Báo cáo Tại tổng công ty xăng dầu Petrolimex

Lời mở đầu Đất nước Việt Nam sau một thời gian đổi mới và phát triển đang bước những bước đi đầu tiên vào thế kỷ 21. Cuộc sống của con người Việt Nam đã ngày một nâng cao, nhu cầu mọi mặt của con người ngày càng tăng thêm. Những phương tiện giao thông hiện đại như máy bay, ô tô, xe gắn máy, . đã trở thành quen thuộc và cần thiết trong đời sống. Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam - PETROLIMEX - hiện tại là một tổ chức kinh doanh thương mại xăng dầu lớn nhất trong nước. Mục tiêu của PETROLIMEX là đáp ứng tốt nhất theo tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế các nhu cầu về xăng dầu, sản phẩm hoá dầu và các dịch vụ liên quan của khách hàng trong và ngoài nước góp phần đắc lực phục vụ mục tiêu kinh tế - xã hội của Nhà nước. PETROLIMEX - hãng xăng dầu quốc gia đang có những đóng góp to lớn đáng ghi nhận vào sự nghiệp xây dựng và phát triển nền kinh tế hiện đại nhưng vẫn đậm đà bản sắc văn hoá của con người Việt Nam. Dưới sự hướng dẫn khoa học tận tình, chu đáo của giáo viên bộ môn, cùng những sự giúp đỡ thiết thực và đầy hiệu quả của đơn vị thực tập, cộng với sự cố gắng phấn đấu của bản thân, tôi xin phép được trình bày một cách khái quát nhất về công tác quản trị kinh doanh tại Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam. Báo cáo thực tập tốt nghiệp của tôi gồm các phần như sau: Phần I: Giới thiệu tổng công ty xăng dầu Việt Nam qua những chặng đường xây dựng và phát triển Phần II: Phân tích các hoạt động kinh doanh của Tổng công ty xăng dầu (qua các năm 1997-1999) Phần III: Đánh giá công tác quản trị doanh nghiệp và các đề xuất, kiến nghị Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo bộ môn và ban lãnh đạo, cán bộ trong Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này.

doc36 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 5412 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Báo cáo Tại tổng công ty xăng dầu Petrolimex, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
dầu Hải Phòng - Công ty Xăng dầu Bắc Thái - Công ty Xăng dầu 176 (Hà Bắc) - Công ty Xăng dầu Quảng Ninh - Công ty Xăng dầu Vĩnh Phú - Công ty Xăng dầu Hà Nam Ninh - Công ty Xăng dầu Nghệ Tĩnh + ở miền Nam có: - Công ty Xăng dầu Đà Nẵng - Công ty Xăng dầu miền Nam (tại TP Hồ Chí Minh). Sau một thời gian, Tổng công ty Xăng dầu tổ chức lại hệ thống các công ty thành viên, từ các công ty hoạt động trong phạm vi nhỏ ở tỉnh và thành phố, tổng công ty đã tổ chức lại thành các công ty khu vực: - Công ty Xăng dầu khu vực I tại Hà Nội. - Công ty Xăng dầu khu vực II tại TP. Hồ Chí Minh - Công ty Xăng dầu khu vực III tại Hải Phòng - Công ty Xăng dầu khu vực IV tại Hà Bắc - Công ty Xăng dầu khu vực V tại Đà Nẵng Với cơ cấu tổ chức hợp lý và đổi mới này, Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam đã trực tiếp cung ứng cho các nhu cầu của Trung ương và địa phương ở 17 tỉnh, thành phố lớn trong cả nước với 80% tổng khối lượng của toàn ngành hàng. Tổng công ty đã có những thành tích về việc đổi mới cơ cấu tổ chức và lực lượng lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường thêm một bước đáng kể, lượng xăng dầu nhập khẩu và cung ứng đã tăng thêm nhiều so với những năm trước đây. Có thể xem qua biểu thống kê sau: Năm Nhập (tấn) Xuất (tấn) 1976 898.319 1.251.426 1980 1.617.392 1.715.681 Trong giai đoạn này, điều đáng ghi nhận là Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam đã vượt qua được những khó khăn trong giai đoạn đổi mới, sắp xếp lại tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đặc biệt tăng cường đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật của ngành. Năm 1975 toàn Tổng công ty chỉ có 43 cán bộ đại học, năm 1985 đã lên tới 500 cán bộ trong đó có 02 phó tiến sỹ. Sau 10 năm ngày đất nước giải phóng và kết thúc chặng đường 30 năm xây dựng và trưởng thành, ngành xăng dầu đã được Nhà nước tặng 12 bằng khen của Hội đồng Bộ trưởng, 8 huân chương lao động cho 8 xí nghiệp và Huân chương độc lập hạng nhì cho toàn ngành. - Giai đoạn thứ tư: (từ 1986 - 1995) Đây là giai đoạn Tổng công ty xăng dầu hoạt động có hiệu quả trong công cuộc đổi mới của đất nước. Tổng Công ty xăng dầu đã chọn việc mở rộng diện tích cung ứng sau điểm chiết khấu lam khâu đầu tiên trong quá trình chuyển hướng cơ chế quản lý và tiến hành nghiên cứu, đề xuất cụ thể việc kinh doanh xăng dầu trong một đề án có nội dung cụ thể như sau: 1. Vấn đề mua xăng dầu: Tổng công ty trực tiếp mua hàng với chủ hàng nước ngoài từ hai nguồn: a. Nguồn từ Hiệp định (chỉ tiêu Nhà nước). b. Nguồn tự nhập thông qua liên doanh, liên kết. 2. Vấn đề bán xăng dầu: a. Đối với xăng dầu chính do Nhà nước phân phối đến địa chỉ cụ thể cho các công trình từ nguồn vốn đầu tư của TW, giao chỉ tiêu pháp lệnh cho cơ quan cung ứng. Phần còn lại Nhà nước giao hạn mức cho từng ngành kinh tế - kỹ thuật. b. Đối với dầu nhờn mỡ nhờn, xăng động lực, xăng pha sơn: thực hiện phương thức bán tự do với giá cả sát giá thị trường với hai cấp định giá là cấp Nhà nước và cấp Tổng công ty. Chuyển hẳn các hoạt động dịch vụ sang kinh doanh. 3. Về tổ chức: Hình thành tổ chức cung ứng xăng dầu theo hai cấp: cấp Tổng công ty và cấp các công ty tỉnh hoặc liên tỉnh. Để nhanh chóng thích nghi với cơ chế thị trường, đễ giữ vai trò chủ đạo trong lĩnh vực lưu thông phân phối xăng dầu, Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam đã ban hành một bản hướng dẫn "Định hình các hoạt động sản xuất kinh doanh xăng dầu" với các nội dung cụ thể về việc kinh doanh và bán lẻ xăng dầu. Những thể nghiệm, những bước đi ban đầu trong sự nghiệp đổi mới của Tổng công ty Xăng dầu chính là sự nhạy bén, chủ động nắm bắt và vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng. Do đó, Tổng công ty Xăng dầu đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu xăng dầu của xã hội, đảm bảo giữ vững xăng dầu cho mọi chuyển động của kinh tế và đời sống xã hội. Ta có thể thấy rõ điều này qua thành tựu về xuất, nhập xăng dầu trong bản thống kê báo cáo dưới đây: Năm Nhập (tấn) Xuất (tấn) 1986 2.137.183 1.775.000 1987 2.492.822 1.960.000 1988 2.778.000 2.100.000 1989 2.741.811 2.200.000 1990 2.773.124 2.517.495 Từ năm 1991 cho đến 1995 Tổng công ty xăng dầu có một sự vươn lên mạnh mẽ trong sự nghiệp đổi mới toàn diện, vững vàng trong cơ chế thị trường. Tổng công ty đã thực sự hoạt động theo mô hình một hãng xăng dầu quốc gia, một doanh nghiệp mạnh và năng động. Có thể thấy rõ thành tựu của ngành năm 90 mà Tổng công ty Xăng dầu đạt được qua bảng thống kê sau: Năm Nhập (Tấn) Xuất (Tấn) Doanh số (Tỷ đồng) Lợi nhuận (tỷ đồng) Nộp ngân sách (tỷ đồng) 1990 2.643.124 2.517.495 2.445 32 238 1992 3.195.529 2.850.000 4.130 91 502 1994 2.825.537 2.765.167 7.530 500 1.872 II. Cơ cấu tổ chức và các đặc điểm hoạt động kinh doanh của Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam Cơ cấu tổ chức hệ thống sản xuất kinh doanh của Tổng công ty được thể hiện qua sơ đồ sau: Sơ đồ: Cơ cấu tổ chức hệ thống sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Tổng Giám đốc KDXD KDVT KD Gas KD XNK Phòng ban chức năng Các Công ty vận tải XD - VT XD đường biển, sông: + Nội địa + Quốc tế - VT XD bằng đường bộ: + Nội địa + Quốc tế - VT XD bằng đường ống: Nội địa Công ty xuất nhập khẩu Xuất khẩu - Nhập khẩu Các Công ty cơ khí XD - Các sản phẩm cơ khí XD - Cơ khí bao bì cho XD Công ty thiết kế - Thiết kế các công trình XD và dầu khí Phó Tổng Giám đốc Các Công ty Xăng dầu - Sản phẩm hoá dầu - Xăng, điêzen, dầu lửa, TC1, FO - Dầu mỡ nhờn - Gas hoá lỏng - LPG - Nhựa đường - Asphalt - Hoá chất công nghiệp, PVC - Vật tư tổng hợp Công ty Gas - Gas Hệ thống khách sạn - Xây dựng công trình dầu khí - Xây dựng công trình dân dụng Các Công ty cổ phần - Công ty CPTM & VT PETROLIMEX Hà Nội - CT CP BH PETROLIMEX - CT CP TM&VT PETROLIMEX Đà nẵng - CT liên doanh BP - PETCO - Xây lắp LD CK LD Thiết kế Bộ máy quản lý của Tổng công ty. Với mặt hàng kinh doanh đặc biệt và mạng lưới kinh doanh rộng lớn nên bộ máy quản lý của Tổng công ty mang những nét đặc thù. Bộ máy quản lý của Tổng Công ty được áp dụng theo hình thức trực tiếp chức năng nhằm đáp ứng kịp thời thông tin, số liệu cho cấp lãnh đạo và ngược lại các chỉ thị, mệnh lệnh từ lãnh đạo sẽ được truyền đạt trực tiếp và nhanh chóng đến những người tổ chức thực hiện. Các công ty thành viên chịu sự quản lý trực tiếp của Tổng Công ty, các xí nghiệp, chi nhánh, cửa hàng chịu sự quản lý trực tiếp của các công ty. Cơ quan quyền lực cao nhất của Tổng công là Hội đồng quản trị (HĐQT). Mỗi một chức vụ đều có nhiệm vụ và chức năng cụ thể. Dưới HĐQT là 14 phòng ban chức năng. Ngoài ra, Tổng Công ty còn có một văn phòng đại diện tại TP. Hồ Chí Minh. Bộ máy quản lý của Tổng công ty được tóm tắt theo sơ đồ (trang sau). Nhiệm vụ và chức năng cụ thể của từng chức vụ như sau: Nhiệm vụ của HĐQT: Quản lý các hoạt động của Tổng công ty, chịu trách nhiệm về sự phát triển của Tổng công ty theo nhiệm vụ của Nhà nước giao. Giúp việc cho HĐQT là Ban kiểm soát và Ban giúp việc. Ban kiểm soát có nhiệm vụ giám sát mọi hoạt động của Tổng công ty. Ban giúp việc có nhiệm vụ trợ giúp mọi hoạt động của HĐQT. Tổng Giám đốc do Bộ trưởng Bộ Thương mại bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật theo đề nghị của HĐQT Tổng công ty. Tổng Giám đốc là đại diện toàn quyền của Tổng công ty, chịu trách nhiệm trước HĐQT, Bộ trưởng Bộ Thương mại cũng như Thủ tướng Chính phủ về điều hành hoạt động của Tổng Công ty. Dưới Tổng Giám đốc có các Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và các Ban chức năng giúp việc. Phó Tổng Giám đốc giúp Tổng Giám đốc trong việc tổ chức, điều hành và phát triển toàn Tổng công ty. Phó Tổng giám đốc ký thay Tổng Giám đốc các tài liệu, báo cáo theo chỉ định cụ thể của Tổng Giám đốc, thay mặt Tổng Giám đốc lãnh đạo Tổng Công ty trong thời gian Tổng Giám đốc vắng mặt theo sự phân công của Tổng Giám đốc. Mỗi Phó Tổng Giám đốc đều được phân công điều hành một số lĩnh vực cụ thể. Kế toán trưởng có trách nhiệm tổ chức, kiểm tra xét duyệt các báo cáo kế toán, thống kê, báo cáo của đơn vị cấp dưới gửi lên. Kế toán trưởng có chức năng kiểm tra toàn bộ hoạt động kế toán trong nội bộ Tổng Công ty. Sơ đồ: Bộ máy quản lý của Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam Kỹ thuật XD An toàn môi trường TT & hợp tác kinh tế Pháp chế thanh tra Tổ chức cán bộ Lao động tiền lương Đào tạo Văn phòng Kinh doanh Xuất - nhập khẩu Tài chính Kế toán Kiểm toán Công nghệ phát triển Đầu tư XDCB Tổng Giám đốc Các đơn vị thành viên Hội đồng quản trị Các phòng ban chức năng: - Phòng tổ chức cán bộ có nhiệm vụ giúp việc cho Tổng Giám đốc và HĐQT trong lĩnh vực tổ chức cán bộ. - Phòng Lao động tiền lương có nhiệm vụ theo dõi, tuyển dụng, định biên lao động, phân phối tiền lương, tiền thưởng. - Phòng Đào tạo có nhiệm vụ tổ chức các khoá huấn luyện, đào tạo cán bộ quản lý, khoa học cũng như lao động có chuyên môn. - Phòng An toàn môi trường có nhiệm vụ nghiên cứu những biện pháp bảo đảm an toàn phòng cháy chữa cháy và môi trường trong quá trình kinh doanh và sử dụng xăng dầu. - Phòng Kỹ thuật xăng dầu có nhiệm vụ nghiên cứu các biện pháp bảo đảm và nâng cao chất lượng xăng dầu. - Văn phòng Tổng Công ty là bộ phận thường trực, hành chính giúp ban lãnh đạo Tổng công ty tổ chức các cuộc Hội nghị, tổng hợp các báo cáo kết quả trong quá trình điều hành. - Phòng Đầu tư XDCB có nhiệm vụ hoạch định các chiến lược, kế hoạch, dự toán, thẩm định các dự toán, quyết toán các công trình. - Phòng Thị trường và hợp tác kinh tế có nhiệm vụ trong các lĩnh vực đối ngoại, nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước, các chính sách thương mại, quản lý mọi hoạt động đối ngoại, các hội trợ triển lãm quốc tế,... phụ trách khâu đầu tư chứng khoán và đầu tư tài chính ra ngoài Tổng công ty. - Phòng Xuất - Nhập khẩu có nhiệm vụ điều hành mọi hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu của toàn ngành. - Phòng Kinh doanh chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh nội địa của Tổng công ty. - Phòng Công nghệ phát triển có trách nhiệm nghiên cứu xu hướng phát triển của khoa học công nghệ thế giới, đối chiếu với tình hình thực tiễn ở Việt Nam để từ đó xây dựng phương hướng phát triển khoa học công nghệ trong ngành xăng dầu. - Phòng Pháp chế - thanh tra có nhiệm vụ xây dựng và triển khai những quy định chung cho toàn ngành về lĩnh vực pháp chế thanh tra, giải quyết các vấn đề tố tụng pháp luật trên phạm vi toàn ngành. - Phòng Tài chính có nhiệm vụ cung cấp vốn, hoạch định và giao các chỉ tiêu tài chính tới các đơn vị thành viên. Ngoài ra, một bộ phận của phòng Tài chính có chức năng kế toán cho khối Văn phòng Tổng Công ty. - Phòng Kế toán có nhiệm vụ tổ chức thực hiện và quản lý toàn bộ hệ thống kế toán trên toàn ngành, tổng hợp các báo cáo kế toán của các đơn vị thành viên, xây dựng báo cáo kế toán toàn ngành để trình lên Tổng Giám đốc và HĐQT. III. Môi trường kinh doanh của Tổng Công ty 1. Môi trường bên trong. Môi trường kinh doanh bên trong của một đơn vị được đánh giá bằng 2 yếu tố chủ yếu đó là nguồn lực vật chất và nguồn lực phi vật chất. + Các nguồn lực vật chất: nguồn lực vật chất của một đơn vị thể hiện được sức mạnh kinh tế tổng hợp của đơn vị đó bao gồm các yếu tố sau: - Vốn: Đặc điểm kinh doanh của Tổng Công ty Xăng dầu là nhập, xuất khẩu xăng dầu. Do đó từ khi thành lập đến nay Tổng công ty có nguồn vốn Nhà nước cấp cộng với nguồn vốn bổ sung. Đến nay nguồn vốn tính đến năm 1999: Vốn ngân sách : 1.000 tỷ Vốn tự bổ sung : 1.488 tỷ Vốn khác : 200 tỷ Vòng quay vốn năm 1999: 5,6 vòng - Cơ sở vật chất: Tổng công ty Xăng dầu quản lý các ban ngành nghiệp vụ, các công ty, chi nhánh xăng dầu, đại lý. Do vậy cơ sở vật chất của Tổng công ty rất lớn (TSCĐ), trong khi đó để phục vụ mọi khách hàng một cách nhanh chóng, thuận tiện Tổng công ty đã ngày càng hoàn thiện các công cụ kỹ thuật phục vụ khách hàng. - Hệ thống kinh doanh: Do quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty rộng lớn, đặc thù hàng hoá của Tổng công ty là một mặt hàng chiến lược có giá trị lớn vì vậy hệ thống kinh doanh của Tổng công ty phát triển rất nhiều chi nhánh, đại lý giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm. Hình thức tiêu thụ sản phẩm của Tổng công ty mang tính tuyên truyền rộng rãi thông qua các chi nhánh của toàn quốc để tiêu thụ sản phẩm. - Lao động và đội ngũ lao động: đội ngũ lao động của Tổng Công ty đa số là các cán bộ công nhân viên có trình độ cao 95% là trình độ đại học trong đó có 10% là các tiến sỹ, phó tiến sỹ, còn lại là trình độ trung cấp. + Các yếu tố nguồn lực phi vật chất: là những ảnh hưởng mang tính chất khách quan, nhưng nó cũng ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh của Tổng công ty. - Uy tín của đơn vị: Tổng công ty Xăng dầu là một Tổng công ty đầu ngành của Bộ Thương mại, chịu xuất nhập nhập khẩu xăng dầu cho toàn miền Bắc và một vài thị phần miền Nam. Tổng Công ty PETROLIMEX luôn là thương hiệu đảm bảo chất lượng cho mọi khách hàng. - Khả năng cạnh tranh: do cơ chế cởi mở cho các doanh nghiệp và nhất là việc Chính phủ bãi bỏ một loạt các giấy phép sản xuất kinh doanh, một loạt các doanh nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật chuyển sang kinh doanh xăng dầu. Các doanh nghiệp này đang tìm hiểu và đầu tư cho kinh doanh xăng dầu. Chúng ta đã biết rằng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp phải dựa vào 3 yếu tố: chất lượng, giá cả, năng lực, vốn. Với lợi thế của Tổng Công ty nếu xác định đầu tư đúng đắn thì khả năng cạnh tranh trên thương trường của Tổng công ty rất mạnh. VD: Quý III và IV/2000 và quí I/2001, giá dầu thô trên thế giới tăng, các đơn vị cùng kinh doanh xăng dầu chịu giá nhập khẩu tăng, thuế xăng dầu, giá bán lẻ vẫn giữ nguyên nên nếu bán hàng ra là lỗ vì vậy đã có 9/12 đơn vị ngừng kinh doanh trong khi đó Tổng công ty vẫn duy trì ổn định đảm bảo cung cấp đầy đủ xăng dầu cho khách hàng mặc dù bán hàng ra là "lỗ". 2. Môi trường bên ngoài: - Khách hàng: hiện tại khách hàng của Tổng Công ty chủ yếu là các đơn vị kinh doanh, quân đội, nhân dân, các công ty xăng dầu quốc tế (Lào, Campuchia). Để tiêu thụ sản phẩm của mình cho các đối tượng này yêu cầu đặt ra cho Tổng công ty là luôn đảm bảo duy trì nguồn hàng ổn định và chất lượng. - Nhà cung cấp: ở đây ta chú ý đến nguồn hàng chủ yếu do các nước Trung Đông cung cấp, tuy nhiên do giá luôn thay đổi ảnh hưởng tới giá cả. Cần phải dự trữ nguồn hàng một lượng lớn mà khả năng và quy mô Tổng Công ty đảm đương nổi. - Đối thủ cạnh tranh: Một loạt các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu ở mọi miền đất nước, nhưng sau thời gian đột biến giá xăng dầu ở Trung Đông ảnh hưởng tới kinh doanh xăng dầu tại Việt Nam đã có 2/3 các đơn vị kinh doanh xăng dầu dừng việc kinh doanh vì sợ bị lỗ nhường lại thị phần cho Tổng công ty và các đơn vị còn lại. Do đó trong thời gian tới, các đối thủ cạnh tranh là không đáng lo ngại. 3. Nhận xét chung về môi trường kinh doanh của Tổng công ty. Trong những năm gần đây ngành kinh doanh xăng dầu trong cả nước nói chung gặp nhiều khó khăn, mặc dù Chính phủ rất quan tâm đầu tư tạo điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh, nếu đến năm 2003 chúng ta phá bỏ hàng rào thuế quan giữa các nước trong khu vực như vậy ta có thể khẳng định môi trường kinh doanh của Tổng công ty không được thuận lợi nếu chúng ta không tập chung đầu tư đồng bộ máy móc thiết bị tiên tiến duy trì các mối quan hệ buôn bán. Phần II Phân tích các hoạt động kinh doanh của Tổng công ty xăng dầu (qua các năm 1997-1999) I. Phân tích các hoạt động kinh doanh của Tổng công ty Xăng dầu (qua các biểu số liệu năm 1997-1999) Biểu số 01: Tình hình nhập khẩu xăng dầu qua các năm 1997 - 1999 Tổng công ty xăng dầu Việt Nam TT Diễn giải ĐVT Khối lượng và trị giá So sánh 1997 1998 1999 98/97 99/98 Số TĐ Tỷ lệ Số TĐ Tỷ lệ I Tổng kim ngạch USD 636.070.877 455.938.477 558.922.638 -180.132.400 -28,3% 102.984.161 22,6% II Khối lượng NK Tấn 3.611.227 3.853.666 3.912.807 242.439 6,7% 59.141 1,5% 1 Xăng ôtô 869.151 887.139 832.283 17.988 2,1% -54.856 -6,2% 2 Diesel 1.781.368 1.968.964 1.900.869 187.596 10,5% -68.095 -3,5% 3 Mazut 758.213 827.450 1.031.129 69.237 9,1% 203.679 24,6% 4 D.Hoả, Zet 202.495 170.113 148.526 -32.382 -16,0% -21.587 -12,7% Qua số liệu ở Biểu số 01 cho thấy tổng khối lượng xăng dầu nhập khẩu qua các năm 97-99 đều tăng lên: năm 98, tổng khối lượng xăng dầu nhập khẩu tăng 242.439 tấn (tăng 6,7%) so với thực hiện 97; năm 99 khối lượng này tăng 59.141 tấn (tăng 1,5%) so với thực hiện 98. Nếu xét xem chi tiết khối lượng nhập khẩu của các mặt hàng nhập khẩu thì thấy rằng năm 98 khối lượng nhập khẩu của 3 mặt hàng xăng ôtô, diesel và mazut đều tăng so với thực hiện 97 trong đó mặt hàng diesel tăng cao nhất là 10,5% tiếp đến là mazut tăng 9,1% và xăng tăng 2,1%, riêng khối lượng nhập khẩu của dầu hoả, ZetA1 giảm mạnh (16%) so với khối lượng nhập khẩu 97. Đến năm 99 thì khối lượng nhập khẩu của các mặt hàng hầu hết đều giảm xuống so với năm 98, chỉ có duy nhất mặt hàng mazut là tăng 24,6% so với năm 98. Diễn biến khối lượng nhập khẩu các mặt hàng như trên là do biến động tăng/giảm sản lượng xăng dầu tách ra ở Phụ biểu số 02. Năm 97, giá dầu trên thế giới giữ ở mức cao nên tổng kim ngạch nhập khẩu xăng dầu cũng ở mức cao 636.070.877 USD. Đến năm 1998, giá dầu thế giới giảm mạnh nên giá nhập khẩu của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam cũng ở mức thấp đã giúp cho Tổng công ty tiết kiệm 180.132.140 USD so với tổng kim ngạch năm 1997. Năm 1999, giá nhập khẩu xăng dầu nhích lên đã làm cho Tổng kim ngạch năm 1999 tăng 102.984.161 USD, nhưng nếu so với năm 1997 thì con số này vẫn còn thấp hơn rất nhiều (xấp xỉ 100 triệu USD). Biểu số 02 Tình hình xuất bán xăng dầu qua các năm 1997 - 1999 (theo mặt hàng) Tổng công ty xăng dầu Việt Nam TT Diễn giải ĐVT Sản lượng và doanh thu So sánh 1997 1998 1999 98/97 99/98 Số TĐ Tỷ lệ Số TĐ Tỷ lệ I Tổng doanh thu 1.000đ 12.483.955.268 12.284.387.972 12.155.420.751 -199.567.296 -1,6% -128.967.221 -1,0% II Sản lượng X.Bán m3 4.294.762 4.506.387 4.641.224 211.625 4,9% 134.837 3,0% 1 Xăng ô tô 1.168.476 1.186.281 1.105.377 17.805 1,5% -80.904 -6,8% 2 Diesel 2.109.660 2.282.837 2.306.794 173.177 8,2% 23.957 1,0% 3 Mazut 777.582 824.851 1.030.448 47.269 6,1% 205.597 24,9% 4 D.hoả, Zet 239.044 212.418 198.605 -26.626 -11,15% -13.813 -6,5% Số liệu ở Biểu số 02 phản ánh sản lượng xuất bán xăng dầu qua các năm 97-99 theo mặt hàng của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam cho thấy: Năm 98, tổng sản lượng xăng dầu xuất bán đạt 4.506.387 m3, tăng 211.625 m3 (+4,9%); mặt hàng diesel tăng 8,2%; mặt hàng mazut tăng 6,1% và mặt hàng dầu hoả, ZetA1 giảm 11,1%. Mặt hàng dầu hoả, ZetA1 giảm mạnh so với thực hiện 97 là do bắt đầu tư năm 98, cục xăng dầu quân đội không mua nhiên liệu bay từ Tổng công ty xăng dầu Việt Nam nữa mà chuyển sang mua hàng của công ty xăng dầu quân đội nên thị phần của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam giảm mạnh ở mặt hàng này. Đến năm 99, sản lượng xăng dầu xuất bán của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam chỉ tăng 134.837 m3 (tăng 3%) so với thực hiện 98, trong đó mặt hàng xăng giảm 6,8%; mặt hàng dầu hoả, ZetA1 giảm 6,5%; mặt hàng diesel chỉ tăng có 1% và nếu tính đến yếu tố tăng trưởng hàng năm thì đây cũng là sự giảm sút thị phần. Chỉ có duy nhất mặt hàng mazut là tăng cao so với thực hiện 98 ở mức 205.597 tấn (trong số các mặt hàng xăng dầu tách ra chỉ có mặt hàng mazut là sử dụng đơn vị tấn còn các mặt hàng khác sử dụng đơn vị m3). Sản lượng mazut tăng 24,9% so với thực hiện 98 thực sự là sự tăng trưởng thị phần ở mặt hàng này, các công ty thành viên đã thâm nhập vào các khách hàng công nghiệp lớn, đồng thời các công ty thành viên của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam đã khai thác tiềm năng ở các hộ công nghiệp mới đưa vào hoạt động trong năm 1999. Biểu số 03 Tình hình xuất bán xăng dầu qua các năm 1997 - 1999 (theo phương thức) Tổng công ty xăng dầu Việt Nam STT Diễn giải ĐVT Sản lượng xuất bán So sánh 1997 1998 1999 98/97 99/98 Số TĐ Tỷ lệ Số TĐ Tỷ lệ Tổng cộng m3 4.294.762 4.506.387 4.641.224 211.625 4,9% 134.837 3,0% 1 Bán buôn 2.888.084 2.968.130 2.944.136 80.046 2,8% -23.994 -0,8% 2 Bán lẻ 946.804 979.164 994.022 32.360 3,4% 14.858 1,5% 3 Tái xuất 459.874 559.093 703.066 99.219 21,6% 143.973 25,8% Tổng công ty xăng dầu Việt Nam thực hiện bán hàng qua 3 phương thức: bán buôn, bán lẻ và tái xuất. - Bán buôn: bao gồm cả việc bán cho các hộ tiêu dùng công nghiệp và bán hàng cho người tiếp tục quá trình lưu thông (các tổng đại lý, đại lý, người mua đi bán lại,...). - Bán lẻ: là toàn bộ lượng hàng bán qua cột bơm tại các cửa hàng bán lẻ trực thuộc mạng lưới bán lẻ của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam. - Tái xuất: là lượng hàng tạm nhập khẩu để bán sang các nước khác: Lào, Campuchia, Trung Quốc,... Qua số liệu ở Phụ biểu số 03 cho thấy bán buôn là phương thức bán hàng chủ yếu của Tổng công ty (khoảng 63á67%), tiếp đến là bán lẻ (khoảng 21á23%) và tái xuất chiếm tỷ trọng khoảng 10á13%. Năm 98, sản lượng bán buôn tăng 2,8% so với thực hiện 97, nhưng đến năm 99, sản lượng bán buôn giảm 0,8% so với thực hiện 98. Sản lượng bán lẻ năm 98 tăng 3,4% so với thực hiện 97 và năm 99 sản lượng này tăng 1,5% so với thực hiện 98. Lượng bán tái xuất qua các năm đều tăng mạnh, năm 98 tăng 21,6% so với năm 97, năm 99 tăng 25,8% so với năm 98. Năm 99 sản lượng bán tăng 134.837m3 so với năm 98 nhưng thực tế, sản lượng bán nội địa đã bị giảm xuóng do sản lượng tái xuất tăng 143.973m3 nên tổng sản lượng cả năm 99 vẫn tăng 134.837m3 so với thực hiện 98. Biểu số 04 Tình hình xuất bán xăng dầu qua các năm 1997 - 1999 (theo khu vực) Tổng công ty xăng dầu Việt Nam STT Diễn giải ĐVT Sản lượng xuất bán So sánh 1997 1998 1999 98/97 99/98 Số TĐ Tỷ lệ Số TĐ Tỷ lệ Tổng cộng m3 4.294.762 4.506.387 4.641.224 211.624 4,9% 134.837 3,0% 1 Miền Bắc 1.644.402 1.420.019 1.638.404 -224.383 -13,6% 218.385 15,4% 2 Miền Trung 687.496 714.918 737.235 27.422 4,0% 22.317 3,1% 3 Miền Nam 1.962.865 2.371.450 2.265.585 408.585 20,8% -105.865 -4,5% Qua Phụ biểu số 04 cho thấy: - Sản lượng miền Bắc năm 98 giảm sút 224.383m3 (-13,6%) so với thực hiện 97, nhưng đến năm 99, sản lượng ở miền Bắc đã tăng 218.385m3 (+15,4%) so với thực hiện 98, quay về những mức đã thực hiện năm 97 là 1.638.404m3 (thực hiện 97 là 1.644.402m3). - Sản lượng bán ở miền Trung có nhịp độ tăng trưởng qua các năm đều hơn: năm 98 tăng 27.422m3 (+4%) so với thực hiện 97, năm 99 cũng tăng 22.317m3 (+3,1%) so với thực hiện 98. - Sản lượng bán ở miền Nam năm 98 tăng cao so với năm 97 ở mức 408.585m3 (+20,8%) nhưng đến năm 99 lại bị giảm 105.865m3 (-4,5%). Biểu số 05 Kết quả kinh doanh xăng dầu qua các năm 1997 - 1999 Tổng công ty xăng dầu Việt Nam TT Diễn giải ĐVT Sản lượng xuất bán So sánh 1997 1998 1999 98/97 99/98 Số TĐ Tỷ lệ Số TĐ Tỷ lệ I Tổng doanh thu 1.000đ 12.483.955.268 12.284.387.972 12.155.420.751 -199.567.296 -1,6% -128.967.221 -1,0% II Tổng giá vốn 1.000đ 10.849.573.569 10.707.677.115 10.798.653.762 -141.896.454 -1,3% 90.976.647 0,8% III Lãi gộp 1.000đ 1.634.381.699 1.576.710.857 1.356.766.989 -57.670.842 -3,5% -219.943.868 -13,9% Tỷ suất lãi gộp %/DT 13,1% 12,8% 11,2% IV Chi phí KD 1.000đ 1.008.225.165 1.024.360.779 1.108.473.542 16.135.615 1,6% 84.112.763 8,2% Tỷ suất chi phí %/DT 8,1% 8,3% 9,1% V Lợi nhuận XD 1.000đ 626.156.534 552.350.078 248.293.447 -73.806.457 -11,8% -304.056.630 -55,0% Tỷ suất lợi nhuận %/DT 5,0% 4,5% 2,0% VI Nộp ngân sách 1.000đ 4.771.162.368 6.320.876.360 5.285.392.253 1.549.713.993 32,5% -1.035.484.107 -16,4% Biểu số 05 cho thấy rõ kết quả kinh doanh xăng dầu của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam qua các năm 97-99. Doanh thu kinh doanh xăng dầu ở các năm 98,99 đều giảm so với năm trước liền kề. Sự giảm sút này không phải do yếu tố giảm sút sản lượng bán mà chủ yếu do yếu tố về giá cả ở năm 98. Riêng năm 99 khi bắt đầu áp dụng Luật thuế GTGT, toàn bộ thuế doanh thu trước đây hạch toán vào doanh số thì bắt đầu từ năm 99, toàn bộ thuế GTGT loại trừ ra khỏi doanh số nên thực chất doanh số năm 99 có tăng lên so với các năm trước. Đi sâu vào chỉ tiêu tỉ suất lãi gộp thấy rằng tỷ suất lãi gộp đều bị giảm qua các năm: năm 97 là 13,1% trên doanh số, thì đến năm 98 chỉ là 12,8% và năm 99 con số này là 11,2%. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với thực trạng kinh doanh xăng dầu ngày càng khó khăn hiện nay, thị trường có hiện tượng cạnh tranh không bình đẳng (chủ yếu xuất phát từ chênh thuế nhập khẩu giữa sản phẩm xăng dầu nhập khẩu và nguyên liệu nhập khẩu về để pha chế thành sản phẩm xăng dầu). Bên cạnh đó, Nhà nước luôn có chủ trương tiết giảm lãi gộp xăng dầu thông qua việc điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu khi lãi gộp cao nên cũng làm cho tỉ suất lãi gộp của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam giảm xuống. Chi phí kinh doanh xăng dầu qua các năm cũng tăng lên về số tuyệt đối, đồng thời tỷ suất chi phí cũng tăng lên: năm 97 là 8,1%; năm 98 là 8,3% và năm 99 là 9,1%. Tỷ suất chi phí tăng lên một phần do yếu tố doanh số giảm, tuy nhiên điều quan trọng vẫn là do sự tăng lên của một số khoản mục chi phí lớn như chi phí tiền lương với tỷ trọng 14á16% đã tăng lên ở năm 98 là hơn 7 tỷ, ở năm 99 tăng hơn 30 tỷ so với năm 98 do số lao động tăng lên đồng thời do đòi hỏi khách quan về việc nâng cao đời sống cho CBCNV toàn Tổng công ty. Chi phí khấu hao TSCĐ chiếm tỷ trọng khoảng 10% cũng tăng lên, và các khoản chi phí khác (tỷ trọng khoảng 30%) cũng tăng lên. Chi tiết một số khoản mục phí lớn ở Phụ biểu số 06 kèm theo. Cuối cùng là chỉ tiêu lợi nhuận. Qua biểu 05 cho thấy lợi nhuận kinh doanh xăng dầu thu được năm 97 là cao nhất (hơn 626 tỷ đồng); năm 98 lợi nhuận kinh doanh xăng dầu là hơn 552 tỷ đồng và năm 99 lợi nhuận kinh doanh xăng dầu là 248 tỷ đồng. Và đương nhiên tỷ suất lợi nhuận cũng tương ứng bị giảm qua các năm: năm 97, tỷ suất lợi nhuận đạt ở mức quá cao là 5% trên doanh số; đến năm 98 là 4,5% và năm 99 đạt 2% trên doanh số. Thực ra với tỷ suất lợi nhuận năm 99 là 2,0% vẫn là 1 con số lý tưởng trong điều kiện kinh doanh ngày càng khó khăn như hiện nay. * Tình hình nộp ngân sách: tổng nộp ngân sách năm 98 tăng tới hơn 1.549 tỷ đồng so với thực hiện 97, năm 99 tổng nộp ngân sách giảm hơn 1.035 tỷ đồng so với thực hiện 98. Có sự biến động lớn này là do năm 98 là năm có giá nhập khẩu rất thấp và thấp nhất trong 3 năm, trong khi đó mặt bằng giá tối đa trong 3 năm đều giữ ổn định (không tăng, không giảm). Vì vậy, Nhà nước luôn tận thu ngân sách thông qua việc điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu của các mặt hàng. Biểu số 06 Một số khoản mục chi phí KDXD chủ yếu qua các năm 1997 - 1999 Tổng công ty xăng dầu Việt Nam TT Diễn giải ĐVT Sản lượng xuất bán So sánh 1997 1998 1999 98/97 99/98 Số TĐ Tỷ lệ Số TĐ Tỷ lệ I Tổng doanh thu 1.000đ 12.483.955.268 12.284.387.972 12.155.420.751 -199.567.296 -1,6% -128.967.221 -1,0% II Tổng chi phí 1.000đ 1.008.225.165 1.024.360.779 1.108.473.542 16.135.615 1,6% 84.112.763 8,2% Tỷ suất chi phí %/DT 8,1% 8,3% 9,1% 1 Tiền lương 1.000đ 141.365.073 148.649.641 178.679.168 7.284.568 5,2% 30.029.527 20,2% Tỷ trọng %/CP 14,0% 14,5% 16,1% 2 C.phí KHTSCĐ 1.000đ 99.307.687 100.180.818 115.980.568 873.131 0,9% 15.799.750 15,8% Tỷ trọng %/CP 9,8% 9,8% 10,5% 3 C.phí vận chuyển 1.000đ 326.580.201 325.086.975 310.394.935 -1.493.226 -0,5% -14.692.040 -4,5% Tỷ trọng %/CP 32,4% 31,7% 28,0% 4 C.phí hao hụt 1.000đ 139.825.091 133.045.055 134.665.972 -6.780.035 -4,8% 1.620.917 1,2% Tỷ trọng %/CP 13,9% 13,0% 12,1% 5 C.phí khác 1.000đ 301.147.113 317.398.291 368.752.900 16.251.178 5,4% 51.354.609 16,2% Tỷ trọng %/CP 29,9% 31,0% 33,3% Biểu số 07 Tình hình sử dụng vốn và cơ cấu tham gia kinh doanh qua các năm 1997 - 1999 Tổng công ty xăng dầu Việt Nam TT Diễn giải ĐVT Sản lượng và doanh thu So sánh 1997 1998 1999 98/97 99/98 Số TĐ Tỷ lệ Số TĐ Tỷ lệ I Tổng doanh thu 1.000đ 12.483.955.268 12.284.387.972 12.155.420.751 -199.567.296 -1,6% -128.967.221 -1,0% II Tổng vốn 1.000đ 2.055.326.000 2.091.288.000 2.152.310.000 35.962.000 1,7% 61.022.000 2,9% 1 Vốn ngân sách 1.040.215.000 1.000.852.000 1.003.453.000 -39.363.000 -3,8% 2.601.000 0,3% 2 Vốn tự bổ sung 1.013.307.000 1.090.195.000 1.148.645.000 76.888.000 7,6% 58.450.000 5,4% 3 Vốn khác 1.804.000 241.000 212.000 -1.563.000 -86,6% -29.000 -12,0% III Các quỹ đầu tư 1.000đ 96.884.000 234.227.000 344.657.000 137.343.000 141,8% 110.430.000 47,1% 1 Quỹ ĐT PT SX 59.646.000 203.679.000 316.014.000 144.033.000 241,5% 112.335.000 55,2% 2 Nguồn vốn XDCB 37.238.000 30.548.000 28.643.000 -6.690.000 -18,0% -1.905.000 -6,2% IV Vòng quay vốn vòng 6,1 5,9 5,6 Qua số liệu ở Phụ biểu số 07 cho thấy rõ tình hình sử dụng vốn qua các năm 97-99 của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam: Tổng vốn của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam đều được tăng lên qua các năm: năm 98 tăng gần 36 tỷ so với năm 97, năm 99 tăng hơn 61 tỷ so với năm 98. Các quỹ đầu tư cũng tăng lên qua các năm. Tuy nhiên, do yếu tố doanh số bị giảm như đã phân tích ở trên nên vòng quay vốn đã bị giảm qua các năm. Năm 97 đạt 6,1 vòng; năm 98 đạt 5,9 vòng và năm 99 đạt 5,6 vòng. Biểu số 08 Tình hình lao động và tiền lương qua các năm 1997 - 1999 Tổng công ty xăng dầu Việt Nam TT Diễn giải ĐVT Sản lượng và doanh thu So sánh 1997 1998 1999 98/97 99/98 Số TĐ Tỷ lệ Số TĐ Tỷ lệ I Tổng doanh thu 1.000đ 12.483.955.268 12.284.387.972 12.155.420.751 -199.567.296 -1,6% -128.967.221 -1,0% II Lao động BQ người 18.011 18.342 19.102 331 1,8% 760 4,1% III Tổng quỹ lương 1.000đ 258.900.000 289.211.000 291.574.000 30.311.000 11,7% 2.363.000 0,8% IV Mức phí T.lương /1.000 DT 21 24 24 3 13,5% 0 1,9% V Năng suất LĐ 1.000đ DT/ng 693.129 669.741 636.343 -23.389 -3,4% -33.398 -5,05 VI Thu nhập BT 1.000đ /ng/tháng 1.186 1.349 1.491 163 13,7% 142 10,5% Qua số liệu Phụ biểu số 08 cho thấy lao động của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam năm 98 tăng 331 người (+1,8%) so với số lao động 97, năm 99 tăng 760 người (+4,1%) so với lao động năm 98. Tổng quỹ lương qua các năm cũng được tăng lên về số tuyệt đối, tuy nhiên mức phí tiền lương vẫn ổn định năm 98 và năm 99 đều ở mức 24 đồng/1.000 đồng doanh số. Năng suất lao động (1.000 đồng doanh số/người) lại bị giảm xuống do yếu tố giảm doanh số. Thu nhập bình quân đầu người đều được tăng lên qua các năm chứng tỏ Tổng công ty xăng dầu Việt Nam đã không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống của người lao động. II. Đánh giá sơ bộ kết quả kinh doanh xăng dầu và một số giải pháp điều hành kinh doanh năm 2000-2001 1. Đặc điểm 1. Giá xăng dầu thế giới: Trong năm 2000 giá xăng dầu thế giới diễn biến hết sức phức tạp, tăng giảm ở biên độ lớn và duy trì ở mức cao đặc biệt là mặt hàng dầu hoả. Cụ thể giá xăng dầu thế giới ở thời điểm cao nhất và thấp nhất như sau (USD/thùng): Thấp nhất (B/Q tháng 4) Cao nhất (BQ tháng 9) Dầu thô 24,157 33,478 Dầu hoả 27,986 42,529 Diesel 26,529 40,503 Naptha 25,005 34,818 2. Giá cao, cung nhỏ hơn cầu dẫn đến việc tìm nguồn nhập khẩu rất khó khăn. 3. Từ đầu năm đến nay, Nhà nước thực hiện 4 lần tăng giá tối đa và hiện tại thuế nhập khẩu tất cả các mặt hàng 0% xong mức điều chỉnh đều thấp nên kinh doanh xăng dầu nội địa của Tổng công ty lỗ triền miên trừ tháng 4 phát sinh lợi nhuận. 4. Sức ép cung cấp về nguồn dồn về Tổng công ty. 5. Phát sinh lỗ giá vốn ở tất cả các mặt hàng trong quý 3; riêng mazut phát sinh trong cả năm. 2. Ước kết quả kinh doanh năm 2000 Riêng về lợi nhuận kinh doanh xăng dầu ước lỗ kinh doanh nội địa ở mức trên 800 tỷ đồng (6 tháng: -370 tỷ; quý 3 lỗ khoảng 400-450 tỷ đồng). 3. Giải pháp điều hành kinh doanh 1. Đảm bảo nguồn: dự kiến nhập: 1.500.000m3 tấn, tăng xấp xỉ 30% so với cùng kỳ 99 đáp ứng đủ nguồn cho các vùng lũ lụt, mặt hàng chính sách. 2. Điều hành thị trường: hiện tại, giá thế giới có xu hướng dịu trở lại sau thời điểm Nhà nước tăng giá tối đa (21/9/2000) xong vẫn duy trì ở mức cao; với giá nhập, thuế nhập khẩu, tỷ giá hiện hành so với giá tối đa mới đã phát sinh lợi nhuận đối với mặt hàng xăng (chênh lệch tối đa - giá vốn chưa có chi phí ở mức 450-500đ/lít) các mặt hàng còn lại vẫn tiếp tục lỗ giá vốn ở mức cao (Dầu hoả, Mazut), riêng Diesel xấp xỉ hoà giá vốn. Chênh lệch giá xăng và dầu hoả ở mức cao. Trước tình hình trên, việc điều hành giá, thị trường trước cần đạt được các mục tiêu cụ thể như sau: Mục tiêu chung: cố gắng duy trì mặt bằng giá thị trường hiện tại để tăng tích luỹ, giảm việc cấp bù từ ngân sách trong điều kiện có thể. Mục tiêu này có thể đạt vì các đối tác khác hiện cũng đang bị lỗ ở mức cao mặc dù có điều kiện hạ giá hơn Tổng công ty (chi phí kinh doanh thấp hơn) nhưng cũng giống Tổng công ty phải bù đắp lỗ cho thời kỳ trước; Tuy nhiên, không loại trừ khả năng các đối tác khác tự động hạ giá bán để đạt hạn ngạch nhập khẩu Bộ giao. Xuất phát từ nhận định trên, biện pháp điều hành giá cụ thể như sau: - Đối với miền Bắc: không thay đổi và tiếp tục duy trì giá cứng đối với tất cả các mặt hàng (độ chênh giá min với giá tối đa 80-90đ/lít và một mức giá thống nhất). - Đối với phía Nam: Hiện tại, mặt hàng xăng bán ra mặc dù kinh doanh lỗ nhưng chỉ tăng trưởng khoảng 6% so cùng kỳ 99; như vậy, thị phần đối với mặt hàng xăng của Tổng công ty tại phía Nam không tăng so với 99 do các đối tác khác đã tham gia trong thị trường tương đối đều; chính vì vậy, nếu xăng có lợi nhuận, rất có thể có sự cạnh tranh của các đối tác khác nên giá bán nội bộ kỳ 1/10 Tổng công ty sẽ quy định ở điều kiện bình thường và mức điều tiết quỹ dự phòng để lại trên Tổng công ty sẽ ở mức cao (điều hành giá bán nội bộ tại đầu nguồn chênh với giá tối đa ở mức khoảng 150-170đ/lít). Các mặt hàng khác tiếp tục duy trì ở trạng thái bất thường. - Nhu cầu dầu hoả tăng đột biến do nhiều nguyên nhân (lũ lụt, chênh lệch giá) nên việc đảm bảo nguồn khó khăn. Tổng công ty cần có chính sách bán hàng đối với mặt hàng dầu hỏa phù hợp đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng. Khi hiếm nguồn dầu hoả sẽ bị hút về nguồn xăng 83 (để pha trộn vào xăng 92) vì vậy cũng cần có chính sách bán mặt hàng này phù hợp. - Nếu lũ lụt ở Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục diễn ra trên diện rộng, duy trì lâu, Tổng công ty cần có giải pháp đảm bảo nguồn phù hợp: xuất hàng không kể ngày lễ chủ nhật, cấp không thu tiền theo lệnh của Chính phủ, bán hàng lưu động hoặc nhập khẩu bổ sung thêm mặt hàng thiết yếu (dầu hoả) nếu thấy cần thiết... Phần III Đánh giá công tác quản trị doanh nghiệp và các đề xuất, kiến nghị I. Phân tích và đánh giá công tác quản trị doanh nghiệp 1. Phân tích và đánh giá quản trị doanh nghiệp theo các chức năng. a. Công tác hoạch định: Hoạch địch được hiểu là một quá trình liên quan đến tư duy và ý thức của con người, bắt đầu bằng việc xác định mục tiêu và định rõ chiến lược, chính sách thủ tục và các kế hoạch chi tiết để đạt mục tiêu, định rõ các giai đoạn phải trải qua để thực hiện mục tiêu, nó cho phép hình thành và thực hiện các quyết định. Tổng công ty Xăng dầu trải qua bao nhiêu biến động trong công tác tổ chức và ổn định sản xuất. Chính vì vậy, thực chất bây giờ Tổng công ty Xăng dầu muốn tránh khỏi quy luật chung cần có một chiến lược hoạch định trong mọi lĩnh vực. Trong công tác hoạch định, vào đầu mỗi năm Tổng công ty Xăng dầu xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh cho cả năm và phân kế hoạch ra từng quý cụ thể. Căn cứ để lập kế hoạch kinh doanh thương mại Tổng công ty Xăng dầu dựa vào tình hình sản xuất kinh doanh của năm trước và có dự đoán tình hình thị trường cho năm tiếp theo. Thường các kế hoạch sản xuất kinh doanh của năm sau cao hơn năm trước nhưng tính thực thi không cao và thường bị tác động của thị trường quốc tế. Ngoài ra, hàng năm Tổng công ty Xăng dầu cũng xây dựng mục tiêu tuyển dụng số công nhân có tay nghề để tăng cường thêm cho bộ phận trực tiếp sản xuất, bán hàng nhưng số công nhân tuyển dụng này thường không đáp ứng ngay được các yêu cầu đề ra mà phải có thời gian kèm cặp mới đảm đương được công việc, thành ra nhiều khi yêu cầu về năng lực sản xuất kinh doanh không đạt được kế hoạch cho mục tiêu kinh doanh đề ra. Nhìn chung công tác tổ chức hoạch định của Tổng công ty Xăng dầu còn mang nặng tính hình thức để báo cáo, công tác hoạch định không dựa vào tình hình thực tế, không mang tính khoa học. Chính vì vậy, công tác đôn đốc thực hiện kế hoạch cũng bị bỏ dở dang, và các kế hoạch đặt ra đều không thực hiện được. b. Đánh giá công tác tổ chức: Tổng công ty Xăng dầu là một đơn vị sản xuất lớn, năng lực sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải có đầy đủ bộ máy để vận hành cho nó hoạt động theo đúng chức năng. Chính vì vậy, bộ máy tổ chức của Tổng công ty là hợp lý. Việc tổ chức cơ cấu các phòng ban làm việc còn thiếu hiệu quả, không mang tính linh hoạt do việc kết nối công việc giữa các phòng ban không được tốt. Ban lãnh đạo Tổng công ty Xăng dầu không phân việc cụ thể cho các phòng ban giải quyết, bởi vậy nhiều công việc phát sinh hàng ngày phải giải quyết còn rất lúng túng. c. Đánh giá công tác lãnh đạo điều hành. Lãnh đạo điều hành là một chức năng quan trọng của quản trị. Lãnh đạo được hiểu là một hệ thống tác động đến con người hay một tập thể để cho họ tự nguyện và nhiệt tình thực hiện các hành động cần thiết nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Các vấn đề trọng yếu như xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh, xác định mục tiêu lâu dài cho phương án sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Xăng dầu, tổ chức bộ máy quản lý, công tác kế toán tài chính,... đều do trực tiếp Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc chỉ đạo các phòng ban chức năng. Mối quan hệ giữa trưởng phòng và các nhân viên trong phòng là mối quan hệ dân chủ kết hợp với chuyên quyền cùng nhau bàn bạc giải quyết các công việc và trình Ban Giám đốc ký duyệt. d. Đánh giá chức năng kiểm soát: Công tác kiểm soát mọi hoạt động trong Tổng công ty Xăng dầu còn rất hạn chế. Mặc dù các công việc cụ thể mà các phòng ban chức năng hoặc bộ phận sản xuất chịu trách nhiệm thi hành và thực hiện, nhưng công tác kiểm tra đôn đốc không được thực hiện tích cực. Nhiều sự việc đáng ra phải thường xuyên đôn đốc hướng dẫn để thực hiện tránh những sai sót có thể xảy ra, nhưng công việc kiểm soát này không giao cụ thể cho một bộ phận chức năng kiểm soát nào, đã dẫn đến nhiều sự việc xẩy ra thật đáng tiếc đã ảnh hưởng đến uy tín của Tổng công ty. Chính vì những khiếm khuyết do công tác lãnh đạo điều hành, nhiều sự việc có sự sai lệch, thiếu sót nhưng sự điều chỉnh khắc phục chỉ mang tính "việc đã rồi" mà sự thua thiệt lại chính là Tổng công ty Xăng dầu phải gánh chịu nghĩa là cá nhân gây ra thì toàn Tổng công ty Xăng dầu phải chịu. Song, nhìn nhận một cách khách quan thì công tác kiểm soát của Tổng công ty Xăng dầu dần đi vào quy tắc nhưng tác động của nó còn rất chậm trễ. Tổng công ty Xăng dầu cần đẩy mạnh công tác kiểm soát, khích lệ, động viên kèm theo thưởng phạt rõ ràng. 2. Phân tích và đánh giá theo các hoạt động quản trị tác nghiệp. + Đánh giá công tác quản trị hoạt động sản xuất: Công tác quản trị hoạt động sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất là cực kỳ quan trọng. Doanh nghiệp muốn vươn lên, khẳng định sản phẩm của mình thì khâu tổ chức sản xuất phải thật sự hợp lý, tiết kiệm được nguyên nhiên vật liệu, thời gian và các khoản chi phí khác. Tổng công ty Xăng dầu là một doanh nghiệp lớn, có số công nhân viên khoảng 15.000 người nhưng công tác điều hành sản xuất còn rất nhiều yếu kém, nhiều công việc triển khai kết hợp giữa các bộ phận liên quan không được chặt chẽ, nhiều khi dẫn đến tác phong giải quyết công việc bị hạn chế, gây khó khăn cho nhiều khách hàng. Hạn chế của công tác quản trị điều hành sản xuất, mà nguyên nhân chính là do một số cán bộ chủ chốt của Tổng công ty Xăng dầu không được đào tạo nâng cao nghiệp vụ, dẫn đến thiếu năng lực độc lập tự điều hành công việc của mình. Đề nghị Tổng công ty cần xem xét, cân nhắc và bố trí lại vị trí một số cán bộ, nhất là cán bộ quản lý cấp phòng ban. + Đánh giá công tác quản trị tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ: - Kế hoạch sản xuất kinh doanh và tiêu thụ hàng hoá đều được xây dựng cho từng năm, trên cơ sở đó toàn Tổng công ty Xăng dầu phấn đấu để đạt được kế hoạch đó. Các mục tiêu của bán hàng được đặt ra chủ yếu là để thúc đẩy mức tiêu thụ của hàng hoá và chiếm lĩnh thị phần trên thị trường. - Chính sách bán hàng: sản phẩm tiêu thụ của Tổng công ty Xăng dầu chủ yếu là các loại mặt hàng xăng dầu, khách hàng chủ yếu là các đơn vị hành chính sự nghiệp và các đơn vị vận tải hành khách công cộng, nhân dân tiêu dùng, công nghiệp nông nghiệp. Sức tiêu thụ hàng mỗi năm là con số rất lớn. Tổng công ty Xăng dầu đã áp dụng hình thức bán hàng có khuyến mại rộng rãi và công khai, thưởng cho những người môi giới đã có công giới thiệu khách hàng đến Tổng công ty Xăng dầu. Ngoài ra, Tổng công ty còn áp dụng chính sách sau bán hàng bằng cách bảo hiểm đối với nguyên liệu khí hoá lỏng. Đối với những khách hàng ký hợp đồng tiêu thụ với số lượng lớn còn được ưu đãi giảm giá. Tuy nhiên, Tổng công ty Xăng dầu cần tuyển dụng, đào tạo một đội ngũ làm công tác Marketing bán hàng, nghiên cứu và hoạch định chiến lược lâu dài. - Hiện tại Tổng công ty Xăng dầu đang áp dụng 2 phương thức bán hàng đó là phương thức bán hàng thanh toán gọn một lần có giảm giá và phương thức bán hàng trả chậm. Hai phương thức bán hàng này đều có ưu và nhược điểm của nó. Với phương thức bán hàng trả gọn Tổng công ty Xăng dầu thu hồi nhanh được vốn để đầu tư quay vòng cho sản phẩm nhưng các khoản chi phí và giảm giá cho khách hàng thường là cao làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của Tổng công ty Xăng dầu. Phương thức bán hàng trả chậm nghĩa là thanh toán chậm sau một thời gian nhất định, phương thức này thu hút được khách hàng, đẩy sức tiêu thụ sản phẩm của Tổng công ty Xăng dầu nhưng nó cũng gây nhiều khó khăn cho công tác tài chính của Tổng công ty Xăng dầu. Khách hàng khi đã nhận hàng thường chiếm dụng vốn và dây dưa trả nợ kéo dài thậm trí không thanh toán số còn nợ lại, công việc đòi nợ lại gặp phải nhiều khó khăn, chi phí tốn kém mà cuối cùng chính Tổng công ty Xăng dầu phải gánh chịu chi phí trả lãi ngân hàng. Điều này cũng gây ảnh hưởng không tốt đến lợi nhuận của Tổng công ty. - Các hoạt động trước và sau bán hàng: trước khi bán hàng, nghĩa là khi làm việc với khách hàng để giới thiệu sản phẩm, đội ngũ cán bộ ở bộ phận kinh doanh thường tiếp cận với khách hàng, nêu những ưu điểm sản phẩm của Tổng công ty Xăng dầu nhằm thu hút khách hàng ký kết hợp đồng. Sau khi hàng hoá đã được tiêu thụ, Tổng công ty Xăng dầu đề cao chính sách chất lượng sản phẩm sau bán hàng. Chính điều này đã làm yên lòng nhiều khách hàng. + Đánh giá công tác quản trị mua hàng: Mục tiêu của việc mua hàng là nhằm thoả mãn mọi nhu cầu của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Xăng dầu. Hàng hoá mua vào của Tổng công ty Xăng dầu gồm: - Hàng hoá nhập ngoại: đây là một số chủng loại xăng dầu giá trị lớn, hàng hoá loại này thường nhập qua các cơ quan trung gian có chức năng xuất nhập khẩu mặt hàng này. Loại hàng này thường phải nhập theo lô với số lượng nhiều, chính điều này cũng gây ảnh hưởng đến tình hình tài chính cho Tổng công ty Xăng dầu vì phải dự trữ một số lượng hàng hoá rất lớn, gây lãng phí về việc sử dụng đồng vốn. Giá cả mặt hàng này không được ưu đãi do nguồn hàng liên tục biến động giá. + Đánh giá công tác quản trị hàng tồn kho: Để đáp ứng được yêu cầu của sản xuất, bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải tổ chức công tác quản trị hàng tồn kho nhằm duy trì liên tục và kịp thời cho nhiệm vụ chính là kinh doanh xăng dầu, là một doanh nghiệp lớn quy mô sản xuất kinh doanh lớn Tổng công ty có tổ chức một hệ thống kho tàng để dự trữ hàng hoá vật tư thiết yếu. Công tác quản trị hàng tồn kho được theo dõi song song giữa thủ kho và kế toán và bao giờ cũng phải trùng khớp, nếu có sai lệch phải tìm rõ nguyên nhân và sử lý. Theo dõi cách ghi chép giữa thủ kho và kế toán thấy có nhiều tồn tại cần phải thay đổi cho có tính khoa học hơn. + Đánh giá công tác quản trị nhân sự: Phòng tổ chức hành chính của Tổng công ty được giao nhiệm vụ làm công tác quản trị nhân sự, xây dựng và tập hợp hồ sơ của cá nhân người lao động, đồng thời tham mưu bàn bạc cùng với lãnh đạo Tổng công ty để có biện pháp tuyển dụng cho phù hợp. Phòng tổ chức có nhiệm vụ theo dõi hồ sơ người lao động để giải quyết các chế độ chính sách đối với người lao động đang làm việc. Trong vài năm gần đây Tổng công ty Xăng dầu đã tuyển dụng được một số cán bộ quản lý trẻ, có trình độ học vấn và nghiệp vụ. Số cán bộ này nhiệt tình hăng say với công việc và đã phát huy vị trí, vai trò của mình trong bộ máy điều hành quản lý của Tổng công ty Xăng dầu. Gần đây, Tổng công ty Xăng dầu đã cử một số cán bộ chủ chốt đi đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao năng lực quản lý điều hành sản xuất cũng như công tác quản lý được tốt hơn. + Đánh giá công tác quản trị tài chính. Nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Xăng dầu chủ yếu là do ngân sách cấp bao gồm toàn bộ nhà xưởng và máy móc thiết bị, kho bãi. Tổng vốn của Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam đều tăng lên qua các năm, năm 1998 tăng gần 36 tỷ so với năm 1997, năm 1999 tăng hơn 61 tỷ so với năm 1998. Các quỹ đầu tư cũng tăng lên qua các năm, cuối kỳ năm 1999 như sau: Tổng số vốn : 2.152 tỷ đồng Vốn ngân sách : 1.003 tỷ đồng Vốn tự bổ sung : 1.148 tỷ đồng Vốn khác : 0,21 tỷ đồng Trong bối cảnh nguồn vốn lớn, công tác quản trị tài chính càng trở nên quan trọng bảo đảm tính cân đối thu chi, các khoản phải thu và phải trả khách hàng. Phòng kế toán tài chính đã thường xuyên báo cáo tình hình tài chính cho Ban lãnh đạo để có hướng giải quyết tạo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh. Trong khi việc vay vốn lưu động của ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn, việc mua hàng hoá dự trữ của Tổng công ty nhiều khi còn gây lãng phí không cần thiết nhất là khi vốn lưu động không nhiều, đề nghị ban lãnh đạo thực sự coi trọng và thấu hiểu công tác quản trị tài chính, có như vậy mới đảm bảo cân đối trong hoạt động tài chính. II. Các đề xuất và kiến nghị 1. Các đề xuất ã Đề nghị Tổng công ty Xăng dầu có được sự giúp đỡ của cấp trên sớm ổn định khâu tổ chức nhân sự, dần đưa hoạt động kinh doanh thương mại vào thế ổn định và phát triển, nâng cao hơn nữa chất lượng quản lý lao động, đổi mới công tác điều hành chỉ đạo sản xuất, tổ chức đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng trình độ cho cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật đáp ứng với tình hình nhiệm vụ sản xuất trước mắt và những năm tiếp theo tránh tình trạng mất cân đối, bất hợp lý trong việc sử dụng lao động như hiện tại. ã Ban lãnh đạo cần khẩn trương tạo nguồn vốn đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ và cải tiến công cụ sản xuất, lắp đặt trang thiết bị kỹ thuật hiện đại. ã Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, thường xuyên phát động các phong trào thi đua và thực hành tiết kiệm bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ sản xuất kinh doanh đã đề ra. ã Tăng cường đổi mới công tác tiếp thị, bám sát thị trường, kịp thời có đối sách đúng, phù hợp với từng khách hàng lớn và khách hàng mới, đồng thời nâng cao trình độ cho cán bộ tiếp thị, thị trường. 2. Các kiến nghị + Đối với Nhà nước: ã Để phát huy được tối đa tiềm lực của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu nói chung cũng như Tổng công ty Xăng dầu nói riêng chỉ có thể phát triển vững chắc và ổn định nếu Nhà nước sớm hoạch định chiến lược phát triển lâu dài. ã Nhà nước cần sớm tạo ra một hành lang pháp lý thông thoáng, các văn bản pháp quy đồng bộ, đặc biệt có những biện pháp cụ thể và hữu hiệu nhằm bảo hộ giá xăng dầu (VD: giảm thuế nhập khẩu). ã Nhà nước cần tăng cường những khoản cho vay vốn đầu tư ưu đãi và kéo dài thời hạn trả nợ để doanh nghiệp có điều kiện đầu tư chiều sâu, phát triển sản xuất theo hướng hiện đại hoá. + Đề nghị với cấp trên: ã Đề nghị Bộ chủ quản là Bộ Thương mại đi sâu tìm hiểu hơn nữa thực trạng những khó khăn, thuận lợi của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu từ đó có những hướng dẫn cụ thể, chi tiết, kịp thời khi có các văn bản pháp quy của Nhà nước liên quan đến ngành. Đồng thời phản ánh và đóng góp với Chính phủ những quyết sách nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp. ã Đề nghị Bộ Thương mại quản lý hoạt động của Tổng công ty Xăng dầu tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp, sớm phát hiện những khó khăn vướng mắc để tháo gỡ cho doanh nghiệp. Mặt khác cần nhìn nhận và đổi mới khâu đề bạt cán bộ chủ chốt trong doanh nghiệp, tránh tình trạng lãnh đạo không có đủ trình độ và năng lực để điều hành doanh nghiệp. kết luận Trước ngưỡng cửa của thời điểm kỷ niệm 45 năm xây dựng và phát triển của Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam, trong hoàn cảnh cả dân tộc ta đang đứng trước nhiệm vụ to lớn của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo đường lối đổi mới của Đảng, một lần nữa Tổng công ty lại đang dành mọi suy nghĩ, quyết tâm tìm ra cho mình mục tiêu chiến lược đến năm 2000 và 2010 mà chính những đồng chí lãnh đạo chủ chốt của PETROLIMEX hôm nay coi là "một chủ thuyết dựa trên cơ sở bài học truyền thống, đúc kết thực tiễn, nghiên cứu vận dụng những nghị quyết của Đảng về kinh tế, về chính sách cán bộ và tham khảo kinh nghiệm của các hãng quốc tế". Trong diễn văn của mình tại lễ kỷ niệm 40 năm thành lập Công ty xăng dầu khu vực III Hải Phòng (29-7-1995), đồng chí Nguyễn Mạnh Tiến, Bí thư Ban cán sự Đảng, Tổng giám đốc Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam đã nói: "Phải xây dựng Tổng công ty thành một Tổng công ty mạnh của quốc gia, đặc biệt mạnh trong kinh doanh xăng dầu, sản phẩm hoá dầu, đảm bảo đủ sức mạnh cạnh tranh với các hãng dầu trong nước và quốc tế, đồng thời là công cụ Nhà nước để điều tiết thị trường, góp phần đắc lực vào việc thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội của Nhà nước. Lấy kinh doanh xăng dầu làm trục chính, đồng thời phát triển nhiều loại hình kinh doanh khác, phát huy cao nhất tiềm năng và thế mạnh của Tổng công ty". Chắc chắn đó không chỉ là mong muốn mà còn là con đường để thế hệ những người thợ xăng dầu Việt Nam của PETROLIMEX hôm nay bước vào những trang sử mới của mình. mục lục

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBáo cáo tại Tổng công ty Xăng Dầu Petrolimex.doc
Luận văn liên quan