 1.3.6.Quan hệ kinh tế- thương mại của Việt Nam với các nước trên thế giới 21 1.3.7.Tình hình xuất khẩu hàng rau quả của các nước trên thế giới 22 CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU RAU QUẢ CỦA TỔNG CÔNG TY RAU QUẢ NÔNG SẢN VIỆT NAM . 24 2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của tổng công ty rau quả nông sản Việt Nam 24 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Tổng công ty rau quả nông sản Việt Nam 24 2.1.2. Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản trị của Tổng công ty rau quả nông sản Việt Nam 26 2.2. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và ảnh hưởng của nó tới hoạt động xuất khẩu rau quả của Tổng công ty rau quả, nông sản Việt Nam 30 2.2.1. Mặt hàng kinh doanh. 30 2.2.2. Đặc điểm thị trường. 30 2.2.3. Đặc điểm đối thủ cạnh tranh. 31 2.2.4. Đặc điểm về vốn kinh doanh. 32 2.2.5. Đặc điểm về nguồn nhân lực. 33 2.2.6. Đặc điểm về nguyên liệu. 35 2.2.7. Đặc điểm về hệ thống quản lý chất lượng. 35 2.3. Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu rau quả của TCT rau quả, nông sản Việt Nam 37 2.3.1. Nội dung hoạt động xuất khẩu sản phẩm rau quả. 37 2.3.2. Kết quả hoạt động xuất khẩu rau quả. 38 2.3.3. Thực trạng hoạt động xuất khẩu rau quả. 45 2.4.Đánh giá tình hình hoạt động xuất khẩu rau quả của TCT rau quả nông sản Việt Nam 51 2.4.1. Những thành tựu đã đạt được. 51 2.4.2. Những tồn tại cần khắc phục. 52 2.4.3. Nguyên nhân của những tồn tại 53 CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM RAU QUẢ CỦA TỔNG CÔNG TY RAU QUẢ NÔNG SẢN VIỆT NAM 54 3.1. Chiến lược phát triển ngành hàng rau quả của Việt Nam đến 2010. 54 3.2. Định hướng phát triển xuất khẩu sản phẩm rau quả của Tổng công ty rau quả nông sản Việt Nam 55 3.2.1. Định hướng về thị trường. 55 3.2.2. Định hướng về mặt hàng. 57 3.3.Một số giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu rau quả của Tổng công ty rau quả nông sản Việt Nam 59 3.3.1. Một số giải pháp. 59 3.3.2. Một số kiến nghị 69 LỜI KẾT 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ Bảng 2.1. Tình hình tài sản và nguồn vốn của Tổng công ty 31 Bảng 2.2. Tình hình lao động của Tổng công ty 33 Sơ đồ 2.3. Phạm vi điều chỉnh của tiêu chuẩn ISO 9001:2000 35 Bảng 2.4.a. Tình hình kim ngạch xuất khẩu của Tổng công ty . 37 Biểu đồ 2.4.b. Tình hình xuất khẩu theo giá trị của Tổng công ty 37 Bảng 2.5.a. Cơ cấu nhóm hàng rau quả của Tổng công ty 38 Biểu đồ 2.5.b. Tỷ trọng xuất khẩu theo nhóm hàng năm 2006 . 39 Biểu đồ 2.5.c. Tỷ trọng xuất khẩu theo nhóm hàng năm 2007 . 39 Bảng 2.6.a. Xuất khẩu rau quả theo thị trường của Tổng công ty . 41 Biều đổ 2.6.b. Xuất khẩu theo thị trường của Tổng công ty 2005-2007 . 42 Bảng 2.7. a. Kết quả xuất khẩu theo hình thức xuất khẩu của Tổng công ty giai đoạn 2005- 2007 43 Biểu đồ 2.7.b. Xuất khẩu theo hình thức xuất khẩu của Tổng công ty 2005-2007 . 43 Bảng 2.8.a. Diện tích trồng rau quả của Tổng công ty 2005-2007 48 Bảng 2.8.b. Sản lượng một số loại rau quả chủ yếu 2005-2007 49 LỜI MỞ ĐẦU Tháng 1/2007, Việt Nam chính thức trở thành viên của WTO, một sân chơi kinh tế- thương mại lớn nhất hành tinh. Việc gia nhập tổ chức Thương mại thế giới đã đánh dấu thành công của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế. WTO tạo ra cho các doanh nghiệp Việt Nam những cơ hội to lớn, nhưng bên cạnh đó là những thách thức không dễ gì vượt qua. Ngành nông nghiệp Việt Nam là một lĩnh vực được đánh giá là sẽ chịu nhiều tác động của sự kiện này. Tổng công ty rau quả, nông sản Việt Nam là một doanh nghiệp nhà nước chuyên về sản xuất, chế biến và kinh doanh xuất nhập khẩu rau quả, nông sản với kim ngạch xuất khẩu hàng năm chiếm tới 30% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Cũng như các doanh nghiệp khác, việc Việt Nam gia nhập WTO cũng tác động không nhỏ tới hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty nói chung và hoạt động xuất khẩu rau quả nói riêng. Tổng công ty có nhiều cơ hội để đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu do thị trường được mở rộng, hàng rào thuế quan được cắt giảm, nhu cầu rau quả của thị trường thế giới tiếp tục tăng. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng phải đối mặt với những thách thức lớn khi hội nhập đó là những biến động và cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường, đồng thời phải chấp nhận những quy định quốc tế khắt khe, những rào cản kỹ thuật, phải mở cửa thị trường, và những khó khăn về nguyên liệu, thời tiết khí hậu, giá vật tư, lao động. Sau một thời gian thực tập tại Tổng công ty rau quả nông sản Việt Nam, tôi đã có cơ hội tìm hiểu về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp này. Với mong muốn có sự hiểu biết sâu sắc hơn về lĩnh vực kinh doanh xuất khẩu rau quả của Tổng công ty, cũng như mong muốn góp phần vào việc tìm ra giải pháp để đẩy mạnh hoạt động này trong thời gian tới, tôi chọn đề tài “Xuất khẩu rau quả của Tổng công ty rau quả, nông sản Việt Nam: Thực trạng và giải pháp”. Bài nghiên cứu được chia làm 3 phần: Chương 1. Những vấn đề cơ bản về hoạt động xuất khẩu hàng rau quả của Việt Nam Chương 2. Thực trạng hoạt động xuất khẩu rau quả của Tổng công ty rau quả nông sản Việt Nam Chương 3. Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sản phẩm rau quả của TCT rau quả nông sản Việt Nam Bản báo cáo của tôi được hoàn thành trong khoảng thời gian ngắn nên không tránh khỏi thiếu sót, hi vọng sẽ nhận được sự ủng hộ và góp ý chân thành từ phía thầy cô và các bạn!

doc76 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 30/01/2013 | Lượt xem: 5029 | Lượt tải: 26download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Xuất khẩu sản phẩm rau quả ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
bao gồm: Su hào, bắp cải, xúp lơ, cà rốt, hành tây, hành ta, hành củ, tỏi ta, khoai tây, dưa chuột, đậu đũa. Các loại quả xuất khẩu chính: quả bơ, quả có múi (cam, quýt, bưởi, chanh), chuối, dứa, vải, nhãn. Từ cơ cấu nhóm hàng rau quả ta thấy, Tổng công ty chủ yếu tập trung vào nhóm hàng rau quả hộp. Xuất khẩu rau quả hộp có tỷ trọng lớn nhất và khá ổn định, trung bình khoảng trên 56% tổng giá trị xuất khẩu rau quả. Tiếp đến là các sản phẩm rau quả đông lạnh, nhưng cũng chỉ chiếm có 20,5%. Còn các mặt hàng chiếm tỷ trọng nhỏ là rau quả tươi, trung bình12,4% và rau quả sấy muối, trung bình 11%. Rau quả đông lạnh là nhóm hàng có giá trị xuất khẩu khá ổn định trong thời gian qua. Tỷ trọng nhóm hàng này khoảng 19- 22% trong tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Tổng công ty. Năm 2007 là năm có giá trị xuất khẩu rau quả đông lạnh cao nhất, đạt 5.556.968 USD, chiếm 22% trong tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả. Rau quả tươi là mặt hàng có đòi hỏi cao trong công tác bảo quản khi xuất khẩu bởi đặc trưng của mặt hàng này là thời gian tồn tại ngắn, khó bao gói, khó vận chuyển… Đây cũng chính là những đặc điểm hạn chế khả năng xuất khẩu của mặt hàng này. Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này chiếm một tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu hàng rau quả xuất khẩu của Tổng công ty (trung bình 12,4%), và có xu hướng giảm dần. Điều này đặt ra cho Tổng công ty một thách thức lớn do hiện nay thị trường yêu cầu một loại rau trồng theo công nghệ sạch đảm bảo yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm. Tổng công ty cũng đã triển khai dự án rau sạch tuy nhiên, quy mô chưa lớn. Rau quả sấy muối là nhóm hàng chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong cơ cấu xuất khẩu rau quả của Tổng công ty trong giai đoạn 2005- 2007. Tuy nhiên, nó chiếm tỷ trọng ngày càng tăng, và đạt giá trị cao nhất vào năm 2007 với 3.637.288 USD, chiếm 14,4%, vượt lên trên cả mặt hàng rau quả tươi về kim ngạch xuất khẩu. 2.3.2.3. Thị trường xuất khẩu Bảng 2.6.a. Xuất khẩu rau quả theo thị trường của Tổng công ty Stt thị trường 2005 2006 2007 Giá trị (USD) tỷ trọng (%) Giá trị (USD) tỷ trọng (%) Giá trị (USD) tỷ trọng (%) tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả 21.894.669 100 24.572.158 100 25.258.946 100 I thị trường chính 13.990.693 63,9 16.930.217 68,9 18.464.290 73,1 1 Mỹ 1.861.047 8,5 516.015 2,1 1.793.385 7,1 2 EU 2.802.518 12,8 2.973.231 12,1 4.571.869 18,1 3 Nga 1.510.732 6,9 2.653.793 10,8 3.99.0913 15,8 4 Trung Quốc 919.576 4,2 2.629.221 10,7 783.027 3,1 5 Nhật Bản 1.029.049 4,7 1.326.897 5,4 2.045.975 8,1 6 Singapore 2.846.307 13,0 3.464.674 14,1 2.424.859 9,6 7 Hàn Quốc 1.970.520 9,0 2.358.927 9,6 1.717.608 6,8 8 Đài Loan 1.050.944 4,8 1.032.031 4,2 1.136.653 4,5 II thị trường khác 7.903.976 36,1 7.641.941 31,1 6.794.656 26,9 (Nguồn: Phòng quản lý sản xuất kinh doanh) Biều đổ 2.6.b. Xuất khẩu theo thị trường của Tổng công ty 2005-2007 Tính đến nay, Tổng công ty đã xuất khẩu sản phẩm rau quả vào hơn 40 thị trường trên thế giới. Trong đó, các thị trường xuất khẩu chính của Tổng công ty là Mỹ, EU, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan. Bảng trên cho thấy, tổng kim ngạch xuất khẩu vào 8 thị trường chủ yếu của Tổng công ty luôn gấp hơn hai lần tổng giá trị xuất khẩu vào các thị trường còn lại, và con số này có xu hướng tăng lên. Cụ thể, năm 2005, xuất khẩu vào các thị trường chính chiếm 63,9% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Tổng công ty; tới năm 2006 con số này là 68,9% và năm 2007 là 73,1%. Điều này chứng tỏ, Tổng công ty đã có hướng tập trung vào những thị trường tiêu thụ lớn và có tiềm năng. Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu vào các thị trường chính đạt 16.930.217 USD, tăng 21% so với năm 2005; và năm 2007, mức tăng trưởng không cao như năm trước(9,1%) nhưng đạt mức kim ngạch cao nhất trong 3 năm trở lại đây (18.464.290 USD). 2.3.2.4. Phương thức xuất khẩu Tổng công ty xuất khẩu hàng rau quả theo hai hình thức chính là xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu theo hợp đồng uỷ thác. Trong đó, hình thức xuất khẩu trực tiếp là chủ yếu Bảng 2.7. a. Kết quả xuất khẩu theo hình thức xuất khẩu của Tổng công ty giai đoạn 2005- 2007 Năm 2005 2006 2007 Giá trị (USD) Tỷ lệ (%) Giá trị (USD) Tỷ lệ (%) Giá trị (USD) Tỷ lệ (%) å DT XK rau quả 21.894.669 100 24.572.158 100 25.258.946 100 DT XK trực tiếp 20.953.198 95,7 23.294.406 94,8 23.263.489 92,1 DT XK uỷ thác 941.471 4,3 1.277.752 5,2 1.995.457 7,9 (Nguồn: Phòng quản lý sản xuất kinh doanh) Biểu đồ 2.7.b. Xuất khẩu theo hình thức xuất khẩu của Tổng công ty 2005-2007 Biểu đồ trên cho thấy, doanh thu từ xuất khẩu trực tiếp dao động ở mức ổn định, đạt 20.953.198 USD vào năm 2005, con số này năm 2006, 2007 lần lượt là 23.294.406 USD và 23.263.489 USD. Còn doanh thu từ hoạt động xuất khẩu uỷ thác liên tục tăng qua các năm, điều này một phần là do tổng kim ngạch xuất khẩu luôn tăng trong giai đoạn 2005- 2007, năm 2005 là 941.471 USD, 1.277.752USD vào năm 2006, và tăng vọt vào năm 2007 đạt 1.995.457 USD. Doanh thu xuất khẩu trực tiếp luôn chiếm tỷ trọng lớn (trên 90%), tuy nhiên, tỷ trọng của doanh thu xuất khẩu uỷ thác tăng dần qua từng năm. Năm 2005, tỷ trọng này là 4,3%, đến năm 2006 là 5,2%, và con số này là 7,9% vào năm 2007. Đây là chủ trương thực hiện đa dạng hoá công tác xuất khẩu và tận dụng mọi nguồn lực trong công tác xuất khẩu của Tổng công ty. 2.3.3. Thực trạng hoạt động xuất khẩu rau quả 2.3.3.1. Thực trạng hoạt động nghiên cứu, tiếp cận thị trường hàng rau quả và xác định mặt hàng kinh doanh Nghiên cứu thị trường là một khâu trong hoạt động xuất khẩu và cũng là một trong những hoạt động marketing của doanh nghiệp. Tổng công ty thu thập thông tin về thị trường rau quả, xu hướng và nhu cầu tiêu dùng của khách hàng qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo, tạp chí, đặc biệt là qua Internet, hay qua Hiệp hội trái cây Việt Nam, qua các hội chợ nông nghiệp, và có thể trực tiếp thu thập thông tin phản hồi từ khách hàng. Sau khi thu thập rồi xử lý thông tin, Tổng công ty xác định mặt hàng kinh doanh phù hợp và thiết lập kế hoạch marketing phù hợp. Để thông tin thu thập được có tính hệ thống và chính xác cao, đặc biệt thông tin về xu hướng tiêu dùng của khách hàng thì không chỉ phụ thuộc vào năng lực của cán bộ công nhân viên mà còn đòi hỏi một nguồn kinh phí hợp lý cho công tác này, từ đó Tổng công ty mới có thể xây dựng được một chiến lược marketing và chiến lược xây dựng thương hiệu cụ thể. Trong những năm gần đây, Tổng công ty đã chú ý đến công tác nghiên cứu thị trường và xây dựng chiến lược marketing, do đó, mặt hàng kinh doanh đã được xác định phù hợp hơn với nhu cầu thị trường. Trong thời gian tới, Tổng công ty tiếp tục đẩy mạnh công tác thị trường và xúc tiến thương mại, xác định các mặt hàng chính, thị trường chính cùng các giải pháp thực hiện. Đẩy mạnh xuất khẩu, giữ vững thị trường xuất khẩu hiện có, tìm các thị trường mới. Tổng công ty sẽ có sự gắn kết chặt chẽ với khách hàng nước ngoài, các nhà máy chế biến và các khách hàng cung cấp hàng hoá. Đồng thời, đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh, từng bước nâng cao uy tín thương hiệu Tổng công ty. 2.3.3.2. Lập kế hoạch xuất khẩu rau quả Từ các mục tiêu cụ thể của việc xuất khẩu hàng rau quả, Tổng công ty lập kế hoạch cụ thể cho từng bước để đạt được mục tiêu đó. Đồng thời, kế hoạch của các công tác khác như công tác tạo nguồn hàng cho xuất khẩu, sản xuất và tiêu dùng nguyên liệu… đều phải hướng tới mục tiêu xuất khẩu. So với trước kia, công tác này có nhiều tiến bộ, như đã xác định được các mục tiêu xuất khẩu đúng đắn và phù hợp hơn với tiềm lực công ty và tình hình thị trường: tăng xuất khẩu trực tiếp theo gía FOB, mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng dần xuất khẩu các sản phẩm có thế mạnh. Tuy nhiên, công tác tính toán các chỉ tiêu đánh giá hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty còn chưa hoàn thiện. Các chỉ tiêu đánh giá được tính toán nhưng độ chính xác chưa cao vì không thể rạch ròi giữa chi phí cho xuất khẩu và chi phí cho các hoạt động hỗ trợ khác. 2.3.3.3. Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch xuất khẩu rau quả 2.3.3.3.1. Giao dịch đàm phán xuất khẩu hàng rau quả Hình thức xuất khẩu chủ yếu của Tổng công ty là xuất khẩu trực tiếp nên các bước giao dịch và đàm phán cũng phù hợp với hình thức đó. Đối với bạn hàng truyền thống, Tổng công ty thường giao dịch qua thư điện tử, qua thư hay qua điện thoại. Còn những đối tác mới thì Tổng công ty thường giao dịch bằng cách gặp mặt trực tiếp. 2.3.3.3.2. Thực trạng ký kết hợp đồng xuất khẩu hàng rau quả Sau khi giao dịch đàm phán với đối tác, các bên tiến hành ký kết hợp đồng xuất khẩu. Hình thức ký kết hợp đồng chủ yếu là bằng văn bản trực tiếp trên giấy tờ, hay cũng có thể ký trên thư điện tử. Tổng công ty có các hình thức xuất khẩu khác nhau (xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu uỷ thác) nên cũng có các loại hợp đồng mua bán khác nhau Đối với hình thức xuất khẩu trực tiếp: Sau quá trình giao dịch, thương lượng với nhau về các điều kiện giao dịch, Tổng công ty sẽ ký hợp đồng xuất khẩu với đối tác. Hợp đồng uỷ thác: Tổng công ty ký hợp đồng này với các đại lý của Tổng công ty. Các đại lý này hoạt động trên danh nghĩa và chi phí của Tổng công ty, Tổng công ty quy định giá bán và trả thù lao cho các đại lý theo doanh số bán Ngoài ra, Tổng công ty còn có các hợp đồng liên doanh, liên kết xuất khẩu: Tổng công ty ký hợp đồng liên doanh với các doanh nghiệp kinh doanh rau quả khác ở trong nước, thường là đối với một mặt hàng, và là liên kết nhất thời, tức là trong một giao dịch xuất khẩu cụ thể. 2.3.3.3.3. Thực trạng hoạt động tạo nguồn hàng cho xuất khẩu hàng rau quả Công tác tạo nguồn sẽ quyết định đến cơ cấu, số lượng, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp, đồng thời, ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Tổng công ty. Để thực hiện tốt công tác tạo nguồn, Tổng công ty đã không ngừng tăng cường công tác nghiên cứu, sản xuất, đầu tư máy móc, liên doanh liên kết để tạo ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường. Nguồn nguyên liệu đưa vào nhà máy chế biến và các sản phẩm rau quả tươi đem tiêu thụ trong và ngoài nước là do Tổng công ty tự sản xuất và thu mua của các hộ nông dân ở vùng nguyên liệu. Quá trình thu mua do các đơn vị trực thuộc Tổng công ty đảm nhiệm. 2.3.3.3.3.1. Tình hình sản xuất rau quả của Tổng công ty Do nhu cầu về nguyên liệu ngày càng tăng, Tổng công ty đã đầu tư, mở rộng diện tích sản xuất rau quả. Trong giai đoạn 2005-2007, diện tích trồng rau quả tăng lên và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng diện tích gieo trồng của Tổng công ty. Bảng 2.8.a. Diện tích trồng rau quả của Tổng công ty 2005-2007 Diễn giải Diện tích (ha) So sánh (%) 2005 2006 2007 06/05 07/06 Trung bình I. Cây ăn quả 4.281 5.427 5.728 126,8 105,5 116,2 - cây dứa 3.209 4.573 4.966 142,5 108,6 125,6 - cây vải, nhãn 612 559 591 91,3 105,7 98,5 - cây ăn quả khác 460 295 171 64,1 57,8 61,0 II. Rau đậu 3.294 2.721 3.687 82,6 135,5 109,1 III. Cây hàng năm khác 1.353 1.138 981 84,1 86,2 85,2 å 8.928 9.286 10.396 140,0 111,9 126,0 (Nguồn: Phòng kế hoạch tổng hợp) Bảng trên cho thấy, trong giai đoạn 2005-2007, diện tích trồng cây ăn quả và rau đậu tăng lên. Còn diện tích trồng cây hàng năm khác giảm. Diện tích trồng cây ăn quả tăng lên nhưng tốc độ tăng còn thấp. Năm 2006 tăng 26,8% so với năm 2005, năm 2007 tăng 5,5% so với 2006. Trong đó, diện tích trồng cây dứa có xu hướng tăng lên, do chủ trương của Tổng công ty là chuyển sang trồng loại cây có giá trị kinh tế cao, mà chủ yếu là cây dứa; còn các loại cây khác lại có xu hướng giảm dần. Điều này cho thấy, Tổng công ty đã thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Tổng diện tích trồng rau quả tăng đã góp phần tăng dần nguồn nguyên liệu tự sản xuất đưa ra thị trường tiêu thụ và đưa vào nhà máy chế biến. Cùng với sự tăng lên về diện tích thì năng suất của các loại cây trồng cũng không ngừng tăng lên do Tổng công ty đã áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ, giống cây trồng có năng suất cao vào sản xuất nông nghiệp. Bảng 2.8.b. Sản lượng một số loại rau quả chủ yếu 2005-2007 sản phẩm Sản lượng (tấn) So sánh (%) 2005 2006 2007 06/05 07/06 TB Dứa quả 24.972 35.610 40.097 142,6 112,6 127,6 Cam, quýt 24 18 15 75,0 83,3 79,2 Vải, nhãn 1.295 1.658 2.017 128,0 121,7 124,9 Rau các loại 581 626 653 107,7 104,3 106,0 Đậu đỗ 1.284 1.354 1.392 105,5 102,8 104,2 (Nguồn: Phòng kế hoạch tổng hợp) Bảng trên cho thấy, sản lượng các loại rau quả tăng, trừ cam quýt giảm. Sản lượng dứa chiếm tỷ trọng lớn do là loại trái cây chế biến xuất khẩu truyền thống và chủ lực của Tổng công ty, và trung bình hàng năm tăng 27,6%. Sản lượng vải, nhãn trong 3 năm qua cũng tăng khá cao, trung bình tăng 24,9%. Đậu đỗ và rau các loại có mức tăng không đáng kể, con số tăng bình quân trong 3 năm lần lượt là 6% và 4,2%. Như vậy, công tác tạo nguồn của Tổng công ty đã đạt được kết quả tốt, tuy nhiên, đối với một số loại cây còn chưa đạt hiệu quả như đậu đỗ, diện tích trồng năm 2007 tăng 966 ha với với năm 2006 nhưng sản lượng tăng lên không đáng kể (2,8%). Đây là khó khăn rất lớn do ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu, thị trường tiêu thụ, giá cả không ổn định đã tác xấu đến sản xuất rau quả của Tổng công ty. 2.3.3.3.3.2. Tình hình thu mua nguyên liệu của Tổng công ty Nhu cầu nguyên liệu cho quá trình sản xuất lớn mà sản xuất nông nghiệp của Tổng công ty còn hạn chế, dẫn đến, nguyên liệu để bán dưới dạng rau quả tươi, hay đặc biệt cho các nhà máy chế biến không đủ, do vậy, khối lượng thu mua chiếm tỷ trọng cao. Các đơn vị trực thuộc Tổng công ty thường mua của các hộ nông dân vùng gần nhà máy chế biến. Tổ chức thu mua dưới các hình thức khác nhau, thường là mua của các hộ nông dân sản xuất tự do, hợp đồng với hợp tác xã. Đặc biệt, Tổng công ty thực hiện theo quyết định số 80/QĐ-TTg từ năm 2000 về hợp đồng tiêu thụ nông sản với các địa phương. Tổng công ty có thế mạnh về sản xuất dứa, tuy nhiên, sản lượng dứa mới đáp ứng được gần 60% nhu cầu về nguyên liệu cho các nhà máy chế biến, còn lại phải thu mua của các địa phương. Các loại rau quả khác mới sản xuất được với khối lượng nhỏ nên nguyên liệu đưa vào nhà máy và sản phẩm xuất tươi chủ yếu là thu mua. Trong quá trình thu mua, Tổng công ty gặp phải khó khăn lớn là tình trạng ép giá giữa các nhà máy của các đơn vị khác, nên Tổng công ty phải thu mua với giá cao, ảnh hưởng đến giá bán, khả năng cạnh tranh của sản phẩm và lợi nhuận của Tổng công ty. Bên cạnh đó, việc thu mua cũng có những thuận lợi, như các nhà máy chế biến được xây dựng gần vùng nguyên liệu, nên giảm được chi phí vận chuyển, thu mua theo mùa vụ. 2.4. Đánh giá tình hình hoạt động xuất khẩu rau quả của TCT rau quả nông sản Việt Nam 2.4.1. Những thành tựu đã đạt được Là một tổng công ty với quy mô lớn, phạm vi hoạt động bao trùm cả ngành chủ chốt, Tổng công ty rau quả nông sản Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung và phát triển nông nghiệp nông thôn nói riêng. Trong lĩnh vực xuất khẩu rau quả, vai trò đầu tàu của Tổng công ty được thể hiện qua những thành tựu sau: Thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng. Tổng công ty đã có những mối quan hệ buôn bán với thị trường trong khu vực, đặc biệt Trung Quốc, đã thiết lập quan hệ với các nước EU, khôi phục thị trường Nga, mở rộng thị trường Hoa Kỳ và giữ vững những thị trường khác Đã tạo được uy tín cao trong các mối quan hệ kinh doanh Có sự chủ động hơn trong công tác tìm kiếm bạn hàng, giữ vững khách hàng truyền thống, mở rộng thị trường xuất khẩu Các ngành hàng truyền thống như rau quả đóng hộp, nông sản thực phẩm chế biến đã được duy trì và phát triển mạnh, đồng thời, phát triển thêm các mặt hàng như hàng đông lạnh 2.4.2. Những tồn tại cần khắc phục Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hoạt động xuất khẩu rau quả của Tổng công ty còn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng, bởi vậy, trong thời gian tới, Tổng công ty cần khắc phục những tồn tại sau đây: Tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả có tăng (2,8%) tuy nhiên tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu vẫn thấp hơn so với kim ngạch nhập khẩu. Hơn nữa, Tổng công ty chưa có mặt hàng chủ lực với khối lượng lớn để cạnh tranh với các nước trong khu vực. Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Tổng công ty là lớn 25 triệu USD, nhưng cũng mới chiếm khoảng 8.3 % kim ngạch xuất khẩu rau quả của cả nước (300 triệu USD) Chưa kịp thời nắm bắt thông tin trong công tác xuất khẩu, cộng với việc truy cập các thông tin trên thị trường thế giới chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh, do đó, chưa khai thác được hết các thị trường chủ lực. Ngoài ra, hoạt động tiếp thị quảng cáo sản phẩm còn kém hiệu quả, nên chưa thúc đẩy mạnh mẽ cho việc tiêu thụ sản phẩm Các phòng ban trong văn phòng Tổng công ty đã bước đầu có ý thức trong việc gắn kết với các thành viên trong việc xuất khẩu hàng hoá, song chưa thực sự lăn lộn, cùng tháo gỡ những khó khăn về thị trường, về kiểu dáng nhãn mác hàng hoá hay trong việc phân tích nắm vững nhu cầu khách hàng, dự báo nhu cầu thị trường với các đơn vị thành viên 2.4.3. Nguyên nhân của những tồn tại 2.4.3.1. Nguyên nhân khách quan Thị trường rau quả thế giới cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhiều sản phẩm rau quả của Thái Lan, Singapore, Trung Quốc… chào bán với giá thấp hơn nhiều so với các mặt hàng của Tổng công ty, do giá thành sản xuất của Tổng công ty còn cao hơn các sản phẩm cùng loại của các nước nói trên Chính sách về vệ sinh an toàn thực phẩm ở các thị trường nhập khẩu chính ngày càng khắt khe, khiến cho công tác xuất khẩu gặp nhiều khó khăn Sự xuất hiện ngày càng nhiều các đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực xuất khẩu rau quả ở trong nước làm gia tăng áp lực cạnh tranh đối với Tổng công ty. 2.4.3.2. Nguyên nhân chủ quan Đội ngũ nhân viên trong bộ phận marketing còn thiếu, và chưa có những chuyên gia giỏi trong lĩnh vực này, do vậy, công tác xúc tiến thương mại chưa thực sự đem lại hiệu quả Tổng công ty đã có thương hiệu từ lâu, tuy nhiên, chưa có một quy chế thống nhất thương hiệu chung trong toàn bộ Tổng công ty. Các đơn vị khi xuất khẩu không thống nhất cách ghi và trình bày thương hiệu, dẫn tới làm giảm sức cạnh tranh của thương hiệu Tổng công ty rau quả nông sản Việt Nam CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM RAU QUẢ CỦA TỔNG CÔNG TY RAU QUẢ NÔNG SẢN VIỆT NAM 3.1. Chiến lược phát triển ngành hàng rau quả của Việt Nam đến 2010 Bước vào thế kỷ 21, nước ta khẳng định con đường phát triển nông nghiệp là nông nghiệp sản xuất hàng hoá trên cơ sở công nghiệp hoá, hiện đại hoá với mức độ phù hợp yêu cầu của nông nghiệp bền vững. Theo đó, định hướng phát triển ngành hàng rau quả như sau: Ngoài các loại rau truyền thống, phát triển các loại rau cao cấp mới như các loại đậu rau, ngô rau, măng, nấm ăn, nấm dược liệu… là những loại rau có giá trị dinh dưỡng cao, có thị trường tiêu thụ, và tiếp tục phát triển các loại cây ăn quả có khả năng xuất khẩu như vải, nhãn, dứa, thanh long Theo định hướng trên, nền nông nghiệp nói chung hay ngành rau quả nói riêng của Việt Nam đảm bảo được an toàn lương thực quốc gia, đủ nguyên liệu cho công nghiệp, đồng thời nâng cao kim ngạch xuất khẩu. Bên cạnh đó, Chính phủ đã có những chủ trương, chính sách để tăng khả năng tiêu thụ. Cụ thể, nhanh chóng ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp. Khoa học công nghệ phải phục vụ mục tiêu phát triển nền nông nghiệp bền vững, nâng cao năng suất, chất lượng hàng hoá, hạ giá thành sản phẩm, tạo ra nhiều mặt hàng mới, quý hiếm, trái vụ để nâng cao sức cạnh tranh Trong thập kỷ tới, phải đưa trình độ khoa học công nghệ của ngành rau quả Việt Nam đuổi kịp các nước trong khu vực, nâng mức đóng góp của khoa học công nghệ vào giá trị gia tăng của nông nghiệp từ 30% hiện nay lên trên 50%. Về giống, đảm bảo trên 70% giống được dùng trong sản xuất là giống tiến bộ kỹ thuật, đẩy mạnh việc nghiên cứu và áp dụng công nghệ sinh học trong chăm sóc, bảo vệ cây trồng. Về tưới tiêu nước và cơ giới hoá, đẩy mạnh nghiên cứu và áp dụng rộng rãi tưới phun, tưới nhỏ giọt, tưới thâm… cơ giới hoá khâu làm đất trên 70% khâu gieo hạt cây ngắn ngày. Theo quyết định số 52/2007/QĐ-BNN về chương trình phát triển rau quả đến 2010 và tầm nhìn 2020, thì mục tiêu của chương trình đến 2010 là cây ăn quả đạt diện tích 1 triệu ha, sản lượng 10 triệu tấn; rau đạt diện tích 700 nghìn ha, sản lượng 14 triệu tấn Để đạt được mục tiêu quy hoạch, Cục Trồng trọt đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện với các nội dung trọng tâm sau: Kiện toàn ban chỉ đạo chương trình các cấp từ Trung ương đến địa phương, quy hoạch chi tiết các vùng sản xuất tập trung, lập các dự án đầu tư trọng điểm Nhiều lĩnh vực ưu tiên xây dựng các dự án đầu tư 3.2. Định hướng phát triển xuất khẩu sản phẩm rau quả của Tổng công ty rau quả nông sản Việt Nam 3.2.1. Định hướng về thị trường Trong thời gian tới, chiến lược của Tổng công ty là tập trung vào những thị trường có kim ngạch lớn và có triển vọng, đồng thời mở rộng và phát triển các thị trường tiềm năng. Theo định hướng này, các thị trường của Tổng công ty được chia làm 3 loại: Thứ nhất, bao gồm một số ít thị trường, chỉ khoảng 5-10% tổng số thị trường của Tổng công ty, nhưng chiếm tới 70-80% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đối với Tổng công ty thì các thị trường này là những thị trường có kim ngạch trên 1 triệu USD như Nga, Trung Quốc, Mỹ, EU, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore. Thứ hai, bao gồm khoảng 10-15% tổng số thị trường, có giá trị kim ngạch 15-20%, và có kim ngạch từ 500 nghìn USD đến 1 triệu USD. Thứ ba, là các thị trường chỉ chiếm 5% tổng kim ngạch xuất khẩu Tổng công ty cần có chiến lược cụ thể đối với từng nhóm thị trường: Thị trường cần giữ vững Đối với các thị trường ở nhóm thứ nhất, là những thị trường hoạt động có hiệu quả và đạt mức tăng trưởng ổn định. Tổng công ty cần có những biện pháp thích hợp để giữ được tốc độ tăng trưởng ổn định, và việc giữ vững được những thị trường này sẽ đảm bảo cho Tổng công ty thực hiện phần lớn kế hoạch xuất khẩu của mình. Ngoài ra, những thị trường thuộc nhóm thứ 3 cũng cần giữ vững, đây là những thị trường có sức tiêu thụ hiện tại yếu nhưng có tiềm năng trong tương lai, hay bước đầu gặp khó khăn do môi trường pháp lý chưa cho phép phát triển. Bởi vậy, Tổng công ty cần có những biện pháp hợp lý để giữ vững các thị trường này, tạo điều kiện cho việc mở rộng trong tương lai, tránh tình trạng để mất thị trường, vì khi muốn khôi phục sẽ mất một lượng kinh phí khá lớn. Thị trường cần mở rộng và phát triển Bên cạnh chiến lược giữ vững thị trường, Tổng công ty cần mở rộng và phát triển thị trường xuất khẩu của mình, vì nếu chỉ tập trung vào một số thị trường nhất định thì hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty sẽ gặp nhiều xáo trộn khi các thị trường này có những biến đổi về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội. Để làm được việc này, Tổng công ty cần xem xét sức tiêu thụ trên từng thị trường và khả năng tài chính của mình, từ đó, đưa ra danh mục những thị trường có thể mở rộng và phát triển trong tương lai và có kế hoạch cụ thể đối với những thị trường đó. Đối với các thị trường thuộc nhóm thứ nhất, có kim ngạch xuất khẩu lớn, cần phân loại những thị trường có sức tiêu thụ đã bão hoà và những thị trường có sức tiêu thụ lớn nhưng chưa được thoả mãn. Cụ thể, Mỹ là thị trường nhập khẩu lớn rau quả của Tổng công ty nhưng chủ yếu là các sản phẩm dứa đóng hộp. Tuy vậy, nhu cầu về mặt hàng này không ổn định: Năm 1999, Mỹ nhập khẩu của Tổng công ty một khối lượng rất lớn dứa đóng hộp, nhưng đến 2000 và 2001 thì kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này đột ngột giảm mạnh, tuy đến 2002, xuất khẩu dứa sang Mỹ có tăng nhưng vẫn không đạt mức như năm 1999. Bởi vậy, Tổng công ty cần có chiến lược về thị trường hợp lý, không thể tập trung quá nhiều nguồn lực vào thị trường Mỹ trong khi các thị trường khác như Nga, Trung Quốc, EU có sức tiêu thụ lớn với nhiều chủng loại mặt hàng hơn. Các thị trường thuộc nhóm 2, như Canada, Newzeland, Ấn Độ, các nước Đông Âu, là những thị trường có tiềm năng phát triển, do vậy, cần làm tốt công tác khai thác thị trường để khai thác những thị trường tiềm năng này. 3.2.2. Định hướng về mặt hàng Tổng công ty cần có kế hoạch xuất khẩu đối với từng mặt hàng để có thể đưa ra kế hoạch sản xuất chế biến phù hợp. Muốn vậy, công tác thu thập thông tin trên từng thị trường về số lượng, chất lượng, chủng loại, giá cả… của từng mặt hàng phải được đặt lên hàng đầu. Trong các nhóm sản phẩm rau quả của Tổng công ty thì rau quả đóng hộp là nhóm mặt hàng chủ lực, trung bình hàng năm chiếm tới 75 % tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả. Rau quả đóng hộp bao gồm nhiều loại mặt hàng như dứa đóng hộp, chôm chôm đóng hộp. Số liệu về tiêu thụ các năm gần đây cho thấy xu thế tiêu dùng các mặt hàng đóng hộp tăng khá nhanh, đặc biệt ở các nước phát triển như Nhật, Mỹ, EU. Các mặt hàng này có giá trị dinh dưỡng cao, lại bảo quản được lâu và khắc phục được tính trái vụ của các loại rau quả. Thêm vào đó, đây là các loại rau quả nhiệt đới mà các nước kể trên không có. Bởi vậy, Tổng công ty đã xác định, trong những năm tới mặt hàng rau quả đóng hộp vẫn là mặt hàng chủ lực và sẽ tiếp tục tăng kim ngạch xuất khẩu về mặt hàng này. Một số mặt hàng trong những năm qua còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong xuất khẩu rau quả như rau quả tươi, rau quả đông lạnh thì Tổng công ty đã có kế hoạch đầu tư thoả đáng do dự báo sức tiêu thụ những mặt hàng này là lớn. Như rau quả tươi xuất sang Trung Quốc, Nga, EU rất có triển vọng. Tổng công ty bước đầu đã có đầu tư hợp lý với mô hình rau sạch để tăng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng này. Định hướng xuất khẩu sản phẩm rau quả của Tổng công ty được tóm tắt dưới bảng sau: Sản phẩm Thị trường chính Rau quả tươi: Bắp cải, khoai tây, cà rốt, dưa hấu, hành tây, tỏi, gừng, nghệ, chuối tiêu, vải Nga, Nhật Bản, Đông Bắc Á, Trung Quốc, EU Đồ hộp, nước quả, đông lạnh: Dứa, dưa chuột, vải xoài, thanh long, mơ, đu đủ, chôm chôm Nước giải khát hoa quả tự nhiên Đông lạnh: dứa Cô đặc, puree: dứa, cà chua, xoài Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Úc, Đông Âu, Tây Âu, Mỹ, EU Rau quả sấy muối: Chuối, dưa chuột, nấm Nga, Mỹ, Nhật Bản 3.3. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu rau quả của Tổng công ty rau quả nông sản Việt Nam 3.3.1. Một số giải pháp Các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu các sản phẩm rau quả của Tổng công ty phải được xem xét toàn diện từ tất cả các khía cạnh có liên quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty. Nó bao gồm những yếu tố thuộc tầm kiểm soát của Tổng công ty như: về sản phẩm mà Tổng công ty sản xuất ra, về nhân lực, hoạt động xúc tiến, vốn đầu tư cho sản xuất; và cả những yếu tố thuộc về môi trường vĩ mô như chính sách tiền tệ, pháp luật trong kinh doanh, các quản lý về ngành hàng kinh doanh 3.3.1.1. Giải pháp liên quan đến mặt hàng 3.3.1.1.1. Nâng cao chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm là yếu tố mà Tổng công ty phải quan tâm hàng đầu khi muốn xuất khẩu ngày càng nhiều sản phẩm của mình ra thị trường nước ngoài, đặc biệt trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay. Trên thực tế thì vấn đề này đã luôn được Tổng công ty chú trọng, nhất là trong những năm gần đây, khi mà một loạt các dự án mới về sản xuất của Tổng công ty được trang bị cải tiến và triển khai xây mới. Do đó mà kim ngạch xuất khẩu của các nhóm mặt hàng liên tục tăng trong những năm qua, điều này một phần phản ánh rằng chất lượng các sản phẩm của Tổng công ty đã được khách hàng chấp nhận. Tuy nhiên, về lâu dài, Tổng công ty cũng phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm trong sản xuất, chế biến để tiếp tục đứng vững trên thị trường. Đây là yếu tố then chốt để quyết định tới khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Bởi vậy, trong thời gian tới, để nâng cao chất lượng sản phẩm hàng xuất khẩu, Tổng công ty cần chú trọng tới những khía cạnh sau: Thứ nhất, đầu tư về giống rau quả. Với vai trò là một doanh nghiệp dẫn đầu trong ngành rau quả của nước ta, Tổng công ty không chỉ phải hoàn thành kế hoạch kinh doanh của mình mà còn có nhiệm vụ đầu tư, nghiên cứu, bảo quản các giống cây trồng quý cho quốc gia. Về rau, cần chú trọng duy trì giống gốc. Từ những giống gốc này, Tổng công ty sẽ sản xuất các giống rau cấp I để cung cấp cho các vùng giống cấp II thực hiện sản xuất ra hạt giống thương phẩm, sau đó bán ra thị trường để người nông dân gieo trồng đại trà. Ngoài ra, Tổng công ty nên thường xuyên tổ chức chọn lọc, khảo nghiệm giống mới, lai tạo giống F1, và đầu tư xây dựng các cơ sở chọn lọc, đóng gói hạt giống, đồng thời chú trọng bảo quản các giống rau cần thiết đặc biệt là những giống rau quý thuộc nguồn dự trữ quốc gia. Về quả, cần nhân nhanh các giống đã qua tuyển chọn, khảo nghiệm, đã được Bộ cho phép đưa vào sản xuất. Tổng công ty cần cung cấp các giống cây trồng tốt, sạch bệnh, tuyển chọn những giống cây trồng cho năng suất cao, chất lượng tốt để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Để làm được những điều trên, Tổng công ty cần ưu tiên đầu tư các trang thiết bị hiện đại cho hoạt động nghiên cứu, bảo quản giống nhằm tạo ra những bước chuyển căn bản trong giống cây trồng. Ngoài việc nâng cấp các đơn vị hiện có, Tổng công ty cần xây dựng thêm các đơn vị mới tại các vùng có cơ sở giống rau quả. Thứ hai, tạo vùng nguyên liệu cho các nhà máy. Hiện tại, vùng nguyên liệu không đủ để cung cấp cho các nhà máy hoạt động hết công suất, hiện mới đáp ứng được 35-45% công suất thiết kế. Do đó, phải thu gom từ các hộ gia đình, điều này gây tốn kém thời gian và chi phí. Tổng công ty đang có kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu đảm bảo cung cấp 65-80% công suất thiết kế. Muốn vậy, Tổng công ty cần phối hợp chặt chẽ với các địa phương quy hoạch cụ thể vùng nguyên liệu, tổ chức tốt việc trồng các loại rau quả dùng làm nguyên liệu, nhất là tập trung xây dựng và phát triển các vùng nguyên liệu chính như dứa, dưa chuột, vải Thứ ba, đầu tư phát triển công nghệ chế biến và bảo quản. Trong cơ cấu xuất khẩu hàng hoá của Tổng công ty thì các sản phẩm chế biến luôn chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, hiện nay, các dây chuyền công nghệ tại các nhà máy chế biến hầu như đã cũ và lạc hậu, không thể đáp ứng yêu cầu sản xuất để xuất khẩu cả về số lượng và chất lượng. Và điều này đã ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu, tới khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường và làm giảm khả năng cạnh tranh của Tổng công ty trên thị trường quốc tế. Do đó, Tổng công ty cần tập trung vốn nâng cấp các nhà máy chế biến hiện có thông qua đổi mới trang thiết bị, công nghệ và mở rộng quy mô để đáp ứng được các yêu cầu của sản xuất, chế biến. Đồng thời, Tổng công ty cần mua mới hay nâng cấp thiết bị bảo quản rau quả sau thu hoạch cũng như sau chế biến. Cụ thể, Tổng công ty có thể bảo quản rau quả theo phương pháp gói khí điều biến, sử dụng công nghệ đông lạnh nhanh (IQF), sử dụng các chế phẩm sinh học như BT, Inturina. Còn đối với kế hoạch mở rộng các nhà máy chế biến, Tổng công ty cần thận trọng nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng vị trí đặt các nhà máy cũng như lựa chọn quy mô các nhà máy cho thích hợp. Các nhà máy chế biến có công suất lớn cần được đặt gần với vùng nguyên liệu dồi dào. Đối với những vùng nguyên liệu nhỏ, phân tán thì Tổng công ty nên đầu tư hệ thống chế biến quy mô nhỏ và vừa để tránh lãng phí. 3.3.1.1.2. Thực hiện chương trình HACCP Vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu của Tổng công ty có thể được thực hiện bằng nhiều cách. Một trong các giải pháp là đầu tư nguồn lực để thực hiện tốt chương trình HACCP. Việc tổ chức áp dụng HACCP đảm bảo cho thực phẩm được an toàn, đáp ứng được các yêu cầu của pháp luật, giảm thiểu được chi phí, tiết kiệm được nguồn lực, thời gian, thúc đẩy quy trình chế biến, đồng thời, nâng cao uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh nhờ nâng cao sự tin cậy của người tiêu dùng, tạo cơ hội hoà nhập quốc tế. Hệ thống phân tích, xác định và kiểm soát các mối nguy hại trọng yếu (HACCP) trong sản xuất, chuẩn bị và sử dụng thực phẩm là hệ thống quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm, tập trung vào các điểm đặc biệt trong dây chuyền sản xuất thực phẩm. Đã có rất nhiều nước trong đó có Mỹ và châu Âu coi đây như là một yêu cầu mà các nước muốn xuất khẩu vào thị trường đó phải đáp ứng được. Ngoài ra, Tổng công ty cũng cần quan tâm nghiên cứu về hệ thống quản lý an toàn thực phẩm ISO 22000:2005 – nó tạo điều kiện hợp nhất và đơn giản hoá từng bước khi áp dụng các hệ thống quản lý cùng được triển khai trong Tổng công ty. Có thể thấy rằng, sản phẩm rau quả của Tổng công ty được xuất khẩu sang rất nhiều nước, và trong đó, có những thị trường còn khá dễ tính và có nhu cầu đa dạng từ thấp đến cao, tuy nhiên, nếu không quan tâm đến chất lượng sản phẩm thì sẽ khó bán với giá cao và thậm chí có thể bị thị trường từ chối. Do vậy, việc đầu tư thực hiện chương trình HACCP hay ISO 22000 là việc làm thể hiện tư duy chiến lược, nó không chỉ giúp Tổng công ty giữ vững mà còn mở rộng thị phần trên thương trường. 3.3.1.1.3. Hiện đại hoá sản xuất Để thực hiện hiện đại hoá sản xuất, Tổng công ty cần phải đầu tư đổi mới, cải tiến hệ thống thiết bị và nhà xưởng bằng các công nghệ, thiết bị hiện đại và cải tiến điều kiện lao động, đưa đến một môi trường làm việc chuyên nghiệp hơn cho người lao động. Điều này không những giúp nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, mà còn tạo được ấn tượng tốt với các khách hàng và sự an tâm của họ khi đến thăm Tổng công ty về điều kiện làm việc nơi đây. 3.3.1.1.4. Đảm bảo chất lượng nguồn nguyên liệu Chất lượng sản phẩm đầu ra phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của nguyên liệu đầu vào, do vậy, Tổng công ty cần phải kiểm soát chặt chẽ chất lượng của nguồn nguyên liệu đầu vào. Trên thực tế, Tổng công ty đã rất chú trọng việc đảm bảo nguyên liệu cho sản xuất. Cụ thể, Tổng công ty đã đầu tư cho nông dân từ việc cung cấp giống, cung cấp vốn và hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, đảm bảo bao tiêu sản phẩm đầu ra nhằm tạo cho người nông dân gắn bó lâu dài và an tâm trong sản xuất. Đây là hướng đi đúng mà Tổng công ty cần tiếp tục triển khai trong thời gian tới. Bên cạnh đó, Tổng công ty cần phải chủ động hơn nữa trong việc thực hiện liên kết với các nhà khoa học nhằm nắm bắt được các giống cây con mới cho năng suất và chất lượng cao, tạo thế chủ động về nguồn nguyên liệu sạch. 3.3.1.1.5. Thực hiện việc tiêu chuẩn hoá bao bì của các sản phẩm Việc tiêu chuẩn hoá bao bì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và lưu thông hàng hoá. Bao bì không chỉ là vật giúp chứa đựng và bảo quản hàng hoá, tạo điều kiện dễ dàng cho việc vận chuyển hàng hoá, mà bao bì còn có vai trò như người môi giới giữa sản phẩm và khách hàng, bao bì còn có chức năng quảng cáo và hướng dẫn tiêu dùng. Do vậy, Tổng công ty cần phải quan tâm đầu tư cho lĩnh vực bao bì, đóng gói cho sản phẩm của mình. Muốn vậy, Tổng công ty cần thực hiện việc ghi ký mã hiệu cho hàng hoá, cách này sẽ giúp cho sản phẩm của Tổng công ty có thể được phân biệt với các sản phẩm của các doanh nghiệp khác. Việc ghi trên hàng hoá một loại ký mã hiệu đặc biệt gọi là mã số, mã vạch một mặt sẽ giúp nâng cao năng suất và hiệu quả trong bán hàng và quản lý kho, mặt khác, tạo điều kiện thuận lợi trong lưu thông hàng hoá, ra vào hải quan, và thể hiện rõ được nguồn gốc xuất xứ của hàng hoá, vì thế sẽ thuận lợi hơn trong việc lựa chọn và tiêu dùng sản phẩm của khách hàng. Bên cạnh đó, Tổng công ty cũng cần phải lưu ý tới việc dán nhãn mác cho hàng hoá, tiêu chuẩn về số bao lớp gói sản phẩm và cách tháo mở sản phẩm… 3.3.1.1.6. Xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm hàng hoá của TCT Thương hiệu hàng hoá là tài sản vô hình có giá trị rất lớn đối với mọi doanh nghiệp, nó là yếu tố rất quan trọng, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Để xây dựng thương hiệu cho sản phẩm và được nhiều người biết đến không phải là dễ. Song nếu có được thì đó là cơ hội lớn trong kinh doanh của Tổng công ty. Bởi vậy, ngoài các nỗ lực về nâng cao chất lượng cho sản phẩm, thực hiện tốt công tác marketing sản phẩm, Tổng công ty cần chú trọng xây dựng, đăng ký thương hiệu nhãn mác cho sản phẩm của mình. Có như vậy, Tổng công ty mới nâng cao được sức cạnh tranh cho sản phẩm rau quả của mình trên thương trường. Ngoài ra, việc xuất khẩu hiện nay của Tổng công ty do nhiều đơn vị thực hiện. Thực tế là có rất ít các đơn vị dùng thương hiệu chung của Tổng công ty. Hầu hết, mỗi đơn vị có một thương hiệu riêng, không thống nhất với thương hiệu của Tổng công ty. Do vậy, thời gian tới, Tổng công ty cần nhanh chóng tổ chức xây dựng một quy chế bắt buộc trong việc dùng thương hiệu thống nhất để đảm bảo tính cạnh tranh cao đối với các sản phẩm của Tổng công ty. Khi đó, bất cứ sản phẩm nào của các đơn vị thành viên đều phải in thương hiệu của Tổng công ty và chỉ cần ghi tên đơn vị sản xuất cũng như các tiêu chí liên quan bằng chữ. Có như vậy, thương hiệu của Tổng công ty mới được củng cố, và điều này cũng khiến cho việc xuất khẩu của các đơn vị thành viên dễ dàng hơn. 3.3.1.2. Giải pháp liên quan đến thị trường 3.3.1.2.1. Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị trường Tăng cường công tác nghiên cứu thị trường luôn là việc làm hết sức cần thiết đối với doanh nghiệp xuất khẩu. Tổng công ty cần đầu tư cho công tác nghiên cứu nhu cầu thị trường nhằm nhanh chóng phát hiện ra những xu hướng tiêu dùng mới, để có thể kịp thời đưa ra các sản phẩm phù hợp, đón trước nhu cầu thị trường, có bước đi đầu trong sản xuất kinh doanh. Hiện nay, tốc độ biến đổi của nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm nói chung là rất lớn, và mặt hàng rau quả cũng vậy. Đời sống người dân ở các nước ngày càng được nâng cao, điều này làm nảy sinh ngày càng nhiều nhu cầu, và các yêu cầu đặt ra cũng ngày càng khắt khe hơn. Khi nghiên cứu nhu cầu ở một nước nào đó, Tổng công ty nên nghiên cứu đặc điểm từng vùng, không nên chỉ tập trung thu thập và đánh giá thông tin ở một vài vùng nào đó bởi đặc điểm tiêu dùng cũng như nhu cầu ở các vùng ở một nước có thể là khác nhau. Để có thông tin về đặc điểm nhu cầu, thị hiếu của thị trường, Tổng công ty có thể thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh trên thị trường đó; hay thông qua đại sứ quán, lãnh sứ quán; thông qua cộng đồng người Việt tại nước đó; qua các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, báo chí, Internet; thông qua hoạt động hội chợ, triển lãm được tổ chức tại thị trường đó… Để hoạt động nghiên cứu thị trường đạt hiệu quả, Tổng công ty cần chú trọng thu thập thông tin về cung, cầu, giá cả, thị hiếu tiêu dùng, dung lượng thị trường, khả năng cạnh tranh đối với từng nhóm hàng, mặt hàng. Thông tin sau khi thu thập cần được tiến hành xử lý và đưa ra dự báo cụ thể về các yếu tố số lượng, chất lượng, giá cả, thị hiếu cho các sản phẩm tiềm năng của thị trường. 3.3.1.2.2. Thúc đẩy hoạt động xúc tiến thương mại Sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường là rất quan trọng, song việc làm thế nào để tiêu thụ một cách có hiệu quả những sản phẩm ấy cũng không kém phần quan trọng. Do vậy, Tổng công ty cần tích cực đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm, nhằm mở rộng thị phần trên các thị trường cũ và tìm kiếm đối tác kinh doanh mới để có thể phát triển thêm thị trường cho sản phẩm, tìm đầu ra cho sản phẩm. Hiện nay, Tổng công ty đang sử dụng hai công cụ xúc tiến thương mại chủ yếu. Một là gửi các bản chào hàng qua mạng. Hình thức này mới được áp dụng gần đây và chưa có sự quan tâm thích đáng. Trong thời gian tới, Tổng công ty cần chú trọng phát triển hình thức này. Thư chào hàng cần phải có thêm nhiều hình ảnh giới thiệu về sản phẩm, các hình ảnh cần lột tả được tính chân thực của sản phẩm và phải thường xuyên được thay đổi. Để thực hiện điều này, Tổng công ty cần đầu tư trong việc xây dựng các cuốn catalog giới thiệu sản phẩm với hình ảnh hấp dẫn, đầy đủ mẫu mã, chủng loại mặt hàng cùng với những thông tin cần thiết về sản phẩm và Tổng công ty. Đồng thời Tổng công ty cũng cần quảng cáo các sản phẩm của mình rộng rãi thông qua website của Tổng công ty hay trên các trang mạng khác. Hai là tham gia các hội chợ tổ chức ở nước ngoài. Đây là một hình thức xúc tiến mang lại hiệu quả cao vì có thể giới thiệu trực tiếp sản phẩm và Tổng công ty đến người tiêu dùng. Tuy nhiên, tham gia các hội chợ sẽ bị hạn chế về thời gian tiếp cận trực tiếp với khách hàng. Do đó, Tổng công ty nên nghiên cứu tổ chức các gian hàng mẫu là nơi giao dịch, quảng bá sản phẩm của Tổng công ty tại các thị trường đó. Xúc tiến thương mại là một trong những phần việc cần làm trong toàn bộ hoạt động marketing sản phẩm của Tổng công ty. Về lâu dài, Tổng công ty cần phải xây dựng cho mình một chiến lược marketing với những bước đi rõ ràng ở từng thị trường cụ thể. 3.3.1.3. Giải pháp về vốn và tài chính Bất cứ doanh nghiệp sản xuất, chế biến và xuất khẩu rau quả nào cũng vậy, vốn là yếu tố quan trọng không thể không nhắc tới trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Đó cũng là khó khăn mà Tổng công ty cần phải giải quyết. Với sự đa dạng về thị trường xuất khẩu, Tổng công ty cũng gặp phải không ít những khó khăn khi xuất khẩu sang các thị trường mà có điều kiện thanh toán bất lợi đối với Tổng công ty, đòi hỏi Tổng công ty phải có một lượng vốn đáng kể. Trong khi đó, các đơn vị thành viên của Tổng công ty luôn trong tình trạng ít vốn và thiếu vốn. Bởi vậy, để hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục và đạt hiệu quả, Tổng công ty cần tiến hành huy động vốn kinh doanh ở cả trong và ngoài nước. Một số hình thức huy động vốn kinh doanh mà Tổng công ty có thể thực hiện: Vay vốn từ ngân hàng: Đây là nguồn vốn khó để tiếp cận nhưng lại rất quan trọng và là chủ yếu nhất mà Tổng công ty cần phải khai thác. Tổng công ty có thể vay vốn tín dụng nhà nước thông qua hệ thống ngân hàng phát triển nông thôn, các ngân hàng thương mại… Ngoài hình thức vay vốn ngân hàng, Tổng công ty có thể huy động vốn từ cán bộ công nhân viên trong Tổng công ty thông qua việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Ngoài ra, khi nhân viên góp vốn bằng cách mua trái phiếu, tinh thần trách nhiệm của họ đối với công việc và với hiệu quả kinh doanh của Tổng công ty sẽ được nâng cao. Việc làm này đòi hỏi Tổng công ty phải đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá ở các doanh nghiệp thành viên. Đối với những đơn vị đủ điều kiện cổ phần hoá cần tổ chức tốt việc phát hành cổ phiếu, còn những đơn vị không đủ điều kiện thì thực hiện hình thức bán khoán, cho thuê. Bên cạnh các hình thức trên, Tổng công ty còn có thể huy động vốn từ nhiều nguồn bên ngoài khác, như vay từ các nhà nhập khẩu là những bạn hàng truyền thống có tiềm năng về vốn thông qua hình thức thanh toán chậm hay ứng trước. Hình thức khác là thu hút vốn đầu tư nước ngoài và tham gia hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kinh doanh. Biện pháp này giúp Tổng công ty tháo gỡ những khó khăn về tài chính, đồng thời tranh thủ nguồn lực của đối tác cả về công nghệ lẫn thị trường. Trên thực tế, biện pháp này đã được Tổng công ty vận dụng hết sức thành công. Một số dự án như nhà máy hộp sắt Tovecan, nước giải khát Dona Newtower là những ví dụ. Những dự án này đã mang lại cho Tổng công ty nguồn vốn đáng kể cùng với một hệ thống các trang thiết bị hiện đại. Trong thời gian tới, Tổng công ty cần tiếp tục khai thác triệt để giải pháp này để ngày càng có nhiều dự án liên kết giữa Tổng công ty với các công ty lớn trên thế giới. Với nguồn vốn huy động được, Tổng công ty cần có các biện pháp để sử dụng nguồn vốn đó một cách có hiệu quả, tránh lãng phí và thất thoát vốn. 3.3.1.4. Giải pháp khuyến khích và nâng cao trình độ đội ngũ công nhân viên Khi tham gia xuất khẩu trên những thị trường lớn, Tổng công ty tất yếu sẽ phải đối mặt với sức ép cạnh tranh gay gắt. Do đó, vấn đề then chốt là phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm trong ký kết hợp đồng xuất khẩu, có khả năng nắm bắt, xử lý và dự báo những biến động của thị trường. Muốn vậy, Tổng công ty cần thực hiện các công việc sau: Đầu tiên là đào tạo bổ sung và đào tạo mới đội ngũ cán bộ chuyên ngành rau quả phục vụ cho nghiên cứu và sản xuất, cùng với đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề đủ khả năng tiếp cận và làm việc thành thạo với các thiết bị, công nghệ mới hiện đại. Tiếp đến, Tổng công ty cần tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các nhân viên, khuyến khích họ phát huy sáng kiến, thúc đẩy tính năng động và khả năng sáng tạo trong công việc. Và qua đó, sàng lọc dần để đội ngũ cán bộ trong Tổng công ty ngày càng giỏi về chuyên môn, thành thạo ngoại ngữ, linh hoạt trong giao tiếp, có lòng yêu nghề, lao động hăng say và sáng tạo, dám nghĩ dám làm, và có tinh thần trách nhiệm đối với công việc. Bên cạnh đó, Tổng công ty cũng cần có những chính sách nhằm hỗ trợ và phát triển nhân tài. Tổng công ty cần lựa chọn, cử những cán bộ ưu tú đi học tập nghiên cứu ở nước ngoài nhằm đào tạo họ trở thành những chuyên gia có năng lực, có chuyên môn giỏi, có khả năng quản lý, hoạch định chiến lược phát triển cho Tổng công ty. 3.3.2. Một số kiến nghị 3.3.2.1. Đối với Nhà nước 3.3.2.1.1. Cho phép các doanh nghiệp được sử dụng chi phí xúc tiến thương mại theo khả năng của mình Theo quy định của Nhà nước hiện nay thì các doanh nghiệp chỉ được phép sử dụng nguồn kinh phí dành cho quảng cáo không quá 10% doanh thu. Như vậy, các doanh nghiệp rất bị hạn chế trong công tác xúc tiến thương mại, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu. Bởi chi phí cho quảng cáo được xem là nguồn vốn đầu tư, và đây chính là khoản đầu tư cho thương hiệu. Với khoản đầu tư ít ỏi này thì các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam rất khó có thể làm cho người tiêu dùng biết đến doanh nghiệp mình, chứ chưa nói đến việc xây dựng và phát triển thương hiệu. Để có thể thâm nhập vào những thị trường lớn và có sức cạnh tranh cao, các doanh nghiệp Việt Nam cần có một quỹ xúc tiến thương mại dồi dào, tất nhiên là không thể ồ ạt dành cho hoạt động quảng cáo nhưng cũng không nên khống chế ở một mức không hợp lý như vậy mà nên để các doanh nghiệp sử dụng theo khả năng của mình. 3.3.2.1.2. Xây dựng nghị định về hiệp hội ngành hàng Hiện nay, ở Việt Nam đã có khoảng 30 hiệp hội doanh nghiệp ngành hàng, trong đó, hầu hết các ngành hàng xuất khẩu quan trọng đều đã hình thành được các hiệp hội như Hiệp hội lương thực Việt Nam, Hiệp hội Da giầy Việt Nam, Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản và Hiệp hội Rau quả Việt Nam. Hiệp hội ngành hàng đã chứng minh nó là một mô hình hoạt động hiệu quả trong thời gian qua, như vụ kiện cá tra, cá basa với Hoa Kỳ, nếu không có Hiệp hội Thuỷ sản Việt Nam (VASEF) đứng ra thì không thể nào giải quyết được. Cũng bởi vậy, cần phải có ngay những quy định mang tính pháp lý riêng để hoạt động của hiệp hội ngành hàng, trong đó có Hiệp hội rau quả Việt Nam có cơ sở hoạt động. 3.3.2.1.3. Xây dựng quỹ hỗ trợ rủi ro đối với nông sản xuất khẩu Chính sách hỗ trợ rủi ro trong nông nghiệp là cần thiết để hạn chế các tác động tiêu cực của các yếu tố rủi ro về thời tiết, sâu bệnh và thị trường. Một trong những giải pháp quan trọng là xây dựng quỹ hỗ trợ rủi ro đối với nông sản xuất khẩu. Kinh nghiệm của một số nước như Thái Lan, Ấn Độ, Srilanca, Quỹ hỗ trợ rủi ro xuất khẩu nông sản được hình thành từ nhiều nguồn: nguồn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, nguồn phụ thu từ xuất khẩu, nguồn đóng góp của các doanh nghiệp… trên nguyên tắc: tăng cường tiết kiệm khi xuất khẩu thuận lợi, để bù đắp, hỗ trợ cho người sản xuất, doanh nghiệp xuất khẩu khi gặp rủi ro bất khả kháng về thiên tai, sâu bệnh, thị trường tiêu thụ khó khăn. Mô hình này nếu được triển khai sẽ có tác dụng như một loại hình bảo hiểm cho doanh nghiệp, tạo tâm lý yên tâm hơn đối với doanh nghiệp xuất khẩu, vì thế, hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp sẽ được phát triển. 3.3.2.2. Đối với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thời gian tới, Bộ cần đứng ra tổ chức các hội chợ triển lãm ở trong và ngoài nước, và hỗ trợ Tổng công ty chuẩn bị các thủ tục tham gia cũng như chi phí vận chuyển hàng mẫu đến triển lãm ở nước ngoài. Ngoài ra, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng có thể có biện pháp hỗ trợ đối với Tổng công ty thông qua việc cho phép Tổng công ty được đặt các logo trên website của Bộ. 3.3.2.3. Đối với chính quyền địa phương Hỗ trợ kinh phí thành lập hệ thống thương mại điện tử cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Hỗ trợ cho các doanh nghiệp có ngành hàng lớn xây dựng các tổng kho ở các khu vực thị trường trọng điểm để xác lập hệ thống phân phối hàng hoá. Sở thương mại cần hỗ trợ doanh nghiệp bằng cách cung cấp các thông tin thị trường, giá cả, khách hàng qua trung tâm thông tin sở thương mại. LỜI KẾT Thị trường rau quả là một thị trường khổng lồ, với lượng cầu có xu hướng ngày càng tăng. Đây thực sự là thị trường đầy hấp dẫn cho xuất khẩu rau quả của Việt Nam nói chung và của Tổng công ty rau quả nông sản Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên do các quy định ngày càng khắt khe về điều kiện vệ sinh thực phẩm từ các nước nhập khẩu, cùng với những khó khăn của thời kỳ hội nhập, Tổng công ty rau quả nông sản VN còn phải nỗ lực rất nhiều mới có chỗ đứng bền vững và lâu dài trên các thị trường này. Trên đây là những nghiên cứu của tôi về hoạt động xuất khẩu rau quả của Tổng công ty và một số đề xuất đối với TCT cho việc đẩy mạnh hoạt động này trong thời gian tới. Hi vọng đề án này sẽ giúp ích cho những người muốn tìm hiểu về lĩnh vực xuất khẩu rau quả của TCT và đặc biệt là đối với ban lãnh đạo TCT trong việc tìm giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh này. Trong khuôn khổ bài viết, chưa đề cập chi tiết được hết các vấn đề trong hoạt động kinh doanh hấp dẫn này. Tôi hi vọng sẽ nhận được sẽ sự góp ý của các thầy cô và các bạn để đề tài này được hoàn thiện và vận dụng vào thực tiễn. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. GS.TS Đặng Đình Đào- GS.TS Hoàng Đức Thân (2003), Giáo trình kinh tế thương mại, NXB Thống kê 2. Vũ Hữu Tửu(2006), Giáo trình kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương, NXB Giáo dục 3. Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty rau quả, nông sản năm 2005 4. Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty rau quả, nông sản năm 2006 5. Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty rau quả, nông sản năm 2007 6. Các website: vegetexcovn.com.vn agroviet.gov.vn mof.gov.vn vneconomy.com.vn vinanet.com.vn rauhoaquavietnam.vn vinafruit.com

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docXuất khẩu sản phẩm rau quả ở Việt Nam.doc
Luận văn liên quan