Đánh giá khả năng lọc sinh học của năng tượng (scirpus littoralis) trong hệ thống nuôi tôm sú

Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng nitrite, nitrate, lân tổng, đạm tổng trong nước nuôi tôm sau khi được năng tượng xử lý giảm một cách đáng kể từ hàm lượng có thể gây hại cho tôm (ngưỡng chịu đựng nitrite của tôm biển không quá 2 mg/l) giảm xuống trong mức an toàn (hàm lượng nitrite < 0,1mg/l) chỉ trong vòng một tuần lễ.

pdf42 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 3497 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đánh giá khả năng lọc sinh học của năng tượng (scirpus littoralis) trong hệ thống nuôi tôm sú, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hối lượng tuyệt đối (kg) và khối lượng tương đối (%) của năng tượng........................................................................................ 28 v This is trial version www.adultpdf.com DANH SÁCH HÌNH Hình 2.1: Hình thái bên ngoài của tôm sú ............................................................. 3 Hình 2.2: Vòng đời và tập tính sống của tôm sú ................................................... 5 Hình 2.3: Hình thái của cỏ năng tượng.................................................................. 8 Hình 3.1: Hệ thống thí nghiệm trồng năng tượng................................................ 16 Hình 3.2: Ba nghiệm thức trồng năng ................................................................. 17 Hinh 4.1: Hàm lượng nitrate đầu vào và đầu ra của các nghiệm thức ở các đợt thu mẫu ................................................................................................................ 21 Hình 4.2: Hàm lượng tổng lân đầu vào và đầu ra của các nghiệm thức ở các đợt thu mẫu .......................................................................................................... 22 Hình 4.3: Hàm lượng tổng lân trong nước đầu vào và nước sau khi cho vào bể năng tượng (mg) của các nghiệm thức ở các đợt thu mẫu................................... 24 Hình 4.4: Hàm lượng đạm tổng trước và sau khi năng tượng xử lý ở các đợt thu mẫu ................................................................................................................ 26 vi This is trial version www.adultpdf.com PHẦN I GIỚI THIỆU Việt nam là một quốc gia có diện tích mặt nước lớn, kể cả nước ngọt, lợ và mặn, đây là một lợi thế rất lớn cho việc phát triển ngành nuôi trồng thủy sản và cũng là một trong những lý do dẫn tới sự thành công của ngành trong thời gian qua. Hiện nay, ngành nuôi trồng thủy sản của nước ta đang đứng thứ 3 và là một trong 10 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới. Năm 2006, sản lượng thủy sản nuôi trồng của Việt Nam đạt 1,67 triệu tấn với giá trị xuất khẩu đạt 1,7 tỷ USD (năm 2006, tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản toàn ngành đạt 3,35 tỷ USD). Trong đó sản lượng xuất khẩu tôm sú chiếm tỷ trọng rất lớn, mang lại lợi nhuận cao cho người nuôi, đóng góp vào sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản, với các mô hình nuôi hiện nay như: quảng canh, quảng canh cải tiến, bán thâm canh và đặc biệt là thâm canh mang lại năng suất cao cho nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, do phần lớn người nuôi không có ý thức tốt về việc bảo vệ môi trường xung quanh, cũng như trình độ kỹ thuật còn hạn chế. Do đó tình trạng sử dụng thuốc, hóa chất một cách tùy tiện dẫn đến tạo ra các dòng vi khuẩn kháng thuốc gây khó khăn trong việc chữa trị, mặt khác nó còn làm tích lũy thuốc trong sản phẩm thủy sản. Bên cạnh đó việc nuôi ở mật độ cao dẫn đến ô nhiễm môi trường, dịch bệnh phát sinh gây thiệt hại cho người nuôi, sản phẩm thủy sản không đạt yêu cầu an toàn thực phẩm. Xuất phát từ thực tế trên, các nhà nuôi trồng thủy sản luôn nghiên cứu tìm ra các mô hình nuôi nhằm mục đích phát triển ngành nuôi trồng thủy sản một cách bền vững bằng các nghiên cứu nuôi tôm kết hợp như: tôm-rừng, tôm-rong, tôm-lúa,… nhằm tận dụng khả năng cải thiện môi trường của chúng, tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên, hạn chế chi phí,… Vì lý do đó mà đề tài nghiên cứu “Đánh giá khả năng lọc sinh học của năng tượng (Scirpus littoralis) trong hệ thống ao nuôi tôm sú” được thực hiện nhằm tìm hiểu khả năng xử lý nước, mức độ kết hợp của năng tượng trong ao nuôi và những ưu điểm khác của chúng để mang lại hiệu quả cao cho mô hình nuôi, góp phần phát triển nghề nuôi trồng thủy sản ở Đồng Bằng Sông Cửu Long một cách bền vững. 1 This is trial version www.adultpdf.com Mục tiêu đề tài Mục tiêu tổng quát của đề tài là: góp phần phát triển mô hình nuôi tôm kết hợp với thực vật thủy sinh thân thiện với môi trường và bền vững ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Mục tiêu cụ thể của đề tài là: xác định khả năng xử lý nước của năng tượng ở ba khối lượng khác nhau thông qua việc phân tích chất lượng nước (đầu vào và đầu ra). Nội dung của đề tài + Nội dung của đề tài là đánh giá các chỉ tiêu môi trường : NO2-, NO3-, TN, TP của nước nuôi tôm đầu vào và sau khi được năng tượng xử lý để xác định khả năng cải thiện môi trường của năng tượng ở ba khối lượng khác nhau. + Đánh giá tăng trưởng của năng tượng giữa các nghiệm thức. Thời gian và địa điểm Thời gian: Thí nghiệm được tiến hành chính thức trong 6 tuần (25/3/2009-8/5/2009) Địa điểm: Khoa Thủy Sản - Trường Đại Học Cần Thơ 2 This is trial version www.adultpdf.com PHẦN II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học của tôm sú ( Penaeus monodon) 2.1.1 Vị trí phân loại Theo hệ thống phân loại của Holthius (1980) và Barnes (1987). Ngành : Arthropoda Ngành phu : Crustacea Lớp : Malacostraca Lớp phụ : Eumalacostraca Bộ : Decapoda Họ : Penaeidae Giống : Penaeus Loài : Penaeus monodon Hình 2.1: Hình thái bên ngoài của tôm sú 2.1.2 Phân bố Phạm vi phân bố của tôm sú khá rộng, từ Ấn Độ Dương qua hướng Nhật Bản, Đài Loan, phía Đông Tahiti, phía Nam châu Úc và phía Tây châu Phi (Racek-1955, Holthuis và Rosa-1965, Moto-1981, 1985). Nhìn chung, tôm sú phân bố từ kinh độ 30E đến 155E từ vĩ độ 35N tới 35S xung quanh các nước 3 This is trial version www.adultpdf.com vùng xích đạo, đặc biệt là Indonesia, Malaixia, Philippines và Việt Nam. Tôm bột (PL), tôm giống (Juvenile) và tôm gần trưởng thành có tập tính sống gần bờ biển và rừng ngập mặn ven bờ. Khi tôm trưởng thành di chuyển xa bờ vì chúng thích sống vùng nước sâu hơn. Ở Việt Nam tôm Sú phân bố nhiều ở vùng ven biển phía Bắc, Duyên Hải Miền Trung, ven biển phía Nam đến độ sâu 162 m tuỳ theo giai đoạn phát triển của tôm. 2.1.3 Tập tính sống Tôm sú có khả năng chịu đựng trong môi trường có nồng độ muối từ 0 ‰-34 ‰ nhưng thích hợp cho tăng trưởng ở độ mặn khoảng 15‰-25‰ (Bùi Quang Tề, 2006). Giai đoạn nhỏ và tiền trưởng thành sống ven bờ biển, vùng cửa sông hay rừng ngập mặn, khi trưởng thành chuyển xa bờ, sống ở vùng nước sâu hơn tới 110 m, trên nền đáy bùn hay cát (Phạm Văn Tình, 2003). Tôm sú là loài rộng nhiệt, nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của tôm từ 24- 340C, dưới 150C và trên 350C tôm hoạt động không bình thường và có thể dẫn đến chết hàng loạt (Nguyễn Văn Chung, 2004), pH trong khoảng 6,5-9,5 nhưng thích hợp nhất là trong khoảng 7,5-8,3 (Bùi Quang Tề, 2006). Bãi đẻ của tôm sú thường ở vùng có độ mặn trên 33‰, độ pH 7,5-8,2, chất đáy bùn cát và độ sâu 10-20 m (Nguyễn Văn Chung, 2000). 2.1.4 Tập tính ăn và loại thức ăn Tôm sú là loài ăn tạp, ăn tạp cơ hội, ăn chất vẫn, ăn thịt hay là loài địch hại của nhau. Thức ăn của tôm sú bao gồm: giáp xác, giun nhiều tơ, nhuyễn thể, côn trùng, tảo và các mảnh thực vật. Tính ăn của tôm sú thay đổi theo giai đoạn, ở giai đoạn tôm bột và tôm giống, chúng ăn nhiều các mảnh động-thực vật bao gồm lab-lab, vi tảo, chất vẩn, thực vật lớn, giun, copepode, moina, ấu trùng nhuyễn thể và giáp xác. Khi tôm lớn chúng ăn các loài động vật không xương sống như ruốc, giáp xác chân đều, giun nhiều tơ, nhuyễn thể hay cả cá nhỏ. Khi tôm thành thục, chúng ăn nhiều nhuyễn thể. Khi nuôi ở mật độ cao, thiếu thức ăn, thức ăn thiếu dinh dưỡng hay mất cân bằng trong dinh dưỡng thường xãy ra hiện tượng tôm ăn thịt lẫn nhau. Tôm ăn suốt ngày đêm, nhưng ăn mạnh vào ban đêm, ăn mạnh vào lúc triều cao. Tôm thích ăn đáy và ăn ven bờ, khi lột xác, oxy hòa tan thấp, nhiệt độ quá cao hay quá thấp sẽ làm chúng giảm ăn. Tôm phát hiện và bắt mồi chủ yếu nhờ vào các cơ quan xúc giác nằm ở đầu mút của râu, châu râu, phụ bộ miệng và càng. Tôm dùng càng cắt thức ăn rồi đưa vào miệng, miệng và phụ bộ miệng cũng cắt mồi thành mảnh nhỏ thích 4 This is trial version www.adultpdf.com hợp trước khi nuốt. Ngoài ra các enzym tiêu hóa được tiết ra từ ruột giữa sẽ giúp tiêu hóa thức ăn, các hệ vi sinh vật trong ruột tôm cũng có vai trò quan trọng trong việc tạo ra các enzyme tiêu hóa. 2.1.5 Vòng đời phát triển của tôm sú Vòng đời của tôm sú trãi qua một số giai đoạn: trứng, ấu trùng, hậu ấu trùng, ấu niên và trưởng thành. Hình 2.2: Vòng đời và tập tính sống của tôm sú Giai đoạn ấu trùng bao gồm : Nauplius (N1-N6) kéo dài 1,5-2 ngày: ấu trùng Nauplius mới nở có chiều dài 0,3 mm, có 3 đôi phụ bộ và một điểm mắt nằm ở giữa trước. Ấu trùng có tập tính trôi nổi, hướng quang, dinh dưỡng bằng noãn hoàng. Zoae (Z1-Z3) kéo dài 4-5 ngày, có tính ăn lọc thụ đọng, thức ăn chính là tảo, có kích cỡ 3-30 µm. Tuy nhiên Z1 vẫn còn sữ dụng noãn hoàng trong khi bắt đầu ăn ngoài, ấu trùng Zoae có tính hướng quang mạnh. Mysis (M1-M3) kéo dài 3- 4 ngày, ấu trùng chuyển sang ăn động vật phiêu sinh, bơi ngửa và giật lùi. Hậu ấu trùng: Postlarvae có hình dạng như tôm trưởng thành, PL1 có chiều dài khoảng 4,5 cm. Các chân bụng có nhiều lông tơ. PL giai đoạn đầu 5 This is trial version www.adultpdf.com một số còn tập tính bơi trong cột nước, phần lớn bắt đầu sống đáy, từ PL6 tôm chủ yếu sống đáy. 2.1.6 Lột xác và tăng trưởng của tôm Quá trình lột xác trãi qua các giai đoạn như: tiền lột xác, lột xác, hậu lột xác, giữa chu kỳ lột xác với những diễn biến bao gồm Sự kết dính giữa biểu mô và vỏ tôm bị lỏng lẻo ra-cơ thể nhanh chóng rút ra khỏi vỏ cũ-cơ thể hấp thụ nước để nở rộng vỏ và lớn nhanh-cơ thể cứng cáp lại nhờ chất khoáng và chất đạm. Do đó quá trình tăng trưởng của tôm không liên tục mà có tính gián đoạn. Quá trình lột xác của tôm chịu ảnh hưởng bởi hormone lột xác được tiết ra từ cơ quan Y và hormone ức chế lột xác được tiết ra từ cơ quan X. Chu kỳ lột xác là khoảng thời gian giữa hai lần lột xác kế tiếp nhau, chu kỳ lột xác ngắn ở giai đoạn tôm con và dài ở giai đoạn tôm trưởng thành. Ngoài ra quá trình lột xác của tôm chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố như: nhiệt độ, loài, dinh dưỡng, môi trường nước. Tuổi thọ của tôm cái cao hơn tôm đực (trong tự nhiên: cái 2 tuổi, đực 1,5 tuổi). 2.1.7 Yêu cầu chất lượng nước trong nuôi tôm Theo Trần Ngọc Hải (2008) cho rằng để nuôi tôm đạt hiệu quả cao, các chỉ tiêu lý hóa của môi trường nước nuôi tôm phải đạt các tiêu chuẩn sau: - pH: 7,5-8,5. - nhiệt độ: 25-300C. - Độ mặn thích hợp: 15-25‰ - Nitrite: < 0,1 mg/L. - Amon: < 1 mg/L. - H2S không có. - Độ kiềm: 80-150 mg/L. - DO: > 3 mg/L. - Độ trong: 35-40 cm. 6 This is trial version www.adultpdf.com 2.2 Đặc điểm sinh học của năng tượng (Scirpus littoralis) Cỏ năng tượng có tên khoa học là Scirpus littoralis Schrab (hay dân gian còn gọi là Hến Biển theo sách phân loại của Phạm Hoàng Hộ (Quyển III, tập 2, trang 633, NXB Mekong, 1993). Đây là cây họ Lác (Cyperaceae) mọc tự nhiên trong các đầm lầy vùng ven biển. Thân hình trụ tròn, cao đến một mét hay hơn, khi khô có màu vàng rơm. Cây mọc tự nhiên bằng hạt trôi theo nước hoặc từ gốc mùa trước. Chu kỳ phát triển của loài cỏ này là mọc vào đầu mùa mưa, ra hoa khoảng tháng 11-12 và rụi dần vào khoảng tháng 3-4. Có khả năng chịu được độ mặn lên đến 20‰ và ngập sâu đến 0,5 m. Trong hệ sinh thái ao nuôi tôm, năng tượng giúp ổn định nhiệt độ nước và làm giảm các chất ô nhiễm do thức ăn tôm dư thừa gây ra, do đó làm tăng nồng độ khí oxy trong ao nuôi tôm. Năng tượng là nhóm cây tích lũy (accumulator) nên có thể dùng để cải thiện độ mặn trong đất (vì có thể hấp thu được muối và tích lũy trong thân). Quan sát bằng mắt thường thấy tôm sú và cua ăn các ngó non và sử dụng môi trường của năng tượng để trốn kẻ thù. Kinh nghiệm của nông dân là nên giữ năng tượng khoảng 30% diện tích nuôi tôm sẽ lớn nhanh và ít bị rủi ro. Một khảo sát năm 2003 cho thấy là các ao nuôi có năng tượng chịu rủi ro ít hơn các ao nuôi khác đến 22,3%, đặc biệt là trong đợt nắng nóng và tôm chết hàng loạt năm 2004. Hiện nay, bà con nông dân của huyện Đông Hải (Bạc Liêu) áp dụng rất phổ biến mô hình nầy (Dương Văn Ni, 2006). Ngoài khả năng cải thiện môi trường, giảm thiểu rủi ro cho vùng nuôi tôm, cây năng tượng còn là nguồn nguyên liệu sản xuất hàng thủ công có giá trị xuất khẩu. So với lục bình, cây năng tượng có nhiều ưu điểm như sợi dài dễ thao tác hơn, không thay đổi màu sắc cả trong môi trường điều hòa nhiệt độ. Mùa thu hoạch tốt nhất là sau khi năng tượng ra hoa (tháng 11-12) kéo dài đến hết tháng 2, thu trong lúc này, năng tượng sẽ có độ dai rất cao và màu sáng đẹp. Thu trễ hơn vào mùa khô thì nguyên liệu bị giòn ở phần ngọn và màu không sáng. Ngoài ra, nếu thu trễ thì năng tượng hấp thụ một lượng muối cao hơn do đó dễ làm sét rỉ các khung sản phẩm làm bằng sắt. Mỗi ký nguyên liệu khô có giá từ 1.000 - 1.500 đồng, thấp hơn nguyên liệu lục bình (4.000-5.000 đồng/kg), (Dương Văn Ni, 2006). 7 This is trial version www.adultpdf.com Hình 2.3: Hình thái của cỏ năng tượng 2.3 Tổng quan về tình hình nuôi và xu thế phát triển mô hình nuôi tôm trên Thế Giới và Việt Nam 2.3.1 Tổng quan về tình hình nuôi tôm trên Thế Giới Trong nông nghiệp vai trò của thủy sản rất quan trọng và ngày càng tăng. Từ những năm 1960, việc nghiên cứu và phát triển nuôi tôm trên thế giới đã bắt đầu nhưng mãi đến những năm đầu thập kỷ 80-90 thì nghề này mới thực sự phát triển. Sản lượng khai thác gần như ngừng gia tăng trong chục năm qua do sự khai thác quá mức. Việc giảm nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên đồng nghĩa với việc nuôi trồng thuỷ sản sẽ đóng góp vai trò ngày càng quan trọng trong việc cung cấp thuỷ sản cho tiêu thụ của thế giới (Bộ Thủy sản, 2003). Nuôi thủy sản bao gồm cá, giáp xác, nhuyển thể và một số đối tượng nuôi khác có mức tăng trưởng sản lượng từ 3,9% vào năm 1970 lên đến 27,1% năm 2000 và 32,4% vào năm 2004. Từ 1970, tốc độ tăng trưởng từ nuôi trồng thủy sản trung bình là 8,8%/năm trong khi so với khai thác thủy sản chỉ 1,2%/năm. Mức tiêu thụ sản phẩm nuôi thủy sản vào năm 1970 là 0,7 kg/người, trong khi đó đến năm 2004 đã lên đến 7,1kg/người, tốc độ tăng 8 This is trial version www.adultpdf.com trưởng trung bình hàng năm là 7,1%. Sự phát triển của nuôi trồng thủy sản thế giới đóng vai trò quan trọng trong nửa thập kỷ qua, sản lượng tăng từ dưới 1 triệu tấn (1995) lên 59,4 triệu tấn (2004) với giá trị 70,3 tỷ USD; trong đó tăng trưởng trung bình hàng năm là 6,9% về số lượng và 7,7% về giá trị. (FAO, 2006) Bảng 2.1: Sản lượng nuôi trồng thủy sản của 10 nước có sản lượng cao (Nguồn FAO, 2006) Nước 2002 2004 Tăng trưởng Tấn (%)/năm Trung Quốc 27.767.251 30.614.968 5,0 Ấn Độ 2.187.189 2.472.335 6,3 Việt Nam 703.041 1.198.617 30,6 Thái Lan 954.567 1.172.866 10,8 Indonesia 914.071 1.045.051 6,9 Bangladesh 786.604 914.752 7,8 Nhật Bản 826.715 776.421 -3,1 Na Uy 545.655 674.979 11,2 Chi lê 550.209 637.993 7,7 Mỹ 497.346 606.549 10,4 Theo số liệu thống kê của Tổ chức Lương Thực và Nông Nghiệp Liên Hiệp Quốc FAO (2004), sản lượng nuôi thuỷ sản thế giới đạt 59,4 triệu tấn, thuỷ sản nuôi nước lợ chiếm 5,7% với sản lượng 3,4 triệu tấn. Trong tổng sản lượng thuỷ sản nuôi nước lợ, sản lượng tôm chiếm 63,1% . Tôm vẫn được coi là mặt hàng chiến lược, do giá trị mặt hàng này đạt xấp xỉ 19% tổng giá trị thương mại thuỷ sản quốc tế. Châu Á hiện là khu vực có nghề nuôi tôm biển phát triển nhất thế giới. Các quốc gia có nghề nuôi tôm biển phát triển nhanh là Đài Loan, Thái Lan, Trung Quốc và gần đây là Việt Nam (Bộ thủy sản, 2006). Châu Á tiếp tục dẫn 9 This is trial version www.adultpdf.com đầu thế giới về sản lượng tôm nuôi. Năm 2003, sản lượng tôm nuôi của châu Á là 1,35 triệu tấn, chiếm 86% tổng sản lượng tôm nuôi toàn cầu Theo Đình Nam (2007) tôm thẻ chân trắng đang chiếm tới 2/3 tổng sản lượng tôm nuôi toàn thế giới. Ở châu Á, trong giai đoạn từ 2001-2006, tôm sú chỉ cố gắng duy trì ở một sản lượng nhất định, thì tôm chân trắng nhảy vọt lên 1,5-1,6 triệu tấn (năm 2006) và ước đạt 1,8 triệu tấn (2009). Thái Lan đã chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng đời thứ 7, sạch bệnh. Người nuôi tôm ở Thái Lan đã nuôi thành công tôm thẻ chân trắng cỡ lớn (vượt tôm sú), có ưu thế vượt trội về năng suất, đạt 25-30 tấn/ha/vụ; lợi nhuận thu được cao gấp 2-3 lần so với tôm sú. Dự báo sản lượng tôm nuôi của Thái Lan năm 2008 sẽ đạt 533.000 tấn, gồm 160.000 tấn tôm sú và 373.000 tấn tôm thẻ chân trắng Hiện nay trên thế giới tồn tại 2 trường phái: 1) nuôi tôm thân thiện môi trường ít sử dụng thuốc, hóa chất và 2) sử dụng bừa bãi với mục tiêu tăng năng suất tôm nuôi. Từ đó gây ra những bất lợi cho nghành như: rào cản thương mại về dư lượng thuốc, hình thành tác nhân kháng khuẩn và vấn đề ô nhiễm môi trường trở nên trầm trọng hơn. Theo Khánh Hà (2004), người ta đang hoài nghi về tính bền vững của nghành nuôi tôm ở Thái Lan, Indonesia, Việt Nam, Philippines, Bangladesh và nhiều quốc gia đang phát triển khác. Một loạt các tác động có hại cho môi trường do phát sinh từ tư tưởng muốn làm giàu nhanh của người nuôi tôm. Những tác hại được đề cập là phá hủy rừng ngập mặn ven biển, đe dọa sức khỏe con người và thiên nhiên do kháng sinh, thuốc trừ sâu và nhiều hóa chất khác, nước thải làm ô nhiễm môi trường và hủy diệt các loài thủy sản sống ngoài tự nhiên. Trong bối cảnh dịch cúm gia cầm vẫn tiếp tục, hàng thuỷ sản nuôi sẽ có nhiều cơ hội phát triển. Tuy nhiên, sự cạnh tranh giành thị trường sẽ ngày càng khốc liệt. Phần thắng sẽ thuộc về các quốc gia nào có được sự quản lý chặt chẽ sự phát triển NTTS và một chiến lược thông minh trên thị trường thế giới. Vì vậy, muốn phát triển thương mại thủy sản trong NTTS cần phát triển đa dạng các đối tượng, đặc biệt là các loài đặc sản như tôm hùm, nhuyễn thể, rong biển, cua, ghẹ, cá biển,…có chất lượng cao và giá rẻ. Nhưng muốn có lợi thế cạnh tranh phải phát triển nuôi bền vững, bảo vệ môi truờng, nuôi thâm canh đạt năng suất cao và bảo đảm an toàn vệ sinh thuỷ sản. 2.3.2 Tổng quan tình hình nuôi tôm ở Việt Nam Nghề nuôi tôm ở Việt Nam và ĐBSCL bắt đầu từ năm 1982 và phát triển nhanh chóng cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90. Nuôi tôm trở thành một ngành quan trọng của Việt Nam. Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,4 tỷ USD đã đưa Việt Nam trở thành một trong 10 cường quốc xuất khẩu thủy 10 This is trial version www.adultpdf.com sản trên thế giới. Năm 2004 sản lượng tôm nuôi đạt mức 290.797 tấn, đóng góp 1.028 triệu đô la Mỹ vào kim nghạch xuất khẩu thủy sản (Bộ thủy sản 2005). Thuận lợi cho sự phát triển nghành thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới là khi hiệp định thương mại Việt-Mỹ ký kết vào cuối năm 2001 mở ra triển vọng xuất khẩu thủy sản vào Mỹ, kế đến là khối liên minh Châu Âu (EU) tiếp tục công nhận nhiều cơ sở chế biến thủy sản đủ điều kiện xuất hàng vào thị trường EU tạo ra cơ hội và thách thức cho thủy sản Việt Nam cũng như ĐBSCL. Tôm sú (Penaeus monodon) là loài nuôi quan trọng nhất và chiếm ưu thế trong các mô hình nuôi thủy sản ven biển Việt Nam hiện nay. Trong năm 2008, tôm sú đóng góp 1,5 tỉ USD, chiếm hơn 33% trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản. (Bộ Nông Nghiệpvà PTNT, 2008) Năm 2006, Bộ Thủy sản đã cho phép nuôi bổ sung tôm thẻ chân trắng tại các tỉnh từ Quảng Ninh đến Bình Thuận nhưng cấm nuôi tôm này ở các tỉnh ĐBSCL. Trước đề nghị của VASEP và nhu cầu thực tế thị trường, tháng 12/2007, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục tổ chức một hội thảo khoa học về con tôm này tại Tp.HCM. Ông Nguyễn Hữu Dũng, Tổng thư ký VASEP, cho rằng Việt Nam hoàn toàn có khả năng phát triển tôm thẻ chân trắng nếu nhập tôm giống bố mẹ sạch bệnh và kiểm soát chặt quá trình nhập khẩu. Khi đó, nông dân sẽ có thêm sự lựa chọn cho ao nuôi của mình, còn doanh nghiệp có điều kiện đa dạng hóa các chủng loại sản phẩm từ con tôm (Đình Nam, 2007). Tuy nhiên hiện nay nghành thủy sản đang gặp nhiều khó khăn, môi trường ngày càng ô nhiễm, tôm nuôi chậm lớn, dễ xảy ra dịch bệnh, giá thành tăng do các nguồn đầu vào tăng. Trong khi đó giá bán lại giảm, theo báo cáo tổng kết năm 2008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT, giá thu mua tôm nguyên liệu thấp nhất trong 10 năm gần đây. Người nuôi tôm ngày nay có xu hướng giảm mật độ nuôi , sử dụng các chất bổ sung để tăng tính an toàn cho tôm nuôi để nuôi tôm đạt kích cỡ lớn. Điều đó nhiệm vụ đặt ra cho các nhà khoa học là nghiên cứu những sản phẩm và qui trình nuôi hợp lý để vừa hạ giá thành, đảm bảo lợi nhuận cho người nuôi tôm vừa mang tính thân thiện môi trường. 2.3.3 Tổng quan về tình hình nuôi tôm sú ĐBSCL Năm 2005, tổng diện tích nuôi tôm biển của cả nước đạt 604.479 ha. ĐBSCL chiếm 88,5% diện tích (535.145 ha) và 81,2% sản lượng (324.680 tấn) và diện tích nuôi tôm sú không ngừng gia tăng trong những năm gần đây. 11 This is trial version www.adultpdf.com Ở ĐBSCL phổ biến là các mô hình nuôi tôm sau: quảng canh, quảng canh cải tiến (tôm-lúa, tôm-rừng, tôm-năng), bán thâm canh, mô hình thâm canh. Hiện nay mô hình nuôi tôm thâm canh (phổ biến ở 2 tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu) gặp những khó khăn về chất lượng giống, dịch bệnh, giá cả, và đặc biệt là thiếu trình độ kỹ thuật và ý thức môi trường, khiến cho người nuôi phải trăn trở, do nuôi tôm ở mật độ cao dẫn đến dịch bệnh phát sinh gây thiệt hại lớn cho người nuôi, đặc biệt nguồn nước từ các ao nuôi tôm khi đổ ra sông gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến các hộ khác và phá hủy hệ sinh thái vùng ven biển. Tuy mô hình này đạt năng suất cao nhưng do sử dụng nhiều loại thuốc và hóa chất nên sản phẩm khó xuất khẩu ra thị trường thế giới do tồn lưu hóa chất trong sản phẩm, không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Do đó hiện nay ở ĐBSCL các mô hình nuôi tôm kết hợp được chú trọng phát triển nhằm mục tiêu phát triển ngành thủy sản một cách bền vững, tạo sản phẩm sạch bệnh, đảm bảo về chất lượng hơn là số lượng, tuy năng suất thấp nhưng giá cả lại cao. Đặc biệt ở ĐBSCL khái niệm nuôi tôm sinh thái đang được nhắc đến. Đó là mô hình nuôi tạo ra con tôm sạch bệnh, thân thiện với môi trường, không sử dụng thuốc và hóa chất như: nuôi tôm kết hợp với rừng ở Cà Mau, mô hình này đã hình thành vào năm 1978 và đang phát triển trong tương lai và được xem là mô hình nuôi thủy sản truyền thống của Việt Nam, các mô hình khác như tôm-lúa ở (Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau,…), tôm-năng ở Bạc Liêu, Cà Mau. Đặc điểm chung của các mô hình này là: mật độ nuôi thấp, tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên, khả năng cải thiện môi trường của đối tượng kết hợp, lợi dụng diện tích lớn, nuôi thưa, hạn chế sử dụng thuốc và hóa chất. 2.3.4 Xu hướng phát triển nghề nuôi tôm Ngày nay nhu cầu về chất lượng cuộc sống của con người ngày càng cao, người ta không những ăn no đủ mà còn phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Vì thế tiêu chuẩn nhập khẩu sản phẩm thủy sản ngày một khắt khe hơn nhằm đáp ứng thị trường tiêu thụ, từ đó việc nuôi thủy sản an tàn được quan tâm đặc biệt, có một số hình thức nuôi thủy sản an toàn sau đây (Nguyễn Tử Cường và ctv, 2004): GAP (Good Aquaculture Practices): Qui phạm thực hành nuôi thủy sản tốt. CoC (Code of conduct for responsible aquaculture): Quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm. BMP (Better Management Practices in Aquaculture): Thực hành nuôi thủy sản tốt hơn. 12 This is trial version www.adultpdf.com BAP (Best Aquaculure Practices): Qui phạm thực hành nuôi thủy sản tốt nhất. CoP (Code of Practices for Responsible Shrimp Farming): Qui tắc thực hành nuôi tôm có trách nhiệm. HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Point): Phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn. Organic shrimp culture: Tôm sinh thái Đặc biệt mô hình GAP đã có nhiều nghiên cứu ứng dụng ở Việt Nam, theo tổ chức mạng lưới các trung tâm NTTS Châu Á-Thái Bình Dương (NACA, 2005a,b) có tiêu chí là: - Giảm bệnh. - Năng suất cao. - Bảo vệ môi trường và môi sinh. - Kiểm soát quá trình: tập trung kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm nguyên liệu thủy sản nuôi trước khi thu hoạch. - Đặc điểm kỹ thuật nuôi tôm sú thâm canh theo GAP - Có sông cấp và thải riêng biệt, kênh cấp và thải riêng biệt. - Có khu xử lý thải, xử lý nước thải, chất thải. - Ngăn ngừa được nhiễm dọc, nhiễm ngang, kiểm soát được mầm bệnh. - Lấy mẫu kiểm tra nước nguồn, nước ao nuôi, nước thải. - Không sử dụng kháng sinh, ít sử dụng hóa chất. - Kiểm tra vi sinh vật gây bệnh, kiểm tra kháng sinh có hại 2.4 Các mô hình nuôi tôm kết hợp 2.4.1 Mô hình nuôi tôm kết hợp với trồng rong câu Xuất phát từ những khó khăn của người nuôi tôm như chất thải và nước thải từ các ao nuôi tôm gây ô nhiễm môi trường, các nhà khoa học thủy sản tại viện Hải Dương Học Nha Trang đã nghiên cứu và đưa ra mô hình nuôi tôm kết hợp với các loại rong câu như Gracilaria spp, Gracilariales, Rhodophyta đã mang đến biện pháp khắc phục cho những khó khăn trên. Các nhà khoa học tiến hành phương pháp nuôi tôm thâm canh kết hợp trồng rong câu trong hệ thống tuần hoàn kín. Trong đó, sử dụng ao rong câu mật độ cao đóng vai trò bể lọc sinh học (để làm sạch nước thải). Kết quả cho thấy đây là mô hình rất có lợi cho môi trường (tăng 5% pH, tăng 49% oxy, đồng thời làm giảm 60,3% 13 This is trial version www.adultpdf.com nitơ vô cơ hòa tan, 38,1% phốt-pho, 66% chlorophyll, 56% chất lơ lửng từ nguồn của ao nuôi tôm. Bên cạnh đó ta có thêm thu nhập về rong (6 tấn/vụ nuôi). Như vậy, mô hình này giúp người nuôi tận dụng được diện tích canh tác, hạn chế chi phí, tránh được ô nhiễm và tăng nguồn thu nhập. (Nguồn: article&sid=144) 2.4.2 Nghiên cứu mô hình nuôi tôm kết hợp với vẹm xanh và bào ngư Để phát triển nghề nuôi thủy sản một cách bền vững các nhà khoa học thủy sản đã nghiên cứu mô hình nuôi thủy sản kết hợp với thực vật và động vật hai mảnh vỏ nhằm tạo ra sự cân bằng về mặt môi trường. Cụ thể là mô hình nuôi khép kín gồm cá, vẹm, rong biển. Trong đó tảo sẽ hấp thu chất dinh dưỡng từ phân của cá rồi vẹm sẽ lọc tảo để làm thức ăn, rong biển thì hấp thu phân thải của vẹm, cuối cùng ta dùng vẹm cho cá ăn, tạo nên một chuỗi thức ăn trong thủy vực, nhờ đó tạo sự cân bằng trong môi trường sống, tạo sự bền vững lâu dài cho mô hình nuôi (Brzeski và Newkirk, 1997 trong Nguyễn Hữu Khánh và Thái Ngọc Chiến, 2008). Mô hình nuôi tôm hùm kết hợp với vẹm xanh, bào ngư và rong sụn đã được thử nghiệm ở Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 3. Kết quả cho thấy mô hình nuôi ghép có lợi hơn so với nuôi đơn (chỉ tôm hùm) cả về khía cạnh môi trường và kinh tế. Các chỉ tiêu về BOD, nitrite, nitrate trong môi trường nước ở lồng nuôi ghép thấp hơn so với nuôi đơn. Tương tự, hàm lượng nitơ và phospho tổng số trong nền đáy ở nghiệm thức nuôi ghép cũng thấp hơn so với nuôi đơn. Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi ghép cao hơn nuôi đơn, lợi nhuận thu được tăng 42,44% trong khi chi phí đầu tư chỉ tăng thêm 16,42%, tổng chi phí sản xuất tăng 39,37% (Nguyễn Hữu Khánh và Thái Ngọc Chiến, 2008). 14 This is trial version www.adultpdf.com PHẦN III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Vật liệu nghiên cứu 3.1.1 Dụng cụ và trang thiết bị thí nghiệm - Cỏ năng tượng (lấy ở ruộng năng tại Gành Hào, Bạc Liêu). - Hệ thống trồng năng tượng gồm 9 bể composite 500 lít/bể. - Đất (lấy ở ruộng năng tại Gành Hào, Bạc Liệu). - Máy bơm, máy thổi khí, khúc xạ kế. - Cân điện tử, cân 5 kg. - Lọc gòn, túi siêu lọc. - Ống PVC, ống nhựa, dây sục khí, đá bọt, thước dây. - Ống siphone, vợt, thau, xô,… - Hóa chất xử lý nước: chlorine. 3.1.3 Nguồn nước thí nghiệm Nước ngọt được lấy từ nguồn nước máy thành phố và nước ót lấy từ Bạc Liêu. Nước dùng trong thí nghiệm có độ mặn 10‰ được pha từ 2 nguồn nước nói trên. Sau đó xử lý chlorine với hàm lượng 30 ppm, rồi sục khí liên tục trong khoảng 1 ngày, trước khi dùng cần kiểm tra dư lượng clo bằng bộ test chlorine, nếu dư ta có thể trung hòa bằng Thiosulfat Natri. Nước sau khi xử lý đạt yêu cầu thì bơm vào bể nuôi qua túi lọc. 3.1.4 Nguồn tôm Trước khi bố trí thí nghiệm tôm PL 15 (5000 con) được bắt về ương trong vòng khoảng 2 tháng đến khi đạt trọng lượng 10g/con thì tiến hành bố trí thí nghiệm. Tôm sú được nuôi riêng trong bể composite 2000 lít . Nguồn tôm bắt từ trại giống Minh Thuận (Cần Thơ) với các tiêu chuẩn chọn lựa như: đồng cỡ, màu sắc sáng bóng, phản ứng nhanh khi có tiếng động, ... 3.1.5 Thức ăn Dùng thức ăn Tom Boy để nuôi tôm. 15 This is trial version www.adultpdf.com 3.2 Phương pháp nghiên cứu 3.2.1 Bố trí thí nghiệm Thí nghiệm được bố trí gồm 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. - Nghiệm thức 1: trồng 3 kg năng tượng/bể 0,5 m . 3 - Nghiệm thức 2: trồng 2 kg năng tượng/bể 0,5 m . 3 - Nghiệm thức 3: trồng 1 kg năng tượng/bể 0,5 m . 3 Hình 3.1: Hệ thống thí nghiệm trồng năng tượng Năng tượng trước khi bố trí được rửa sạch đất và để khô nước, sau đó cân trọng lượng, đo chiều dài (từ gốc đến ngọn). Năng tượng được trồng trong lớp đất dày 10 cm ở độ mặn 10‰. Thí nghiệm được bố trí ngoài trời để có đủ ánh sáng cho cây quang hợp và có hệ thống bạt che đậy khi có trời mưa. Sau khi năng tượng phát triển tốt ta tiến hành cho vào mỗi bể 150 lít nước trong bể nuôi tôm và để 1 tuần lễ cho năng tượng xử lý sau đó lấy nước ra cho ngược vào bể tôm, lặp lại trong 6 tuần. 16 This is trial version www.adultpdf.com Tôm sú được nuôi riêng trong 1 bể composite 2 m với mật độ 400 con/ bể. Trong bể tôm ta cho vào giá thể chùm nilong để tôm lẩn trốn, bể tôm được sục khí bằng đá bọt. 3 Hình 3.2: Ba nghiệm thức trồng năng 3.2.2 Chăm sóc và quản lý Cho tôm ăn ngày 4 lần (7h , 11h , 16h , 21h) bằng thức ăn công nghiệp với liều lượng 5%-10% trọng lượng tôm. Hằng ngày che mưa các bể năng để tránh nước mưa rơi vào làm sai lệch lượng nước và ảnh hưởng đến chất lượng nước. 17 This is trial version www.adultpdf.com 3.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 3.2.3.1 Chỉ tiêu môi trường Theo dõi các chỉ tiêu môi trường: nitrite, nitrate, tổng đạm, tổng lân 1 lần/1 tuần, theo dõi trong 6 tuần Bảng 3.1: Các chỉ tiêu môi trường cần phân tích Chỉ tiêu Phương pháp phân tích Chu kỳ thu mẫu NO2- PP Diazonium 7 ngày/lần NO3- PP Salicilate 7 ngày/lần TKN nước PP Kjeldahl 7 ngày/lần TP nước PP Kjeldahl 7 ngày/lần 3.3 Phương pháp thu thập, tính toán và xử lý số liệu 3.3.1 Cách thu mẫu Nước trong bể tôm được cho vào 9 bể năng với cùng một thể tích 150 lít, sau một tuần xử lý ta cho nước từ các bể năng vào bể tôm, tiến hành thu mẫu nước trước khi cho vào và sau khi lấy ra khỏi bể năng vào chai nhựa 1 lít sau đó trữ lạnh rồi phân tích trong phòng phân tích chất lượng nước. Đất mỗi bể thí nghiệm được phân tích hàm lượng tổng đạm và tổng lân trước lúc bố trí và sau khi thí nghiệm kết thúc (mỗi mẫu 1 (kg) được lấy nhiều điểm trong bể bằng ống nhựa rồi trộn đều lại, cho vào bọc nylon rồi bảo quản lạnh đến khi phân tích). Năng tượng trước lúc bố trí và sau khi thí nghiệm kết thúc được phân tích tổng đạm và tổng lân ( lấy 200 g cây tươi, thu nguyên cây luôn rể/ 1 mẫu). Năng tượng trước khi bố trí và sau khi thí nghiệm kết thúc được đo chiều dài, cân trọng lượng từng bể riêng biệt để xác định tăng trưởng của năng tượng. 3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu Các số liệu thu thập được sẽ phân tích giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, lớn nhất, nhỏ nhất, phần trăm, so sánh sự khác biệt giữa các nghiệm thức (ANOVA), …sử dụng phần mềm Excel, SPSS,… 18 This is trial version www.adultpdf.com PHẦN IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đánh giá khả năng cải thiện môi trường của năng tượng 4.1.1 Hàm lượng nitrite Nitrite ( NO2-) là sản phẩm trung gian của sự chuyển hoá các thành phần giàu đạm: Nitrate hóa và khử nitrate. Trong hai con đường trên thì quá trình oxy hóa amoniac (nitrate hóa) tạo ra nitrite là chủ yếu. Đây là tác nhân gây độc cho động vật thủy sản. Kết quả phân tích hàm lượng nitrite trong nước nuôi tôm trước và sau khi xử lý bằng năng tượng qua 6 đợt thu mẫu (mỗi đợt cách nhau một tuần) được trình bày trong Bảng 4.1. Sau một tuần xử lý hàm lượng nitrite của nước giảm một cách rõ rệt ở tất cả các nghiệm thức. Ví dụ, ở đợt 1 hàm lượng nitrite trong nước trước xử lý (đầu vào) là 6,06 mg/l thì sau một tuần chỉ còn 0,037 mg/l (trung bình của 3 nghiệm thức). Điều đó cho thấy khả năng cải thiện chất lượng nước của năng tượng là rất lớn. Bảng 4.1: Hàm lượng nitrite (mg/l) trong nước trước và sau khi xử lý bằng năng tượng qua các đợt thu mẫu Nước ra Đợt Nước vào NT1 NT2 NT3 TB 1 6,06 0,056 ±0,066a 0,052 ±0,044a 0,003 ±0,002a 0,037±0,047 2 6,18 0,025 ±0,024a 0,016 ±0,013a 0,123 ±0,205a 0,055 ±0,115 3 6,25 0,008 ±0,005a 0,055 ±0,081a 0,033 ±0,051a 0,032 ±0,052 4 4,57 0,109 ±0,158a 0,002 ±0,001a 0,006 ±0,003a 0,039 ±0,095 5 6,06 0,015 ±0,016a 0,072 ±0,107a 0,003 ±0,003a 0,030 ±0,063 6 5,19 0,035 ±0,025a 0,092 ±0,125a 0,000 ±0,001a 0,042 ±0,075 Các giá trị trong cùng một hàng có chữ cái giống nhau thì khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Mặc dù có sự chênh lệch lớn về hàm lượng nitrite trong nước trước và sau khi xử lý bằng năng tượng nhưng không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức qua thống kê ở mức ý nghĩa 5% qua phép thử Duncan (Bảng 4.1). Như vậy thí nghiệm không có sự khác biệt về khả năng hấp thu Nitrite giữa các nghiệm thức. 19 This is trial version www.adultpdf.com 4.1.2 Hàm lượng nitrate Nitrate (NO3-) là sản phẩm cuối cùng của quá trình oxy hóa amoniac, dễ được tảo và thực vật hấp thu, nitrate là hợp chất có tính độc rất thấp đối với động vật thủy sản. Trong các nguồn nước ngầm hay nước mặt tự nhiên nồng độ nitrate thường rất thấp, không vượt quá 2 mg/l và trong ao nuôi hàm lượng nitrate cũng rất thấp. Thực vật phát triển nhanh sẽ hấp thu amoniac, làm mất nguồn nguyên liệu ban đầu của quá trình hình thành nitrate. Tương tự nitrite, kết quả thể hiện ở Bảng 4.2 và Hình 4.1 cho thấy hàm lượng nitrate trong nước khi đưa vào và sau khi xử lý có sự chêch lệch rất lớn qua các đợt thu mẫu (ví dụ ở đợt 1 trong nước đầu vào là 6,14 mg/l sau khi năng tượng xử lý thì hàm lượng nitrate trong nước đầu ra giảm còn 0,84 mg/l chỉ qua 1 tuần xử lý). Điều đó chứng tỏ năng tượng cũng có khả năng hấp thụ rất tốt nitrate. Bảng 4.2: Hàm lượng Nitrate trong nước (mg/l) trước và sau khi xử lý bằng năng tượng qua các đợt thu mẫu. Nước ra Đợt Nước vào NT1 NT2 NT3 TB 1 6,13 0,739 ±0,337a 1,248 ±0,589a 0,536 ±0,056a 0,841±0,466 2 4,94 0,379 ±0,111a 0,529 ±0,089a 0,430 ±0,006a 0,446 ±0,097 3 5,51 0,610 ±0,075a 0,650 ±0,076a 0,492 ±0,124a 0,584 ±0,108 4 11,84 0,664 ±0,128a 0,433 ±0,016a 0,605 ±0,140a 0,567 ±0,141 5 10,94 0,522 ±0,235a 0,384 ±0,111a 0,583 ±0,143a 0,496 ±0,173 6 17,23 0,414 ±0,031a 0,418 ±0,050a 0,364 ±0,055a 0,399 ±0,048 Các giá trị trong cùng một hàng có chữ cái giống nhau thì khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Hàm lượng nitrate giữa các nghiệm thức có sai lệch rất ít và không khác biệt qua thống kê ở mức ý nghĩa 5% (Bảng 4.2) qua cả 6 đợt thu mẫu. Như vậy, sự khác biệt về khối lượng năng tượng giữa các nghiệm thức không có sự khác biệt về khả năng hấp thu hàm lượng nitrate trong nước. 20 This is trial version www.adultpdf.com 0 2 4 6 8 10 12 14 16 18 20 Đợt I Đợt II Đợt III Đợt IV Đợt V Đợt VI Đợt thu mẫu H àm lư ợ ng n itr at e (m g/ l) Nghiệm thức 1 Nghiệm thức 2 Nghiệm thức 3 Vào Hinh 4.1: Hàm lượng nitrate đầu vào và đầu ra của các nghiệm thức ở các đợt thu mẫu 4.1.3 Hàm lượng lân tổng Bảng 4.3: Hàm lượng lân tổng (mg/l) trong nước trước và sau khi xử lý bằng năng tượng qua các đợt thu mẫu. Nước ra Đợt Nước vào NT1 NT2 NT3 TB 1 1,768 0,96 ±0,08a 0,99 ±0,06a 1,00 ±0,05a 0,98 ±0,06 2 1,656 1,01 ±0,21a 1,11 ±0,11a 1,08 ±0,19a 1,07 ±0,16 3 2,096 1,17 ±0,09a 1,31 ±0,05a 1,27 ±0,08a 1,25 ±0,09 4 2,664 1,28 ±0,05a 1,26 ±0,09a 1,31 ±0,14a 1,28 ±0,09 5 1,792 1,33 ±0,20a 1,07 ±0,05a 1,11 ±0,03a 1,17 ±0,16 6 2,256 1,08 ±0,10a 1,15 ±0,05a 1,06 ±0,16a 1,10 ±0,10 Các giá trị trong cùng một hàng có chữ cái giống nhau thì khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) 21 This is trial version www.adultpdf.com Giữa các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức 5% qua phép thử Duncan ở cả 6 đợt thu mẫu (Bảng 4.3) mặc dù có sự chênh lệch rất lớn giữa hàm lượng lân tổng đầu vào và đầu ra. Như vậy sự khác biệt về khối lượng năng tượng không có khác biệt nhau về khả năng hấp thu lân trong nước qua các đợt thu mẫu. 0.00 0.50 1.00 1.50 2.00 2.50 3.00 Đợt I Đợt II Đợt III Đợt IV Đợt V Đợt VI Đợt thu mẫu H àm lư ợ ng T P (m g/ l) Nghiệm thức 1 Nghiệm thức 2 Nghiệmthức 3 Vao Hình 4.2: Hàm lượng tổng lân đầu vào và đầu ra của các nghiệm thức ở các đợt thu mẫu Nhìn vào biểu đồ ta thấy hàm lượng tổng lân trong nước nuôi tôm đầu vào và nước đầu ra sau khi được năng tượng xử lý có sự chênh lệch lớn, điều đó cho thấy khả năng hấp thu lân của năng tượng rất tốt (ở đợt IV, hàm lượng tổng lân trong nước đầu vào là 2,664 mg/l sau khi năng tượng xử lý hàm lượng tổng lân trong nước đầu ra giảm xuống còn 1,28 mg/l). Giữa các nghiệm thức ở các đợt thu mẫu có sự chênh lệch rất ít (ở đợt I, nghiệm thức 1: 0,96 ±0,08 mg/l, nghiệm thức 2: 0,99 ±0,06 mg/l, nghiệm thức 3: 1,00 ±0,05 mg/l). Sự khác biệt về khối lượng năng tượng ở các nghiệm thức không có sự khác biệt về khả năng hấp thu hàm lượng tổng lân trong nước. 22 This is trial version www.adultpdf.com Bảng 4.4: Hàm lượng lân tổng (mg) trong nước trước và sau khi xử lý bằng năng tượng qua các đợt thu mẫu. Nước ra Đợt Nước vào NT1 NT2 NT3 TB 1 265,2 112,68 ±10,39a 118,75 ±8,56a 117,16 ±5,58a 116,20 ±7,81 2 248,4 127,66 ±24,93a 141,88 ±15,83a 136,07 ±23,26a 135,20 ±19,79 3 314,4 150,03 ±8,91a 163,52 ±4,56a 156,98 ±8,28a 156,84 ±8,74 4 399,6 172,98 ±16,74a 160,03 ±14,56a 172,21 ±20,31a 168,41 ±16,30 5 268,8 176,56 ±24,99a 144,94 ±7,86a 149,02 ±4,34a 156,84 ±19,95 6 338,4 141,97 ±15,00a 151,47 ±4,52a 138,31 ±17,08a 143,92 ±13,00 Các giá trị trong cùng một hàng có chữ cái giống nhau thì khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Giữa các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở 6 đợt thu mẫu Bảng 4.5: Phần (%) hàm lượng lân tổng (mg) mất đi. Nước ra Đợt NT1 NT2 NT3 TB 1 57,51±3,92 55,22±3,26 55,82±2,11 56,19±2,94 2 48,61±10,04 42,88±6,37 45,22±9,36 45,57±7,97 3 52,28±2,83 47,99±1,45 50,07±2,63 50,11±2,78 4 56,71±4,19 59,95±3,64 56,91±5,08 57,86±4,08 5 34,32±9,30 46,08±2,92 44,56±1,61 41,65±7,42 6 58,05±4,43 55,24±1,34 59,13±5,05 57,47±3,83 Dựa vào Bảng 4.5 ta thấy năng tượng đã hấp thu lân rất tốt chỉ trong thời gian 1 tuần (trung bình đợt thu mẫu lần lượt năng hấp thu (%): 56,19±2.94, 45,57±7,97, 50,11±2,78, 57,86±4,08, 41,65±7,42, 57,47±3,83). 23 This is trial version www.adultpdf.com 0 50 100 150 200 250 300 350 400 450 Đợt I Đợt II Đợt III Nghiệm thức 1 Nghiệm thức 2 Nghiệm thức 3 Vào Đợt IV Đợt V Đợt VI Đợt thu mẫu Hà m lư ợ ng tổ ng lâ n (m g) Hình 4.3: Hàm lượng tổng lân trong nước đầu vào và nước sau khi cho vào bể năng tượng (mg) của các nghiệm thức ở các đợt thu mẫu 4.1.4 Hàm lượng tổng đạm Bảng 4.6: Hàm lượng tổng đạm (mg/l) trong nước trước và sau khi xử lý bằng năng tượng trong thời gian 1 tuần. Nước ra Đợt Nước vào NT1 NT2 NT3 TB 1 13,42 1,47 ±0,20a 1,86 ±0,52a 1,16 ±0,25a 1,49 ±0,43 2 12,19 0,77 ±0,07a 0,87 ±0,05a 0,91 ±0,19a 0,85 ±0,12 3 14,28 1,60 ±0,39a 2,18 ±0,24a 2,21 ±0,26a 2,00 ±0,40 4 19,61 2,14 ±1,19a 1,42 ±0,12a 1,76 ±0,15a 1,77 ±0,68 5 19,11 1,62 ±0,48a 1,61 ±0,31a 1,65 ±0,33a 1,63 ±0,33 6 25,42 1,60 ±0,10a 1,67 ±0,21a 1,48 ±0,36a 1,58 ±0,23 Các giá trị trong cùng một hàng có chữ cái giống nhau thì khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Kết quả phân tích cho thấy, sự khác biệt giữa các nghiệm thức là không có ý nghĩa thống kê ở mức 5% qua phép thử Duncan ở cả 6 đợt thu mẫu. Mặc dù có sự chênh lệch rất lớn giữa hàm lượng tổng đạm lúc đầu vào và sau khi 24 This is trial version www.adultpdf.com cho năng tượng xử lý (Bảng 4.6). Thí dụ: ở đợt thu mẫu IV, hàm lượng tổng đạm trong nước đầu vào là 19,607 mg/l sau khi năng tượng xử lý hàm lượng tổng đạm trong nước đầu ra giảm xuống còn 1,77 mg/l chỉ sau 1 tuần xử lý). Điều đó cho thấy khả năng hấp thu đạm của năng tượng rất tốt. Bảng 4.7: Hàm lượng tổng đạm (mg) trong nước trước và sau khi xử lý bằng năng tượng trong thời gian 1 tuần Nước ra Đợt Nước vào NT1 NT2 NT3 TB 1 2013 173,42±26,21a 222,09±62,51a 135,21±28,75a 176,91±52,70 2 1828,5 98,02±7,35a 111,23±6,81a 115,03±22,66a 108,09±14,60 3 2141,25 203,70±45,75a 272,10±32,17a 274,16±31,43a 249,99±47,27 4 2941,05 288,54±164,04a 179,98±12,21a 231,46±18,14a 233,33±95,17 5 2866,5 215,74±64,36a 218,95±43,41a 221,81±44,26a 218,83±44,76 6 3813 209,47±10,07a 220,31±23,74a 193,27±45,43a 207,68±28,65 Các giá trị trong cùng một hàng có chữ cái giống nhau thì khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng tổng đạm (mg) có sự chênh lệch rất lớn giữa nước nuôi tôm đầu vào và nước nuôi tôm đầu ra sau khi được năng tượng xử lý. Mặc dù vậy sự khác biệt giữa các nghiệm thức là không có ý nghĩa thống kê ở mức 5% qua phép thử Duncan (Bảng 4.7). 25 This is trial version www.adultpdf.com Hàm lượng tổng đạm (%) trong nước mất đi ở các đợt thu mẫu Bảng 4.8: Hàm lượng đạm tổng mất đi ở các đợt thu mẫu Nước ra Đợt NT1 NT2 NT3 TB 1 91,38±1,30 88,97±3,11 93,28±1,43 91,21±2,62 2 94,64±0,40 93,92±0,37 93,71±1,24 94,09±0,80 3 90,49±2,14 87,29±1,50 87,20±1,47 88,33±2,21 4 90,19±5,58 93,88±0,42 92,13±0,62 92,07±3,24 5 92,47±2,25 92,36±1,51 92,26±1,54 92,37±1,56 6 94,51±0,26 94,22±0,62 94,93±1,19 94,55±0,75 Kết quả thu được từ Bảng 4.8 cho thấy lượng đạm tổng mất đi ở các đợt thu mẫu là rất lớn, lượng đạm ấy có thể được cây và đất hấp thu trong quá trình xử lý. 0 500 1000 1500 2000 2500 3000 3500 4000 4500 Đợt I Đợt II Đợt III Đợt IV Đợt V Đợt VI Đợt thu mẫu Hàm lượng tổng đạm (mg) Nghiệm thức 1 Nghiệm thức 2 Nghiệm thức 3 vào Kết quả so sánh giữa hàm lượng tổng lân và tổng đạm mất đi (Bảng 4.5 và Bảng 4.8) cho thấy khả năng hấp thu đạm tốt hơn lân của năng tượng là rất nhiều Hình 4.4: Hàm lượng đạm tổng trước và sau khi năng tượng xử lý ở các đợt thu mẫu 26 This is trial version www.adultpdf.com 4.2 Tăng trưởng của năng tượng 4.2.1 Chiều dài Kết quả phân tích tăng trưởng chiều dài của năng tượng được thể hiện ở Bảng sau: Bảng 4.9: Bảng tăng trưởng chiều dài tuyệt đối (cm/ngày) và chiều dài tương đối (%/ngày) của năng tượng NT1 NT2 NT3 TB Cddau 90,89 ±3,10b 94,24 ±3,27b 83,50 ±3,59a 89,54 ±5,56 Cdcuoi 113,38 ±2,56ab 115,83 ±0,70b 111,16 ±2,09a 113,46 ±2,64 Tangcd 0,54 ±0,03a 0,51 ±0,08a 0,66 ±0,07b 0,57 ±0,09 SGRcd 0,53 ±0,04a 0,49 ±0,08a 0,68 ±0,08b 0,57 ±0,11 Các giá trị trong cùng một hàng có chữ cái giống nhau thì khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Dựa vào Bảng 4.9 ta thấy tăng trưởng chiều dài tuyệt đối và chiều dài tương đối của năng tượng khác biệt có ý nghĩa ở mức 5% giữa nghiệm thức 3 với nghiệm thức 1, 2. Nghiệm thức 1 khác biệt không có ý nghĩa với nghiệm thức 2 ở mức 5% qua phép thử Duncan. Từ kết quả phân tích trên ta nhận thấy tăng trưởng chiều dài tương đối và chiều dài tuyệt đối của năng tượng ở nghiệm thức 3 là nhiều nhất, kế tiếp là nghiệm thức 1 và sau cùng là nghiệm thức 2. 27 This is trial version www.adultpdf.com 4.2.2 Khối lượng Kết quả phân tích tăng trưởng khối lượng của năng tượng được thể hiện ở Bảng sau: Bảng 4.10: Bảng tăng trưởng khối lượng tuyệt đối (kg/ngày) và khối lượng tương đối (%/ngày) của năng tượng NT1 NT2 NT3 TB Kldau 3,00 2,00 1,00 2,00 ±0,87 Klcuoi 5,00 ±0,28 3,71 ±0,10 2,19 ±0,17 3,63 ±1,23 TangKL 0,05 ±0,01a 0,04a 0,03b 0,04 ±0,01 SGRKL 1,21 ±0,13b 1,47 ±0,06b 1,86 ±0,19a 1,51 ±0,31 Các giá trị trong cùng một hàng có chữ cái giống nhau thì khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Dựa vào Bảng 4.10 ta thấy tăng trưởng khối lượng tuyệt đối và khối lượng tương đối của năng tượng khác biệt có ý nghĩa ở mức 5% giữa nghiệm thức 3 với nghiệm thức 1, 2. Nghiệm thức 1 khác biệt không có ý nghĩa với nghiệm thức 2 ở mức 5% qua phép thử Duncan. Từ kết quả phân tích trên ta nhận thấy tăng trưởng khối lượng tương đối của năng tượng ở nghiệm thức 3 là nhiều nhất, kế tiếp là nghiệm thức 2 và sau cùng là nghiệm thức 3. 28 This is trial version www.adultpdf.com PHẦN V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Kết luận - Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng nitrite, nitrate, lân tổng, đạm tổng trong nước nuôi tôm sau khi được năng tượng xử lý giảm một cách đáng kể từ hàm lượng có thể gây hại cho tôm (ngưỡng chịu đựng nitrite của tôm biển không quá 2 mg/l) giảm xuống trong mức an toàn (hàm lượng nitrite < 0,1mg/l) chỉ trong vòng một tuần lễ. - Giữa các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa thống kê về khả năng xử lý môi trường. - Tăng trưởng của năng tượng (khối lượng và chiều dài) có khác biệt giữa nghiệm thức 3 với nghiệm thức 1 và nghiệm thức 2, giữa nghiệm thức 1 và 2 không khác biệt. Đề xuất - Ở thí nghiệm trên cần xác định thêm lượng tổng đạm và tổng lân được hấp thu vào đất và cây bao nhiêu thông qua việc phân tích đạm cây và đất trước khi bố trí thí nghiệm và sau khi thu mẫu. - Cần tiến hành thí nghiệm xác định mật độ năng tượng kết hợp với diện tích ao tôm có hiệu quả nhất và nuôi ở độ mặn nào tốt nhất cho sự sinh trưởng của năng tượng cũng như tôm nuôi đạt hiệu quả cao. - Nên tiến hành thí nghiệm trên diện tích lớn và ngay giai đoạn năng tượng còn non trẻ, bố trí thí nghiệm đồng đều về cỡ cây và đất để thí nghiệm mang lại tính khoa học cao. 29 This is trial version www.adultpdf.com TÀI LIỆU THAM KHẢO Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004. Giáo trình kỹ thuật sản xuất giống và nuôi giáp xác Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Cần Thơ. Phạm Văn Tình, 2003. Kỹ thuật nuôi tôm sú thâm canh. Nxb Nông Nghiệp. Bùi Quang Tề, 2006. Công nghệ nuôi tôm sú đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội – 2006. Nguyễn Văn Chung, 2000. Cơ sở sinh học và kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo tôm sú - 51k Thạch Thanh, 2005. Nghiên cứu ứng dụng nước biển nhân tạo trong sản xuất giống tôm sú (Penaeus monodon) qua hệ thống lọc sinh học. Nguyễn Duy Dương, 2006. Thử nghiệm nuôi tôm sú thâm canh theo quy phạm thực hành nuôi tốt (GAP) tại công ty Quốc Việt, tỉnh Cà Mau, luận văn tốt nghiệp cao học ngành nuôi trồng thủy sản. Trương Quốc Phú, 2006. Giáo trình quản lý chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản. Bộ thủy sản, 2003. Báo cáo kết quả nuôi trồng thủy sản 2003 và biện pháp thực hiện kế hoạch nuôi trồng thủy sản 2004. Trần Ngọc Hải, 2008. Giáo trình kỹ thuật sản xuất giống và nuôi giáp xác khoa Thủy Sản, trường Đại Học Cần Thơ. Lê Văn Cát, Đỗ Thị Hồng Nhung, Ngô Ngọc Cát. Nước nuôi thủy sản chất lượng và giải pháp cải thiện chất lượng, nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Hà Nội. 30 This is trial version www.adultpdf.com PHỤ LỤC Bảng 1. Hàm lượng nitrite (mg/lít) Nghiệm thức I Nghiệm thức II Nghiệm thức III NO2- Bể Tôm Bể 1 Bể 2 Bể 3 Bể 4 Bể 5 Bể 6 Bể 7 Bể 8 Bể 9 Đợt I 6,06 0,13 0,034 0,003 0,017 0,101 0,038 0,003 0,004 0,001 Đợt II 6,36 0,023 0,003 0,009 0,149 0,008 0,003 0,004 0 0 Đợt III 6,25 0,014 0,005 0,006 0,148 0,011 0,005 0,092 0,004 0,003 Đợt IV 4,57 0,291 0,029 0,007 0,003 0,001 0,003 0,008 0,006 0,003 Đợt V 6,06 0,004 0,034 0,008 0,017 0,195 0,003 0,006 0,002 0,001 Đợt VI 5,19 0,047 0,052 0,006 0,236 0,024 0,016 0,001 0 0 Bảng 2. Hàm lượng nitrate (mg/lít) Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Đợt 4 Đợt 5 Đợt 6 Nghiệm thức Vào 6,135 4,935 5,51 11,842 10,94 17,23 Bể 1 0,794 0,347 0,672 0,613 0,668 0,381 Bể 2 0,378 0,288 0,632 0,81 0,647 0,442I Bể 3 1,045 0,502 0,526 0,57 0,251 0,42 Bể 4 1,805 0,63 0,733 0,439 0,404 0,468 Bể 5 0,632 0,49 0,633 0,415 0,484 0,368II Bể 6 1,308 0,466 0,584 0,444 0,264 0,418 Bể 7 0,499 0,431 0,634 0,644 0,48 0,418 Bể 8 0,509 0,436 0,438 0,721 0,747 0,367III Bể 9 0,601 0,424 0,405 0,45 0,523 0,308 31 This is trial version www.adultpdf.com Bảng 3. Hàm lượng lân tổng (mg/lít), Đợt I Đợt II Đợt III Đợt IV Đợt V Đợt VINghiệm thức Vào 1,768 1,656 2,096 2,664 1,792 2,256 Bể 1 0,976 1,184 1,08 1,272 1,556 1,076 Bể 2 1,024 0,78 1,264 1,336 1,208 1,18I Bể 3 0,868 1,064 1,176 1,24 1,212 0,984 Bể 4 0,948 1,136 1,328 1,36 1,072 1,1 Bể 5 1,064 0,984 1,256 1,184 1,116 1,148 II Bể 6 0,964 1,208 1,352 1,224 1,02 1,196 Bể 7 0,948 0,872 1,216 1,432 1,132 1,068 Bể 8 1,016 1,232 1,224 1,16 1,116 0,9 III Bể 9 1,04 1,128 1,36 1,328 1,08 1,216 Bảng 4. Tổng hàm lượng đạm (mg/lít) Đợt I Đợt II Đợt III Đợt IV Đợt V Đợt VINghiệm thức Vào 13,42 12,19 14,275 19,607 19,11 25,42 Bể 1 1,574 0,825 1,181 3,509 1,892 1,578 Bể 2 1,242 0,7 1,947 1,469 1,896 1,504I Bể 3 1,593 0,798 1,662 1,427 1,064 1,706 Bể 4 2,407 0,892 2,016 1,442 1,606 1,434 Bể 5 1,363 0,815 2,454 1,286 1,924 1,757II Bể 6 1,801 0,903 2,074 1,517 1,312 1,824 Bể 7 0,872 0,816 2,516 1,892 1,366 1,899 Bể 8 1,293 0,79 2,077 1,792 1,579 1,297III Bể 9 1,302 1,129 2,043 1,593 2,009 1,248 32 This is trial version www.adultpdf.com Bảng 5. Khối lượng năng tượng lúc bố trí và sau khi thu hoạch Khối lượng (kg) Nghiệm thức Bể Lúc bố trí Thu hoạch 1 3,00 4,90 2 3,00 4,78I 3 3,00 5,32 4 2,00 3,60 5 2,00 3,72II 6 2,00 3,80 7 1,00 2,28 8 1,00 2,30III 9 1,00 1,99 Bảng 6. Chiều dài năng tượng lúc bố trí và sau khi thu hoạch Chiều dài năng tượng (cm) Nghiệm thức Bể Lúc bố trí Thu hoạch 1 88,06 112 2 90,4 111,8I 3 94,2 116,33 4 97,13 116,5 5 90,69 115,9II 6 94,91 115,1 7 82 112,33 8 87,6 112,4III 9 80,9 108,75 33 This is trial version www.adultpdf.com 34 This is trial version www.adultpdf.com

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdflv_td_huan_3144.pdf
Luận văn liên quan