Ảnh hưởng của luật đất đai đến kinh tế - Văn hóa - xã hội nông thôn nam bộ

PHẦN MỞ ĐẦU PHẦN NỘI DUNG 1.thao tác hóa khái niệm tìm hiểu về luật đất đai luật đất đai 2003 2. tìm hiểu sơ lược về nông thôn nam bộ - địa lý, lịch sử - kinh tế - văn hóa - xã hội 3. ảnh hưởng của luật đất đai tới nông thôn nam bộ - ảnh hưởng đến kinh tế: cơ cấu kinh tế, thánh phần kinh tế . - ảnh hưởng đến xã hội: tương tác xh, phân tầng xh, . - sự phát triển con người: thu nhập, tuổi thọ, . - ảnh hưởng đến văn hóa 4. một số khuyến nghị và giải pháp PHẦN KẾT LUẬN

doc37 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 5077 | Lượt tải: 18download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Ảnh hưởng của luật đất đai đến kinh tế - Văn hóa - xã hội nông thôn nam bộ, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
người nông dân đang sinh sống trên chính mảnh đất giàu tiềm năng ấy. Tuy nhiên việc vận dụng Luật đất đai đối với nông thôn Nam Bộ đang gây ra những ảnh hưởng cả tiêu cực lẫn tích cực đến các vấn đề xã hội – kinh tế - văn hóa, tính tự quản cộng đồng, tập quán, lối sống… những yếu tố cấu thành nên một Nam Bộ đặc thù. II. Nội dung 1. Vài nét về luật đất đai Khái niệm luật đất đai. Khi hệ thống hóa toàn bộ những văn bản pháp luật mà nhà nước ban hành trong quản lý đất từ khi nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đến nay, người ta thường dùng hai thuật ngữ phổ biến để gọi ngành luật điều chỉnh các quan hệ đất đai trong xã hội ta là “ luật ruộng đất” và “luật đất đai”. Về mạt ngôn từ thuần túy với đầy đủ khía cạnh dân gian thì hai thuật ngữ nên tạm coi là đồn nghĩa nhưng trên phương diện luật học thì cách hiểu như vậy là không chính xác khiến cho sự đánh đồng thuật ngữ của một ngành luật với một chế định cụ thể của nó. Trong quá trình xây dựng luật đất đai năm 2003 có ý kiến khác nhau khi đề cập tới tên của là “ luật , có quan điểm cho rằng luật nên lấy là “ luật đất” hoặc” luật quản lý và sử dụng đất” . Theo chúng tôi, tên luật là phải “ luật đất đai “ bởi vì ngay trong lời mở đầu của luật đất đai dã viết là luật này quy định về chế độ quản lý và sử dụng , quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Mặt khác, đất đai là một thuật ngữ thông dụng trong từ điển tiếng Việt, biểu hiện một khái niệm rộng rãi về đất bao gồm tất cả các loại đất. Chính vì vậy mà hiến pháp năm 1980 và hiến pháp năm 1992 đã dùng thuật ngữ này đã dùng thuật ngữ này để chỉ tất cả các lạo đát thuộc lãnh thổ nước ta. Sủ dụng” luật đất đai” là phù hợp với văn tự đã dùng trong hiến pháp. Trong điều 13 luật đất đai 2003 về phân loại đất đai ở nước ta được chia thành 3 loại, trong đó đất nông nghiệp đươc coi là tư liệu sản xuất chủ yếu. Như vậy khi nói đến luật đất đai phải hiểu theo 2 nghĩa, nghĩa thứ nhất là văn bản được Quốc hội thông qua và nghĩa thứ hai là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật nước ta bao gồm nhiều chế định pháp luật trong đó có phần riêng là chế độ pháp lý các loại đất. Trên phương diện pháp lý thì sử dụng nhóm thuật ngữ “ luật dất đai là hoàn toàn phù hợp với quan niệm cuộc sống. Tiếp tục duy trì và bảo vệ chế độ sở hữu Nhà Nước đối với đất đai, hiến pháp năm 1992 một lần nữa khẳng định lại quan điểm này “ đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời... đều thuộc sở hữu toàn dân”( điều 17). Điều này cũng khẳng định tại điều1 luật 1990: “ đất đai thuộc sở hữu toan dân do nhà nước thống nhất quản lí và điều 5 luật đất đai năm 2003: “ đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Từ đây, nhà nước ta đại diện cho toàn dân thực hiện vai trò cho chủ sở hữu đất đai, có đầy đủ các quyền năng chiếm hữu sử dụng định đoạt đất đai. Các tổ chức và các nhân với tư cách là hàng triệu hộ gia đình, hàng vạn tổ chức trong và ngoài nước thực hiện nhiệm vụ của người chủ cụ thể trong việc sử dụng đất.Mối quan hệ giữa nhà nước với người sử dụng đất là quan hệ giữa chủ sở hữu, người quản lý, người thực hiện ý đồ về quy hoạch và kế hoạch của nhà nước. Các mối quan hệ đó là hình thành, làm thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai mà chủ sở hữu là nhà nước không hề thay đổi. Như vậy, luật đất đai là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, là tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh những quan hệ đất đai hình thành trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt số phận pháp lý của đất đai nhằm sử dụng đất đai đại đạt hiệu quả cao phù hợp với lợi ích của nhà nước và người sử dụng đất. 1.2. Đặc điểm của luật đất đai * Đất đai thuộc sở hữu toàn dân Điều 17 hiến pháp năm 1992 quy định “ đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý”.Điều 5 luật đất đai năm 2003 đxa cụ thể hóa thành: “ đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Tính đặc biệt của sở hữu nhà nước đối với đất đai thể hiện ở những điểm sau - Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, nó không phải lá hàng hóa thông thường mà là một tư liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất và đời sống. - Nhà nước là người duy nhất có đầy đủ quyền năng của một chủ sở hữu. - Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do đó sẽ không có khái niệm “ đất vô chủ”, không còn tranh chấp về quyền sở hữu đối với đất đai và khái niệm” cấp đất” được chuyển thành khái niệm” giao đất”. * Nguyên tắc nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và theo pháp luật. Sự thống nhất của nhà nước đối với đất đai được thể hiện ở 4 mặt sau: - Đất đai được xem là một chỉnh thể của đối tượng quản lý - Sự thống nhất về nội dung quản lý đất đai, coi đất là một tài sản đặc biệt, điều này quyết định những việc làm cụ thể của nhà nước khi thực hiện chức năng quản lý của mình. - Sự thống nhất về cơ chế quản lý, nhất là thống nhất trong việc phân công, phân cấp thực hiện các nôih dung quản lý nhà nước về đất đai trên phạm vi cả nước, từng vùng và trong những tình huấn cụ thể, thống nhất này đảm bảo cho việc quản lý nhà nước về đát đai nhất quán và không trùng soát. - Thống nhất về cơ quan quản lý đất đai. * Nguyên tắc sử dụng đất hợp lý: Để đảm bảo nguyên tắc này phải tuân theo những điều kiện sau: - Sử dụng đất trước hết phải theo quy hoạch và kế hoạch chung. - Đất đai phải sử dụng đúng mục đích mà cơ quan có thẩm quyền đã quyết định. - Tận dụng mọi đất đai vào sản xuất nông nghiêp. Khai thác đất đai có hiệu quả, khuyến khích mọi tổ chức cá nhân nhận đất trồng, đồi núi trọc để sản xuất vào mục đích nông nghiệp. - Tăng cường hiệu xuất sử dụng đất, thâm canh tăng vụ, bố trí lại cây con hợp lý trong sản xuất, phân công lại lao động dân cư. * Nguyên tắc ưu tiên bảo vệ quỹ đất nông nghiệp: - Nhà nước có chính sách bảo vệ đất trồng lúa, hạn chế chuyển đất chuyên trồng lúa sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp. - Người sử dụng đất chuyên trồng lúa có trách nhiệm cải tạo bồi bổ làm tăng độ màu mỡ của đất. * Nguyên tắc thường xuyên cải tạo và bồi bổ đất đai: - Nhà nước khuyến khích các hành vi cải tạo, bồi bổ đầu tư công cuộc làm tăng khả năng sinh lợi của đất. - Các chủ thể sử dụng đất cóa nghĩa vụ bắt buộc phải cải tạo làm tăn độ màu mỡ của đất hạn chế khả năng đất biij rửa trôi bạc màu do thiên tai gây ra ở mức thấp nhất - Nghiêm cấm các hành vi hủy hoại đất đai, làm đất bạc màu... 2. Sơ lược nông thôn Nam bộ 2.1. Điều kiện tự nhiên * Miền Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long) Đồng bằng sông Cửu Long gồm 12 tỉnh và 1 thành phố trực thuộc Trung ương: Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, Bạc Liêu, Bến tre, Cà Mau, Hậu Giang, An Giang và Thành phố Cần Thơ, có diện tích tự nhiên là 39.734km². và Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009, dân số vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 17.178.871 người. Có vị trí nằm liền kề với vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Đông Nam là Biển Đông.  Đây là vùng đồng bằng châu thổ lớn nhất nước ta có địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình so với mặt biển từ 3 - 5 m, có khu vực chỉ cao 0,5 đến 1m. Khí hậu nhiệt đới ẩm với tính chất cận xích đạo và ít thiên tai tương đối thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Tài nguyên chính của vùng là đất phù sa màu mỡ có diện tích lớn, nhiều diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản và những vùng đất phèn, mặn được cải tạo cho sản xuất nông, lâm nghiệp. Đồng bằng vẫn còn một diện tích rừng ngập mặn lớn nhất cả nước có ý nghĩa nhiều mặt về kinh tế và môi trường. Vùng biển với thềm lục địa mở rộng có trữ lượng hải sản lớn nhất nước ta. Tuy nhiên vùng cũng có những khó khăn cho sản xuất và đời sống: - Ngập lũ kéo dài trên diện rộng vào mùa mưa. - Diện tích đất đồng bằng phần lớn là đất phèn, mặn và có nguy cơ bị bốc phèn nếu canh tác không hợp lí. * Đông Nam Bộ Đông Nam Bộ gồm 5 tỉnh và 1 thành phố trực thuộc Trung ương: Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và TPHCM. Phía Bắc và phía Tây Bắc giáp với Campuchia. Phía Tây Nam giáp với Đồng bằng sông Cửu Long. Phía Đông,Đông Nam giáp với biển Đông và Đồng bằng sông cửu long. Phía Đông giáp Tây nguyên và Duyên hải nam trung bộ. Theo kết quả điều tra dân số ngày 1/4/2009, dân số vùng Đông Nam Bộ là 14.025.387 người, chiếm 16,34% dân số Việt Nam , là vùng có tốc độ tăng dân số cao nhất nước, do thu hút nhiều dân nhập cư từ các vùng khác đến sinh sống. Đông Nam Bộ là một dải đất cao hơi lượn sóng chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung Bộ đến đồng bằng sông Cửu Long. Độ cao phổ biến thay đổi từ 20-200m, rải rác có một số ngọn núi cao dưới 1000m. Phần lớn đất đai là đất badan và đất xám phù sa cổ thuận lợi cho việc trồng cây công nghiệp. Khí hậu của vùng mang tính chất cận xích đạo và ít bị thiên tai. Đông Nam Bộ có tài nguyên khoáng sản nổi bật là dầu khí ở vùng thềm lục địa và gần các ngư trường lớn phong phú hải sản. 2.2. Con người và hoạt động kinh tế * Tây Nam Bộ Với số dân là hơn 17 triệu người, người dân ở đây có nhiều kinh nghiệm cải tạo đất phèn, mặn để trồng trọt, chọn giống lúa thích hợp cho từng vùng sinh thái… kinh nghiệm nuôi trồng thủy sản… Mặc dù diện tích canh tác nông nghiệp và thủy sản chưa tới 30% của cả nước nhưng miền Tây đóng góp hơn 50% diện tích lúa, 71% diện tích nuôi trồng thủy sản, 30% giá trị sản xuất nông nghiệp và 54% sản lượng thủy sản của cả nước. Lúa trồng nhiều nhất ở các tỉnh An Giang , Kiên Giang , Long An , Đồng Tháp ,Sóc Trăng , Tiền Giang . Diện tích và sản lượng thu hoạch chiếm hơn 50% so với cả nước . Bình quân lương thực đầu người gấp 2.3 lần so với lương thực trung bình cả nước . Nhờ vậy nên Đồng bằng sông Cửu Long là nơi xuất khẩu gạo chủ lực của cả đất nước . Ngoài ra vùng này còn trồng mía , rau đậu , xoài , dừa ,sầu riêng , cam , bưởi ... Nghề nuôi vịt đàn phát triển mạnh .Nuôi nhiều ở Bạc Liêu ,Cà Mau ,Sóc Trăng,Vĩnh Long.Trà vinh. Sản lượng thủy sản chiếm 50 % nhiều nhất ở các tỉnh Cà Mau , Kiên Giang , An Giang . Đặc biệt là Kiên Giang là tỉnh có sản lượng thủy sản săn bắt nhiều nhất 239219 tấn thủy sản ( năm 2000 ) , An Giang là tỉnh nuôi trồng thủy sản lớn nhất vùng 80000 tấn thủy sản ( năm 2000 ) .Nghề nuôi trồng tôm cá xuất khẩu đang phát triển mạnh . Tôm cá tập trung rất gần bờ và dễ nuôi nên đánh bắt rất thuận tiện Nghề rừng cũng giữ vai trò quan trọng , đặc biệt trồng rừng ngập mặn ven biển Cà Mau , đảo Phú Quốc , quần đảo Thổ Chu , hòn Khoai . Vì đây là nghề giữ vai trò trong việc bảo vệ môi trường , sinh học , các loài sinh vật và môi trường sinh thái đa dạng . * Đông Nam Bộ Đông Nam Bộ có số dân là 12.361.000 người, mật độ dân số là 356 người/ km2 (2001). Nguồn lao động khá dồi dào, có kĩ thuật, nhạy bén với tiến bộ khoa học kĩ thuật và tính năng động cao với sản xuất hàng hóa. Đông Nam Bộ có cơ cấu ngành kinh tế khá hoàn chỉnh, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao (khoảng 11-12%) và là vùng có nền kinh tế phát triển năng động nhất nước ta. Công nghiệp chiếm tới 54,8% giá trị sản lượng công nghiệp của cả nước (1999). Các ngành chiếm tỉ trọng lớn là: nhiên liệu (dầu mỏ) 28,5%; thực phẩm 27,5%; dệt, may mặc 10,9%; hóa chất, phân bón, cao su 12,2%. Nông nghiệp của vùng khá phát triển với cơ cấu ngành toàn diện. Đông Nam Bộ trồng nhiều cây công nghiệp: cao su, hồ tiêu (đứng đầu), cà phê (thứ 2), bông (thứ nhất), các loại cây công nghiệp khác như mía, lạc, đậu tương thuốc lá …Vùng cũng trồng nhiều cây ăn quả rau, chăn nuôi gia súc, thủy, hải sản… 2.3. Đời sống văn hóa Trong nền văn hóa chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam thì mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có nét văn hóa riêng rất độc đáo, đa dạng và phong phú. Nam bộ tuy là vùng đất tổ tiên ta mới khai phá lập nghiệp hơn 300 năm, nhưng văn hóa của nông thôn Nam bộ bắt nguồn từ nền văn hóa chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam có hơn 4000 năm lịch sử. Nam bộ từ miền đất hoang vu rừng thẳm, nhiều sông rạch, đầm lầy "muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lộí như bánh canh , trên rừng nhiều thú dữ, rắn độc và động vật quý. Dưới nước tôm cá bạt ngàn, còn có cá sấu, cá mập. Người nông dân Nam bộ lao động cần cù, dũng cảm. Thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước cải tạo tự nhiên, phòng chống thú dữ trên rừng, dưới nước để sản xuất và bảo vệ sản xuất. Ðể tồn tại và phát triển giống nòi, sản xuất và bảo vệ sản xuất tất yếu các gia đình nông dân trong họ tộc, trong xóm làng liên kết lại (hợp tác) lao động đổi công phá rừng làm ruộng rẫy, đào sông rạch, làm đường giao thông: săn bắn thú dữ, cưu mang đùm bọc "thương nguời như thể thương thân" giúp đỡ nhau chén cơm manh áo, con giống, hạt giống, đúng với câu ca truyền miệng gần như nông dân Nam bộ ai cũng thuộc lòng "một miếng khi đói bằng cả gói khi no" trong sản xuất và đời sống. Tuy cuộc sống vô cùng cơ cực ngày ngày lao động trên đồng ruộng, đêm đêm nam nữ quây quần giã gạo, chài đôi, chải ba, rồi ca hát hoặc hò đối đáp dưới ánh trăng, tình quê tuy mộc mạc nhưng thấm đậm nghĩa tình. Những người nông dân có mặt ở vùng đất Nam bộ này hơn 300 năm trước đây là những nông dân đến từ nhiều vùng ở miền Trung, miền Bắc. Tuy buổi đầu lập nghiệp trên vùng đất hoang sơ trăm đắng ngàn cay bời rừng thiêng nước độc, thú dữ, người nông dân thiếu cả công cụ, phương tiện lao động... nhưng mọi người kiên cường bám trụ "đến đây thì ở tại đây trăm năm bám rễ xanh cây không về". Bám rễ xanh cây không chỉ có nghĩa lao động sáng tạo ra của cải vật chất trên nền nông nghiệp phì nhiêu trù phú, mà sự xanh cây bám rễ còn có nghĩa mối quan hệ giữa người với người từ bốn phương tụ hội trên mảnh đất Nam bộ ấm áp tình người. Tấm lòng người nông dân Nam bộ xưa nay luôn đức độ bao dung, sẵn sàng tha thứ cho những ai biết hối cải lỗi lầm, nhưng cũng không tha thử kẻ gian ác, điêu ngoa. Họ coi trọng nhân-nghĩa-trí-dũng-liêm, lòng thương người bao la vô tận, nhưng rất ghét bọn gian tà, tham nhũng, xu nịnh, những kẻ "tham phú phụ bần". Nếu ai là người lương thiện có đạo đức làm người, sống trung thực, nhân nghĩa dẫu từ đâu đến với xóm làng nào Nam bộ thì cũng được nông dân đón tiếp thân tình theo đúng nghĩa "tứ hải giai huynh đệ", sẵn sàng cưu mang giúp đỡ người đói rét, bệnh tật "anh em như thể tay chân" hay là "Bầu ơi thương lắy bl cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn". Nền kinh tế Nam Bộ ngày càng phát triển, đường giao thông ngày càng thuận lợi, sự giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội của nông dân các làng quê ngày càng mở rộng, các phong tục, tập quán từ việc ăn, ở, giao tiếp, sinh hoạt văn hóa, lễ hội đến đám cưới, đám tang... của nông dân Nam bộ cơ bản là giống nhau. Nhưng nét riêng của miền Ðông, miền Tây và mỗi tỉnh, mỗi làng quê về tính cách, tập quán, mỹ tục cũng có khác nhau. Không phâi ngẫu nhiên mà có câu ca "Cà Mau đi dễ khó về, trai đi có vợ, gái về có con". Trai đi có vợ, gái về có con ở đây không chỉ có "đất quê ta mênh mông" hoặc đường đi cách trở sơn khê mà bởi đất lành chim đậu, sự lưu luyến về vùng đất phì nhiêu dễ dàng sản xuất tạo ra của cải, xây dựng cuộc sống, hơn nữa là tình người nhân hậu thủy chung, "trai cũng dễ mến mà gái cũng dễ thương" Hay như câu ca dao "Cần Thơ gạo trắng nước trong, ai đi đến đó lòng không muốn về". Cần Thơ không phải chỉ có gạo trắng nước trong mà còn là sự giao lưu văn hóa, xã hội hài hòa lịch thiệp, đa cảm đa tình. Người Cần Thơ mến khách nên khách cũng mến người. Nếu ai đến bến Ninh Kiều từ xa xưa cũng "ngựa xe như nước áo quần như nêm" và bây giờ càng thêm lộng lẫy, phố phường nhộn nhịp. Ðêm đêm tàu thuyền san sát bên sông, có cả thuyền văn hóa lưu động, các nhóm tài tử phục vụ đủ các hạng người tao nhân mặc khách. Chính vì phong cảnh hữu tình, quyến rũ làm chạnh lòng quân tử, thuyền quyên mà "đi không nỡ, ở cũng đành". Nói về hoạt động văn hóa, văn nghệ nhất là đờn ca tài tử thì không riêng ở bến Ninh Kiều, Cần Thơ mà gần như đều khắp các làng quê Nam bộ, anh nông dân đi cày chị nông dân đi cấy cũng có thể hát, hò và ca vọng cổ được. Tinh thần yêu nước là đỉnh cao của văn hóa. Lúc bình thường trong cuộc sống nông dân có thể có vui, có buồn thậm chí to tiếng với nhau vì một lý do nào đó, nhưng khi đất nước có giặc ngoại xậm thì người nông dân đoàn kết lại sẵn sàng đánh giặc cứu nước. Các phong trào cách mạng và vận động xây dựng gia đình nông dân văn hóa còn nhằm từng bước khắc phục những phong tục, tập quán lạc hậu trong sản xuất và đời sống nông dân. Ðồng thời, khắc phục những tồn tại ấy trên cơ sở không ngừng nâng cao dân trí, kiến thức khoa học, phát triển kinh tế, tạo việc làm, nâng cao đời sống vật chất, đời sống văn hóa, làm cho hàng triệu nông dân và làm cho mảnh đất Nam Bộ giàu truyền thống cách mạng, đằm thắm thủy chung, nghĩa tình mãi mãi rực rỡ, ngát hương trong vườn hoa đậm đà bản sắc văn hóa Việt Nam. Do nguồn gốc lịch sử, hoàn cảnh sống và tác động của môi trường thiên nhiên đã hình thành nên tính cách người Nam Bộ. Ngoài tính hiếu khách, tính bộc trực, mạnh mẽ , hào phóng và đôn hậu, người Nam Bộ còn biết bao nét đẹp truyền thống đáng trân trọng như tính nghĩa khí hào hiệp, tấm lòng nhân hậu, bao dung, tư chất thông minh và giàu nghị lực. Đặc biệt phụ nữ miền Nam rất đỗi vị tha, dịu dàng lại khéo tay, chiều chồng nhưng đáng quý nhất là sự hy sinh cho chồng con, cho quê hương, đất nước. Điều đó đã được minh chứng suốt quá trình hơn 300 năm lịch sử của Nam Bộ. Miền Nam đã trải qua chiến tranh, bom đạn ác liệt nhưng miền Nam kiên cường, bất khuất và miền Nam xứng đáng với danh hiệu “Thành đồng của Tổ quốc”. Dưới ánh sáng của nghị quyết Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta đang phát huy nội lực nhằm làm dân giàu, nước mạnh, miền Nam sẽ cùng cả nước tiến lên tạo cuộc sống ấm no, hạnh phúc. * Tính bộc trực Trong dân gian còn lưu truyền câu “Ăn mặn nói ngay” để nói lên tính cách người miền Nam. Lý giải cho câu thành ngữ này phải dựa trên cơ sở lịch sử và đời sống thực tế Nam Bộ. Như đã nói, họ là những lưu dân đến đây chủ yếu bằng đường biển, suốt hành trình lênh đênh giữa sóng to gió lớn để chống lại giá rét, chống lại những cơn cuồng nộ của biển cả… buộc họ phải tìm cách đảm bảo mạng sống và sinh tồn. Để lặn sâu dưới nước, thường người ta hay uống nước muối; giữ cá được lâu thì muối hoặc làm mắm… Dần dần mà khẩu vị của người đi biển trở nên mặn mà hơn so với người ở đất liền. Trong bữa ăn truyền thống của người miền Nam không bao giờ thiếu được món kho như: thịt kho, cá kho, mắm kho hoặc cá muối chiên hay khô mặn, ba khía… Đặc biệt bất kỳ nhà giàu có hay nghèo hèn, dù bữa ăn bình dân hay tiệc tùng lễ lạt giữa nhà hàng sang trọng đều có chén nước mắm trong mâm thức ăn dùng làm nước chấm. Tính mạnh mẽ Người miền Nam trong lịch sử khẩn hoang Nam Kỳ là những người luôn luôn đương đầu với nghịch cảnh, bởi thế họ không có thì giờ để con cà con kê, nếu cần diễn đạt thì nói một cách dứt khoát, ngắn gọn, trực tiếp và rõ ràng. Vì lênh đênh giữa biển, sóng vỗ ì ầm, trời nước mênh mông nên tiếng nói của con người bị át đi. Cho đến khi lên bờ khai khẩn thì đất rộng người thưa, cây cối um tùm, phương thức lao động không phải tập đoàn hay hợp quần mà thủ công – riêng lẻ, khi cần gọi nhau để trao đổi thì phải hét to hoặc dùng tiếng động lớn làm ám hiệu cho nhau, bởi vậy mà người miền Nam cho tới sau này vẫn còn ăn to nói lớn. Tính đôn hậu Người miền Nam luôn chân tình, cởi mở và dễ hòa mình. Xét trên góc độ khoa học, đó là sự hội nhập giao lưu và hòa đồng giữa cộng đồng các dân tộc. Khi người Kinh đặt chân đến Nam Kỳ thì ở đây đã có người Khmer, người Hoa sinh sống. Tuy phong tục mỗi dân tộc mỗi khác nhưng tất cả như có một mẫu số chung là tinh thần nhân ái. Trong ngôn ngữ miền Nam hiện nay vẫn còn tồn tại những tiếng có nguồn gốc Khmer và Hoa như: mình ên, cà tha, xiêm lo, xích xái, lì xì, thèo lèo, xí muội, thò lò… Còn địa danh ở Nam Bộ có những tên đi vào lịch sử như: Sa Đéc, Sóc Trăng, Bãi Xáu, Chắc Cà Đao… Thông thường mỗi khi giỗ chạp, Tết nhất hay mỗi khi bày cỗ cúng kiến, người miền Nam ngoài việc dọn cỗ trên bàn thờ ông bà, cha mẹ… còn có một mâm riêng được bày lên trước cửa nhà để cúng gọi là “mâm đất đai”. Mâm thức ăn này để cúng các bậc tiền hiền đã có công khai phá vùng đất hiện tại cùng những người khuất mặt khuất mày đã bỏ mạng nơi đây mà không nơi nương tựa. Trước khi khấn vái ở bàn thờ gia tiên thì gia chủ phải thành tâm trước “mâm đất đai”, xem như một thủ tục trình báo với “sở tại”. Điều này nói lên tấm lòng người miền Nam nhân ái, vị tha, giàu tình người mà bà con ta gói gọn trong hai tiếng “biết điều” * Những người dân hiếu khách Những cư dân Đàng Ngoài từ chỗ có làng xã, sinh hoạt lề thói nhiều đời đến nơi ở mới tứ cố vô thân lại thêm phong thổ khắc nghiệt… đã làm cho họ trở nên bản lĩnh và đặc biệt là rất hiếu khách. Hiếu khách có lẽ là nét đặc trưng, là cá tính độc đáo của người miền Nam, bởi họ rất cần người để tâm sự, để giãi bày những nỗi niềm sâu kín hoặc để uống với nhau ly rượu giải sầu – cái sầu ly hương – hay để hàn huyên chuyện xứ sở Đàng Ngoài, nơi quê cha đất tổ. Trong sinh hoạt láng giềng Nam Bộ hiện tại, ta thấy có nhiều tiệc tùng, nhậu nhẹt, đám cưới, đám giỗ, thôi nôi, đầy tháng, tân gia… mà người được mời ít khi từ chối, mặc dù hiểu rằng “ăn bữa giỗ lỗ bữa cày”. Họ đến đó không phải vì rượu thịt, vì miếng ngon vật lạ mà vì “phải quấy” – nói theo tiếng bà con miền Nam hay nói. Ai không đi, không dự được thì gởi bao thư, lễ vật và xin cáo lỗi; còn nếu như làm thinh, không có “phản hồi” gì hết là “có vấn đề”! Từ những bàn tiệc này mà đôi khi nảy sinh những quan hệ tình cảm mới như: kết nghĩa thông gia, kết nghĩa tri âm tri kỷ hoặc kết nghĩa anh em… 2.4. Vấn đề xã hội Nam Bộ Tình hình thực tế cũng như số liệu thống kê đều cho thấy mặc dù là vùng sản xuất nông sản hàng hóa lớn nhất Việt Nam, hơn hai mươi năm qua nông thôn Nam Bộ vẫn chưa được đầu tư phát triển một cách tương xứng. Các chỉ tiêu y tế, giáo dục, phát triển cơ sở hạ tầng... ở đây đều thấp nhất so với toàn quốc, nếu tình hình này tiếp tục kéo dài sẽ có những ảnh hưởng vô cùng bất lợi tới việc nâng cao chất lượng sống của cư dân nông thôn. Xây dựng một phương thức sống phù hợp ở nông thôn Nam Bộ hiện nay đang gặp nhiều trở ngại vì một bộ phận lớn dân cư là dân nghèo. Nhiều nạn nhân của diện thu hồi đất gặp rất nhiều khó khăn khi tái sản xuất. Nhiều hộ đã trở thành tay trắng. Nhiều thiếu nữ nông thôn nhà nghèo ít học ở nông thôn Nam Bộ nhắm mắt lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc. Nhiều người khác không xuất ngoại mà tới các đô thị làm đủ mọi nghề từ bán vé số tới gái mại dâm, một thực trạng rất đau lòng và cần có hướng khắc phục sớm nhất có thể. Tập tính kinh tế thiên về tiêu dùng hơn là tiết kiệm của con người Nam Bộ nói chung và nông dân Nam Bộ nói riêng đang chống lại họ trong bối cảnh xã hội tiêu thụ, điều này đã được chứng minh qua rất nhiều trường hợp nông dân nhận được tiền đền bù, giải tỏa đất đai... 3. Sự vận dụng và ảnh hưởng của luật đất đai tới kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn Nam bộ 3.1. Ảnh hưởng đến văn hóa, phong tục tập quán và tính cố kết cộng đồng của nông thôn Nam Bộ Một số Điều, Khoản trong luật đất đai sửa đổi năm 2003 đã kéo theo sự biến đổi sâu sắc về mặt kinh tế, xã hội thông qua đó làm biến đổi cả trên phương diện văn hóa.Tại Mục 4 của luật đất đai ban hành năm 2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 quy đinh rõ cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất thực hiện việc thu hồi đất đối với các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 và 12 tại các điều 38,39,40 của luật này.Chính sách thu hồi đất nông nghiệp, sự hạn điền và thời hạn giao đất trước hết làm biến đổi về cơ bản mặt bằng dân cư của nông thôn nói chung và nông thôn Nam Bộ nói riêng, mang lại rất nhiều những bất cập. Theo thống kê hiện nay của BNN&PTNT, trung bình mỗi hec-ta đất bị thu hồi ảnh hưởng tới việc làm của trên 10 lao động nông nghiệp, tính riêng vùng Đông Nam Bộ: khoảng 108.000 hộ.Người nông dân xưa nay bám đất bám làng sinh sống nay bị mất tư liệu sản xuất của mình tạo nên một làn sóng lớn di dân từ nông thôn ra các đô thị lớn kiếm việc làm, điều này đã gây ra bao hệ lụy đối với đô thị và ảnh hưởng to lớn đối với văn hóa nông thôn, tính kết cấu làng xã bị phá vỡ do làn sóng ly hương ngày một ồ ạt, sự du nhập của văn hóa đô thị cùng với cái gọi là đô thị hóa hiện đại hóa và lối văn hóa du nhập lai căng của những người gốc nông dân “ nửa tỉnh nửa quê” giờ đây đã phá vỡ sự tĩnh lặng của một làng quê Nam Bộ truyền thống, nhiều làng nghề đã bị thất truyền, bị mai một, nét văn hóa cổ truyền đặc trưng vùng cũng rơi vào quên lãng. Khi có trong tay một khoản tiền lớn từ các dự án đền bù, người nông dân xưa nay quen bán mặt cho đất bán lưng cho trời bỗng nhiên đổi đời, do nhận thức còn hạn chế, người nông dân thi nhau xây nhà lầu, tậu xe, ăn chơi mua sắm và đầu tư không hiệu quả nguồn tiền đền bù,tất cả những điều này đã làm đảo lộn các thói quen, tập quán sinh hoạt bao đời của người nông dân, làm mai một bản sắc văn hóa nông dân. Khí các chính sách về đất ở hạn chế do mỗi hộ gia đình chỉ được sử dụng không vượt quá 200m2. Kết cấu gia đình thuẩn Việt đã và đang dần bị xé lẻ,quy mô gia đình tam, tứ đại đồng truyền thống đường hiện nay là rất hiếm. Điều này dẫn tới các mối quan hệ trong gia đình có phần lỏng lẻo hơn trước đây, sự gắn kết gia đình xã hội không còn được bền chặt như trước thêm vào đó ngay trong quan hệ huyết thống thân tộc cũng xảy ra nhiều tranh chấp mâu thuẫn nặng nề do tranh giành quyền sử dụng đất có liên quan tới tiền đền bù, mối quan hệ huyết thống thân tình từ đó đã bị rạn rứt một cách rõ rệt rõ rệt. Theo mục 4, điều 42 quy định về việc bồi thường,tái định cư cho người có đất bị thu hồi vấn đề còn nhiều nan giải chưa được giải quyết được, hằng năm có hàng ngàn đơn thư khiếu nại của người dân về vấn đề giải tỏa đền bù, điều này không chỉ khiến cho mối quan hệ giữa chính quyền nhà nước và nhân dân trở nên căng thẳng bức xúc mà ngay trong nội bộ làng xã, khi tấc đất trở thành tấc vàng đã phá vỡ mối quan hệ thân tình từ ngàn đời nay “ hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau” của người nông dân, phá vỡ cái gọi là văn hóa “ tình làng nghĩa xóm”, mối quan hệ tình cảm( thứ cấp) được thay thế bằng mối quan hệ sơ cấp và được đong đếm trên cơ sở tiền bạc. Các lễ hội truyền thống đã và đang bị mai một, mất dần bản sắc, trước kia vùng Nam Bộ nổi tiếng với các lễ hội truyền thống mang đậm nét văn hóa vùng sông nước với nhiều dấu ấn đẹp thì nay do ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa,sự tràn lan của văn hóa truyền thông, các phương tiện nghe nhìn được trang bị đầy đủ và phong phú, các tụ điểm ăn chơi, các tiệm internet mọc lên như nâm cùng với sự hấp dẫn của các trò chơi online trực tuyến thì vạn đại đa số các bạn trẻ đã quá thờ ơ với các trò chơi trong lễ hội truyền thống,các làn điệu quan họ, ca trù cải lương, đờn ca tài tử truyền thống cũng được thay thế bằng âm nhạc điện tử hiện đại. Miền Nam Bộ nổi tiếng cả nước với nền văn hóa đa màu sắc, là phức hợp của nhiều nét đặc sắc của các dân tộc anh em như Kinh, Hoa, Chăm, Stiêng…Nơi đây cũng mang đậm màu sắc văn hóa sông nước hơn bất kỳ nơi nào trên đất nước ta. Chính vì thế không ở đâu có nhiều từ ngữ để chỉ các loại hình và hoạt động sông nước như ở vùng này: sông, lạch, kinh, vũng, trũng, gành, xáng, vịnh, bàu...; nước lớn, nước ròng, nước đứng, nước xiết, nước xoáy, nước ngược, nước xuôi... Sông nước đã trở thành một yếu tố cấu thành đặc trưng của văn hoá nơi đây…Chất Nam Bộ thể hiện trong những câu hò mượt mà, trong những nếp nhà lá hòa mình trong thiên nhiên, trong cả cách ăn uống ở cái xứ sở phì nhiêu tôm cá “Ăn cơm mắm, thấm về lâu”. Chất Nam Bộ còn thể hiện trong tính cách mộc mạc, phóng khoáng của mỗi người, không quy tắc và gò bó, phụ thuộc Nho Giáo nhiều như ở nông thôn Bắc Bộ. Nam Bộ cũng là nơi tiếp xúc với Tây học từ sớm nên có tư tưởng mở, rộng rãi trong tiếp nhận. Tình làng nghĩa xóm là rường cột, khác với sự ràng buộc mang tính họ hàng, bao bọc bởi lũy tre, cổng làng với hệ thống luật tục chặt chẽ như ở nông thôn miền Bắc. Chính vì Nam Bộ là cộng đồng mở nên họ dễ dàng hơn trong việc tiếp thu các giá trị mới, nhất là trong thời điểm biến động hiện nay. Có thể thấy Luật đất đai 2003 đã tạo ra khá nhiều điều kiện góp phần làm cho nông thôn Nam Bộ có những biến đổi mạnh về văn hóa. Thứ nhất là tính gắn kết cộng đồng giảm dần. Khả năng chuyển nhượng, cho thuê đất được quy định rõ ràng trong thời buổi nhu cầu về đất ngày một gia tăng đã khiến nhiều người nông dân trong một đêm trở thành triệu phú. Khoảng cách xã hội bắt đầu xuất hiện giữa những người trước đây là hàng xóm thân thiết. Vị trí kinh tế mới nảy sinh những nhu cầu xã hội, văn hóa mới, thậm chí là những cạnh tranh, ganh ghét. Người ta bắt đầu sống theo kiểu hưởng thụ, chạy theo những giá trị mới. Lối sống “đèn nhà ai nấy rạng” dần thay thế cho giá trị “ tối lửa tắt đèn có nhau”. Vì vậy đã có không ít những vụ án dân sự, hình sự diễn ra như đã phân tích ở trên. Thứ hai, một số giá trị mới được bổ sung thay thế những giá trị cũ. Tình trạng lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc, sức mạnh của vật chất, đồng tiền đã lôi kéo không ít những thiếu nữ thôn quê xa rời mảnh ruộng, góc vườn. Cũng không ít những hậu quả đáng tiếc xảy ra. Trong câu chuyện về làm đất, bón phân, nhổ cỏ của người nông dân chân lấm tay bùn xuất hiện hình ảnh của giá đất, giá trị của một người được đo bằng việc họ đã bán được bao nhiêu hecta đất, họ đã hưởng thụ những gì… Những giá trị cũ về tình yêu thương san sẻ dần bị thay thế bằng những giá trị mang tính thực dụng hơn. Không ít trong một bộ phận giới trẻ tiếp thu với những giá trị văn hóa nước ngoài không phù hợp, đánh mất bản sắc mà cha ông họ đã gầy dựng hơn 300 năm. Tính tự quản cộng đồng xưa nay là một đặc trưng của nông thôn, nó tồn tại song song và chịu sự quản lý của Nhà Nước, giúp cho cộng đồng có thể quản lý tốt hơn hoạt động của mình, nâng cao tinh thần tự giác, tự quản lý của người dân, san sẻ gánh nặng với chính quyền. Xã hội tự quản là một hình thức hướng tới của các xã hội. Dù rằng miền Nam với đặc thù hay di chuyển có tính tự quản không chặt chẽ như ở Bắc Bộ nhưng tính tự quản ở đây ở một phương diện nào đó giúp bình ổn xã hội, đảm bảo cho xã hội vận hành trong một trật tự nhất định. Tuy nhiên hiện nay tính tự quản của cộng đồng đang giảm dần do tác động của cơ chế thị trường. Lợi nhuận trước mắt do đất đai mang lại đã khiến cho không ít người trong đội ngũ chính quyền làm dân mất lòng tin. Tình trạng khiếu kiện về đất đai ngày càng tăng, nạn tham nhũng, cướp đất của dân ở khu vực Nam Bộ từ lâu đã trở thành đề tài nóng ở khu vực này. Bên cạnh đó tình trạng di cư cũng là một nguyên nhân khiến cho việc gắn kết cộng đồng và tính tự quản cộng đồng giảm đi khi một bộ phận lớn người dân di cư lên thành phố, tỉnh có người xuất cư cao nhất là An Giang và Long An. Nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận những đóng góp mà Luật đất đai đã mang lại cho vùng. Luật đất đai đã góp phần nâng cao sức sản xuất, tạo điều kiện cho người dân có thể làm giàu chính đáng trên mảnh đất của mình, góp phần chuyển đổi nghề nghiệp cho một bộ phận không nhỏ người dân. Từ những tiền đề kinh tế thuận lợi đã giúp người nông dân có cơ hội tiếp thu những nguồn thông tin mới, làm giàu thêm nhận thức, tri thức cũng như năng động hơn, học hỏi thêm được nhiều kinh nghiệm mới. Từ đó những tư tưởng cũ như: chế độ đa thê, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó… dần được thay thế. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có một số chính sách đất đai tạo nhiều điều kiện cho sự phát triển về văn hóa cả vật chất lẫn tinh thần: cấp đất, tạo điều kiện tốt nhất cho việc xây dựng đền, chùa, đình, miếu, các cơ sở tôn giáo… phục vụ cho việc tín ngưỡng, thờ phụng của người dân. Đây là một điều rất có ích đồi với con người Nam Bộ nơi đây bởi miền đất này là nơi tụ họp nhiều nền văn hóa, nhiều dân tộc, nhiều tôn giáo khác nhau, chính vì thế những chính sách xây dựng cơ sở văn hóa phục vụ tín ngưỡng rất có ý nghĩa. Chính sách đất đai cũng phù hợp, thuận lợi cho việc xây dựng, tôn tạo các di tích lịch sử, cơ sở văn hóa phát triển mạnh. . Về đời sống xã hội * Tương tác xã hội Luật đất đai quy định mỗi hộ được sử dụng tối đa 3ha đất nên tình trạng chia hộ trong gia đình diễn ra để đảm bảo quyền sử dụng trong gia đình. Vấn đề này sẽ dẫn đến chuyện rạn nứt trong mối quan hệ gia đình do những tranh chấp trong việc phân chia tài sản. Sự xuất hiện các dự án treo khi mà đất thu hồi lại để hoang trong khi đó nông dân lại không có tư liệu sản xuất hoặc hiện tượng bùng phát gần đây là những dự việc cán bộ chia chác đất công gây sự bức xúc lớn trong xã hội. Gần đây vấn đề xây dựng sân gofl cũng gây nhiều tranh cãi vì sẽ thu hẹp lại diện tích đất nông nghiệp tác động trực tiếp đến tư liệu sản xuất và cơ cấu việc làm của nông dân. Những hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh đang diễn ra ở nông thôn Nam Bộ đã gây ra những rạn nứt trong quan hệ xóm giềng. Nông thôn Nam Bộ nổi tiếng với những hình ảnh người nông dân ngay thẳng, cương trực, phóng khoáng nhưng cũng rất giàu tình yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, tuy nhiên cũng có không ít trường hợp vì cái lợi trước mắt mà tranh chấp, kiện tụng thậm chí là cạnh tranh không lành mạnh dẫn tới không ít những vụ án dân sự, hình sự như báo chí phản ánh. Một bộ phận nông dân nghèo bị thu hồi đất nhưng không được đền bù thỏa đáng rơi vào tình trạng trắng tay. Một số người chuyển đổi cả phương thức sản xuất, một số khác nông dân bị thu hồi đất không tìm được công việc mới, quay lại làm nghề nông và đối mặt với nỗi lo không có đất để cấy cày, rơi vào cảnh thất nghiệp. Một bộ phận chọn cách đi làm thuê, làm mướn. Không có tư liệu sản xuất cơ bản mà cũng là cuối cùng này, toàn bộ kinh nghiệm hoạt động kinh tế trước đó của họ cũng trở thành vô nghĩa, đồng thời toàn bộ quan hệ xã hội phục vụ hoạt động kinh tế vốn có của họ cũng trở thành thừa thãi. Bị vô sản hóa về mặt tư liệu sản xuất, họ cũng đồng thời bị cô lập hóa về mặt quan hệ xã hội. Hiện tượng lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc nở rộ trong thời gian gần đây ở các vùng quê Nam Bộ mà một nguyên nhân chủ yếu là xuất phát từ kinh tế. Không những vậy, việc thu hồi đất tùy tiện tại một số tỉnh Nam Bộ mà điển hình là ở Tây Ninh, Long An.. đã làm cho người dân bị mất lòng tin vào chính sách và pháp luật của Nhà Nước. Trước lợi nhuận từ chuyển nhượng đất đai mang lại thì không ít nông dân sẵn sàng đem ruộng đất chuyển nhượng mà không có những dự tính lâu dài. Do đó mà có khá nhiều trường hợp người dân Nam Bộ sử dụng tiền bán đất hay tiền đền bù sai mục đích và rồi lâm vào cảnh làm thuê, làm mướn cho những người có đất khác. Ở nông thôn ĐBSCL hiện nay, hầu hết số người đem hết đất đai đi cầm cố để đổi nghề nhưng thất bại, trở về quê, chủ yếu sống bằng nghề làm thuê làm mướn, vì vậy cuộc sống của họ rất khó khăn. Mặt khác, tập tính kinh tế thiên về tiêu dùng hơn là tiết kiệm của con người Nam Bộ nói chung và nông dân Nam Bộ nói riêng đang chống lại họ trong bối cảnh xã hội tiêu thụ, Điều này đã được chứng minh qua rất nhiều trường hợp nông dân nhận được tiền đền bù, giải tỏa đất đai... Vốn có tập tính tiêu xài rộng rãi, phóng khoáng, một số người dân Nam Bộ ít học, không nhìn thấy trược được vấn đề. Khi nhận được một số lượng lớn tiền đền bù giải tỏa họ lao vào những cuộc hưởng thụ, tiêu xài hoang phí. Tiền cạn, đất mất, việc làm chưa ổn định, bỗng chốc họ lại rơi vào cảnh khốn đốn. * Phân tầng xã hội Vấn đề về phân tầng xã hội đã và đang xảy ra mạnh mẽ ở Việt Nam khi sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng giãn cách. Không chỉ chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn mà ngay chính trong nông thôn. Nông thôn Nam Bộ sự giãn cách này có sự chênh lệch lớn hơn, nhất là từ khi công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa và sau khi Luật đất đai ra đời, sự chuyển nhượng đất đai trở nên phổ biến và dễ dàng hơn. Trong thời gian qua, Nam Bộ nóng lên các vấn đề mua bán đất, sự xuất hiện của các cò đất, chuyện những người giàu lên nhờ đền bù giải tỏa hoặc nhờ chuyển giao quyền sử dụng đất. Sự phân hóa ở nông thôn bắt đầu cũng có những giãn cách khi mà vấn đề chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày càng phổ biến, sự tập trung đất đai trong tay 1 số người giàu ở nông thôn. Vấn đề sở hữu đất đai cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự cố kết trong mối quan hệ gia đình, làng xóm khi người dân ở đây nhận thấy được lợi ích kinh tế khi thực hiện quyền chuyển quyền sở hữu hoặc chuyển mục đích sử dụng đất. * Di động xã hội Diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp đồng nghĩa với tư liệu sản xuất của người nông dân không còn nữa nên họ buộc phải tìm kế sinh nhai. Và từ đó hình thành những dòng di cư từ nông thôn ra đô thị. TP. Hồ Chí Minh là thành phố thu hút dân nhập cư cao nhất trong cả nước mà những dòng nhập cư nhiều nhất đến đây là đồng bằng sông Cửu Long - nơi mà dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính. Những dòng di dân này gây hậu quả cho cả nơi đến và nơi đi. Vì những người nhập cư từ nông thôn đa phần trình độ không cao nên khi nhập cư đến nơi mới họ phải làm những công việc với mức lương thấp, không đảm bảo được đời sống…gây áp lực về mặt kinh tế, xã hội . Trong khi đó, nơi đi lại thiếu lao động, vấn đề sản xuất nông nghiệp nông thôn bị ảnh hưởng không ít. * Về sự phát triển con người Nhìn chung Nam Bộ là vùng có chỉ số HDI khá cao so với cả nước. Theo số liệu của Viện Khoa học Thống kê ISS thuộc tổng cục Thống kê 2001, chỉ số HDI của vùng Đông Nam Bộ cao nhất nước( 0,769) và vùng đồng bằng Sông Cửu Long đứng thứ 4 cả nước( 0,671). Nam Bộ với Đông Nam Bộ là vùng kinh tế trọng điểm cả nước có hệ thống giáo dục, y tế, kinh tế, văn hóa vào dạng quy mô nhất cả nước. Tuy nhiên Đồng bằng Sông Cửu Long có chỉ số HDI không cao so với mức chung cả nước (0,697). Có thể lý giải điều này là do hệ thống cơ sở hạ tầng của vùng vẫn chưa tốt, kinh tế kém phát triển hơn dù có nhiều tiềm năng cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản. So với cả nước giáo dục vùng Đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn tụt hậu quá xa so với nhu cầu. Cũng theo con số thống kê, số người trong độ tuổi lao động không biết chữ vẫn chiếm tới 6,23% (cả nước chỉ còn 3,97%). Số người chưa tốt nghiệp tiểu học chiếm 32,37% (cả nước chỉ còn 16,4%). Trong khi số người tốt nghiệp cấp II và III mới chiếm 21,78%, chậm so với mức tăng chung của cả nước là 50,43%. Thực trạng lao động việc làm còn đáng lo hơn: có tới hơn 91% lao động không có chuyên môn kỹ thuật. Trong đó, lao động tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chỉ chiếm khoảng 2,5%, lao động tốt nghiệp đại học, cao đẳng chiếm hơn 1,6% và con số có trình độ trên đại học còn thê thảm hơn: chỉ chiếm vẻn vẹn 0,01% trong tổng số những người còn tuổi lao động.( SGGP, 12/ 2004). Ngoài giáo dục thì vấn đề y tế của vùng cũng có nhiều khó khăn, mạng lưới y tế còn chưa hoàn thiện dẫn tới việc người dân phải tràn lên TPHCM khám chữa bệnh dẫn tới thực trạng quá tải của bệnh viện ở đây. Bên cạnh đó đặc thù vùng là sông nước, thường xuyên đối diện với lũ nên vấn đề dịch bệnh cũng là vấn đề khá thường trực của vùng, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sống của người dân. Tác động của quá trình hiện đại hóa nói chung, tác động của luật đất đai nói chung đã có những tác động nhất định đến khu vực Nam Bộ. Giáo dục, y tế được đầu tư đúng mức, chất lượng cuộc sống của con người tăng lên. Tuy nhiên về thực tế thì chất lượng con người của vùng, tính riêng vùng ĐB SCL vẫn chưa có những biến đổi tương xứng với tiềm năng dồi dào của mình trong khi ĐNB lại là vùng có chỉ số HDI cao nhất nước, tận dụng được lợi thế của công cuộc phát triển mang lại. 3.3. Ảnh hưởng đối với kinh tế nông thôn nam bộ Cơ cấu kinh tế Cây lúa giữ ưu thế tuyệt đối trong cơ cấu ngành nông nghiệp của Nam Bộ, trong đó đồng bằng sông Cửu Long chiếm tới 99% diện tích cây lương thực.Vì cây lúa có vị trí quan trọng nên Nhà nước có chính sách bảo vệ đất chuyên trồng lúa nước, hạn chế chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp( Điều 74- Luật Đất đai) . Luật đất đai chú trọng đến việc ưu tiên cho việc đảm bảo diện tích trồng lúa nước, hạn chế chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp vì vấn đề này liên quan trực tiếp đến lương thực quốc gia và Nam Bộ còn tạo ra nguồn xuất khẩu góp vào GDP của cả nước. Nhưng mặt khác do xu hướng cơ cấu kinh tế chuyển dịch dần từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ nên diện tích đất nông nghiệp cũng dần bị thu hẹp. Từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang dịch vụ và công nghiệp (Điều 36: Chuyển mục đích sử dụng đất). Nhiều dự án đầu tư trong và ngoài nước đã tập trung ở đây làm cho diện tích đất nông nghiệp càng thu hẹp.Trong Luật đất đai cũng cho thấy sự ưu tiên phát triển công nghiệp (Điều 40: Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế. (1). Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế trong trường hợp đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ). Trong cả nước thì Đông Nam Bộ là vùng tập trung nhiều các khu công nghiệp, khu chế xuất nhất và diện tích đất ở những nơi này đều xuất phát phần lớn từ nguồn gốc đất nông nghiệp. Sự chuyển đổi này một mặt giải quyết được một phần không nhỏ vấn đề việc làm trong một bộ phận người dân nhưng cũng dẫn đến một hệ quả là người nông dân mất đi tư liệu sản xuất. Trong khi đó chưa sẵn sàng các hình thức chuyển đổi nghề nghiệp phù hợp đối với những đối tượng này. Và hệ quả tất yếu là những cuộc di dân, trong đó thành thị trở thành điểm đến của nhiều dòng nhập cư từ nông thôn. Theo thống kê, do xây dựng công nghiệp hóa và đô thị hóa nông thôn, trong 5 năm vừa qua đã có 13% số hộ nông dân trên cả nước bị mất đất. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2007 số người sống ở nông thôn chiếm 72,6%, lao động nông thôn chiếm 74,6 % tổng lực lượng lao động cả nước. Trong khi tư liệu sản xuất của người nông dân là đất đai thì con số thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, việc thu hồi đất trong 5 năm (2003 - 2008) đã tác động đến đời sống của trên 627.000 hộ gia đình, với khoảng 950.000 lao động và 2,5 triệu người. Tài liệu nghiên cứu ở Vụ Lao động - Việc làm (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) năm 2007 cho biết, trung bình mỗi hộ nơi bị thu hồi đất có 1,5 lao động mất việc làm; Đồng Nai của khu vực Nam Bộ đứng thứ 3 cả nước khi có tới 12.295 người mất việc làm. Chưa kể đến hệ quả nữa là khi xây dựng các khu công nghiệp xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường nên việc sản xuất của nông dân khu vực xung quanh cũng bị ảnh hưởng, sự kiện nhà máy Vedan xả nước ra sông Thị Vải là 1 ví dụ điển hình. Từ cơ cấu kinh tế được chuyển dịch thì vấn đề cơ cấu lao động vùng cũng có những thay đổi đáng kể. Từ chỗ đặc thù nông nghiệp thì hiện tại người nông dân đã có những bước tiến trong xu hướng chuyển dịch lao động. Nam Bộ là môi trường mở, dễ thích nghi, con người Nam Bộ cũng vậy. Vì vậy có không ít trường hợp người dân chuyển qua làm công nghiệp, dịch vụ. Xu hướng đô thị hóa nông thôn khiến cơ cấu ngành nghề của nông thôn được mở rộng hơn, xu hướng chuyển dịch của người dân cũng tăng lên. Bên cạnh đó xu hướng hút dân của ĐNB và xu hướng xuất cư rất cao của Đồng bằng SCL chính là một tín hiệu chứng tỏ lao động trong vùng đang có những chuyển dịch to lớn về cơ cấu theo hướng giảm nông nghiệp, tăng công nghiệp, dịch vụ. Tính chất hoạt động kinh tế Nếu như trước kia kinh tế ở nông thôn Nam Bộ chỉ làm theo kiểu nhỏ lẻ thì nay dưới tác động của cơ chế thị trường thì các hộ nông dân đang có xu hướng liên kết lại với nhau. Ví dụ như sự ra đời của Hiệp hội nuôi cá basa. Các hộ nông dân có những trao đổi kinh nghiệm “ nông dân làm giàu” nhờ nuôi cây lạ, con lạ…thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Mô hình kinh tế trang trại được khuyến khích (Điều 82: Đất sử dụng cho kinh tế trang trại. (3). “Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất làm kinh tế trang trại được chủ động chuyển đổi mục đích sử dụng các loại đất theo phương án sản xuất, kinh doanh đã được Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét duyệt”). Tháng 2/2002 đã ra riêng Nghị quyết 3 về việc khuyến khích và bảo hộ phát triển kinh tế trang trại lâu dài. Đặc điểm chủ yếu của mô hình này là đã phá vỡ khuôn khổ kinh tế tiểu nông, mức độ thâm canh tăng năng suất, chuyên nghiệp hóa, đô thị hóa tương đối cao. Trong Luật đất đai cũng quy định rõ quyền được “Chuyển mục đích sử dụng đất” (Điều 36) nên 1 bộ phận đất được chuyển sang làm dịch vụ (như hình thức du lịch sinh thái) đã giúp nông dân biết làm giàu trên mảnh đất của mình. Nông dân miền Tây hiện nay phát triển mô hình hiệu quả là kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và du lịch sinh thái. Sự linh hoạt trong nắm bắt nhu cầu thị trường này đã tăng thêm thu nhập cho người nông dân. Nhà nước đặc biệt khuyến khích vào việc đầu tư và sử dụng có hiệu quả đất trồng, đồi núi trọc, tận dụng khai thác các loại đất còn hoang hóa hướng chuyên canh với tỉ suất hàng hóa cao. Ưu tiên giao đất cho thuê đất với những hộ nông dân có vốn, có kinh nghiệm sản xuất, quản lí, có yêu cầu qui mô sản xuất nông nghiệp hàng hóa và những hộ không có đất sản xuất nông nghiệp có nguyện vọng tạo dựng lâu dài trong nông nghiệp (Điều 82: Đất làm muối. (1). “ Nhà nước khuyến khích hình thức kinh tế trang trại của hộ gia đình, cá nhân nhằm khai thác có hiệu quả đất đai để phát triển sản xuất, mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối gắn với dịch vụ, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp”). Luật đất đai hiện hành quy định người sử dụng đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. (Chương IV – Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất). Cụ thể ở mục 4 – Quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng đất. Điều khoản này đã được nhiều hộ nông dân Nam Bộ vận dụng và đã mang lại nhiều thay đổi tích cực cả về cuộc sống của họ, cũng như những dự án đầu tư của nước ngoài. Điều khoản này cho phép hộ gia đình cá nhân trong nước cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuê đất, được tặng cho quyền sử dụng đất và quyền để lại thừa kế cho người sử dụng đất của thành viên hộ gia đình. Thực tế hiện nay ở nhiều tỉnh phía Nam, hộ nông dân có quyền sử dụng đất đã cho một số nhà đầu tư nước ngoài thuê đất với thủ tục cho thuê đơn giản, nhà đầu tư và người nông dân thoả thuận việc thuê đất trên hợp đồng thuê, có xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Từ đó các quyền và nghĩa vụ được phát sinh mà không phải thông qua các thủ tục hành chính như thuê đất của Nhà nước vốn được coi là nhiều phiền hà. Mặt khác, bản thân hộ nông dân tự mình chuyển đổi nghề nghiệp và khai thác có hiệu quả khoản tiền mà nhà đầu tư nước ngoài trả. Hơn nữa, với nhiều ưu đãi dành cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư vào Việt Nam việc tạo điều kiện cho họ được thuê đất trực tiếp từ hộ gia đình, cá nhân trong nước là hoàn toàn hợp lý. Từ đây, Việt kiều có thể an tâm khi được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất, vừa có thể vận dụng Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hoặc Luật khuyến khích đầu tư trong nước, lại vừa được thuê đất của hộ gia đình, cá nhân trong nước với thủ tục thuê đất nhiều tiện lợi. Có thể thấy rằng, điều luật này một mặt góp phần mở rộng thêm các quyền cho người sử dụng đất và tạo điều kiện cho hộ gia đình, cá nhân có thêm khả năng sử dụng đất. Mặt khác, về phía bên cho thuê là các hộ nông dân miền Nam, khi sử dụng và biết khai thác tốt, điều luật này sẽ giúp người nông dân có thêm khả năng thực hiện các giao dịch dân sự và thương mại về đất đai. Bên cạnh đó là vấn đề phát triển của thị trường bất động sản của Nam Bộ đang nóng lên từng ngày.Giáo sư Lan Williamson, Đại học Melbourne, Úc, người chỉ đạo cuộc điều tra về thị trường đất đai khu vực nông thôn Việt Nam, nhận xét: “…trong quãng thời gian 10 năm, Việt Nam đã tạo ra một thị trường đất đai chính thức khá năng động ở khu vực nông thôn. Tuy mới hình thành, nhưng thị trường bất động sản đã từng bước góp phần cải thiện điều kiện sống của nhân dân, tăng cường hiệu quả sử dụng và kinh doanh đất đai, nhà xưởng, bước đầu biến bất động sản trở thành nguồn lực quan trọng trong việc đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tóm lại, Luật đất đai ra đời đã góp phần mở rộng sản xuất, tập trung đất đai, nâng cao sức sản xuất, góp phần cho sự chuyển đổi linh hoạt nghề nghiệp, tăng cao thu nhập cho xã hội. Tuy nhiên, sự vận dụng yếu kém luật đất đai ở một số địa phương cũng chính là nguyên nhân dẫn tới lãng phí vốn đất, ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng tới canh tác nông nghiệp, dảm bảo an ninh lương thực của khu vực. III. Khuyến nghị và kết luận Khuyến nghị Xem xét, điều chỉnh quyền sở hữu đất Quy hoạch cụ thể, nhà nước phân bố sử dụng đất hợp lý Nhà nước phải dựa trên điều kiện phát triển của từng địa phương để dề ra những chính sách hợp lý (cần có những cuộc điều tra xã hội học đối với địa phương trước khi ra quyết định quy hoạch, thu hồi đất.) Thay đổi cơ cấu, bộ máy quản lý hợp tác xã. Cải cách thủ tục hành chính quản lý đất nhằm kích hoạt thị trường đất nông nghiệp. Xử lý hành vi vi phạm luật đất đai, đặc biệt là tình trạng quy hoạch dự án treo. Loại bỏ gấp cơ chế xin- cho đất trong việc tạo mặt bằng sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư và đấu giá quyền sử dựng đất đối với các dự án đầu tư. Kết luận Vùng đất Nam Bộ có những thế mạnh riêng về điều kiện tự nhiên – xã hội và con người. Đó là vùng đất có ưu thế toàn diện nhất cả nước về kinh tế nông nghiệp, có truyền thống sản xuất lương thực hàng hóa với đa dạng những mặt hàng nông sản hàng hóa lâu đời. Ngày nay, nông thôn Nam Bộ với những vấn đề đang đặt ra trước sự phát triển của nó, cần được các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu quan tâm toàn diện và kịp thời hơn nữa. Nhất là bản thân luật đất đai cần được quan tâm và bổ sung kịp thời để có thể vận dụng tốt nhất trong hoàn cảnh đặc thù của nông thôn Nam Bộ. Có như vậy thì cuộc sống của người dân mới được ổn định và phát triển đi lên, an ninh chính trị và an ninh lương thực được đảm bảo, xã hội Việt Nam công bằng, dân chủ và văn minh. Tài liệu tham khảo Số liệu thống kê của Tổng cục thống kê Báo sài gòn giải phóng, 12/2004 Tài liệu nghiên cứu ở Vụ Lao động - Việc làm (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) năm 2007 Tạp chí Nông thôn mới www.luatdatdai.com www.nongthon.net www.agroviet.gov.vn www.wikipedia.com

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docẢnh hưởng của luật đất đai đến kinh tế - văn hóa - xã hội nông thôn nam bộ.doc