Chiến lược chính sách đối ngoại của Trung Quốc sau Chiến tranh lạnh

Tóm tắt nội dung chính: Bài tiểu luận “Chiến lược chính sách đối ngoại của Trung Quốc sau Chiến tranh lạnh” gồm ba phần chính. Phần thứ nhất tập trung trình bày cơ sở và mục tiêu hoạch định chính sách phát triển hoà bình của Trung Quốc sau Chiến tranh lạnh. Phần thứ hai đi sâu vào phân tích những cơ sở chính trong việc hoạch định chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối với Mỹ trong thời kỳ này. Phần thứ ba điểm qua một số thành tựu ngoại giao của Trung Quốc trong gần 20 năm trở lại đây, qua đó thấy được ý nghĩa của việc nghiên cứu cơ sở hoạch định chiến lược đối ngoại của Trung Quốc sau Chiến tranh lạnh đối với Việt Nam. I. LỜI NÓI ĐẦU Ngay sau khi Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời, Liên Xô đã đặt quan hệ ngoại giao đánh dấu sự tồn tại của quốc gia này trên trường quốc tế. Kể từ đó Trung Quốc đã không ít lần thay đổi chính sách đối ngoại. Từ chính sách thân Xô đến sự mâu thuẫn trong quan hệ hai nước, từ việc cùng với Liên Xô chống lại Hoa Kỳ đến sự quay lưng lại với chính người anh em Liên Xô để bắt tay với Mỹ đánh dấu một giai đoạn lịch sử và lịch sử đối ngoại đầy biến động của Trung Quốc. Sau khi trật tự hai cực không còn nữa, Trung Quốc đã hoạch định chính sách mới xoay quanh thuyết “đa phương vị” và đặc biệt là theo con đường phát triển hoà bình nhằm phát triển đất nước, xây dựng xã hội Trung Quốc ấm no, hạnh phúc cũng như góp phần xây dựng một thế giới hoà bình, ổn định. Trong trật tự thế giới mới, trật tự mà Mỹ là siêu cường số một, thì quan hệ với Mỹ được Trung Quốc xem như là quan hệ quan trọng nhất. Vậy cơ sở và mục tiêu để hoạch định chính sách ngoại giao theo con đường phát triển hoà bình của Trung Quốc và cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại đối với Mỹ của Trung Quốc giai đoạn này là gì? Chính sách đối ngoại của Trung Quốc giai đoạn này gặt hái được những thành công tiêu biểu nào? Bài tiểu luận này xin đi vào tập trung phân tích những thắc mắc trên. Trong bài có sử dụng tài liệu từ những nguồn sau: 1. Chính sách đối ngoại Hoa Kỳ - Động cơ của sự lựa chọn trong thế kỷ XXI. Nhà xuất bản chính trị quốc gia. Hà Nội 2004. 2. Lịch sử Trung Quốc. Nhà xuất bản giáo dục. 2007. 3. Quan hệ của Mỹ với các nước ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Nhà xuất bản chính trị quốc gia. Hà Nội 2003. 4. Sách trắng “Con đường phát triển hoà bình của Trung Quốc” (Nguồn tin: Tham khảo chủ nhật. TTXVN. 1/8/2006). 5. Cơ sở thực tiễn và lý luận của Trung Quốc trong chiến lược đối với Mỹ (Nguồn tin: Tham khảo chủ nhật. TTXVB. 12/24/2006). 6. http://lcweb2.loc.gov/frd/cs/cntoc.html Do khuôn khổ của một bài tiểu luận nên tôi không đi vào việc phân tích chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong một giai đoạn nào cụ thể, tôi cũng không phân tích chính sách đối ngoại của Trung Quốc với bất kỳ quốc gia nào. Tôi chỉ xin được phân tích nguyên nhân, cơ sở dẫn đến việc Trung Quốc hoạch định chính sách phát triển con đường hoà bình, chính sách mà tôi cho là quan trọng nhất đối với Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay, cũng như cơ sở của chính sách đối với Mỹ, siêu cường số một thế giới. Tôi cũng xin đưa ra một số thành công trong chính sách đối ngoại Trung Quốc

doc12 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 6280 | Lượt tải: 22download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chiến lược chính sách đối ngoại của Trung Quốc sau Chiến tranh lạnh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tóm tắt nội dung chính: Bài tiểu luận “Chiến lược chính sách đối ngoại của Trung Quốc sau Chiến tranh lạnh” gồm ba phần chính. Phần thứ nhất tập trung trình bày cơ sở và mục tiêu hoạch định chính sách phát triển hoà bình của Trung Quốc sau Chiến tranh lạnh. Phần thứ hai đi sâu vào phân tích những cơ sở chính trong việc hoạch định chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối với Mỹ trong thời kỳ này. Phần thứ ba điểm qua một số thành tựu ngoại giao của Trung Quốc trong gần 20 năm trở lại đây, qua đó thấy được ý nghĩa của việc nghiên cứu cơ sở hoạch định chiến lược đối ngoại của Trung Quốc sau Chiến tranh lạnh đối với Việt Nam. LỜI NÓI ĐẦU Ngay sau khi Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời, Liên Xô đã đặt quan hệ ngoại giao đánh dấu sự tồn tại của quốc gia này trên trường quốc tế. Kể từ đó Trung Quốc đã không ít lần thay đổi chính sách đối ngoại. Từ chính sách thân Xô đến sự mâu thuẫn trong quan hệ hai nước, từ việc cùng với Liên Xô chống lại Hoa Kỳ đến sự quay lưng lại với chính người anh em Liên Xô để bắt tay với Mỹ đánh dấu một giai đoạn lịch sử và lịch sử đối ngoại đầy biến động của Trung Quốc. Sau khi trật tự hai cực không còn nữa, Trung Quốc đã hoạch định chính sách mới xoay quanh thuyết “đa phương vị” và đặc biệt là theo con đường phát triển hoà bình nhằm phát triển đất nước, xây dựng xã hội Trung Quốc ấm no, hạnh phúc cũng như góp phần xây dựng một thế giới hoà bình, ổn định. Trong trật tự thế giới mới, trật tự mà Mỹ là siêu cường số một, thì quan hệ với Mỹ được Trung Quốc xem như là quan hệ quan trọng nhất. Vậy cơ sở và mục tiêu để hoạch định chính sách ngoại giao theo con đường phát triển hoà bình của Trung Quốc và cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại đối với Mỹ của Trung Quốc giai đoạn này là gì? Chính sách đối ngoại của Trung Quốc giai đoạn này gặt hái được những thành công tiêu biểu nào? Bài tiểu luận này xin đi vào tập trung phân tích những thắc mắc trên. Trong bài có sử dụng tài liệu từ những nguồn sau: Chính sách đối ngoại Hoa Kỳ - Động cơ của sự lựa chọn trong thế kỷ XXI. Nhà xuất bản chính trị quốc gia. Hà Nội 2004. Lịch sử Trung Quốc. Nhà xuất bản giáo dục. 2007. Quan hệ của Mỹ với các nước ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Nhà xuất bản chính trị quốc gia. Hà Nội 2003. Sách trắng “Con đường phát triển hoà bình của Trung Quốc” (Nguồn tin: Tham khảo chủ nhật. TTXVN. 1/8/2006). Cơ sở thực tiễn và lý luận của Trung Quốc trong chiến lược đối với Mỹ (Nguồn tin: Tham khảo chủ nhật. TTXVB. 12/24/2006). Do khuôn khổ của một bài tiểu luận nên tôi không đi vào việc phân tích chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong một giai đoạn nào cụ thể, tôi cũng không phân tích chính sách đối ngoại của Trung Quốc với bất kỳ quốc gia nào. Tôi chỉ xin được phân tích nguyên nhân, cơ sở dẫn đến việc Trung Quốc hoạch định chính sách phát triển con đường hoà bình, chính sách mà tôi cho là quan trọng nhất đối với Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay, cũng như cơ sở của chính sách đối với Mỹ, siêu cường số một thế giới. Tôi cũng xin đưa ra một số thành công trong chính sách đối ngoại Trung Quốc. Cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại đi theo con đường phát triển hoà bình của Trung Quốc sau chiến tranh lạnh Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, khi chiến tranh lạnh kết thúc và trật tự hai cực sụp đổ, Trung Quốc từng bước bổ sung và hoàn thiện chính sách đối ngoại “hoà bình, độc lập, tự chủ” đã được đề ra từ cuối những năm 70 đầu những năm 80. Với chính sách này, Trung Quốc chủ trương tiến hành ngoại giao “toàn phương vị” xác lập quan hệ bạn bè hợp tác với các cường quốc Nga, Pháp, Mỹ, Nhật, nhằm tăng cường uy tín chính trị của mình trên thế giới, cân bằng quan hệ chống lại chủ trương “đơn cực hoá thế giới” của Mỹ và xây dựng một thế giới đa cực trong đó Trung Quốc ở vào một vị thế có lợi. Đồng thời, Trung Quốc cũng chú trọng cải thiện quan hệ với các nước láng giềng như các nước ASEAN, Hàn Quốc, Ấn Độ, Mông Cổ, v.v… nhằm xây dựng và củng cố môi trường hoà bình ổn định xung quanh, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc phát triển bên trong. Hiện nay, bên cạnh “chiến lược ngoại giao nước lớn” nhằm duy trì quan hệ hợp tác với các nước lớn trên thế giới, lợi dụng các quan hệ này tạo điều kiện có lợi cho sự phát triển chung của đất nước, Trung Quốc còn kiên định đi theo “con đường phát triển hoà bình” (sách trắng công bố ngày 22/12/2005) với phương châm chiến lược cũng như chính sách biện pháp phù hợp vận dụng thực hiện mục tiêu này. “Con đường phát triển hoà bình của Trung Quốc” dựa vào những cơ sở sau: Thứ nhất, phát triển hoà bình là con đường tất yếu mà Trung Quốc phải đi qua trong sự nghiệp xây dựng hiện đại hoá. Đó cũng là nguyện vọng và mục tiêu mà nhân dân Trung Quốc hướng tới. Cũng thông qua con đường này nhân dân Trung Quốc đang “xây dựng toàn diện xã hội khá giả”1. Một mặt Trung Quốc kiên trì đối nội phát triển hài hoà, một mặt kiên trì đối ngoại hoà bình đều có lợi cho một thế giới hoà bình, phồn vinh. Thứ hai, tình hình trong nước là cơ sở tất yếu cho lựa chọn con đường phát triển hoà bình. Những năm gần đây, Trung Quốc liên tục là quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế lớn nhất thế giới, nhưng do dân số đông, cơ sở hạ tầng còn yếu cộng với sự phát triển không cân bằng nên Trung Quốc vẫn chỉ là một nước thuộc nhóm các nước đang phát triển. Nhiệm vụ trung tâm của Trung Quốc vẫn là thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, không ngừng cải thiện đời sống nhân dân. Kiên trì đi theo con đường phát triển hoà bình có thể nói là môi trường tốt nhất để Trung Quốc thực hiện mục tiêu đất nước giàu mạnh, nhân dân hạnh phúc. Thứ ba, kiên định đi theo con đường phát triển hoà bình là sự lựa chọn tất yếu của truyền thống lịch sử văn hoá Trung Quốc, và là sự lựa chọn tất yếu của trào lưu phát triển thế giới hiện nay. Khát vọng hoà bình, thúc đẩy phát triển, mưu cầu hợp tác là nguyện vọng chung của không chỉ nhân dân Trung Quốc mà còn là nguyện vọng của nhân dân các nước trên toàn thế giới, cũng là trào lưu không thể ngăn cản. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc chủ trương “thuận theo trào lưu lịch sử…, cùng nỗ lực với cộng đồng quốc tế, tích cực thúc đẩy đa cực hoá thế giới…, tích cực xúc tiến toàn cầu hoá kinh tế phát triển theo hướng có lợi cho sự phồn vinh chung, hướng tới những cái có lợi, tránh khỏi những cái có hại”2. Dựa vào những nhân tố trên, Trung Quốc hướng chính sách đối ngoại phát triển hoà bình của mình đến những mục tiêu sau. Một là: Dựa vào sức mạnh và cải cách sáng tạo của mình để phát triển. Trung Quốc kiên trì lấy phát triển khoa học để hoạch định kế hoạch phát triển trong nước và mở cửa đối ngoại một cách toàn diện. Quá trình phát triển này nảy sinh những mâu thuẫn cơ bản như nền kinh tế không theo kịp nhu cầu ngày càng cao của con người, hay sức ép ngày càng lớn của xã hội phát triển lên tài nguyên, môi trường. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, đối mặt với những mâu thuẫn này, các quốc gia phải tự mình giải quyết chứ không thể chuyển những mâu thuẫn của nước mình cho nước khác, càng không thể cướp đoạt nước khác để phục vụ cho lợi ích riêng của mình. Vì thế, kế hoạch phát triển trong nước của Trung Quốc chủ yếu dựa vào sức mạnh, ưu thế, điều kiện về thị trường, nguồn tài nguyên, nguồn nhân lực cũng như sự bảo đảm chính sách, cơ chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa không ngừng được hoàn thiện và cải cách sáng tạo của mình để thực hiện phát triển. Về mặt đối ngoại, Trung Quốc kiên định mở cửa đối ngoại, tích cực phát triển giao lưu và hợp tác kinh tế kỹ thuật với bên ngoài, nâng cao toàn diện mức độ mở cửa đối ngoại. Hai là: Cùng các nước thực hiện hợp tác cùng có lợi, cùng thắng lợi và cùng phát triển. Trung Quốc kiên trì chính sách mở cửa ngoại giao, hợp tác cùng có lợi, vừa phù hợp với lợi ích quốc gia, vừa thúc đẩy phát triển chung, không ngừng đóng góp cho sự phát triển liên tục toàn cầu. Trung Quốc nỗ lực tham gia hợp tác khu vực, hợp tác đa phương trong lĩnh vực thương mại cũng như tích cực tham gia xây dựng và thực hiện các quy tắc kinh tế thương mại quốc tế, cùng với các nước giải quyết những bất đồng nảy sinh. Hơn nữa, với nguồn lao động dồi dào và không ngừng được nâng cao tố chất, với những sản phẩm tốt, giá rẻ việc Trung Quốc tham gia tích cực vào hợp tác, phân công quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tiết phân phối hợp lý hữu hiệu nguồn tài nguyên, nhân lực toàn cầu. Năm 2004 Trung Quốc trở thành nước nhập khẩu lớn thứ 3 thế giới chỉ sau Mỹ và Đức; Hàng Trung Quốc làm cho người tiêu dùng Mỹ tiết kiệm hơn 600 tỷ USD trong 10 năm trước và 100 tỷ USD chỉ trong năm 2004. Thị trường to lớn Trung Quốc còn là cơ hội đầu tư cho tư bản quốc tế, làm cho các nhà đầu tư có thể hưởng lợi từ sự phát triển nhanh chóng của kinh tế Trung Quốc. Ba là: Lấy sự phát triển của đất nước để thúc đẩy sự hoà bình và phát triển chung của thế giới. Sự phát triển của Trung Quốc là một bộ phận hợp thành trong sự phát triển của thế giới. Trung Quốc đã có những đóng góp cho việc thực hiện phát triển bền vững nhân loại như: Kiên trì tìm kiếm con đường công nghiệp hoá mới, hiệu quả, ít tiêu hao tài nguyên, giảm gây ô nhiễm môi trường…; Trung Quốc thực hiện chính sách dân số có hiệu quả, góp phần làm giảm sự tăng trưởng tổng dân số thế giới. Bên cạnh đó, Trung Quốc đã có những đóng góp trong việc giảm bớt khó khăn và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân loại cũng như đóng góp cho việc bảo vệ hoà bình, thúc đẩy hợp tác quốc tế. Trong những năm qua, Trung quốc còn có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của nền kinh tế thế giới cũng như sự phát triển ổn định khu vực. Từ năm 2000 tới năm 2004, tỷ lệ đóng góp bình quân của nền kinh tế Trung Quốc đối với sự tăng trưởng nền kinh tế thế giới là 13%. Cũng trong khoảng thời gian này, nền kinh tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương luôn duy trì tốc độ tăng trưởng trên 6% với đàu tàu Trung Quốc. Bốn là: Xây dựng thế giới hài hoà hoà bình lâu dài và phồn vinh. Để đạt được mục tiêu này Trung Quốc thực hiện những chính sách: Kiên trì bình đẳng dân chủ, thực hiện hợp tác hài hoà; Kiên trì tin tưởng lẫn nhau, thực hiện an ninh chung; Kiên trì công bằng cùng có lợi, thực hiện phát triển chung; Kiên trì mở cửa bao dung, thực hiện đối thoại văn minh… với chủ trương là “duy trì tính đa dạng của thế giới, nêu cao dân chủ hoá quan hệ quốc tế và đa dạng hoá mô thức phát triển…; phản đối mọi hình thức chủ nghĩa khủng bố…”3. Trung Quốc đã phát huy vai trò mang tính xây dựng trong một số vấn đề điểm nóng của quốc tế và khu vực, thúc đẩy an ninh chung của thế giới cũng như cố gắng viện trợ cho các nước đang phát triển khác, thúc đẩy các nước cùng phát triển. Đó là việc Trung Quốc kiên trì thúc đẩy và tổ chức đàm phán về vấn đề hạt nhân ở bán đảo Triều Tiên đã làm dịu căng thẳng ở bán đảo này. Hay đó là việc Trung Quốc khuyến khích các bên hữu quan khôi phục đàm phán hoà bình, khởi động tiến trình hoà bình ở Trung Đông. Bên cạnh đó Trung Quốc đã giúp đỡ cho hơn 100 quốc gia và tổ chức khu vực, với hơn 2000 hạng mục viện trợ. Trung Quốc cũng giảm và xoá 198 khoản nợ trị giá 16,6 tỷ NDT (nhân dân tệ) cho 44 nước đang phát triển… Như vậy, từ thực tiễn tình hình đất nước, từ truyền thống văn hoá, lịch sử và từ trào lưu thế giới hiện đại, Trung Quốc đã lựa chọn cho mình con đường phát triển hoà bình kết hợp với “tranh thủ môi trường quốc tế hoà bình và môi trường xung quanh ổn định…”4 để phát triển đất nước cũng như mở rộng quan hệ đối ngoại. Bên cạnh đó, việc Trung Quốc với nền kinh tế có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới, với dân số đông nhất thế giới đi theo con đường hoà bình phát triển đã trở thành nhân tố quan trọng trong sự nghiệp cao cả vì hoà bình bền lâu và sự phát triển bền vững của nhân loại. Cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối với Mỹ sau chiến tranh lạnh. Sự sụp đổ của Liên Xô dẫn đến một thực tế Mỹ là siêu cường duy nhất trên thế giới. Trong khi Nga, với tư cách kế thừa Liên Xô, còn đang gặp khó khăn ở trong nước, Nhật Bản mới chỉ là một cường quốc kinh tế thì rõ ràng trong chính sách đối ngoại của mình, Trung Quốc coi quan hệ với Mỹ có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Tuy nhiên thập kỷ 90 đã trở thành thời kỳ của những bất đồng lớn giữa Mỹ và Trung Quốc khi xảy ra những ba diễn biến quan trọng: Thứ nhất là xung đột ngày càng gay gắt về nhân quyền khởi phát từ cuộc trấn áp sinh viên và những người biểu tình ở Trung Quốc năm 1989 tại quảng trường Thiên An Môn. Cuộc trấn áp này gợi nên vấn đề trừng phạt kinh tế và cho thấy những hạn chế của sự thay đổi chính trị ở Trung Quốc và trở thành một rào cản lớn trong quan hệ Trung - Mỹ. Thứ hai, với sự kết thúc của chiến tranh lạnh và sự biến mất của kẻ thù chung Liên Xô, Trung Quốc và Mỹ bước vào giai đoạn mới với những khác biệt về địa chính trị ngày càng rõ nét. Thứ ba là, sự nổi lên ngày càng mạnh của Trung Quốc thành một cường quốc ở khu vực Đông Á đe doạ làm đảo lộn sự cân bằng quyền lực trong khu vực. Mỹ và Trung Quốc còn có những bất đồng về vấn đề Bắc Triều Tiên cũng như rắc rối về vấn đề Đài Loan nhạy cảm. Dù vậy, trong quá trình cải cách, Trung Quốc vẫn đặc biệt coi trọng quan hệ với Mỹ bên cạnh quan hệ với các nước phát triển. Quan hệ này một mặt nhằm thu hút vốn, khoa học công nghệ cao và kinh nghiệm quản lý hiện đại phục vụ cho công cuộc hiện đại hoá đất nước; mặt khác nhằm mục tiêu có lợi cho việc giải quyết các vấn đề về Hồng Công, Ma Cao, Đài Loan để thống nhất đất nước, có lợi cho việc giải quyết các vấn đề quốc tế. Vì thế cơ sở để Trung Quốc hoạch định chính sách ngoại giao đối với Mỹ là: Thứ nhất, căn cứ vào ba nhiệm vụ lịch sử lớn “thực hiện thúc đẩy công cuộc xây dựng hiện đại hoá, hoàn thành thống nhất đất nước, giữ gìn hoà bình thế giới và thúc đẩy cùng phát triển” (Đại hội XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc). Việc thực hiện những mục tiêu cơ bản trên đều liên quan chặt chẽ đến Mỹ. Bởi vì: Thứ nhất, Mỹ hiện nay đang là siêu cường số một thế giới, duy trì mối quan hệ tốt đẹp với Mỹ tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Quốc trong công cuộc xây dựng hiện đại hoá; Thứ hai, Mỹ là nhân tố trở ngại nhất ảnh hưởng đến quá trình thống nhất và sụ ổn định đất nước Trung Hoa, do Mỹ là quốc gia có khả năng đe dọa an ninh Trung Quốc lớn nhất. Mỹ thúc đẩy dân chủ, nhân quyền, thực hiện “diễn biến hoà bình” làm mất sự ổn định của Trung Quốc. Mỹ cũng là một nhân tố có ảnh hưởng lớn vấn đề Đài Loan; Thứ ba, Mỹ là quốc gia có sức mạnh tổng lực lớn nhất hiện nay, nên việc gìn giữ hoà bình thế giới và cùng phát triển không thể vắng bóng sự tham gia của quốc gia này. Thứ hai, căn cứ vào chiến lược của Mỹ nói chung và chiến lược đối với Trung Quốc nói riêng. Sau chiến tranh lạnh, Mỹ trở thành siêu cường số một thế giới, để duy trì vị trí này Mỹ “sử dụng sức mạnh quân sự để giữ vững nền an ninh của Mỹ; thúc đẩy kinh tế Mỹ hồi phục, sống động trở lại; thúc đẩy phát triển dân chủ ở các nước ngoài”. Ba mục chiến lược này của Mỹ có liên quan đến Trung Quốc. Về quân sự, Trung Quốc và Mỹ mẫu thuẫn nhau về an ninh truyền thống nhưng lại là đối tác của nhau trong an ninh khu vực và an ninh phi truyền thống. Về chính trị, trong tư duy của Mỹ (đặc biệt là qua sự kiện Thiên An Môn), Trung Quốc là quốc gia không “dân chủ” và cần phải “thúc đẩy dân chủ”. Về kinh tế, Trung Quốc là một thị trường lớn với một nền kinh tế phát triển, Mỹ cần hợp tác với Trung Quốc và coi Trung Quốc là một đối tác của Mỹ. Chính vì vậy chính sách đối ngoại thời kỳ này của Mỹ đối với Trung Quốc thể hiện sự mâu thuẫn vừa tiếp xúc, vừa ngăn chặn; vừa hợp tác vừa kiềm chế. Sau sự kiên 11/9 Mỹ đã điều chỉnh chiến lược toàn cầu, coi chống khủng bố là nhiệm vụ hàng đầu. Mỹ coi trọng việc ngăn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân và trừng trị các nhóm khủng bố. Do đó, nhu cầu hợp tác với Trung Quốc tăng lên. Trong báo cáo quốc phòng bốn năm của Mỹ tháng 2/2006, Mỹ vẫn xác định Trung Quốc là nước lớn quan trọng nhất “nằm ở ngã ba chiến lược”, nhưng không nhất thiết là kẻ thù của Mỹ, mà là một nước cần phải “tạo dựng” hợp tác5. Thứ ba, Trung Quốc đề phòng “chính sách hai mặt” của Mỹ. Trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc cố gắng duy trì mối quan hệ song phương tốt đẹp, nhưng chiến lược mà Mỹ sử dụng đối với Trung Quốc là sự kết hợp của hợp tác với kiềm chế, nên Trung Quốc cần có những biện pháp, chính sách phòng ngừa, đối phó với những đe doạ do có do Mỹ gây ra. Mặt khác, do sự phát triển không ngừng của nền kinh tế Trung Quốc cũng như sự phát triển toàn diện của quốc gia này làm gia tăng mối lo ngại của Mỹ đối với sự đe doạ của Trung Quốc. Đây chính là nguồn gốc của nảy sinh “Thuyết về mối đe doạ từ Trung Quốc” ở Mỹ. Bên cạnh đó, xuất phát từ tham vọng bá chủ toàn cầu của Mỹ, Mỹ muốn Trung Quốc gia nhập hệ thống thế giới dưới sự chỉ đạo của mình để Trung Quốc sẽ không còn ý đồ thách thức, đe dọa Mỹ. Thứ tư, cách nhìn nhận quốc tế của Trung Quốc là căn cứ lý luận chủ yếu trong chiến lược của Trung Quốc đối với Mỹ. Cách nhìn nhận quốc tế của Trung Quốc chủ yếu là về chủ đề thời đại hoà bình và phát triển, toàn cầu hoá kinh tế, đa cực hoá, tiến bộ khoa học kỹ thuật... Trong đó chủ đề hoà bình và phát triển, xu thế toàn cầu hoá kinh tế là yếu tố quan trọng nhất để trung Quốc hoạch định chính sách đối với Mỹ. Mỹ trở thành đối tượng hợp tác quan trọng trong của Trung Quốc về vấn đề phát triển bởi Mỹ cũng đang tìm kiếm sự phát triển và hai bên đều có lợi ích chung rất lớn. Mỹ cũng cần một môi trường quốc tế hoà bình, nếu Trung Quốc và Mỹ đối đầu, không chỉ có Trung Quốc mà Mỹ cũng không có lợi gì, và chắc chắn sẽ không có lợi cho môi trường hoà bình thế giới. Quan hệ Trung - Mỹ vì thế phát triển vừa phù hợp với lợi ích lâu dài của Trung Quốc, vừa phù hợp với nhu cầu chủ đề thời đại hoà bình và phát triển. Trong sự phát triển mạnh mẽ và sâu sắc của toàn cầu hoá, bên cạnh sức mạnh kinh tế của Mỹ cùng với sự nổi lên của nền kinh tế Trung Quốc, tính phụ thuộc lẫn nhau giữa Trung Quốc và Mỹ ngày càng gia tăng. Trong thời kỳ toàn cầu hoá, sự hợp tác của các quốc gia có thể còn là sự kiềm chế lẫn nhau nhưng nó cũng còn là trò chơi không có kẻ thua cuộc. Quan hệ Mỹ - Trung Quốc, vì thế, là quan hệ của sự thắng lợi của cả hai bên. Một trong những mặt trái của toàn cầu hoá là làm nảy sinh những vấn đề toàn cầu mang tính nghiêm trọng như chủ nghĩa khủng bố quốc tế, vũ khí hạt nhân và phổ biến vũ khí hạt nhân, môi trường bị tàn phá… Đối phó với những thách thức toàn cầu này cần phải có sự hợp tác rộng rãi, chặt chẽ của các quốc gia. Mỹ và Trung Quốc có thêm cơ hội để xích lại gần nhau trong hợp tác. Tựu chung lại, cơ sở cho việc hoạch định chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối với Mỹ dựa trên những thực tiễn về nhiệm vụ chung của Trung Quốc, thực tiễn về chính sách “hai mặt” của Mỹ đối với Trung Quốc cùng sự đề phòng của Trung Quốc đối với chính sách đó, và lý luận của Trung Quốc về quốc tế tập trung vào chủ đề phát triển hoà bình và toàn cầu hoá. Từ đó xác lập lên “quan hệ đối tác chiến lược có tính xây dựng”. Mặc dù quan hệ Trung - Mỹ đã trải qua những bước thăng trầm nhưng vẫn giữ được thế ổn định. Quan hệ này hiện nay là trục chính của quan hệ khu vực và quốc tế6. Tuy có những cọ xát về kinh tế - thương mại và một số vấn đề khác thuộc lĩnh vực chính trị, an ninh nhưng trong bối cảnh quốc tế hiện nay hai nước Trung - Mỹ có những lợi ích chung mà hai bên đều quan tâm. Thành tựu chiến lược đối ngoại Trung Quốc sau chiến tranh lạnh. Nhờ có chiến lược chính sách đối ngoại “đa phương vị” và đặc biệt là chính sách phát triển con đường hoà bình, Trung Quốc đã đạt được những thành công lớn trong đối ngoại. Thành công trong đối ngoại của Trung Quốc không chỉ dừng lại ở quan hệ song phương với từng quốc gia mà còn mở rộng đến mọi quốc gia, lãnh thổ trên toàn thế giới. Dưới đây là một số thành tựu trong chiến lược đối ngoại Trung Quốc sau chiến tranh lạnh. Kể từ sau chiến tranh lạnh, vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế được nâng cao, uy tín và ảnh hưởng của Trung Quốc trên thế giới và trong khu vực được tăng cường hơn bao giờ hết. Hiện nay Trung Quốc là một trong năm thành viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế. Tính đến những năm đầu thế kỷ XXI, Trung Quốc đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 166 quốc gia trên thế giới. Trong quá trình cải cách, nhất là thời kỳ sau chiến tranh lạnh, Trung Quốc đã cải thiện và phát triển quan hệ với các nước xung quanh. Sau khi Liên Xô tan rã, Trung Quốc đã cải thiện quan hệ với Liên bang Nga và các quốc gia Trung Á. Tháng 6/2001 cùng với Nga, Cadăcxtan, Tatgikixtan, Cưrơgưxtan và Udơbkixtan thành lập “Tổ chức hợp tác Thượng Hải”, tạo điều kiện tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế - thương mại, an ninh giữa các thành viên, đồng thời đóng góp vào hoà bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Trung Quốc cũng củng cố và phát triển quan hệ với các nước Nam Á khác như: Pakixtan, Nêpan, Xri Lanca. Tháng 3/2005, thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo sang thăm Ấn Độ đánh dấu một bước ngoặt trong quan hệ Trung - Ấn. Hai nước đã thoả thuận những nguyên tắc giải quyết vấn đề tranh chấp biên giới và cam kết tăng cường hợp tác kinh tế - thương mại. Sự hợp tác hữu nghị của hai quốc gia có số dân lớn nhất thế giới có ảnh hưởng lớn đến hoà bình ổn định ở châu Á và trên thế giới. Tại hướng Đông Bắc Á, Trung Quốc đã thiết lập ngoại giao và tăng cường quan hệ thương mại với Hàn Quốc, duy trì quan hệ truyền thống với CHDCND Triều Tiên và góp phần quan trọng vào quá trình đàm phán giải quyết vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên. Thời gian qua, Trung Quốc đặc biệt coi trọng tăng cường quan hệ với các nước Đông Nam Á. Ngay sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, Trung Quốc đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Xingapo và Brunây, bình thường hoá quan hệ với Việt Nam và Inđônêxia. Trung Quốc tích cực đề xướng và thúc đẩy việc hình thành khu mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN. Trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh, quan hệ Trung - Việt đã tan băng, được bình thường hoá và phát triển nhanh chóng. Hai nước đã cơ bản giải quyết vấn đề biên giới trên bộ. Mặc dù vẫn còn tranh chấp trong việc phân định vịnh Bắc Bộ song lãnh đạo hai bên đã “đồng ý tiếp tục duy trì cơ chế đàm phán về vấn đề trên biển, kiên trì thông qua đàm phán hoà bình, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều chấp nhận được”6. Bước sang thế kỷ XXI quan hệ Trung - Việt đang phát triển thuận lợi và đứng trước triển vọng tốt đẹp hợp với phương châm “Láng giềng thân thiện, hợp tác toàn diên, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”. LỜI KẾT Như vậy có thể nói cơ sở hoạch định chiến lược đối ngoại Trung Quốc trong giai đoạn từ sau Chiến tranh lạnh đến nay dựa trên mục tiêu phát triển đất nước, giữ vững củng cố nền hoà bình quốc gia, khu vực cũng như toàn thế giới. Cùng với nhân dân toàn thế giới xây dựng sự ổn định, hoà bình lâu dài, chống lại những âm mưu “dân chủ’, “nhân quyền” có nguy cơ đe doạ đên sự ổn định, hoà bình này. Bên cạnh thành công trong quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, trên những cơ sở hoạch định chính sách vững chắc, Trung Quốc đã đạ được những thành công đáng kể trên lĩnh vực đối ngoại. Việc nghiên cứu cơ sở hoạch định chiến lược đối ngoại của Trung Quốc mang lại những bài học thiết thực cho Việt Nam trong quan hệ đối ngoại giai đoạn này. Đó là sự phân tích, đánh giá đúng tình hình thế giới, đúng đối tác để đưa ra một quyết sách hợp lý. Dựa trên cơ sở đánh giá sáng suốt đó mà kiên trì trong quá trình thực hiện bất kỳ một chính sách nào. Bên cạnh đó, việc hoạch định chính sách đối ngoại cần phải phù hợp với xu thế chung của toàn nhân loại, góp phần nâng cao đời sống nhân dân trong nước cũng như nhân dân toàn thế giới. Từ đó thành công trong ngoại giao sẽ là một tất yếu lịch sử. Phụ lục. Hội nghị trung ương khoá XIII 1989-2002. (Lịch sử Trung Quốc. NXBGD tr 388). 3. 4. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc (Lịch sử Trung Quốc. NXBGD tr 389). 5. Cơ sở thực tiễn và lý luận của Trung Quốc trong chiến lược đối với Mỹ (Tham khảo chủ nhật. TTXVN 12/24/2006). 6. Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc, nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào (từ 31-10 đến 2-11-2005). (Lịch sử Trung Quốc. NXBGD tr 409). Danh mục tài liệu tham khảo. Chính sách đối ngoại Hoa Kỳ - Động cơ của sự lựa chọn trong thế kỷ XXI. Nhà xuất bản chính trị quốc gia. Hà Nội 2004. Lịch sử Trung Quốc. Nhà xuất bản giáo dục. 2007. Quan hệ của Mỹ với các nước ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Nhà xuất bản chính trị quốc gia. Hà Nội 2003. Sách trắng “Con đường phát triển hoà bình của Trung Quốc” (Nguồn tin: Tham khảo chủ nhật. TTXVN. 1/8/2006). Cơ sở thực tiễn và lý luận của Trung Quốc trong chiến lược đối với Mỹ (Nguồn tin: Tham khảo chủ nhật. TTXVB. 12/24/2006). Mục lục Lời nói đầu……………………………………………… 1 Cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại đi theo con đường phát triển hoà bình của Trung Quốc sau chiến tranh lạnh…………………………………………………………2 Cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của Trung Quốc đối với Mỹ sau chiến tranh lạnh………………………….5 Thành tựu chiến lược đối ngoại Trung Quốc sau chiến tranh lạnh………………………………………………….8 LỜI KẾT…………………………………………………..9

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docChiến lược chính sách đối ngoại của Trung Quốc sau Chiến tranh lạnh.doc